Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI NÓI ĐẦU

Nếu năm 2007 được gọi là năm của những bất ổn, thì năm 2008 sẽ có tên năm của những cuộc khủng hoảng. Khủng hoảng từ nguồn lương thực đến nhiên liệu, từ tài chính đến chính trị, từ môi trường đến an ninh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của nhân loại. Trong các cuộc khủng hoảng thì có lẽ cụm từ được thế giới nhắc đến nhiều nhất là “khủng hoảng tài chính”. Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ và nó nhanh chóng lan ra toàn thế giới. Không chỉ dừng lại ở một lĩnh vực là tài chính, mà nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực khác. Nhiều nhà phân tích tài chính, kinh tế nổi tiếng thế giới đã ví nó là cuộc khủng hoảng lớn nhất từ trước đến nay, hơn cả cuộc khủng hoảng những năm 30 của thế kỉ trước. Điều này cũng hoàn toàn đúng, vì thế giới đã thay đổi rất nhiều, nhiều ngành nghề mới, lĩnh vực mới xuất hiện, nhiều quốc gia trên thế giới đã ra nhập vào thị trường toàn cầu và khi khủng hoảng xảy ra thì nền kinh tế thế giới sẽ càng bị ảnh hưởng theo cả chiều sâu và chiều rộng hơn. Các nước phát triển bị ảnh hưởng nghiêm trọng – đó là một điều tất yếu, vậy các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng bị ảnh hưởng như thế nào? Có nghiêm trọng hay không? Và những lĩnh vực nào là chịu ảnh hưởng nhất. Chính vì vậy, em xin chọn nghiên cứu đề tài “ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển” để có thể phân tích rõ hơn những ảnh hưởng này, và từ đó có thể đưa ra các giải pháp để ứng phó với khủng hoảng, giúp Việt Nam nói riêng, và một số nước đang phát triển nói chung nhanh chóng thoát ra khỏi vòng xoáy của cuộc khủng hoảng này. Trong thời gian viết do trình độ hiểu biết còn hạn chế nên không thể tránh được các sơ xuất, vì vậy mong các thầy cô đóng góp ý kiến và giúp đỡ cho em. Em xin chân thành cảm ơn!

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

CHƯƠNG I: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HIỆN NAY VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN

Khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, vì vậy để nghiên cứu về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam và một số nước đang phát triển thì em xin nghiên cứu về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến Việt Nam và các một số nước đang phát triển để từ đó có cái nhìn toàn diện và bao quát hơn về cuộc khủng hoảng này.

I. Tổng quan về cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay và những nguyên nhân: Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

1. Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay:

“Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009” là cụm từ được giới báo chí sử dụng để chỉ tình trạng bất ổn định tài chính như đói tín dụng và thu hồi nợ, mất giá tiền tệ, sụt giá chứng khoán diễn ra đồng thời nhiều nơi trên thế giới từ tháng 8 năm 2008. Cuộc khủng hoảng này là sự phát triển và lan tỏa của cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và nó tiếp tục diễn ra cho đến năm 2009, và không biết bao giờ nó mới thực sự kết thúc. Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại ở hầu hết các nước.

Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu có thể được nêu rõ qua các mốc thời gian sau:

Tháng 3-4/2007: Tập đoàn tài chính New Century(1) ngừng cho vay vốn sau thời gian dài thực hiện chính sách cho vay bằng tài sản thế chấp với độ rủi ro cao đối dành cho những khách hàng vay vốn nhiều và thường xuyên từ ngân hàng.

Trong thời gian này, quỹ Tiền tệ quốc tế IMF đã phải lên tiếng cảnh báo về mức độ rủi ro đối với thị trường tài chính toàn cầu khi nhận thấy những dấu hiệu suy yếu từ thị trường cầm cố bất động sản Mỹ.

Tháng 6-2007: Hồi chuông cảnh báo của phố Wall vang lên khi hai quỹ bảo đảm tại ngân hàng đầu tư Bear Stearns(2) của New York đang trên bờ vực phá sản vì lượng tiền đầu tư vào chứng khoán có thể chấp là quá lớn.

Tháng 7-8/2007: Các ngân hàng tại Đức với những khoản đầu tư không sinh lợi tại thị trường bất động sản Mỹ cũng bị cuốn vào cuộc khủng hoảng này, bao gồm: Ngân hàng công nghiệp Đức IKB(3), Ngân hàng bang Saxony (Sachsen LB) và ngân hàng bang Bavaria (Bayern LB).

Với phát biểu “Thị trường phải tự vận động để cứu mình”, Tổng thống Mỹ George Bush vẫn kiên quyết từ chối những yêu cầu hỗ trợ từ Chính phủ nước này nhằm xoa dịu tình hình thị trường cầm cố nhà đang khủng hoảng nghiêm trọng. Nhưng sau đó, khi không có được những dấu hiệu khả quan hơn, tổng thống Mỹ đã hứa sẽ giúp đỡ các chủ bất động sản đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng để xoa dịu tình hình.

Tính tới thời điểm tháng 7/2007: Số lượng tài sản thế chấp bị tịch thu tại Mỹ đã lên tới 180,000 bất động sản, tăng 93% so với thời điểm cách đó một năm.

