Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Những nét đặc trưng trong văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. GIỚI THIỆU VỀ ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI MỸ

1.1 Đất nước Mỹ

1.1.1. Vị trí địa lý

Mỹ hay còn được gọi là Hoa Kỳ nằm ở Bắc Mỹ, phía đông là Bắc Đại Tây Dương, phía Tây là Bắc Thái Bình Dương, phía Bắc tiếp giáp với Canada và phía Nam tiếp giáp với Mehico. Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

Mỹ là một đất nước rộng lớn có tổng diện tích vào khoảng 6.629.091km2 chiếm 6,2% diện tích toàn cầu. Diện tích Hoa Kỳ bằng nửa diện tích của nước Nga, bằng khoảng 3/10 Châu Phi, bằng khoảng nửa Nam Mỹ, rộng hơn Trung Quốc không đáng kể và lớn hơn Tây Âu khoảng 2,5 lần.

Vì Mỹ có một diện tích rộng lớn và địa hình đa dạng nên có hầu như tất cả các loại khí hậu ở Mỹ. Ngoài ra, với một địa hình trải dài ra bốn hướng như vậy, tài nguyên thiên nhiên ở Mỹ rất đa dạng và phong phú như than chiếm 1/3 thế giới; dầu chiếm 1/7 thế giới; và còn có đồng, chì, phốt pho,… 25% diện tích là đồng cỏ phục vụ chăn nuôi, 30% diện tích rừng phục vụ cho ngành sản xuất gỗ đứng thứ 2 trên thế giới.

Với diện tích và điều kiện tự nhiên thuận lợi, Hoa Kỳ có được ưu thế mạnh về phát triển sản xuất nông nghiệp cũng như công nghiệp. Đó cũng là lý do giải thích vì sao nước Mỹ thuở sơ khai đã trở thành “miền đất hứa” hay “giấc mơ Mỹ” của những người nhập cư từ tất cả các châu lục. Đây cũng là đặc điểm đa chủng tộc rất đặc trưng của dân tộc này.

1.1.2. Lịch sử

Mỹ tách khỏi khối thuộc địa Anh năm 1776 và được công nhận là một quốc gia độc lập sau khi Anh và Hoa Kỳ kí hiệp ước Paris năm 1783. Khi mới thành lập, Mỹ chỉ có 13 bang, hiện nay, con số này đã phát triển thành 50 bang và 5 khu hành chính trực thuộc gồm thủ đô Washington D.C., Samoa, Virgin Islands và Puerto Rico. Chính vì thế quốc kỳ của Mỹ có 50 ngôi sao đại diện cho 50 bang và 13 gạch trắng và đỏ tượng trưng cho 13 thuộc địa của Anh tuyên bố độc lập và trở thành 13 bang đầu tiên của đất nước này.

Hoa Kỳ là nước có tiềm lức kinh tế và quân sự mạnh nhất trên thế giới hiện nay. Những sự kiện đáng ghi nhớ nhất trong lịch sử là cuộc nội chiến Bắc – Nam (1861 – 1865), đại suy thóai kinh tế trong những năm 30, thất bại trong chiến tranh ở Việt Nam và gần đây là vụ khủng bố chấn động toàn cầu 11/09 năm 2001.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.1.3. Chính trị Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

Mỹ là một nước cộng hòa liên bang thực hiện chế độ chính trị tam quyền phân lập. Hiến pháp Hoa Kỳ qui định quyền lập pháp thuộc về quốc hội, quyền hành pháp thuộc về tổng thống và quyền tư pháp thuộc về Tòa án tối cao. Mỗi bang có hệ thống hiến pháp và pháp luật riêng nhưng không được trái với Hiến pháp của Liên bang.

