Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Nhật Bản trong đàm phán thương mại quốc tế với các đối tác Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. VÀI NÉT VỀ ĐẤT NƯỚC NHẬT BẢN
2.1.1. Tên nước và xuất xứ
Nhật Bản còn có các mỹ danh là “xứ sở hoa anh đào”, vì cây hoa anh đào mọc trên khắp nước Nhật từ Bắc xuống Nam, những cánh hoa “thoắt nở thoắt tàn” được người Nhật yêu thích, phản ánh tinh thần nhạy cảm, yêu cái đẹp, sống và chiến đấu quyết liệt của dân tộc họ; “đất nước hoa cúc” vì bông hoa cúc 16 cánh giống như Mặt Trời đang tỏa chiếu là biểu tượng của hoàng gia và là quốc huy Nhật Bản hiện nay; “đất nước Mặt Trời mọc” vì Nhật Bản là quốc gia ở vùng cực đông, tổ tiên của họ là nữ thần Mặt Trời Amaterasu. Nhật Bản còn được gọi là Phù Tang. Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt Trời mọc. Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Cho đến nay người ta vẫn chưa chắc chắn về xuất xứ và thời gian xuất hiện của những cư dân đầu tiên trên quần đảo Nhật Bản. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều cho rằng người Nhật đã có mặt tại quần đảo từ xa xưa và định cư liên tục từ đó cho đến thời nay. Những phát hiện trong nghiên cứu cổ vật, xương đã củng cố thêm sự nghi ngờ đối với thuyết trước kia cho rằng người Nhật là con cháu của những người xâm chiếm đến sau “thổ dân” Ainu và đã đẩy bộ tộc này ra khỏi quần đảo. Ngày nay, người ta tin rằng tổ tiên của người Nhật là những người đã làm nên đồ gốm mang tên Jomon. Những người này được biết là đã có mặt trên quần đảo ít nhất từ năm 5000 TCN, sau đó theo thời gian, pha trộn với các giống người khác, phát triển qua lịch sử thành dân tộc Nhật Bản ngày nay.
Ngôn ngữ và phong tục của người Nhật gồm những thành tố văn hoá của cả phương Bắc lẫn phương Nam. Dưới góc độ sử dụng và cú pháp, rõ ràng tiếng Nhật thuộc hệ ngôn ngữ Altai của các dân tộc phía Bắc lục địa châu Á, song trong từ vựng lại có nhiều từ gốc từ phía Nam. Trong các tập quán và tín ngưỡng, ta thấy các lễ nghi gắn với văn hóa lúa nước vốn có nguồn gốc ở phía Nam; còn huyền thoại lập nước bởi vị thần – ông tổ của nòi giống – từ thiên đường xuống hạ giới thì có nguồn gốc ở phía Bắc. Vì vậy, người ta cho rằng dân cư ở đây có xuất xứ từ cả phương Bắc lẫn phương Nam, đến quần đảo Nhật Bản từ thời tiền sử và qua một quá trình hoà trộn các chủng tộc dần dần tạo ra dân tộc Nhật Bản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Nước Nhật ngày nay nằm trên một quần đảo chạy dài từ Bắc xuống Nam dọc theo bờ biển phía đông của lục địa Châu Á, bao gồm 4 đảo chính: Hokkaido ở miền Bắc, Honshu và Shikoku ở miền Trung và Kyushu ở miền Nam cùng khoảng hơn 7.000 hòn đảo nhỏ khác. Với tổng diện tích 377.837 km2 trải theo một hình vòng cung hẹp, dài 2.800km, tạo cho nước Nhật một bờ biển dài gần 30.000 km. Do đó, biển đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của Nhật Bản. Các dòng hải lưu nóng Kuroshio và hải lưu lạnh Oyashio gặp nhau đã tạo nên một môi trường sinh sống thuận lợi cho các loài cá. Chính vì vậy, Nhật Bản là một trong những nước có bãi cá tự nhiên giàu trữ lượng nhất thế giới và ngành đánh bắt hải sản của Nhật Bản cũng rất phát triển.
Nhật Bản nằm ở vị trí nhạy cảm về hoạt động địa chấn, trên một khu vực có nhiều núi lửa. Gần 80% đất đai trên quần đảo Nhật Bản phủ đầy núi non, trong đó có hơn 70 ngọn núi lửa vẫn đang hoạt động. Vì vậy, những trận động đất lớn nhỏ khác nhau vẫn thường xuyên xảy ra và gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người dân Nhật. Tuy vậy, những ngọn núi lửa này cũng mang lại vô số những suối nước nóng là điểm du lịch và chữa bệnh cho hàng triệu du khách mỗi năm.
Do đặc điểm lãnh thổ trải dài từ Bắc tới Nam, nên khí hậu ở Nhật Bản phân ra 4 mùa khá rõ rệt, tuy sự khác biệt về khí hậu giữa các miền tương đối lớn. Mùa hè ở Nhật thường bắt đầu từ giữa tháng 4, rất nóng và ẩm. Trước đó là mùa mưa kéo dài khoảng một tháng, lần lượt đi từ Nam lên Bắc trừ Hokkaido – hòn đảo lớn phía cực bắc hầu như không có mùa mưa. Mùa đông thường xuất hiện vào cuối tháng 11 và kéo dài đến cuối tháng 2. Vào thời gian này, ở phía biển Thái Bình Dương thường u ám và có nhiều tuyết rơi. Mùa thu và mùa xuân là hai mùa đẹp nhất trong năm, là thời gian mà người Nhật dùng để nghỉ ngơi, mua sắm và tham gia vào các lễ hội truyền thống.
2.1.3. Cộng đồng
Dân số Nhật Bản ước tính khoảng 127,4 triệu người, là nước đông dân tứ 9 trên thế giới và là một trong số các quốc gia có tính thuần tộc cao nhất thế giới. Dân tộc Nhật Bản chủ yếu là người Nhật (trên 99%), có ít người Ainu (không quá 20 ngàn), ngoài ra có trên 64 vạn người Triều Tiên, 33,5 vạn người Hoa và 1,7 vạn ngưòi Việt Nam. Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trung bình là 81,25 tuổi cho năm 2006. Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau Thế chiến thứ hai. Năm 2004, 19,5% dân số Nhật trên 65 tuổi.
Thay đổi dân số đã tạo ra các vấn đề xã hội, đặc biệt là sự suy giảm lực lượng lao động đồng thời gia tăng chi phí cho phúc lợi xã hội như vấn đề lương hưu. Nhiều người trẻ Nhật Bản hiện có xu hướng không kết hôn hoặc có gia đình khi trưởng thành. Dân số nước Nhật Bản dự tính sẽ giảm xuống còn 100 triệu người vào năm 2050 và 64 triệu người vào năm 2100. Chính quyền và các nhà hoạch định dân số đang đau đầu để giải quyết vấn đề này.