Tháng 9/2007: Ngân hàng Northern Rock của Anh(4) bị bao vây bởi nỗi lo lắng của các khách hàng đang gửi tiết kiệm tại đây. Trước tình hình đó, Chính phủ cũng như Ngân hàng Anh buộc phải đứng ra bảo lãnh cho các khoản tiền gửi của khách hàng bằng cách quốc hữu hóa Northern Rock.

Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) bắt đầu áp dụng một loạt mức giảm lãi suất để xoa dịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng cầm cố tài sản và thị trường bất động sản đang rớt giá mạnh.

Tháng 10/2007: Lợi nhuận của “Người khổng lồ Mỹ” Citigroup(5) cũng giảm rõ rệt.

Qũy tiền tệ quốc tế IMF đã phải đánh giá lại dự đoán mức tăng trưởng của đồng euro trong năm 2008 từ 2,5% xuống còn 2,1%(6), nguyên nhân một phần là do ảnh hưởng kéo theo từ cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ và thị trường tín dụng nước này.

Tháng 12/2007: Tổng thống Mỹ George Bush tuyên bố kế hoạch giúp đỡ cho thêm 1,2 triệu chủ sở hữu bất động sản trong việc thanh toán các khoản nợ tại ngân hàng.

Tháng 1/2008: Ngân hàng khổng lồ của Thụy Sỹ UBS(7) thông báo cắt giảm 18 tỉ USD vào thị trường bất động sản Mỹ.

Còn tại Mỹ, ngân hàng Mỹ (Bank of American) tiến hành mua lại Countrywide Financial, ngân hàng cho vay có thế chấp lớn nhất nước này. Trong 3 quý liên tiếp, Cục dự trữ liên bang (Fed) đã phải giảm mức lãi suất điểm % lên tới 3,5% theo xu hướng bán hạ giá của thị trường thế giới. Tháng 2/2008: Fannie Mae(8), nguồn tiền lớn nhất rót vào các khoản vay bất động sản Mỹ thông báo chỉ trong quý 4 của năm 2007, hãng đã thua lỗ 3,35(9) tỉ USD, khoản thua lỗ cao gấp 3 so với dự đoán, cho thị trường này. Tháng 3/2008: Trên bờ vực phá sản cùng sức ép từ Cục dự trữ liên bang (Fed), Bear Stearns buộc phải chấp nhận bị mua lại bởi ngân hàng đầu tư Mỹ JP Morgan Chase(10). Số tiền dành cho thương vụ này lên tới 30 tỉ USD sẽ dùng để chi trả cho các khoản nợ mà ngân hàng này đã vay của Fed.

Tại Đức, Ngân hàng Đức thông báo thua lỗ 141 triệu euro(11) trong quý 1 năm 2008, trong 5 năm liên tiếp đây là lần đầu tiên ngân hàng này làm ăn thua lỗ. Fed nhắm tới sự hợp tác giữa các ngân hàng trung tâm thế giới nhằm bình ổn nền kinh tế toàn cầu bằng cách thông báo rót 200 tỉ USD tiền mặt vào các thị trường đang khủng hoảng.

Carlyle Capital(12) trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ với khoản nợ lên tới 16,6 tỉ USD(13). Nước Mỹ cũng phải rót 200 tỉ USD nhằm cứu vãn Fannie Mae và Freddie Mac(14) thoát khỏi khó khăn.

Tháng 4/2008: IMF thông báo đã chịu thua lỗ 945 tỉ USD cho cuộc khủng hoảng tài chính(15). Bộ trưởng các nước G7 tán thành đề xuất đưa ra các điều chỉnh tài chính mới để chống lại cuộc khủng hoảng đang ngày càng lan rộng. Tháng 6/2008: Một điều đáng nói là trong khi thị trường bất động sản Mỹ ngày càng khủng hoảng nghiêm trọng hơn thì số lượng người được nhận lại các ngôi nhà đã thế chấp lại tăng gấp đôi. Góp công sức cho hiện tượng lạ lùng này, Bear Stearns đã liên hiệp thành công trong 400 vụ bị buộc tội lừa đảo bằng các văn tự thế chấp. Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Tháng 7/2008: Ngân hàng cho vay thế chấp tại bang California (Mỹ) tuyên bố phá sản. Những khó khăn của Fannie Mae và Freddie Mac ngày càng nhiều. Kho bạc và Cục dự trữ liên bang Mỹ buộc phải đứng ra đảm bảo cho các khoản nợ của Fannie và Freddie.

Tổng thống Mỹ George Bush sau khi phê chuẩn quyết định bảo đảm này đã trấn án người dân Mỹ: “Mọi người phải bình tĩnh và có niềm tin vào thị trường”.

Cơ quan lập pháp Hoa Kỳ đã thông qua chương trình rót hàng tỉ USD cuối cùng để cứu vãn cuộc khủng hoảng tịch thu tài sản để thế nợ và khủng hoảng văn tự thế chấp.

Martina-Fadesa, hãng đầu tư tài sản lớn nhất của Tây Ban Nha tuyên bố phá sản.

Ngày 7/9/2008: Chính phủ Mỹ nắm quyền kiểm soát Fannie và Freddie sau khi chi 200 tỉ USD để cứu 2 ngân hàng thoát khỏi tình trạng phá sản.