Quốc hội liên bang gồm Thượng viện và Hạ viện. Ngoài quyền lập pháp, Quốc hội cũng giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp và tư pháp. Thượng viện bao gồm 100 thượng nghị sĩ, trong đó mỗi bang có 2 thượng nghị sĩ. Hạ viện bao gồm 435 hạ nghị sĩ, nhiệm kì của hạ nghị sĩ là 2 năm. Khác với Thượng viện, số hạ nghị sĩ đại diện cho mỗi bang phụ thuộc vào dân số của bang. Cả hai viện đều có quyền quyết định chiến tranh, kiểm soát các lực lượng vũ trang, đánh thuế, vay tiền, phát hành tiền, điều tiết thương mại và ban hành luật cần thiết cho hoạt động của chính quyền. Ví dụ: Hiệp định thương mại Việt – Mỹ được chính phủ cả hai nước ký vào tháng 7 năm 2000 và đến tháng 11/2001 mới được thượng viện thông qua và đến 10/12/2001 mới có hiệu lực thi hành.

Chính quyền liên bang: Quyền hạn của chính quyền liên bang do Hiến pháp Liên bang qui định và phần lớn tập trung ở các lĩnh vực có ảnh hưởng đến toàn liên bang như ngoại giao, quốc phòng và an ninh, quản lý xuất nhập khẩu, quản lý di dân, bảo hộ sở hữu trí tuệ và một số lĩnh vực khác. Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp liên bang và được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 4 năm.

Hệ thống tòa án liên bang: gồm tòa án liên bang tối cao và các tòa án liên bang khu vực. Tòa án tối cao liên bang có quyền vô hiệu bất cứ luật lệ liên bang hoặc bang nào mà tòa án xét thấy trái với hiến pháp.

Các đảng phái chính trị: Hệ thống chính trị Mỹ chủ yếu do hai Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa kiểm soát. Đảng Dân chủ chủ trương tăng cường quyền quản lý hành chính trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Còn Đảng Cộng hòa thường xuyên chủ trương tăng sức mạnh quân sự và cứng rắn hơn trong việc giải quyết các xung đột quốc tế.

Hệ thống chính quyền bang cũng tương tự như hệ thống chính quyền Liên bang.

Hoạt động vận động hành lang là một trong những đặc trưng nổi bật của chính quyền Hoa Kỳ. Vận động hành lang được coi là một hình thức đề đạt ý nguyện của dân chúng đến các cơ quan quản lý nhà nước. Những người vận động hành lang thường phải cung cấp lý lẽ, chứng cứ và thậm chí các bằng chứng khoa học có sức thuyết phục hỗ trợ cho kiến nghị hoặc nguyện vọng của mình. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, những thông tin và lý lẽ thu lượm được từ các hoạt động vận động hành lang cũng là những nguồn thông tin bổ sung tốt phục vụ cho các cơ quan này trong công việc lập pháp và hành pháp của mình.

Hầu hết các hiệp hội kinh doanh và công ty lớn của Hoa Kỳ đều có đại diện của mình ở Thủ đô Washington DC và ở thủ phủ các bang mà họ có hoạt động kinh doanh để tiến hành các hoạt động vận động hành lang đối với quốc hội và chính quyền liên bang và bang.

Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, các công ty Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến các vòng đàm phán thương mại đa biên và song phương giữa Hoa Kỳ và các nước. Họ thường xuyên vận động và thậm chí gây sức ép với Quốc hội và Chính quyền liên bang để đảm bảo kết quả các cuộc đàm phán thương mại quốc tế có lợi cho hoạt động kinh doanh của mình.

Ví dụ, trong vấn đề hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam, các nhà sản xuất dệt may nội địa Hoa Kỳ đã liên tục gây sức ép với Quốc hội và Chính quyền đòi đàm phán sớm hiệp định dệt may và thậm chí đòi đơn phương áp đặt hạn ngạch với Việt Nam. Ngược lại, các nhà nhập khẩu và bán lẻ Hoa Kỳ đã tích cực vận động chính phủ Hoa Kỳ không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu hoặc dành cho Việt Nam hạn ngạch cao. Nhiều công ty thuộc cả hai phía đã cử đại diện vào Việt Nam và đến Washington DC để vận động trong quá trình đàm phán nhằm giành thuận lợi tối đa cho những mặt hàng mà họ quan tâm.