Ngày nay mặc dù Nhật Bản đã là một quốc gia tân tiến nhưng trong xã hội Nhật, vai trò và các liên hệ nam nữ đã được ấn định rõ ràng. Thời xưa, Nhật Bản theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò lớn hơn nam giới. Từ khi thời kỳ Samurai phát triển, người đàn ông lại chiếm vai trò độc tôn. Trong gia đình Nhật truyền thống, nam giới nắm gần như toàn bộ quyền hành. Dù rằng tinh thần giải phóng phụ nữ đã được du nhập vào Nhật Bản từ cuối thế kỷ 19 nhưng trong đời sống công cộng, người phụ nữ vẫn ở vị thế thấp hơn nam giới và bên ngoài xã hội, người nam vẫn giữ vai trò lớn hơn một chút. Theo căn bản, người nữ vẫn là người của “bên trong” (uchi no) và người nam vẫn là người của “bên ngoài” (soto no). Phạm vi của người phụ nữ là gia đình và các công việc liên hệ, trong khi người chồng là người đi kiếm sống và đưa hết tiền lương về cho người vợ.
Quá trình dân chủ hoá sau chiến tranh đã làm thay đổi mọi khía cạnh của đời sống gia đình, cho phép phụ nữ được bình đẳng với nam giới, ít nhất là về mặt hình thức, trong mọi mặt của cuộc sống. Ngày nay, vị thế của người phụ nữ đã được nâng lên nhiều trong xã hội, nhất là tư duy của lớp thanh niên trẻ – những người thường không có quan niệm phân biệt và suy nghĩ bảo thủ, cổ hủ. Tính chất gia trưỏng cũ trong gia đình Nhật ngày càng giảm bớt. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là hoàn toàn không có sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Quan niệm cho rằng công việc nội trợ và nuôi con là của phụ nữ, ngay cả trong trường hợp người phụ nữ đi làm, còn khá nặng nề trong xã hội. Trên thực tế, ở Nhật rất ít phụ nữ được nắm những vai trò chủ chốt trong các cơ quan, xí nghiệp hay trường học.
2.1.4. Chính trị và luật pháp Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Nhật Bản theo chế độ quân chủ lập hiến. Hiện tại, Nhật Bản vẫn có vua (Thiên Hoàng), nhưng theo hiến pháp thì Thiên Hoàng chỉ là biểu tượng truyền thống, chủ yếu mang giá trị tinh thần chứ hầu như không đóng vai trò gì trong việc lãnh đạo đất nước. Xét về góc độ nhà nước thì Nhà nước Nhật Bản về bản chất là nhà nước dân chủ tư sản được tổ chức theo mô hình tam quyền phân lập, còn về hình thức thì thuộc chính thể đại nghị.
Vai trò của các đảng phái chính trị đối với các vấn đề quốc gia ngày càng tăng. Từ năm 1955 đến nay, các đảng phái chính trị của Nhật có nhiều biến đổi như sáp nhập, tách ra, đổi tên…Hiện nay, năm đảng phái chính trị lớn ở Nhật là Đảng Dân chủ tự do (LDP), Đảng Dân chủ Xã hội Nhật Bản (JSDP), Đảng Komei (đảng Công Minh), Đảng Cộng Sản Nhật Bản (JCP) và Đảng Xã hội chủ nghĩa Dân chủ. Ngoài ra còn một số chính đảng khác nữa.
Cơ sở của nền chính trị Nhật Bản là hiến pháp. Ba nguyên tắc chính của hiến pháp Nhật Bản là:
Chủ quyền quốc gia thuộc về người dân,
Những quyền căn bản của người dân được đảm bảo, 3/ Quyết tâm bảo vệ hoà bình.
Nhật Bản theo chế độ phổ thông dân phiếu, trong đó tất cả nam nữ từ 20 tuổi trở lên đều có quyền đi bầu cử. Quốc hội Nhật Bản là cơ quan lập pháp quốc gia đầu tiên được lập ra ở châu Á.
Trong thực tế, nền chính trị Nhật Bản được chia thành cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp.
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan lập pháp duy nhất ở Nhật Bản, gồm có Hạ viện với 512 ghế và Thượng viện với 252 ghế. Hạ viện được bầu ra từ 130 đơn vị bầu cử với số nghị viên từ 2 tới 6 vị tùy theo dân số. Nhiệm kỳ của Thượng viện là 6 năm, mỗi 3 năm được bầu lại một nửa. 100 Thượng nghị sĩ được bầu theo sự đại diện tỉ lệ tức là do các cử tri toàn quốc bầu ra, số còn lại 152 ghế được bầu từ 47 đơn vị bầu cử tỉnh. Hạ viện có quyền bỏ phiếu tín nhiệm hay bất tín nhiệm Nội các, đây là một quyền lực chính trị quan trọng nhất của nền chính trị đại nghị. Các công dân Nhật Bản trên 25 tuổi đều có quyền ứng cử Dân biểu và trên 30 tuổi có thể tranh cử ghế Thượng viện. Quyền được thực hiện phổ thông đầu phiếu thuộc về mỗi người dân nam nữ trên 20 tuổi.
Cơ quan hành pháp có trung tâm là nội các, gồm thủ tướng và các bộ trưởng. Thủ tướng do Quốc hội chỉ định và phải là thành viên của Quốc hội. Thủ tướng có quyền bổ nhiệm và bãi miễn các bộ trưởng và tất cả các bộ trưởng này đều phải là dân sự và phần lớn phải là thành viên Quốc hội.
Chính quyền địa phương có ở cấp tỉnh, thành phố, thị xã, làng. Mỗi cấp đều có một hội đồng tương ứng của mình. Các vị trí đứng đầu hàng tỉnh, thành phố, thị xã và làng cũng như các thành viên của các hội đồng địa phương đều do các cử tri đăng ký tại đó bầu ra.
Bộ máy tư pháp hoàn toàn độc lập với các cơ quan lập pháp và hành pháp. Bộ máy này bao gồm gồm Tối cao Pháp viện, 8 tòa án cao cấp và các tòa án địa phương, tòa án gia đình. Tối cao Pháp viện gồm Chánh án được Thiên hoàng Nhật Bản bổ nhiệm và 14 vị Thẩm phán do Nội các chọn. Tất cả các vụ án đều được xét xử công khai, nhất là các vụ vi phạm chính trị, báo chí và nhân quyền. Việc thi hành luật pháp ở Nhật rất nghiêm, đặc biệt có điều luật quy định những người dưới 20 tuổi không được uống rượu và hút thuốc lá.
2.1.5. Nền kinh tế
Nhật Bản hiện nay là một nước có nền kinh tế phát triển đứng thứ hai trên thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ), với năng suất và trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến. Năm 2006 tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản (GDP) là 4.220 tỷ USD, GDP bình quân đầu người là 38.500 USD, tốc độ tăng trưởng kinh tế là 2,8%. Xuất khẩu đạt 590,3 tỷ USD, nhập khẩu 524,1 tỷ USD (năm 2006). Tỷ trọng các ngành kinh tế chính: nông nghiệp 2,1%, công nghiệp 26,8%, giao thông vận tải 6,3%, lưu thông 12,5%, xây dựng 10,3%, các ngành khác 37,9%.