Ngày 15/9/2008: Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers(16) tuyên bố phá sản với khoản nợ lên tới 600 tỉ USD(17). Merrill Lynch bị mua lại bởi ngân hàng Mỹ (Bank of America).

Ngày 17/9/2008: Mỹ rót 85 tỉ USD giúp hãng bảo hiểm khổng lồ AIG(18) thoát khỏi khó khăn.

Ngày 19/9/2008: Nhà Trắng yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ thông qua kế hoạch chi 700 tỉ USD giúp đỡ tất cả các công ty tài chính chìm nghỉm trong những mã chứng khoán có thế chấp đang mất giá nhanh chóng(19).

Ngày 22/9/2008: Morgan Stanley(20) và Goldman Sachs(21), hai ngân hàng đầu tư danh tiếng cuối cùng, chuyển đổi sang mô hình tập đoàn ngân hàng. Ngày 26/9/2008: Cục dự trữ liên bang tuyên bố ngân hàng Washington Mutual phá sản, đây được coi là một trong những vụ sụp đổ ngân hàng lớn nhất nước Mỹ.

Ngày 29/9/2008: Đại diện nhà Trắng bác bỏ kế hoạch chi 700 tỉ USD để xoa dịu thị trường.

Ngày 29/9/2008: Kế hoạch hỗ trợ từ Chính phủ đối với các ngân hàng chủ chốt tại Anh (ngân hàng Benelux) và tại Đức, cũng như tiếp quản một ngân hàng tại Aixơlen.

Chính phủ Anh quyết định can thiệp để giữ lại nhà cho vay thế chấp quan trọng Bradford & Bingley(22). Chính phủ Hà Lan, Bỉ và Luxembourg quyết định tiếp quản phần lớn ngân hàng Belgian -Dutsch và công ty bảo hiểm Fortis.

Bộ Tài chính Đức thông báo Chính phủ và các ngân hàng hàng đầu đã bơm hàng tỉ euro vào nhà cho vay thế chấp Hypo Real Estate(23) để cứu vãn khó khăn.

Chính phủ Aixơlen cùng ngân hàng Glinir(24) chính thức tuyên bố chính phủ sẽ nắm quyền kiểm soát 75 % cổ phiếu của ngân hàng này.

Ngày 30/9/2008: Ngân hàng Wachovia(25) chao đảo bên bờ vực phá sản bắt đầu tiến hành đàm phán với Citigroup để trao quyền kiểm soát lại cho Citigroup.

Ngày 1/10/2008: Thượng nghị viện Mỹ thông qua kế hoạch rót tiền cho thị trường tài chính đang khủng hoảng.

Ngày 2/10/2008: Tổng thống Bush đã ký đạo luật giải cứu thị trường tài chính lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Nước Mỹ chao đảo và thế giới sửng sốt trước sự suy sụp của hàng loạt tên tuổi lớn trong hệ thống tài chính Mỹ và không ít người đã ví cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay với cuộc Đại khủng hoảng 1929 – 1933(26), hoặc chí ít đang đặt nước Mỹ và thế giới trước các chấn động lớn vượt ra ngoài các chấn động chu kỳ thông thường.

Trên đây là những mốc quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và cho đến bây giờ cuộc khủng khoảng tài chính vẫn tác động mạnh mẽ đến các mặt của thế giới.

2. Ảnh hưởng chung của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đến thế giới: Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Nhiều quốc gia đã phải bơm vào nền kinh tế hàng trăm cho đến hàng nghìn tỉ USD để cứu vãn tình hình và ổn định kinh tế. Đó là chưa kể đến những thiệt hại tiếp theo từ kinh tế suy giảm, không tăng trưởng, rối loạn đang chờ phía trước. Cho đến nay, tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng này là làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành công nghiệp tài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu. Sự sụp đổ của những ngân hàng lớn đã gây nên những lo ngại và mất niềm tin của dân chúng. Ngay cả các quỹ đầu tư tiền tệ, vốn được coi là góc an toàn bậc nhất trong hệ thống tài chính Mỹ, là nền tảng cho hoạt động đầu tư của nước này, cũng gặp khó khăn khi người dân ồ ạt rút tiền do những quan ngại về sự đổ vỡ tiếp theo.

2.1. Ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng:

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải giảm bớt các dự đoán đưa ra về tốc độ tăng trưởng của nước mình đã đưa ra trước đây, một số quốc gia không những giảm mà còn đưa ra con số âm. Điều này cũng thật dễ hiểu vì ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến thế giới ngày càng trở nên sâu sắc.

Ngày 8-3-2009, Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra báo cáo nhận định về cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu hiện nay khẳng định “GDP toàn cầu trong năm 2009 sẽ giảm mạnh nhất trong vòng 60 năm qua”. Theo WB, sản lượng công nghiệp toàn cầu sáu tháng đầu năm 2009 sẽ ít hơn 15% so với cùng kỳ năm 2008. Giá trị trao đổi thương mại toàn cầu ở mức thấp nhất trong 80 năm qua. Cuộc khủng hoảng lần này gây thiệt hại cho cả các nước phát triển và đang phát triển. Giá trị thương mại của khu vực Ðông Á(27), nơi có nhiều nền kinh tế có xuất khẩu lớn, bị suy giảm mạnh nhất. Thí dụ, Chính phủ Nhật Bản thông báo, kim ngạch xuất khẩu của nước này trong tháng 1-2009 giảm 46,3% so với cùng kỳ năm 2008 và là mức thâm hụt thương mại đầu tiên trong 13 năm qua(28). Nền kinh tế Nhật Bản đang ở trong một chu kỳ suy thoái kéo dài nhất kể từ cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới đầu những năm 30 của thế kỷ 20.