1.1.4. Kinh tế

Một câu nói cách ngôn của các nhà kinh tế học là: “Khi nước Mỹ hắt hơi, thì cả thế giới đều bị cảm lạnh”. Câu nói trên tuy ngắn gọn nhưng hàm ý được tầm quan trọng của nền kinh tế Mỹ đối với nền kinh tế toàn cầu. Điều này không phải ngẫu nhiên mà có, sự ảnh hưởng của nền kinh tế Mỹ được thể hiện qua những con số đáng kinh ngạc. Theo Hội đồng phi lợi nhuận về Cạnh tranh, trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2005, nước Mỹ đã đóng góp trực tiếp vào một phần ba mức độ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu. Trong giai đoạn từ 1983 – 2004, nhập khẩu của Mỹ tăng chóng mặt và chiếm gần 20% trong mức tăng xuất khẩu của toàn thế giới. Các nước đang phát triển chiếm 54,7% nhập khẩu của Hoa Kỳ vào năm 2006. Sau đợt suy thóai nhẹ từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2001, kinh tế Mỹ bắt đầu tăng trưởng với tốc độ trung bình là 2,9% trong giai đoạn từ 2002 đến 2006. Trong khi đó, lạm phát về giá cả, tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất vẫn duy trì ở mức tương đối thấp. Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

Trong các bảng xếp hạng quốc tế, kinh tế Mỹ luôn dứng cao nhất hoặc cận cao nhất:

  • Xếp thứ nhất về sản lượng kinh tế, còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đạt 13,13 nghìn tỷ đô-la Mỹ trong năm 2006. Với số dân khoảng 302 triệu người, ít hơn 5% dân số thế giới, nước Mỹ chiếm 20%-30% tổng GDP của toàn thế giới. Tuy nhiên, tốc độ tăng GDP của Mỹ đang có chiều hướng giảm đi. Tốc độ tăng GDP của Mỹ trong năm 2007 thấp nhất trong 5 năm trở lại đây, chỉ đạt 2,2% so với mức tăng 3,3% cả năm 2006 và 3,6% năm 200520.
  • Đứng đầu về tổng kim ngạch nhập khẩu, khoảng 2,2 nghìn tỷ đô-la, gấp 3 lần kim ngạch nhập khẩu nước đứng thứ hai là Đức.
  • Đứng thứ hai về xuất khẩu hàng hóa – 1 nghìn tỷ trong năm 2006, chỉ sau Đức và đứng thứ nhất về xuất khẩu dịch vụ với 422 tỷ đô-la trong năm 2006.
  • Đứng thứ nhất về thâm hụt thương mại với 785,5 tỷ đô-la trong 2006, lớn hơn nhiều lần so với bất kỳ quốc gia nào khác.
  • Đứng thứ hai về chuyên chở container đường biển trong năm 2006 chỉ sau Trung Quốc.
  • Đứng thứ nhất về nợ nước ngoài, ước tính hơn 10 nghìn tỷ đô-la vào giữa năm 2006.
  • Là địa điểm thu hút nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài nhất, đạt khoảng 177,3 tỷ đô-la trong năm 2006 trong lĩnh vực kinh doanh và bất động sản.
  • Đứng đầu về địa điểm rót vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của 100 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất thế giới, bao gồm cả các tập đoàn từ những nước đang phát triển.
  • Đứng thứ năm về tài sản dự trữ trong năm 2005 với 188,3 tỷ đô-la chiếm 4% phần thế giới, sau Nhật Bản, Trung Quốc (hai nước này đều chiếm 18%), Đài Loan và Hàn Quốc và đứng ngay trước liên bang Nga. Đứng thứ về dự trữ ngoại hối và vàng, đạt khoảng 69 tỷ đô-la vào năm 2006.
  • Đứng đầu về nguồn tiền gửi tại Châu Mỹ La tinh và Khu vực Caribê, chiếm khoảng 3/4 trong tổng số 62 tỷ đô-la trong năm 2006, từ những người di cư khỏi các khu vực này để tìm kiếm việc làm ở nước ngoài.
  • Đứng thứ nhất về tiêu thụ dầu mỏ, khoảng 20,6 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2006 và đứng thứ nhất về nhập khẩu dầu thô với hơn 10 triệu thùng mỗi ngày.
  • Đứng thứ 3 về môi trường kinh doanh thông thoáng trong năm 2007 sau Singapore và New Zealand.
  • Đứng thứ 20 trên 163, cùng với Bỉ và Chilê về các chỉ số Minh bạch quốc tế năm 2006 nhằm đo lường mức độ tham nhũng (các nền kinh tế có xếp hạng thấp được xem là ít tham nhũng hơn).