Nhật Bản đạt được những thành tựu này từ một điểm xuất phát hầu như bị phá huỷ hoàn toàn sau chiến tranh. Vốn là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) và phát triển cao độ (1955-1973), tạo thành “sự thần kỳ Nhật Bản”. Tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn này rất cao, 1955 – 1960: 8,5%, 1960 – 1965: 9,8%, 1965 – 1971: 11,2%. GNP năm 1970 đạt 199,8 tỷ USD, tăng hơn 8,3 lần so với 23,9 tỷ của năm 1955. Tổng kim ngạch ngoại thương tăng 25 lần trong 20 năm (1950-1970). Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất (1973-1974) xảy ra thì cũng là lúc “sự thần kỳ Nhật Bản” chấm dứt. Lạm phát bùng nổ, giá cả tiêu dùng tăng cao, đến năm 1985, mức giá năng lượng đã tăng gấp 8 lần so với năm 1970. Tốc độ tăng trưởng trong những năm 1974-1985 chỉ còn trung bình 4,3%, chưa bằng một nửa của thời kỳ trước đó nhưng vẫn cao nhất trong các nước OECD. Thờì kỳ này, Nhật Bản đã tiến hành cải cách kinh tế, tập trung vào phát triển những ngành công nghệ mới, ít tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, thúc đẩy lĩnh vực dịch vụ. Nhờ thế đã đối phó được cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 2 (1979-1980), kinh tế không hỗn loạn, lạm phát được kiểm soát, giá cả ổn định và tăng trưởng kinh tế giữ được ở mức 3%. Tuy nhiên, mãi đến năm 1985 nền kinh tế Nhật mới bắt đầu phục hồi.
Bước vào thập kỷ 90, sau khi nền “kinh tế bong bóng” sụp đổ, nước Nhật lại một lần nữa bước vào giai đoạn ảm đạm, kinh tế suy giảm triền miên, tốc độ phát triển ì ạch, chỉ đạt khoảng 1,4%/năm. Đến tháng 03/2002 tổng mức nợ xấu là 440 tỷ USD. Số vụ phá sản hàng năm ở mức cao làm cho nạn thất nghiệp cũng tăng theo. Cuộc suy thoái kinh tế lần này của Nhật chủ yếu mang tính chất cơ cấu liên quan đến mô hình phát triển của Nhật đang bị thách thức với một môi trường đã thay đổi khác trước.
Từ 2002 đến nay, kinh tế Nhật đã phục hồi và Nhật Bản tiếp tục là nước đứng thứ 2 trên thế giới về kinh tế, khoa học kỹ thuật và tài chính. Nhật Bản có cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới.
Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp với nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến. Nhật Bản là nơi có thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới – thị trường chứng khoán Tokyo với khoảng 549.7 nghìn tỉ yên vào tháng 12/2006. Đây cũng là trụ sở của nhiều công ty dịch vụ tài chính, những tập đoàn kinh doanh và những ngân hàng lớn nhất thế giới như tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ (Mitsubishi UFJ Financial Group) với số vốn ước tính lên đến 1.7 nghìn tỉ đô la Mỹ, những tập đoàn kinh doanh và công ty đa quốc gia như Sony, Sumitomo, Mitsubishi và Toyota sở hữu hàng tỉ và hàng nghìn tỉ đô la đang hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm các nhà đầu tư hoặc dịch vụ tài chính như ngân hàng Sumitomo, ngân hàng Fuji, ngân hàng Mitsubishi.
2.2. VĂN HÓA KINH DOANH NHẬT BẢN Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
2.2.1. Văn hoá và con người Nhật Bản
2.2.1.1. Văn hoá Nhật Bản
Nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc
Văn hoá Nhật Bản ngày nay là sự kết tinh thành quả lao động hàng ngàn năm của những cư dân trên quần đảo Nhật Bản, là sự kết hợp sáng tạo những giá trị văn hoá bản địa và các giá trị văn hoá nước ngoài, là nơi hội tụ của văn hoá phương Đông và phương Tây.
Văn hoá Nhật Bản là một trong những nền văn hóa đặc sắc nhất thế giới, đã phát triển mạnh mẽ qua thời gian từ thời kỳ Jomon cho tới thời kỳ đương thời, mà trong đó chịu ảnh hưởng cả từ văn hóa châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Nghệ thuật truyền thống Nhật Bản bao gồm các nghành nghề thủ công như ikebana (cắm hoa), origami (gấp giấy), đồ chơi, đồ gỗ sơn mài và gốm sứ; các môn nghệ thuật biểu diễn như nhảy, kabuki (ca vũ kịch), no (kịch Nô), rakugo (truyện hài), ngoài ra còn phải kể đến những nét đặc sắc truyền thống khác như trà đạo, võ đạo, kiến trúc, vườn Nhật và cả ẩm thực.
Nhật Bản là một trong những quốc gia phức tạp nhất thế giới về tôn giáo. đây cùng đồng thời tồn tại các phong tục tập quán có nguồn gốc và theo phong cách tôn giáo khác nhau. Người Nhật đến lễ ở các đền của đạo Shinto (Thần đạo) vào năm mới, đi thăm các chùa chiền của đạo Phật vào mùa xuân nhưng tổ chức tiệc tùng và tặng quà nhau vào dịp lễ Noel theo cách của đạo Thiên Chúa. Các đám cưới thường được tổ chức theo nghi lễ của Thần đạo hoặc đạo Thiên Chúa, nhưng thủ tục ma chay thì lại được tiến hành theo nghi lễ của đạo Phật. Đạo gốc của Nhật Bản là Thần đạo, có nguồn gốc từ thuyết vật linh của người Nhật cổ, cho rằng cây cối, loài vật trong thiên nhiên đều có quỷ thần nên phải được thờ cúng. Người Nhật cũng coi trọng đạo Khổng, nhưng trên thực tế thì đạo Khổng đối với người Nhật có tư cách như những chuẩn mực đạo đức hơn là một tôn giáo. Đạo Cơ đốc khá thịnh hành với khoảng 1,7 triệu giáo dân, bao gồm cả tín đồ Tin Lành và Thiên Chúa. Tuy vậy ở Nhật ngày nay đạo Phật chiếm ưu thế so với các đạo giáo khác, với khoảng 92 triệu tín đồ.