Uỷ ban châu Âu (EC) công bố những dự báo kinh tế bi quan, theo đó năm 2009, kinh tế của châu Âu sẽ suy thoái nặng nề song hành với tình trạng thất nghiệp tăng mạnh. Theo dự đoán của EC, năm 2009, tăng trưởng của các nước Liên hiệp châu Âu (EU) trung bình sẽ là âm 1,8%, trong đó các nước thuộc khu vực đồng Euro sẽ tồi tệ hơn là âm 1,9% và tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực này là 9,25%. EC cho rằng tình trạng suy thoái trên mang tính toàn cầu. Dự đoán năm 2009, tổng sản phẩm quốc nội của các nước trên thế giới sẽ tiếp tục giảm, chỉ còn 0,5%, so với 3,3% của năm 2008 (tỷ lệ này là 5% năm 2004 và 2007). Kinh tế đi xuống kéo theo các hoạt động kinh doanh của nhiều tập đoàn trì trệ. Nhiều công ty và hãng lớn trên thế giới đã phải công bố cắt giảm việc làm để tiết kiệm chi tiêu.

Viện nghiên cứu Kinh tế và Xã hội quốc gia Anh cho biết, sức tiêu dùng của người dân Anh năm 2009 sẽ giảm 3,8%, gấp hai lần mức giảm được cho là kỷ lục 1,6% hồi năm 1991, một mức thấp chưa từng thấy trong nhiều thập niên qua tại nước này(29). Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Trung ương Anh (BoE), nền kinh tế Anh đang trong giai đoạn “suy thoái sâu”, trầm trọng nhất trong 60 năm qua. Với đánh giá ảm đạm nhất từ trước đến nay, BoE cho rằng, kinh tế Anh sẽ suy yếu nghiêm trọng trong nửa đầu năm nay và suy thoái có nguy cơ kéo dài hơn và trầm trọng hơn dự kiến. Theo BoE, mức giảm của kinh tế Anh năm 2009 sẽ là 3%.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Nga Alexei Kudrin đánh giá năm 2009 sẽ là năm khó khăn nhất đối với Nga và thừa nhận ban lãnh đạo Nga đã không lường được cuộc khủng hoảng hiện nay lại trầm trọng đến vậy. Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Theo báo Diễn đàn thông tin quốc tế, nền kinh tế Ðức, nhà xuất khẩu đứng đầu thế giới và là đầu tàu kinh tế của EU, đang nghiêng ngả trong cơn suy thoái tồi tệ nhất từ năm 1990. Chủ tịch Hội đồng Mỹ và Ðức Uy-liêm Ðrô-dơ-đi-ắc cho rằng, trong ba hoặc sáu tháng nữa, ảnh hưởng của “cơn bão” tài chính sẽ nặng nề hơn. Sự sa sút của nền kinh tế Ðức có thể làm cho EU gồm 27 nước thành viên bị “tan rã thành từng mảng”. Theo ông, những khó khăn từ cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế có thể làm cho Ðức và các nước EU khác khó có thể cộng tác chặt chẽ với Mỹ trong việc triển khai chiến lược mới của NATO ở Afghanistan và Trung Ðông.

Báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ cho biết, nền kinh tế nước này tiếp tục lún sâu vào suy thoái do GDP trong quý IV-2008 giảm 3,8%, mức giảm lớn nhất kể từ quý I-1982. Trong cuộc họp báo đầu tiên trên cương vị được truyền hình trực tiếp trên toàn nước Mỹ, Tổng thống Obama đã nhấn mạnh thực trạng nền kinh tế đang “ở mùa đông của sự khó khăn”. Tại Mỹ, chính quyền đảng Dân chủ của Tổng thống B.Obama đã triển khai gói kích cầu kinh tế thứ hai trị giá 787 tỷ USD, song dường như cuộc suy thoái kinh tế vẫn diễn ra nghiêm trọng hơn. Hàng loạt các đại gia tài chính, công nghiệp chưa có cách thoát ra khỏi cơn lốc. Sản xuất phải thu hẹp. Công nhân bị sa thải. Tỷ lệ thất nghiệp đến tháng 2-2009 đã chiếm 8,1% lực lượng lao động(30).

Theo nhận định của Giáo sư Xti-glít, người từng đoạt giải Nobel kinh tế 2001, nguyên Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), thế giới có nguy cơ lâm vào tình trạng đình đốn kéo dài tương tự như ở Nhật Bản hồi những năm 1990 của thế kỷ trước(31). Mô hình kinh tế hiện nay dẫn đến tình trạng bất công quá lớn, không thể bảo đảm cho phát triển bền vững lâu dài. Theo ông Xti-glít, khủng hoảng tài chính thế giới ngày nay là hậu quả của sự không lành mạnh của các định chế ngân hàng Mỹ. Ðại diện tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) cho rằng, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang cản trở những thành quả của công cuộc xóa đói, giảm nghèo và ảnh hưởng việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs).