Tuy có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất trên thế giới nhưng nền kinh tế Mỹ càng ngày càng chịu nhiều tác động từ các nền kinh tế năng động khác.

1.1.4.1. Nền kinh tế dịch vụ Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

Dịch vụ được sản xuất bởi khu vực tư nhân chiếm 67,8% GDP của Hoa Kỳ trong năm 2006, trong đó đứng đầu là bất động sản, dịch vụ tài chính như ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư. Một số loại dịch vụ khác là bán buôn và bán lẻ, giao thông vận tải, chăm sóc y tế, pháp luật , khoa học, dịch vụ quản lý, nghệ thuật, giải trí, tiêu khiển, khách sạn và dịch vụ chỗ ở, nhà hàng, quầy rượu và các dịch vụ khác về thực phẩm và đồ uống.

Sản xuất hàng hóa chiếm 19,8% GDP; Liên bang, bang và chính quyền điạ phương chiếm phần còn lại 12,4% GDP21.

Những khu vực kinh tế phát triển mạnh nhất là dịch vụ tài chính, các dịch vụ chuyên nghiệp, khoa học và kỹ thuật; chế tạo sản phẩm bền vững, đặc biệt là máy tính và đồ điện tử; bất động sản và chăm sóc y tế.

Những khu vực kinh tế có tỷ lệ đóng góp trong GDP giảm đi là nông nghiệp, khai thác mỏ, một vài ngành chế tạo khác như ngành dệt. Hội đồng Cạnh tranh đã nhận định rằng: “Vì có giá trị thấp, hàng hóa dựa trên chế tạo đang dần biến mất khỏi nước Mỹ, và được chuyển sang các nước đang phát triển nới có thể thực hiện chế tạo hàng hóa với chi phí thấp”.

Hoa Kỳ là quốc gia hàng đầu thế giới trong công nghiệp chế tạo, các nhà máy của Mỹ sản xuất ra lượng hàng hóa có giá trị tương đương với 1,49 nghìn tỷ đô-la trong năm 2005, nhiều gấp 1,5 lần so với nước đứng thứ hai thế giới là Nhật Bản. Giá trị sản lượng nông nghiệp của Mỹ cũng chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ. Mặc dù hiện tại, nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong GDP nhưng lại thặng dư trong thương mại nông sản. Khoảng 1/4 sản lượng đầu ra của các nông trại Mỹ được xuất khẩu.

Ngoài nông sản, Hoa Kỳ cũng duy trì được trạng thái thặng dư trong thương mại dịch vụ – thặng dư 79,7 tỷ đô-la Mỹ trong năm 2006. Ngược lại, Mỹ là quốc gia có thâm hụt thương mại hàng hóa lớn và mức độ thâm hụt này đang có xu hướng tăng lên. Trong giai đoạn từ 2000 đến 2006, mặc dù hàng hóa xuất khẩu của Mỹ đã tăng 33% song nhập khẩu hàng hóa còn tăng với tốc độ nhanh hơn – 52%. Thâm hụt thương mại hàng hóa đã tăng gần gấp đôi trong những năm này.