Nét độc đáo và giàu bản sắc dân tộc thể hiện rất rõ ở việc giữ gìn những phong tục tập quán cổ truyền. Nhật Bản hiện nay là một nước công nghiệp phát triển, cuộc sống có mang hơi thở của một xã hội phương Tây hiện đại, nhưng không phải vì thế mà làm mất đi những giá trị truyền thống lâu đời. Các nghệ thuật truyền thống xa xưa như kịch no, kabuki, trà đạo, bonsai…các lễ hội truyền thống hàng năm như lễ hội mừng năm mới (Shogatsu), lễ hội búp bê (Hina matsuri), lễ Obon, lễ hội cấy…, tất cả đều được giữ gìn và không hề bị phai mờ theo dòng chảy của thời gian, dù là trong hoàn cảnh lối sống hiện đại đang du nhập một cách nhanh chóng.
Nói đến văn hoá Nhật Bản, còn phải nói đến sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Những nét đẹp cổ truyền trong văn hoá Nhật luôn được gìn giữ và bảo tồn, nhưng những cái mới, cái hiện đại cũng được tiếp thu khá nhanh chóng. Đi trên đất Nhật Bản, ở đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp những lăng tẩm, đền chùa…vẫn giữ nguyên lối kiến trúc cổ xưa, nhưng chúng ta cũng sẽ được chiêm ngưỡng cả những thành quả của khoa học kỹ thuật tiên tiến, những đô thị với kiểu kiến trúc hiện đại không thua kém bất cứ nơi nào trên thế giới.
Tính thích ứng và thực dụng cao
Khi nói đến đặc trưng của văn hoá Nhật Bản thì không thể không nói đến tính thích ứng và thực dụng cao. Điều này thể hiện bằng việc người Nhật có thể nắm bắt và vận dụng nhanh chóng những tiến bộ, thành tựu. Mỗi khi có sự thay đổi của bên ngoài, họ cố gắng nhận biết và kịp thời thích ứng một cách có hiệu quả. Người Nhật tiếp nhận, học tập, vận dụng hệ thống giáo dục, cách tổ chức xã hội, lối sống và cả tiến bộ kỹ thuật…của thế giới một cách linh hoạt, nhanh chóng khéo léo trong cách xử thế, do đó ít bị lạc hậu với thời cuộc. Điều này không chỉ có ý nghĩa khai thác lợi thế trong quan hệ quốc tế, mà còn trong việc ứng dụng các thành tựu mới, đặc biệt trong kinh tế. Có lẽ Nhật Bản là một trong số ít các quốc gia không có sự lựa chọn cố định học thuyết nào làm định hướng phát triển cho mình. Người Nhật tiếp nhận các học thuyết kinh tế từ trường phái cổ điển đến Mác, Keynes…, từ triết học phương Đông đến phương Tây… Phần lớn các hệ tư tưởng được ứng dụng, thích nghi và tồn tại ở Nhật Bản là xuất phát từ nhu cầu của họ để lựa chọn, cấy ghép, vì thế việc vận dụng ít bị máy móc và mang tính thực dụng cao.
2.2.1.2. Con người Nhật Bản Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Từ thời xa xưa, người Nhật luôn phải hứng chịu những thiên tai như động đất, lụt lội, núi lở, bão…Chính môi trường sống khó khăn khắc nghiệt đó đã góp phần không nhỏ vào việc hun đúc các phẩm chất dân tộc như lòng dũng cảm, tính kiên cường, ý thức tự chủ và sự khéo léo. Mặt khác, trong quá trình lao động sản xuất, các kỹ năng lao động, các thói quen, phép xử thế gắn chặt với những điều kiện xã hội phức tạp của nước Nhật đã giúp hình thành ở người Nhật các đức tính như yêu lao động, có kỷ luật…Những đặc điểm ấy đã in sâu trong tính cách của dân tộc Nhật, dù những điều kiện sinh sống và những nhân tố xã hội đã thay đổi rất nhiều.
Làm việc siêng năng, yêu lao động
Yêu lao động và nhiệt tình trong mọi lĩnh vực hoạt động lao động là đặc điểm quan trọng nhất trong tính cách dân tộc Nhật. Người Nhật là những người vô cùng chăm chỉ, đến mức văn phòng thủ tướng Nhật phải xúc tiến vận động trong giới công nhân Nhật một phong trào kêu gọi dân chúng làm việc ít đi. Rất nhiều công nhân Nhật còn tiếp tục công việc sau giờ làm việc bình thường. Họ về nhà rất muộn và chỉ có vài giờ nghỉ ngơi chuẩn bị cho ngày làm việc hôm sau. Số giờ làm việc của người Nhật khoảng 2.100 giờ/năm, cao hơn người Châu Âu từ 20%-25%. Không những thế, họ rất ít khi sử dụng hết ngày nghỉ có lương, dù số ngày nghỉ này không nhiều, khoảng từ 10 đến 20 ngày tuỳ vào thâm niên công tác. Công việc với người Nhật là một niềm say mê, vì thế họ luôn nhẫn nại, nỗ lực, kiên trì để có thể hoàn thành tốt công việc của mình.
Sự cần kiệm
Từ xưa, người Nhật đã phải hứng chịu những hậu quả do thiên tai, động đất, hoả hoạn và bão tố thường xuyên xảy ra nên trong họ đã hình thành ý thức dành dụm cho những lúc khó khăn. Hơn nữa, mỗi một người Nhật đều có hai ước mơ lớn trong đời là cho con cái được hưởng nền học vấn tốt nhất và mua nhà riêng, vì thế họ rất có ý thức tiết kiệm, đến mức chính phủ Nhật Bản phải có chính sách khuyến khích tiêu dùng trong nhân dân. Theo ngân hàng Nhật Bản mức tiết kiệm cá nhân ở Nhật năm 2001 vào khoảng 18% thu nhập có thể chi dùng, cao hơn nhiều so với 12% ở Đức, 5% ở Anh và 6% ở Mỹ.
Tính tập thể cao
Đây là yếu tố đặc trưng vượt trội, khó có thể tìm thấy ở các quốc gia khác. Trong đời sống của người Nhật, tập thể đóng vai trò rất quan trọng. Đơn độc, xa lạ và tách biệt với nhóm là nỗi khiếp sợ thường xuyên của người Nhật. Trái với chủ nghĩa cá nhân ở phương Tây, chủ nghĩa tập thể ở Nhật yêu cầu lợi ích cá nhân phải đặt dưới mục đích và tiêu chuẩn của tập thể. Sự thành công hay thất bại trong con mắt người Nhật đều là chuyện chung của nhóm và mọi thành viên trong nhóm, bất kể anh đã làm ra sao, đều hưởng chung sự cay đắng hay vinh quang mà nhóm đã đạt được (tập thể, nhóm ở đây có thể là công ty, trường học hay hội đoàn…).