Dự đoán của ADB, kinh tế châu Á sẽ tăng trưởng chậm lại còn 5,8% năm 2009, so với mức ước tính 6,9% năm 2008. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) còn cho biết cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay đã làm mất 50.000 tỷ USD giá trị tài sản tài chính năm 2008. Trong đó, mức thiệt hại của các nước đang phát triển ở châu Á ước khoảng 9.600 tỷ USD(32).

Thế giới hy vọng Trung Quốc, với tiềm năng lớn của một nền kinh tế phát triển nhanh nhất toàn cầu trong nhiều năm liền, sẽ trở thành động lực thúc đẩy khôi phục kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, theo Báo Asahi ra ngày 23/2/2009, Nhật Bản, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thực của Trung Quốc đã giảm mạnh, chỉ còn 6,8% trong quý IV-2008, khiến nước này khó đạt mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm nay. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra dự báo kinh tế Trung Quốc sẽ chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 6,7% trong năm 2009. Theo tờ báo, trong những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của Trung Quốc chủ yếu dựa vào xuất khẩu tăng mạnh và nguồn vốn đầu tư khổng lồ để xây dựng nhà xưởng, mua sắm thiết bị phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, trong năm nay, những thị trường xuất khẩu chủ chốt của Trung Quốc như Mỹ, Nhật Bản và châu Âu, được dự báo sẽ suy thoái đồng loạt.

2.2. Ảnh hưởng đến thị trường lao động và việc làm:

Khủng hoảng tài chính kéo theo là sự suy yếu hay sụp đổ của nhiều công ty. Những người lao động(LĐ) – người mà sống dựa vào tiền lương được chi trả bởi các công ty này – cũng hết sức lo lắng. Họ lo rằng không biết đến ngày nào mình bị sa thải đây? Do đó, thị trường lao động – việc làm bị ảnh hưởng rất lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Hàng chục triệu người lao động đã bị mất việc.

Bộ Lao động Mỹ cho biết chỉ trong năm 2008 đã có thêm hơn 1,2 triệu người Mỹ mất việc làm do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cuộc khủng hoảng đã và đang ảnh hưởng đến cuộc sống của đại đa số người dân nước này, ngày càng nhiều người đi đến phá sản. Theo một cuộc điều tra xã hội do AP/GFK(33) công bố đầu tháng 10, khoảng 80% người Mỹ được hỏi bày tỏ lo ngại cuộc khủng hoảng sẽ tác động trực tiếp đến cuộc sống của họ. Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Châu Âu cũng bị tác động mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính. Ở Nga, nhiều công ty đã và đang lên kế hoạch sa thải nhân viên. Theo thống kê của Chính phủ Italia tháng 12/2008, số người nghèo tại Italia chiếm tới 13% trong tổng số 58 triệu dân, với mức thu nhập chỉ 500 – 600 euro/tháng (chưa bằng phân nửa mức lương trung bình). Tỷ lệ thất nghiệp hiện nay ở Italia là 6,8%. Tại Bỉ, riêng trong tháng 9/2008, đã có 927 doanh nghiệp phá sản, tăng 18% so với tháng 8/2008. Hãng sản xuất xe hơi nước Đức BMW cho biết, lợi nhuận trong quý III đã giảm mạnh và không thể đạt được mục tiêu kinh doanh năm 2008, vì ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính. Hãng sản xuất ôtô Pháp Renault vừa tuyên bố cắt giảm 6.000 nhân công (4.900 vị trí tại Pháp và 1.100 ở các quốc gia khác trên toàn châu Âu) như là động thái đối phó với sự suy giảm của thị trường xe hơi toàn cầu(34).

Tại châu Á, hàng ngàn người LĐ nhập cư làm nghề giúp việc gia đình, bồi bàn… tại các thành phố giàu có như Singapore, Hồng Kông đang lo lắng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến túi tiền của chủ họ bị hẹp lại và họ sẽ bị đuổi việc. Những người LĐ nhập cư mất việc cũng có nghĩa là quốc gia của họ sẽ mất đi một phần kiều hối gửi về.

Từ khi cuộc khủng hoảng tài chính tấn công Mỹ và một số nước phương Tây, sức tiêu thụ của người dân tại các nước này giảm làm ngành xuất khẩu ( XK) ở Trung Quốc bị chậm lại. Theo thống kê của Chính phủ Trung Quốc, trong 6 tháng đầu năm 2008, ít nhất 67.000 nhà máy trên toàn quốc phải đóng cửa, trong đó hơn 50% là các nhà máy sản xuất đồ chơi. châu Phi, đảo quốc Cộng hòa Seychelles là quốc gia đầu tiên bị ảnh hưởng. Chính phủ đã buộc 2.000 công chức (tức 1/10 tổng số công chức cả nước) phải nghỉ việc để giảm bớt chi tiêu của Chính phủ, nhằm cứu đất nước khỏi phá sản. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến Seychelles không thể trả được khoản nợ tới 800 triệu USD.