1.1.4.2. Doanh nghiệp Mỹ Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

Với một diện tích đất đai rộng lớn, các nguồn tài nguyên, một chính phủ ổn định và một lực lượng lao động có trình độ cao, kinh tế Mỹ có nhiều lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Nước Mỹ luôn sẵn sàng đón nhận, thậm chí luôn mong chờ những thay đổi.

Trên thị trường tự do, việc quyết định sản xuất cái gì, ở mức giá nào được đưa ra thông qua hoạt động mua bán tự do và những người mua, người bán hoàn toàn độc lập chứ không phải do chính phủ hay do lợi ích cá nhân của những người cầm quyền đưa ra. Người Mỹ coi thị trường tự do là một hệ cách để khích lệ tự do cá nhân, chủ nghĩa đa quyển chính trị và chống lại sự tập trung quyền lực.

Sự cạnh tranh khốc liệt và hệ thống điều tiết đã khích lệ những tiến bộ công nghệ, làm cho nền kinh tế đạt được năng suất cao, mang lại thu nhập tương đối cao cho các hộ gia đình Mỹ.

Có lẽ, chính các doanh nghiệp Mỹ đặc biệt các công ty nhỏ đã phần nào giải thích về tính năng động của nền kinh tế Mỹ.

Đặc điểm của các doanh nghiệp Mỹ

Các doanh nghiệp Mỹ có thể phân loại thành doanh nghiệp siêu nhỏ (microenterprise), doanh nghiệp vừa và nhỏ (small and medium enterprise) và các tập đoàn (conglomerate/ syndicate, trust, consortium, cartel…).

Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp với 10 nhân viên trở xuống (kể cả những thành viên trong gia đình làm việc không lương) do người nghèo sở hữu và điều hành.

Song doanh nghiệp siêu nhỏ ít khi được nhắc đến. Khi nói về các doanh nghiệp Mỹ, người ta thương nhắc đến những công ty lớn và nhỏ. Các công ty nhỏ – là những công ty có ít hơn 500 nhân viên – chiếm phần lớn trong nền kinh tế Mỹ. Chúng có thể thích ứng ngay với các điều kiện kinh tế và những nhu cầu thay đổi nhanh chóng của khách hàng, thông qua những giải pháp kỹ thuật sáng tạo nhằm giải quyết các vấn đề trong sản xuất. Đóng góp trong GDP của các công ty nhỏ là 50,7% trong năm 2004.

Nhiều công ty nhỏ cũng được lãnh đạo bởi những người có xuất thân từ các nhóm dân cư thiểu số. Các công ty nhỏ thuê gần như đúng một nửa lực lượng lao động tư nhân ở Mỹ, khoảng 153 triệu người. Phụ nữ sở hữu và lãnh đạo nhiều công ty nhỏ. Trong năm 2002, số lượng công ty nhỏ do phụ nữ nắm quyền sở hữu chiếm 28% tổng số công ty và chiếm 6% tổng số lao động của Mỹ và 4% tổng doanh số bán.

Một số ít các công ty nhỏ đã nhanh chóng mở rộng công việc kinh doanh và trở thành các tập đoàn lớn có quyền lực. Ví dụ như: tập đoàn phần mềm Microsoft, tập đoàn dịch vụ chuyển phát nhanh Federal Express, nhà máy sản xuất quần áo thể thao Nike. Nhiều công ty lớn và nhỏ của Mỹ được tổ chức như những tập đoàn có thương hiệu chung. Các tập đoàn được coi là một mô hình kinh doanh mang lại hiệu quả cao vì nó tích lũy được nhiều tiền để chi trả cho các hoạt động quảng bá và mở rộng quy mô. Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