Trong công việc, người Nhật thường gạt “cái tôi” của mình ra để đề cao cái chung, tìm sự hài hoà của mình và những thành viên khác trong tập thể. Họ cho rằng, một khi các điều kiện hoạt động làm ăn sinh sống của một xã hội, một cộng đồng hay một công ty, một tập thể mà tốt thì cuộc sống của họ cũng sẽ theo đó mà đi lên. Sự phát triển của tập thể chính là sự đảm bảo bền vững nhất cho bản thân con người họ. Trong các buổi họp hành, người Nhật thường ít cãi cọ hay dùng những từ có thể làm mất lòng người khác. Các tập thể có thể cạnh tranh với nhau gay gắt, nhưng tuỳ theo hoàn cảnh và trường hợp, các tập thể có thể liên kết với nhau để đạt mục đích chung. Hai công ty Nhật có thể cạnh tranh với nhau ở trong nước, nhưng khi ra nước ngoài lại có thể bắt tay nhau để cùng cạnh tranh với một công ty khác của nước ngoài. Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Không thích đối đầu với người khác
Bản tính của người Nhật không thích đối kháng, đặc biệt là đối đầu cá nhân. Để tránh điều đó, họ luôn làm theo sự nhất trí. Họ chú tâm giữ gìn sự hoà hợp đến mức nhiều khi lờ đi sự thật, bởi với người Nhật, giữ gìn sự nhất trí, thể diện và uy tín là vấn đề cốt tử… Chính vì vậy, trong xã hội Nhật, có rất ít chỗ cho ý tưởng cá nhân.
Tính kỷ luật
Đối với người Nhật, tính kỷ luật biểu hiện như là sự mong muốn đạt tới tính điều chỉnh. Đặc điểm này của họ đòi hỏi phải tuân theo một trật tự đã được quy định, có hành vi mà những người khác chấp nhận được, thực hiện cần mẫn nghĩa vụ của mình, kính trọng một cách không vụ lợi cấp trên và những người lớn tuổi.
Có óc cầu tiến và rất nhạy cảm với những biến đổi trên thế giới
Có thể nói không có dân tộc nào nhạy bén với cái mới bằng người Nhật. Họ không ngừng theo dõi những biến đổi của thế giới, đánh giá, cân nhắc những ảnh hưởng của trào lưu và xu hướng chính đang diễn ra đối với Nhật Bản. Khi xác định được trào lưu đang thắng thế, họ sẵn sàng chấp nhận, nghiên cứu và học hỏi để bắt kịp trào lưu đó, không để mất thời cơ. Người Nhật luôn tìm tòi, cải tiến từ những điều nhỏ nhất để không ngừng hoàn thiện công việc của mình.
Trung thành với truyền thống và chú trọng giữ gìn bản sắc dân tộc
Nhìn chung, tính truyền thống đã ăn sâu vào cách xử thế, ý nghĩ và nguyện vọng của dân tộc Nhật, trở thành một đặc điểm quan trọng trong tính cách của dân tộc này. Các truyền thống đã được hình thành trong xã hội Nhật vừa thể hiện hết sức rõ rệt tư tưởng kế thừa trong sinh hoạt xã hội, vừa củng cố các yếu tố dân tộc, văn hóa và đời sống. Người Nhật luôn tỏ thái độ trân trọng đối với di sản văn hoá của quá khứ, họ bảo vệ nghệ thuật sân khấu cổ điển, trà đạo, nghệ thuật cắm hoa… Các ngành nghề truyền thống không những không bị mai một đi mà còn được cải tiến kỹ thuật và càng trở nên tinh tế hơn.
Yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp
Người Nhật Bản rất yêu thiên nhiên và tôn trọng vẻ đẹp của nó. Họ luôn cố gắng tạo ra sự hài hoà với chúng kể cả trong điều kiện khắc nghiệt nhất. Mỗi gia đình Nhật dù nghèo đến đâu bao giờ cũng có một chậu cây và một bức tứ bình treo ở tokonoma (hốc tường). Ngay trên mảnh đất nhỏ xíu thế nào cũng phải có một khoảnh vườn với vài cây xanh, trụ đèn bằng đá, một rẻo đất phủ rêu và được chăm sóc rất kỹ.
Tình yêu đối với cái đẹp vốn có ở tất cả các dân tộc, nhưng ở người Nhật, đó là một bộ phận không thể tách rời của truyền thống dân tộc. Mỹ cảm đã được phát triển qua rất nhiều thế kỷ ở Nhật Bản, dần dần biến thành một thứ thờ phụng tôn giáo đối với cái đẹp, phổ biến trong mọi tầng lớp dân chúng. Bất kỳ ai lần đầu đến Nhật Bản cũng đều ngạc nhiên và thán phục về óc thẩm mỹ của người Nhật, từ cách trang trí nhà cửa, sắp xếp đồ đạc hay cách bày trí bữa ăn đều khiến cho người ta có cảm giác tiếp cận một sự tinh tế và óc thẩm mỹ cao. Khả năng lĩnh hội cao đối với cái đẹp cũng làm cho người Nhật hết sức đa cảm. Họ quen nhìn mọi việc theo quan điểm xúc cảm của riêng mình, kể cả khi mục tiêu đặt ra chỉ có thể đạt được bằng một thái độ tỉnh táo, khách quan.
2.2.2. Văn hoá kinh doanh Nhật Bản Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
2.2.2.1. Tinh thần làm việc hăng say
Sự say mê công việc: Người Nhật là những người say mê công việc đến mức người phương Tây đã đặt cho họ những cái tên như “những người nghiện làm việc” hay thậm chí là “động vật kinh tế”. Thông thường một nhân viên công ty ở Nhật bắt đầu ngày làm việc từ 9 giờ sáng và không về nhà trước 9 giờ tối. Họ tự nguyện làm thêm giờ cho công ty dưới nhiều hình thức khác nhau. Việc tự nguyện làm thêm giờ đến tận khuya là rất bình thường ở Nhật, thậm chí có những người còn cảm thấy xấu hổ khi về nhà đúng giờ sau giờ làm việc. Họ quan niệm “làm hết việc chứ không phải là làm hết giờ” và sẽ cảm thấy không hài lòng nếu không hoàn thành tốt công việc của mình. Có thể nói sự say mê và nỗ lực trong công việc đã ăn sâu vào ý thức của những người lao động Nhật Bản.
Ý thức trách nhiệm: Người Nhật luôn có ý thức trách nhiệm rất cao trong công việc. Khi giao việc cho một công nhân Nhật Bản thì hoàn toàn có thể yên tâm về kết quả cũng như tiến độ công việc. Việc đúng hẹn và làm thêm giờ là hết sức bình thường trong các doanh nghiệp Nhật Bản. Khi các doanh nghiệp làm việc với nhau, họ cũng phân công trách nhiệm rất rõ ràng. Ví dụ như khi cùng hợp tác để sản xuất ra một lô quần áo để xuất khẩu mà bị lỗi, họ sẽ rà soát xem khâu làm hỏng là khâu nào: thu mua nguyên liệu, dệt vải, nhuộm màu…và tất nhiên khâu nào làm sai sẽ phải mua lại toàn bộ lô hàng và chịu hoàn toàn trách nhiệm cũng như thiệt hại, nếu không sẽ bị tẩy chay trên thị trường.