Thế giới bước vào năm 2009 với tâm trạng bất an và tháng Ba kết thúc quý I vẫn chưa thấy xuất hiện tia sáng nào. Những thông tin chẳng lành về cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu vẫn tràn ngập các phương tiện thông tin đại chúng, tiếp tục là chủ đề bàn thảo, tranh cãi trên chính trường nhiều nước và tại tất cả các diễn đàn quốc tế.

Hầu hết các nước, trước hết là các nước công nghiệp phát triển(CNPT) vốn là đầu tầu của nền kinh tế thế giới đều rơi vào tình trạng tăng trưởng âm, thương mại toàn cầu sụt giảm sâu nhất trong mấy chục năm, nạn thất nghiệp lan nhanh như bệnh dịch, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy, chủ thuyết của phái “tân tự do” bị đem ra mổ xẻ và thiên hạ đang tìm kiếm học thuyết kinh tế mới.

II. Những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

1. Nguyên nhân khách quan:

1.1. Do tính chu kì của nền kinh tế:

Khủng hoảng kinh tế được coi là căn bệnh kinh niên của chủ nghĩa tư bản và diễn ra có tính chất chu kì, trải qua những giai đoạn có liên quan kế tiếp nhau: khủng hoảng – tiêu điều – phục hồi – hưng thịnh.

Giai đoạn của chu kì tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện bằng hàng hoá sản xuất thừa so với nhu cầu có khả năng thanh toán, sản xuất giảm sút, vốn đầu tư cơ bản bị rút bớt, thất nghiệp và lam phát tăng lên, những tỉ lệ chủ yếu của tái sản xuất bị rối loạn. Nguyên nhân chủ yếu là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản; từ đó nảy sinh một loạt mâu thuẫn phái sinh: mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng, mâu thuẫn giữa tính có tổ chức trong các xí nghiệp riêng biệt và tình trạng sản xuất vô chính phủ trong toàn xã hội. Những mâu thuẫn đó đưa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đến khủng hoảng kinh tế. Khủng hoảng là giai đoạn cơ bản của chu kì kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nền kinh tế toàn cầu đã rất hưng thịnh trước năm 2007, và một số tháng đầu năm 2007, do đó, khủng hoảng là điều rất dễ xảy ra.

1.2. Mất cân đối toàn cầu (global imbalances):

Một lượng tiền dư thừa từ những quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao, như Trung Quốc và các nước xuất khẩu dầu lửa, đã chảy vào nước Mỹ. Những dòng tiền này khiến lãi suất tại Mỹ được duy trì ở mức thấp và tạo ra sự bùng nổ trong lĩnh vực cho vay tín dụng, tiếp đó là sự tăng vọt của giá các loại tài sản như nhà đất và chứng khoán. Rốt cục, khi những bong bóng này vỡ, khủng hoảng tài chính nổ ra theo .

1.3. Tỉ lệ cấp vốn quá cao:

Với mỗi một mức độ phát triển kinh tế đặc biệt thì có một mức cấp vốn vào thị trường chứng khoán tương ứng. Nhưng hiện tai thì tỷ lệ cấp vốn vào thị trường so với GDP vượt quá giá trị mà có thể đảm bảo một sự phát triển ổn định trong tương lai. Nó được tính bằng việc chia toàn bộ giá trị thị trường chứng khoán của tất cả các công ty giao dịch công khai trong 1 nước theo GDP của họ. Tỷ lệ cấp vốn vào thị trường so với GDP ở mức 40-60% trong thế kỷ 20.

Mức tăng trưởng chóng mặt của những năm 1990 đã đẩy tốc độ đó lên mức kỷ lục 118% vào năm 1999, theo sau là một cuộc suy thoái vĩ mô toàn cầu khi bắt đầu bước sang thế kỷ 21.

Sau đó đến năm 2002, tỷ lệ này lại sụt giảm xuống 73%, rồi tăng lại lên 122% vào năm 2007- mức tăng trên 100% trước khi bắt đầu cuộc suy thoái.

2. Nguyên nhân chủ quan: Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

2.1. Do những phát minh tài chính:

Phát minh tài chính vừa qua là gì?

Đó là việc tập trung tiền cho vay mua nhà, lấy tiền hoa hồng, rồi chia nhỏ hợp đồng vay nợ này thành các chứng khoán (một loại giấy nợ), rồi bán cho người có tiền (các công ty đầu tư tài chính chấp nhận rủi ro cao, quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí và dân chúng), qua đó họ lại nhận thêm hoa hồng. Tiền bán chứng khoán họ đem trả nợ ngắn hạn dùng lúc đầu để cho vay mua nhà. Mọi rủi ro về nợ sau khi bán chứng khoán thuộc về người mua chứng khoán, chứ không phải công ty tài chính. Cái mới là ở chỗ: các công ty tài chính nhận được nhiều tiền nhưng mọi rủi ro thì đẩy cho người khác.