Một tập đoàn lớn có thể sở hữu hàng triệu nhân viên trở lên, phần lớn các nhân viên này đều sở hữu cổ phần nhưng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số giá trị cổ phiếu của công ty. Mặc dù có rất nhiều công ty với quy mô vừa và nhỏ, song các tập đoàn vẫn đóng vai trò chi phối trong nền kinh tế Hoa Kỳ. Lý do là các công ty lớn có thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho nhiều người, và chúng thường hoạt động hơn các công ty nhỏ. Ngoài ra, các công ty lớn có ưu thế trên thị trường vì nhiều khách hàng bị hấp dẫn bởi những nhãn hiệu nổi tiếng, điều mà họ tin sẽ được đảm bảo một mức đo chất lượng nhất định. Các công ty lớn còn quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế vì chúng thường có những nguồn tài chính lớn hơn các doanh nghiệp nhỏ để tiến hành nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. Nhìn chung, chúng thường đưa ra các cơ hội việc làm đa dạng hơn, ổn định hơn, lương cao hơn và phúc lợi về sức khỏe cũng như hưu trí tốt hơn.

Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp Mỹ

Phần lớn các công ty ở Mỹ đều có quy mô nhỏ, chỉ một vài công ty có quy mô rất lớn. Ngày nay, các doanh nghiệp nhỏ thành đạt thường phát triển thông qua hình thức trao đặc quyền. Trong một hợp đồng trao đặc quyền điển hình, một công ty có tiếng tăm ủy quyền cho một cá nhân hoặc một nhóm người được phép sử dụng tên và sản phẩm của mình để đổi lại một số phần trăm tiền doanh thu. Công ty đó cho mượn cả kinh nghiệm marketing và danh tiếng của mình, trong khi người kinh doanh được hưởng đặc quyền này phải tự quản lý cá nhân về đầu ra và chịu hầu hết các trách nhiệm pháp lý cũng như rủi ro liên quan đến phát triển kinh doanh. Hoạt động này phức tạp và lan tỏa rất rộng đến mức không thể xác định chính xác phạm vi của nó. Cục quản lý doanh nghiệp nhỏ Hoa Kỳ SBA ước tính Hoa Kỳ số doanh nghiệp có đặc quyền chiếm 40% tổng doanh số bán lẻ của vào năm 2000. Trong khi đó, các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ lại có xu hướng sáp nhập, hợp nhất mạnh mẽ. Các đạo luật chống độc quyền không thể ngăn cản các công ty Hoa Kỳ trở nên mạnh hơn. Chẳng hoạn như Travellers Group hợp nhất với Citi Corp tạo nên công ty tài chính lớn nhất thế giới, Ford Motor mua lại AB Volvo của Thụy Điển, IBM mua Apple… Hình thức tổ chức tập đoàn rõ ràng là chìa khóa mang lại sự tăng trưởng rực rỡ cho nhiều doanh nghiệp Mỹ.

1.1.4.3. Đầu tư nước ngoài

Hoa Kỳ không chỉ là quốc gia có lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào lớn nhất thế giới mà còn là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất trên thế giới. Trung tâm Nghiên cứu Quốc hội đã nhận định: “Các dòng vốn đầu tư từ nước ngoài đổ vào Mỹ dường như có tốc độ tăng nhanh hơn cả tốc đọ tăng trưởng của nước Mỹ và cao hơn so với tốc độ tăng đầu tư nước ngoài tại bất kỳ nơi nào khác trên thế giới là do hệ thống tài chính Mỹ đã phát triển trình độ cao và do tính ổn định của nền kinh tế Mỹ”.*

Năm 2006, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư gần 1,8 nghìn tỷ đô-la vào nền kinh tế Mỹ, khoảng 184 tỷ đô-la trong số đó là đầu tư trực tiếp, phần còn lại là đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu. Trong năm 2005, lượng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Mỹ là từ 1,6 nghìn tỷ đến 2,6 nghìn tỷ đô-la Mỹ.

Các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường Mỹ làm cho lãi suất và giá cả tại Mỹ thấp hơn mức thông thường, gây ra một làn sóng tiêu dùng hàng hóa ồ ạt, bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu; ngoài ra, điều nay còn làm cho thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ ngày càng lớn. Và điều nay không phải không có cơ sở khi vào năm 2006, lần đầu tiên kể từ khi đầu tư quốc tế ròng của Mỹ âm vào năm 1986, các nhà đầu tư nước ngoài thu được lợi nhuận nhiều hơn trên đất Mỹ so với lợi nhuận mà các nhà đầu tư Mỹ kiếm được ở nước ngoài.