Bên cạnh đó, người Nhật luôn đề cao tinh thần trách nhiệm đối với doanh nghiệp. Khi bắt đầu bước chân vào công ty nào đó, một nhân viên luôn được huấn luyện cho thấm nhuần tinh thần của công ty. Nội dung giáo dục thường nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm của công ty, sau đó là mục đích kinh doanh của công ty không chỉ nhằm vào lợi nhuận mà còn vì một lý tưởng nào đó. Ví dụ như ở công ty Matsushita, hàng ngày các nhân viên đều cùng nhau đọc lời huấn thị của công ty: “Chúng tôi xin thề thực hiện chức trách của người công nhân viên chức. Nỗ lực cải thiện sinh hoạt xã hội. Cống hiến hết sức mình cho sự phát triển văn hoá thế giới”. Cách giáo dục này có vẻ máy móc, không phù hợp với phong cách phương Tây nhưng lại đem lại hiệu quả cao ở Nhật.
2.2.2.2. Tinh thần tập thể cao, ý thức tổ chức kỷ luật chặt chẽ và cách ứng xử khéo léo nghiêm túc trong công việc
Ý thức tập thể và sự phân công trách nhiệm rõ ràng: Trong công ty, mọi người đều làm việc theo một nhóm nhất định. Mỗi người được phân công rõ ràng cụ thể về phạm vi trách nhiệm và quyền hạn, rồi cùng nhau cố gắng hoàn thành tốt công việc chung mà không hề câu nệ. Các lãnh đạo của Nhật thường hoà mình với các đồng nghiệp, đặt tập thể lên trên cá nhân, và qua đó đạt được vị trí cao nhất, lãnh đạo bằng sự đoàn kết chứ không phải bằng mệnh lệnh. Khi cần đưa ra một quyết định hay kế hoạch kinh doanh, họ thường thảo luận theo từng nhóm cho đến khi có được sự nhất trí hoàn toàn. Vì vậy, các quyết định thường là đúng đắn, và điều quan trọng là ngay từ lúc khởi đầu cho đến lúc ra quyết định là quá trình tìm kiếm và đạt được sự nhất trí của các cá nhân cũng như tập thể. Theo cách này, mọi nhân viên đều tham gia vào quá trình xây dựng công ty, và cũng vì vậy mà người Nhật luôn coi công ty như gia đình thứ hai của mình, sống vì nó, tự hào vì nó.
Ý thức tổ chức kỷ luật cao: Doanh nhân Nhật Bản nổi tiếng về tính kỷ luật và tổ chức. Đức tính này giúp các nhân viên giành được sự tin tưởng của lãnh đạo và cả công ty trở thành một khối thống nhất cùng thực hiện một mục tiêu chung. Người Nhật luôn luôn đúng giờ và làm việc theo kế hoạch. Họ cũng luôn có ý thức rõ ràng giữa tài sản công ty và tài sản cá nhân. Trong doanh nghiệp Nhật, việc sử dụng những đồ dùng văn phòng, gọi điện thoại cá nhân, sử dụng ô tô công cho mục đích cá nhân là điều cấm kỵ. Thậm chí nếu xe ô tô không có ai sử dụng và vẫn tính phí, nhưng nếu cần đi đâu đó với mục đích cá nhân thì họ cũng gọi taxi. Việc tiết kiệm chi phí tối đa cho công ty đã ăn sâu vào tiềm thức của người Nhật. Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Cách ứng xử khéo léo và nghiêm túc trong công việc: Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp còn được đánh giá qua cách ứng xử của các nhà lãnh đạo và nhân viên trong công việc. Tất cả các công ty Nhật Bản, dù lớn hay nhỏ, đều có rất nhiều những quy định cụ thể từ cách quyết định vấn đề, phạm trách nhiệm, quyền hạn, cách thực thi cho đến đạo đức của nhân viên, trang phục, cách ứng xử giao tiếp với khách… Ta có thể thấy một số ví dụ điển hình cho cách ứng xử trong công việc của người Nhật như sau:
Cách ứng xử qua điện thoại: Các công ty Nhật cho rằng ứng xử qua điện thoại của nhân viên là một tiêu chuẩn để người ngoài đánh giá công ty, điều này có thể còn ảnh hưởng đến cả sự thành bại trong công việc. Vì vậy nhân viên luôn được hướng dẫn phải có ý thức rằng mình là bộ mặt của công ty khi gọi và nhận điện thoại. Thậm chí có những quy định chi tiết như khi có điện thoại gọi đến, nhân viên phải cầm máy ngay trong một hoặc hai tiếng chuông và xưng tên công ty, nếu muộn hơn khi cầm máy phải nói: “Xin lỗi đã để quý khách chờ lâu”.
Hẹn trước qua điện thoại: Thông thường trước khi đến thăm một công ty Nhật Bản, phải gọi điện thoại trước lịch hẹn 1-2 giờ để thông báo chắc chắn về việc mình sẽ đến thăm họ. Nếu vì lý do gì đó không thể đến đúng giờ hẹn thì cũng phải gọi điện báo trước.
Giữ đúng hẹn: Các nhân viên luôn được yêu cầu phải giữ đúng hẹn, tuyệt đối không được để khách chờ. Việc đến trước 10 phút so với giờ hẹn là một trong những quy định sơ đẳng nhất.
Giao hàng cho khách đúng thời gian quy định cũng là một nguyên tắc bất di bất dịch. Công ty nào không giao hàng đúng hạn định sẽ gây trở ngại cho khách hàng, đánh mất sự tín nhiệm và khó nhận được các đơn đặt hàng tiếp theo. Vì vậy, các công ty Nhật luôn cố gắng khắc phục mọi khó khăn để giữ đúng hẹn.
Coi trọng hình thức: Chú ý đến hình thức là biểu hiện của phép lịch sự và rất được coi trọng trong môi trường kinh doanh Nhật Bản. Tuỳ vào ngành nghề và loại công việc mà có trang phục khác nhau. Trang phục sạch sẽ, phù hợp với hoàn cảnh không chỉ ảnh hưởng đến uy tín cá nhân mà còn ảnh hưởng tới uy tín công ty. Thậm chí có công ty còn quy định chi tiết đến cả cách để đầu tóc, móng tay, cà vạt… Comple được dùng phổ biến, ngay cả đối với những người lao động không làm việc trong văn phòng. Sau khi đến chỗ làm, họ thay trang phục, mặc quần áo lao động và hết ngày lại mặc comple trở về nhà.
Trao danh thiếp: Nhật Bản là một trong những nước sử dụng danh thiếp nhiều nhất thế giới. Việc không có hay hết danh thiếp khi đi giao dịch không bao giờ để lại ấn tượng tốt với khách hàng.