Bất ổn tài chính từ những “phát minh” về tài chính trong thời gian qua, qua đó thế đứng của ngân hàng đã dần dần bị các công ty kinh doanh tài chính đánh đổ dần, trong lúc Cục dự trữ liên bang Mỹ(Fed) chỉ được giao nhiệm vụ kiểm sát hệ thống ngân hàng. Fed đã cứu công ty tài chính Bear Stearns. Dù không thuộc nhiệm vụ của Fed, Fed vẫn vào cuộc với hy vọng là chặn đứng được tình hình hoảng loạn tài chính. Tình hình khủng hoảng tiếp tục mở rộng và Fed không thể đứng ra cứu tiếp, vì đây không phải là nhiệm vụ của Fed, và về mặt chính trị cũng như khả năng vốn, Fed không thể tiếp tục cứu. Các công ty tư nhân này đã đòi quyền tự do kinh doanh tài chính làm giầu, không chịu bất cứ sự kiểm soát nào của Fed, thì Fed không thể lấy thuế của dân để cứu các công ty này. Bơm tiền cứu sẽ đẩy mạnh thêm lạm phát.

2.2. Do sự “mua bán chịu” giữa các ngân hàng:

Mặc dù ngân hàng có tài sản dưới dạng – bất động sản, kim loại quý hay tiền mặt, nhưng tổng giá trị của nó so với số tiền cho vay vẫn ít hơn nhiều. Phần lớn tiền cho vay xuất phát từ nguồn của những người gởi tiết kiệm. Ðây là tiền kinh doanh lấy lãi của ngân hàng, ngoài ra ngân hàng cổ phần còn vay tiền từ ngân hàng trung ương hay từ các ngân hàng cổ phần khác để điều chỉnh nhu cầu chi thu tiền tệ.

Như vậy hệ thống ngân hàng trên thực tế là một dạng “mua bán chịu”. Ðiều này có nghĩa, các hoạt động của ngân hàng đều dựa vào sự tin tưởng lẫn nhau: ngân hàng này cho ngân hàng khác mượn tiền, vì biết chắc là khi cần họ sẽ nhận lại cả vốn lẫn lời.

Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu giám đốc của một ngân hàng một lần đánh giá sai lầm về đối tác của mình như trường hợp ngân hàng KfW(36) của Ðức? KfW chuyển 300 triệu euro cho ngân hàng đầu tư Lehman Brothers ở New York, đúng lúc khi Lehman Brothers bị phá sản và số tiền này coi như bị mất và hậu quả là KfW gặp khó khăn trong việc chi trả với khách hàng.

Qua sự kiện này nhiều ngân hàng lo ngại sẽ gặp phải trường hợp như KfW, nên thận trọng. Kết quả là việc trao đổi tiền giữa các ngân hàng trước đây rất dễ dàng thì bây giờ trở nên khó khăn và dần đưa đến tình trạng không ngân hàng nào tin ngân hàng nào.Các ngân hàng cổ phần vay tiền từ Ngân hàng trung ương Mỹ Fed (Federal Reserve System) với một lãi suất thấp, vì vậy họ cho khách hàng vay tiền dễ dàng dĩ nhiên với lãi suất cao hơn lãi suất mà họ phải trả cho Fed.

2.3. Do người vay không có khả năng trả nợ: Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Khác với nhiều nước ở châu Âu, ngân hàng cổ phần Mỹ cho vay tiền mua bất động sản, nhưng không kiểm tra khả năng chi trả của khách. Ngay cả những người đang thất nghiệp vẫn có thể vay tiền mua nhà dễ dàng theo một lãi suất lưu động. Lãi suất này thường thấp vào thời điểm mượn, nhưng do tình hình kinh tế có thể tăng lên cao vào bất cứ lúc nào. Sự kiện này đã làm nhiều người bị phá sản, mất cả vốn lẫn lời.

Trước đây, để tăng mức độ trú ngụ của người dân, Chính phủ Mỹ khuyến khích ngân hàng cho vay vốn xây nhà. Trong thời gian đầu mọi việc xảy ra có vẻ hoàn hảo: dân có nhà ở, người kinh doanh nhà có lời, nhiều người có công ăn việc làm, ngân hàng thu lãi và giá nhà đất tăng. Lãi suất vẫn còn thấp, đẩy nhu cầu mua nhà lên cao và qua đó giá nhà đất liên tục tăng lên.

Nếu có khách hàng nào không đủ sức trả tiền thì ngân hàng có thể lấy nhà (lúc này giá còn cao) bán đấu giá để trừ nợ, vì vậy ngân hàng vẫn có lời và tiếp tục cho vay.

Một con vít xoắn giá cả bắt đầu xuất hiện. Giá nhà đất tiếp tục tăng, ngày càng cao, số người vay tiền ngày càng nhiều. Trong thời gian này nhiều ngân hàng cổ phần dùng giấy nợ làm thành một loại chứng khoán phái sinh (derivative) và buôn bán với nhau.

Lo rằng đồng đô la bị mất giá và kinh tế Mỹ có thể bị ảnh hưởng nên Ngân hàng trung ương Mỹ quyết định cho tăng lãi suất. Qua đó lãi suất cho vay của ngân hàng cổ phần cũng tăng theo tương ứng. Số khách không tiền trả và bất động sản bị bán đấu giá, cũng tăng lên.

Trong thời gian này nhu cầu nhà đất đã gần như bão hòa, giá không còn tăng và bắt đầu đi xuống. Do giá nhà đất giảm nên số tiền ngân hàng thu lại (qua bán đấu giá) không đủ. Họ bắt đầu lo lắng về số chứng khoán mua trước đây, bây giờ mất giá và không bán được.