Kinh tế Mỹ trong những năm gần đây đã xuất hiện những dấu hiệu bất ổn, cũng như sự suy thoái nhẹ. Cùng với việc nổi lên của nền kinh tế Trung Quốc hay Ấn Độ, thì việc vai trò của Mỹ trong nền kinh tế thế giới đang dần ít quan trọng hơn là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, nước Mỹ vẫn còn tiềm lực và khả năng để tiếp tục duy trì vị trí là quốc gia thịnh vượng nhất hành tin.

1.2. Con người Mỹ Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

Chủ nghĩa cá nhân

Một nét đặc trưng nổi bật của người Mỹ đó chính là sự sùng bái chủ nghĩa cá nhân. Từ khi còn bé, người Mỹ đã được giáo dục để tự mình định đoạt mục đích và nghề nghiệp của chính mình trong cuộc sống. Người có tính chất cá nhân chủ nghĩa, tự lực, độc lập là mẫu người Mỹ lý tưởng.

Sự riêng tư

Sự riêng tư liên quan mật thiết đến giá trị của chủ nghĩa cá nhân. Người Mỹ rất tôn trọng sự riêng tư của người khác đồng thời cũng không muốn bất cứ ai can thiệp hay hỏi han quá sâu vào cuộc sống của họ.

Sự bình đẳng

“Mọi người sinh ra đều bình đẳng”, Bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ đã thể hiện rõ rệt lý tưởng của người Mỹ. Người Mỹ thường cảm thấy không thoải mái khi một người nào đó đối xử với họ với thái độ kính trọng quá mức. Sự bình đẳng còn thể hiện giữa phụ nữ và nam giới. Phụ nữ và nam giới đáng được tôn trọng như nhau tuy nhiên phụ nữ có thể khác biệt so với nam giới nhưng không thấp kém hơn nam giới.

Tuy nhiên, bình đẳng ở đây không có nghĩa là hoàn toàn. Người Mỹ vẫn có sự phân biệt, tuy nhiên những khác biệt được thừa nhận một cách tế nhị như giọng nói, thứ tự phát biểu, sự chọn lựa từ ngữ, vị trí ngồi – là những yếu tố để nhận ra sự khác biệt về địa vị. Những người thuộc địa vị cao hơn thường thích nói trước, nói to hơn và nói dài hơn. Họ ngồi ở đầu bàn hay ngồi chiếc ghế thỏai mái nhất. Họ cảm thấy tự do ngắt lời những diễn giả khác nhiều hơn những người khác cảm thấy. Người thuộc địa vị cao hơn có thể đặt tay lên vai của người thuộc địa vị thấp hơn. Nếu đó là một sự đụng chạm giữa những người có liên quan thì người có địa vị cao hơn sẽ đụng chạm trước.

Thẳng thắn và quyết đoán

Người Mỹ là những người bộc trực, thẳng thắn và rộng rãi, họ thường phát biểu một cách rõ ràng những gì họ nghĩ và những gì họ muốn từ những người khác. Người Mỹ không ngại các cuộc tranh luận thẳng thắn và trực tiếp vì theo họ như vậy có thể giải quyết được những xung đột và những bất hòa và sẽ hiểu rõ nhau hơn. Trong trường hợp không nói thẳng những gì có trong đầu, người Mỹ thường biểu hiện những phản ứng của mình, họ không che giấu cảm xúc của mình như mọi người ở Châu Á.

Một người Mỹ quyết đoán là một người biểu lộ các ý kiến và các yêu cầu của họ một cách rõ ràng và trực tiếp. Và người Mỹ luôn tự nhận mình là người quyết đoán, có những lớp học để giúp cho mọi người quyết đoán hơn. Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng văn hóa kinh doanh của các DN Mỹ

One thought on “Khóa luận: Khái quát về đất nước và con người Mỹ

  1. Pingback: Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464