Giao dịch, tiếp khách trong kinh doanh: Việc giao dịch, trao đổi trong kinh doanh không nhất thiết phải tiến hành ở văn phòng. Không ít những cuộc thoả thuận được tiến hành dưới hình thức những bữa ăn tối. Điều này đã trở thành một tập quán trong đời sống kinh doanh của người Nhật. Có khi người Nhật vừa chúc rượu vừa bàn bạc chuyện kinh doanh đến tận những chi tiết cụ thể. Những dịp như thế kéo dài từ chiều đến tối, ranh giới không rõ ràng là trong hay ngoài giờ làm việc. Chi phí cho những cuộc tiếp đãi như vậy được coi là chi phí cần thiết, ghi trong mục “chi phí cần thiết” hay “chi phí tiếp đãi”, và cũng được Sở Thuế chấp nhận không đánh thuế trong một giới hạn nào đó.
2.2.2.3. Lấy con người làm trung tâm trong quản trị kinh doanh Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Phong cách quản lý này hướng vào con người, lấy con người làm trung tâm chú ý và coi đó là đòn bẩy cho sự phát triển công ty và nền kinh tế nói chung.
Phát huy tính tích cực của nhân viên
Người Nhật Bản quan niệm rằng: trong bất cứ ai cũng đồng thời tồn tại cả mặt tốt lẫn mặt xấu, tài năng dù ít nhưng đều ở đâu đó trong mỗi cái đầu, khả năng dù nhỏ nhưng đều nằm trong mỗi bàn tay, cái Tâm có thể còn hạn hẹp nhưng đều ẩn trong mỗi trái tim, nhiều khi còn ở dạng tiềm ẩn, hoặc do những cản trở khách quan hay chủ quan. Vấn đề là gọi thành tên, định vị nó bằng các chuẩn mực của tổ chức, tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, thúc đẩy bằng đào tạo, sẵn sàng cho mọi người tham gia vào việc ra quyết định theo nhóm hoặc từ dưới lên. Các doanh nghiệp Nhật Bản đều coi con người là tài nguyên quí giá nhất, nguồn động lực quan trọng nhất làm nên giá trị gia tăng và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Người Nhật Bản quen với điều: sáng kiến thuộc về mọi người, tích cực đề xuất sáng kiến quan trọng không kém gì tính hiệu quả của nó, bởi vì đó là điều cốt yếu khiến mọi người luôn suy nghĩ cải tiến công việc của mình và của người khác. Một doanh nghiệp sẽ thất bại khi mọi người không có động lực và không tìm thấy chỗ nào họ có thể đóng góp.
Công tác đào tạo và sử dụng người
Một trong những đặc trưng tạo ra văn hoá kinh doanh của người Nhật là chế độ tuyển dụng, đào tạo nhân viên của họ. Thực tế và hoàn cảnh của Nhật Bản khiến nguồn lực con người trở thành yếu tố quyết định đến sự phát triển của các doanh nghiệp. Điều đó được xem là đương nhiên trong văn hóa kinh doanh Nhật Bản. Các doanh nhân khi hoạch định chiến lược kinh doanh luôn coi đào tạo nhân lực và sử dụng tốt con người là khâu trung tâm. Họ thường có hiệp hội và có quĩ học bổng dành cho sinh viên những ngành nghề mà họ quan tâm. Họ không đẩy nhân viên vào tình trạng bị thách đố do không theo kịp sự cải cách quản lí hay tiến bộ của khoa học công nghệ mà chủ động có kế hoạch ngay từ đầu, tuyển dụng và thường kì nâng cấp trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên. Các hình thức đào tạo rất đa dạng, nhưng chú trọng các hình thức đào tạo nội bộ mang tính thực tiễn cao. Việc sử dụng người luân chuyển và đề bạt từ dưới lên cũng là một hình thức giúp cho nhân viên hiểu rõ yêu cầu và đặc thù của từng vị trí để họ xác định cách hiệp tác tốt với nhau, hiểu được qui trình chung và trách nhiệm về kết quả cuối cùng, cũng như thuận lợi trong điều hành sau khi được đề bạt. Cách thức ấy cũng làm cho các tầng lớp, thế hệ hiểu nhau, giúp đỡ nhau và cho mọi người cơ hội gắn mình vào một lộ trình công danh rõ ràng trong doanh nghiệp. Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Chế độ làm việc suốt đời
Chế độ này có nghĩa là người lao động được tuyển ngay sau khi ra trường, và sẽ làm việc tại công ty đó cho đến lúc về hưu ở độ tuổi nhất định, thường là 55 tuổi.
Về phía người lao động, mặc dù không có một văn bản hợp đồng nào được ký kết song một khi đã được công ty lớn tuyển dụng thì người đó mặc nhiên trở thành nhân viên chính thức, thường xuyên và làm việc suốt đời ở công ty này nếu họ muốn. Người đó sẽ không được phép rời bỏ công ty vì bất cứ lý do gì, vì người nhân viên bỏ chủ rất có thể sẽ không kiếm được việc làm khác do ở Nhật không tồn tại thị trường lao động mở theo chiều ngang giữa các công ty mà chỉ có thị trường lao động nội bộ công ty theo chiều dọc và khép kín, hoặc nếu có tìm được việc làm thì trong mắt của chủ và đồng nghiệp mới anh ta cũng chỉ là kẻ phản bội xa lạ, luôn bị nghi ngờ và khó hoà nhập được với tập thể mới. Hơn thế chế độ làm việc suốt đời bao giờ cũng đi liền với chế độ nâng lương và đề bạt theo thâm niên, do vậy người công nhân chỉ có tiếp tục làm mãi tại cùng một công ty thì mới tiếp tục tận dụng được những lợi thế vật chất và tinh thần do thâm niên tích luỹ được tạo ra.
Về phía công ty, khi tuyển nhân viên về, họ có trách nhiệm bảo đảm mọi quyền lợi vật chất cũng như tinh thần ổn định, đầy đủ và lâu dài cho nhân viên, không sa thải nhân viên trừ khi họ phạm những lỗi rất nặng và cố ý làm tổn hại đến công ty. Do chế độ làm việc suốt đời nên chỉ bằng cách dùng mãi một nhân viên, công ty mới có thể khai thác hết kinh nghiệm và kỹ năng mà nhân viên đó đã tích luỹ được. Hơn nữa do không có thị trường lao động mở giữa các công ty theo chiều ngang nên công ty không dễ tuyển được những nhân viên tương tự từ nơi khác đến.