Vì không biết rõ ai trong đối tác của mình còn khả năng trả nợ hay không nên các ngân hàng không dễ dàng cho vay tiền với nhau như trước đây. Một tâm lý nghi ngờ bắt đầu xuất hiện. Qua đó, mạch tiền tệ lưu chuyển giữa các ngân hàng để nuôi và điều hòa hệ thống tiền tệ trên thị trường bị trì trệ.

Trước tiên giữa các ngân hàng với nhau và sau đó dần đến doanh nhân và ngân hàng không dám cho doanh nghiệp vay tiền. Nhưng doanh nghiệp thì vẫn cần vốn để làm ăn. Không có vốn thì không sản xuất và qua đó hệ thống kinh tế sẽ không phát triển, cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ mất giá trị và thị trường chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng xấu.

Ðó là nguyên nhân tại sao trong thời gian qua, thị trường chứng khoán bị tuột xuống, lúc đầu ở Mỹ sau lan rộng ra khắp nơi trên thế giới. Bây giờ từ một cuộc khủng hoảng tài chính lôi theo cuộc khủng hoảng kinh tế

Vậy một trong những nguyên nhân khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay không chỉ do giới tư bản tài phiệt gây nên mà còn xuất phát từ lỗi của chính những người đi vay mua nhà không đủ khả năng thanh toán.

2.4. Sự lỏng lẻo trong kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước: Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Những yêu cầu của pháp luật về sự minh bạch hóa và năng lực kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước đã không bắt kịp với những biến đổi sâu rộng của thị trường trong hơn hai mươi năm qua.

Kể từ thập niên 1980, thị trường tài chính Mỹ và thế giới đã nhanh chóng phát triển các công cụ chứng khoán phái sinh và mở rộng hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ và đầu tư. Chứng khoán phái sinh và chứng khoán hóa, mặc dù giúp tăng nguồn tài chính và phân tán rủi ro, đã dẫn đến việc giá cả của trái phiếu và cổ phiếu ngày càng xa rời giá trị đích thực của tài sản bảo đảm.

Không một cơ quan nhà nước, đơn vị kiểm toán hay phân tích tín dụng và tài chính có đủ thông tin và khả năng nhìn xuyên qua lớp lớp các thao tác chứng khoán để có thể đánh giá chính xác giá trị và độ rủi ro của các khoản đầu tư và tài sản nằm trên sổ sách của các công ty tài chính và ngân hàng. Thêm vào đó nhiều thao tác này lại được che đậy qua hoạt động đầu cơ của các quỹ đầu tư (hedge funds), một loại hình quỹ đầu tư nắm giữ tới gần 3000 tỉ đô la giá trị tài sản nhưng không hề phải cáo bạch tài sản với công chúng và gần như không chịu sự giám sát của bất kì một cơ quan nhà nước nào.

2.5. Sự thay thế Đạo luật bức tường lửa Glass-Steagall bởi Đạo luật Glamm-Leach-Bliley:

Sự thay thế này đã cho phép các ngân hàng thương mại được tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh mạo hiểm như nghiệp vụ chứng khoán hóa và bán các khoản vay bất động sản (BĐS) khiến nhiều ngân hàng đẩy mạnh cho vay BĐS dưới chuẩn, nhằm thu về những khoản lợi lớn.

Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn nắm giữ một lượng khá lớn các khoản chứng khoán phái sinh này, một phần do không bán được, một phần do mua của ngân hàng khác nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư. Các ngân hàng cho vay BĐS thua lỗ khi thị trường BĐS bị vỡ bong bóng và nhiều khoản cho vay không thu hồi được, cộng với các khoản chứng khoán BĐS bị giảm giá không phanh.

2.6. Đòn bẩy tài chính quá cao:

Đòn bẩy tài chính là quá trình công ty sử dụng vốn vay để tài trợ cho tăng trưởng tài sản, được tính bằng tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu. các ngân hàng thương mại, tỷ lệ này thường bị khống chế ở mức 12%, nhưng ở các ngân hàng đầu tư, tỷ lệ này cao hơn rất nhiều và thường trên 20%. Từ năm 1975, các ngân hàng đầu tư không được phép có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao hơn 15%. Tuy nhiên, từ năm 2004, Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) đã bãi bỏ quy định này đối với 5 “đại gia” phố Wall (Goldman Sachs, Merrill Lynch, Lehman Brothers, Bear Stearns và Morgan Stanley). Tính đến đầu năm 2008, cả 5 ngân hàng này đều có tỷ lệ đòn bẩy tài chính rất cao, xấp xỉ hoặc hơn 30%. Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi 2 “đại gia” bất động sản Freddie Mac và Fannie Mae với đòn bẩy tài chính hơn 60% là những nạn nhân đầu tiên của cuộc khủng hoảng.

Đòn bẩy tài chính quá cao là nguyên nhân chính cho sự ra đi của Bear Stearns, Freddie Mac và Fannie Mae, Lehman Brothers và Merrill Lynch. Sự sụp đổ của các định chế tài chính này là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng, dẫn đến sự khủng hoảng niềm tin của thị trường, dẫn đến sự hạ thấp tín nhiệm và sự ra đi của AIG, dẫn đến làn sóng rút tiền, gây ra khủng hoảng thanh khoản cho các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng liên quan đến cho vay bất động sản( BĐS) như Wamu và Wachovia. Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464