Người lao động được khuyến khích tham gia vào việc quản lý
Điều này được thể hiện rõ nhất qua chế độ quyết định Ringi. Khi trong công ty có vấn đề nảy sinh ở một phòng ban nào đó, người lãnh đạo nơi ấy sẽ thảo một văn kiện gọi là Ringosho, trong đó phải trình bày rõ vấn đề và ý kiến của mình rồi chuyển tới những nơi có liên quan để xin ý kiến của tất cả mọi người. Sau đó, ông chủ tịch sẽ là người thông qua bằng cách đóng con dấu của mình rồi chuyển lại cho người dự thảo ban đầu để thực hiện. Việc ra quyết định tập thể theo kiểu này, mặc dù tiến triển chậm nhưng lại đề cao và phát huy được tinh thần trách nhiệm của người lao động. Hơn nữa, bằng cách này, mọi người sẽ hiểu rõ hơn mọi khía cạch của quyết định, do đó việc thực hiện sẽ nhanh chóng, hiệu quả và thông suốt. Các công nhân còn được khuyến khích thành lập các nhóm kiểm tra chất lượng gồm 8-10 người thuộc cùng một phân xưởng hoặc cùng một loại công việc giống nhau, tự nguyện và định kỳ gặp nhau để xác định, phân tích và giải quyết các vấn đề có liên quan tới công việc. Các nhóm này thực sự thu hút được đông đảo tầng lớp công nhân tham gia vào quản lý công ty, giúp nâng cao tay nghề của công nhân và chất lượng sản phẩm cũng được đảm bảo hơn.
2.2.2.4. Coi trọng sự kín đáo, tinh tế và lễ nghi trong giao tiếp Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
Phong cách giao tiếp của người Nhật hết sức đặc trưng và độc đáo không thể nhầm lẫn, với các đặc điểm sau:
Coi trọng lễ nghi, thứ bậc thức tôn trọng thứ bậc đã ăn sâu trong tư tưởng của người Nhật từ lâu. thức này bắt nguồn từ Rei (lễ) của Khổng Tử, quy định những quan hệ giữa người và người trong sinh hoạt xã hội, công sở và cá nhân. Những đòi hỏi của Rei dùng làm cơ sở cho sự vâng lời, phục tùng và tôn kính trước những người có uy tín. “Quan hệ giữa người trên và người dưới cũng như quan hệ giữa gió và cỏ, cỏ phải rạp xuống khi gió thổi”. Bởi thế trong các công ty của Nhật Bản, người ta rất chú ý và coi trọng những lễ nghi và thứ bậc đã được quy định. Ví dụ, trong phòng họp hay trong các buổi tiệc, người có chức vụ thấp nhất sẽ ngồi gần cửa ra vào, người có chức vụ càng cao thì càng ngồi gần phía bên trong. Cũng như vậy, trong một tổ chức hay công ty, các nhóm làm việc luôn theo sát sự chỉ đạo của người đứng đầu. Mọi hoạt động thường xuyên cũng như những thay đổi dù là nhỏ nhất phải luôn được báo cáo bằng văn bản cho cấp trên và chỉ khi nào được sự đồng ý ở trên mới được tiến hành.
Sắc thái tôn ti trật tự trong xã hội còn thể hiện rất rõ trong cách xưng hô và hình thức chào hỏi của người Nhật. Trong tiếng Nhật, người ta sử dụng tới 3 nhóm ngôn ngữ để nói chuyện: đối với người lớn tuổi hay người có địa vị thì phải dùng kính ngữ (Sonkeigo), khi nói về mình hoặc những người trong gia đình thì dùng khiêm tốn ngữ (Kensongo), và với bạn bè thì sử dụng ngôn ngữ thông thường. Người nào nói không đúng cách có thể bị xem như là người thiếu hiểu biết không được học hành đầy đủ. Ở Nhật, mọi lời chào đều đi kèm cái cúi mình. Người ít tuổi phải cúi chào người lớn tuổi, trò cúi chào thầy, chủ nhà cúi chào khách, người bán hàng cúi chào người mua, thương nhân cúi chào bạn hàng, người đi vay cúi chào chủ nợ. Nhận được ân huệ càng lớn thì cúi chào phải càng thấp.
Chính vì lý do này mà các nhân viên mới bao giờ khi vào công ty cũng phải trải qua một khoá đào tạo về văn hoá trong công ty, từ cách chào hỏi, đi đứng, cách nói chuyện điện thoại… Các công ty cho rằng phong cách của nhân viên thể hiện bộ mặt của công ty và coi việc có biết ứng xử theo đúng những phép xã giao cơ bản hay không là một trong những tiêu chuẩn để tuyển chọn nhân viên.
Coi trọng sự kín đáo và tinh tế trong giao tiếp
- Honne và Tatemae: Với người nước ngoài, đây có thể là khái niệm khó hiểu nhất trong văn hóa Nhật Bản. Honne là thực chất của sự việc, còn tatemae là danh nghĩa công khai, chỉ mang tính ngoại giao. Do bản tính tế nhị và khiêm nhường, người Nhật sẽ tránh nói lên cảm giác thật (honne) của mình để giữ hoà khí, cái được trình bày công khai chỉ là Trong một xã hội văn hoá lấy chữ hoà làm trọng, người Nhật chỉ nói cái người nghe thích nghe. Khi phát ngôn, họ quan tâm đến nghi thức hơn nội dung phát ngôn. Với khách hàng nước ngoài, việc nắm được tatemae thông qua honne là rất khó khăn. Ngưòi Nhật thường không biểu lộ cảm xúc qua nét mặt, thường giữ im lặng rất lâu, tránh nói “không” trực tiếp… nên việc tìm hiểu thực sự không dễ dàng.
- On và Giri: On là ơn, giri là nghĩa vụ. Đây là hai nguyên tắc quan trọng, điều chỉnh hành vi trong giao tiếp của người Nhật, xuất phát từ tinh thần Võ sĩ đạo. Nếu không có quan hệ đặc biệt từ trước, người Nhật sẽ đối xử với bạn theo giri, tức là đúng bổn phận của họ. Còn nếu đã có on với nhau, ví dụ như bạn đã từng giúp đỡ họ tìm bác sĩ khi ốm đau, tìm chỗ ở khi ra nước ngoài… thì họ sẽ cố gắng trả ơn và việc giao dịch của bạn sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Vì vậy, xây dựng quan hệ cá nhân trong giao dịch với người Nhật là vô cùng quan trọng.
Với những truyền thống và lễ nghi chặt chẽ như vậy, người ngoài khó có thể thấu hiểu hết, nên xã hội Nhật Bản thường được các nhà nghiên cứu cho là “xã hội đóng” vói người nước ngoài. Hơn nữa, do lòng tự tôn dân tộc rất cao, người Nhật cũng có xu hướng kỳ thị các Gaijin (người nước ngoài). Người Nhật thích làm việc cho công ty Nhật hơn là làm việc cho người nước ngoài dù lương cao hơn, thích tiêu dùng hàng Nhật hơn vì tin là chỉ có hàng Nhật mới đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người Nhật… Đây là một rào cản đáng kể cho các doanh nhân nước ngoài khi muốn thâm nhập vào thị trường Nhật Bản. Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng VH Nhật Bản đến Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng văn hóa kinh doanh của Nhật Bản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
