Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2.1. Phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu

Để có cái nhìn tổng quan hơn về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty, cần xét đến một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp.

2.2.1.1. Khả năng sinh lời so với doanh thu (ROS)

ROS cho biết quy mô lợi nhuận được tạo ra từ mỗi đồng doanh thu thuần. ROS càng cao cho thấy khả năng sinh lợi từ doanh thu càng cao, và ngược lại. Với doanh thu không đổi, nếu doanh nghiệp quản lý chi phí tốt, tối thiểu hóa được các chi phí phát sinh thì lợi nhuận sẽ cao hơn và nhờ vậy tỷ suất sinh lợi doanh thu ROS cũng được cải thiện. Trường hợp ROS thấp là do doanh nghiệp quản lý chi phí không hiệu quả. Bảng phân tích ROS của Kim Ngưu dưới đây sẽ phản ánh mức độ hiệu quả trong quản lý chi phí của công ty:

Bảng 2.2. Bảng phân tích sức sinh lời của doanh thu (ROS) của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu

Trong kinh doanh, Công ty cổ phần XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu cũng giống như các doanh nghiệp khác luôn mong muốn tạo ra doanh thu nhiều hơn để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp không phải là doanh thu mà là lợi nhuận sau thuế. ROS là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời so với doanh thu. Vào năm 2018 tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đạt 0,003 tức là trung bình với mỗi đồng doanh thu mà doanh nghiệp kiếm được sẽ tạo ra được 0,003 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2019 ROS đạt 0,004, tăng 0,001 tương ứng tăng 33,3% so với năm 2018, đến năm 2020 chỉ số sinh lời vẫn đạt mức bằng năm 2019 là 0,004. Tuy nhiên, sang năm 2021, với tháng đầu năm thì ROS chỉ đạt 0,001, giảm 0,003, tương ứng giảm 75% so với 6 tháng đầu năm 2020. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

ROS càng cao cho thấy khả năng sinh lợi từ doanh thu càng cao và ngược lại. Ngoài ra, tỷ suất này còn gián tiếp phản ánh hiệu quả quản lý chi phí của doanh nghiệp. Hệ số ROS của công ty là khá cao và ổn định trong giai đoạn 2018 – 2020, cho thấy khả năng sinh lời trên doanh thu của công ty giai đoạn này khá tốt. Tuy nhiên đến năm 2021 thì hệ số này giảm mạnh cho thấy công ty đang gặp khó khăn và có khả năng bị tụt hậu về khả năng sinh lời trên doanh thu. Hệ suất ROS giảm phản ánh khả năng quản lý chi phí của Công ty Kim Ngưu còn chưa tốt, điều này ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường.

Khả năng sinh lời của tài sản (ROA)

ROA là chỉ tiêu cho biết quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng được đầu tư vào tổng tài sản của doanh nghiệp, qua đó phản ánh khả năng sinh lợi của các tài sản hoặc tần suất khai thác các tài sản của doanh nghiệp. ROA càng cao chứng tỏ khả năng sinh lợi trên tổng tài sản hoặc tần suất khai thác các tài sản của doanh nghiệp càng lớn. Để có thể thấy rõ hơn về độ hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản thì ta có bảng ROA của công ty dưới đây:

Bảng 2.3. Bảng phân tích hiệu quả sử dụng tài sản (ROA) của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu

Từ bảng báo cáo trên có thể thấy, khả năng sinh lời tổng tài sản (ROA) tại công ty có xu hướng ổn định trong trong giai đoạn từ năm 2018 – 2020. Cụ thể, năm 2018 và 2020, ROA đều đạt 0,007, năm 2019 có sự tăng nhẹ lên 0,001 so với 2 năm còn lại. Tuy nhiên, sang 6 tháng đầu năm 2021 thì ROA của công ty chỉ đạt 0,0008, giảm tới 0,0032 so với 6 tháng đầu năm 2021.

Nhìn chung, hệ số ROA của công ty chưa có nhiều biến chuyển, năm 2021 thậm chí còn giảm sâu. Điều này cho thấy công ty Kim Ngưu chưa khai thác các tài sản của mình một cách hiệu quả, hoặc tần suất sử dụng các tài sản thấp, không tương xứng với tiềm năng sinh lợi của các tài sản mà doanh nghiệp có. Công ty cần cải thiện đồng lợi nhuận trên đồng giá trị tài sản, giúp Công ty đạt được hiệu quả trong việc sử dụng vốn. Để tăng khả năng sinh lời tài sản (ROA), công ty cần cải thiện và tăng thu nhập từ hoạt động kinh doanh, các dịch vụ bán hàng đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ để từ đó gia tăng lợi nhuận.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.2.1.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

ROE là chỉ tiêu cho biết quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng vốn đầu tư của các chủ sở hữu, từ đó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và mức doanh lợi tương đối mà các cổ đông được hưởng khi đầu tư vào doanh nghiệp. ROE là một chỉ tiêu được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, thường xuyên được sử dụng làm cơ sở đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, giúp các nhà đầu tư tiềm năng ra quyết định trong hoạt động đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp. Để thấy được hiệu quả sử dụng VCSH của doanh nghiệp, ta sẽ phân tích bảng ROE của công ty:

Bảng 2.4. Bảng phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (ROE) của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu

Qua bảng phân tích trên, ta thấy mức sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) có xu hướng tăng giảm không đồng đều. Từ năm 2018 – 2019, chỉ số ROE có xu hướng tăng từ 0,09 lên 0,1 (tăng 0,01, tương ứng tăng 11,1% so với năm 2018). Tuy nhiên sang năm 2020 thì chỉ số ROE lại giảm xuống còn 0,08, giảm 0,02 so với năm 2019. Tiếp tục sang đến 6 tháng đầu năm 2021, con số này chỉ còn 0,01 (giảm 0,04, tương ứng giảm 80% so với 6 tháng đầu năm 2020). Điều này cho thấy công ty sử dụng vốn chủ sở hữu không đạt hiệu quả như mong đợi trong 2 năm trở lại đây. Do vậy, trong giai đoạn này, công ty cần tập trung phát triển sản phẩm rộng rãi và phổ biến hơn để đem lại hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu cao hơn so với những năm trước để thu hút đầu tư vào doanh nghiệp

2.2.2. Phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh bộ phận của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

2.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động

Các chỉ tiêu về lao động cho ta thấy được cơ cấu lao động của doanh nghiệp như thế nào? Có hợp lý không? Việc sử dụng lao động có hiệu quả hay không?

Việc phân công lao động không hợp lý sẽ gây ra lãng phí nguồn lao động, người lao động không được làm việc đúng chuyên môn sẽ gây ra tâm lý chán nản, tinh thần làm việc uể oải, kém hiệu quả. Nếu tổ chức lao động tốt sẽ khuyến khích người lao động phát huy sở trường, các bộ phận hoạt động hăng say hơn, năng suất lao động cao hơn. Bảng 2.8 dưới đây sẽ phân tích tình hình lao động của công ty Kim Ngưu.

Bảng 2.5. Bảng phân tích hiệu quả sử dụng lao động của công ty CP XNK Hóa chất và Thiết Bị Kim Ngưu

Theo số liệu từ bảng trên ta thấy trong giai đoạn năm 2018 – 2020 thì tổng số lao động bình quân tương đối đồng đều, giao động trong khoảng hơn 400 người. Sang đến năm 2021, do tình hình dịch bệnh nên công ty đã giảm bớt số lượng nhân viên nhằm tiết kiệm chi phí hoạt động trong giai đoạn khó khăn.

Sức sinh lời của một nhân viên của công ty có sự thay đổi qua các năm. Giai đoạn 2018 – 2020, sức sinh lời của một nhân viên tăng liên tục qua từng năm, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả. Cụ thể, năm 2019, sức sinh lời của công ty là 7,5 trđ/người, tăng 2,2trđ/người (tương ứng tăng 41% so với năm 2018). Điều này có thể thấy được hiệu quả sử dụng lao động của công ty nhờ áp dụng các biện pháp, chiến lược đúng đắn và các bài học từ những yếu kém tồn tại của năm trước. Đến năm 2020 thì sức sinh lời vẫn giữ ở mức ổn định là 7,6 trđ/người, tăng không nhiều so với năm 2019 (tăng 1,3%) nhưng vẫn ở mức tăng có hiệu quả. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2021, sức sinh lời của công ty chỉ đạt 1,07 trđ/người, giảm 3,1trđ/người, tương ứng giảm 74,6 % so với 6 tháng đầu năm 2020. Điều này xảy ra là do lợi nhuận của công ty giảm do tình hình kinh doanh gặp nhiều khó khăn trong thời điểm dịch bệnh nên sức sinh lời của một nhân viên trong công ty cũng giảm theo.

Nhìn vào năng suất lao động bình quân của nhân viên, ta cũng có thể thấy trong giai đoạn từ 2018 – 2020, năng suất lao động bình quân nhân viên của công ty có xu hướng tăng lên rõ rệt, điều đó đồng nghĩa với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng tăng. Năm 2019, năng suất lao động bình quân đầu người là 1.836trđ/người, tăng lên 17,6% so với năm 2018. Đến năm 2020 lại tiếp tục tăng lên là 1.890trđ/người (tăng 54tr/người, tương ứng tăng 2,9% so với năm 2019). Sang đến 6 tháng đầu năm 2021, năng suất lao động bình quân của nhân viên vẫn đạt con số tương đối ấn tượng, tăng 164trđ/người so với 6 tháng đầu năm 2020. Sở dĩ công ty đạt được con số này vào năm 2021 là do công ty đã cắt giảm bớt đi số lượng lớn nhân viên để hoạt động có hiệu quả trong tình hình dịch bệnh, đồng thời khuyến khích nhân viên nâng cao năng xuất lao động nhằm tăng doanh thu tối đa, đạt được hiệu quả sản kinh doanh. Thông qua chỉ tiêu năng suất lao động bình quân nhân viên của công ty, ta thấy được công ty đã có các chính sách, hướng đi đúng đắn trong việc tối đa nguồn lực. Biết điều chỉnh kịp thời các chính sách trong từng giai đoạn để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

2.2.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của công ty

Mỗi doanh nghiệp để tồn tại và phát triển luôn cần có những tài sản cũng như nguồn vốn để đảm bảo cho sản xuất, kinh doanh. Tài sản của doanh nghiệp được thể hiện dưới nhiều hình thức, trạng thái khác nhau. Để đánh giá được hiệu quả sử dụng tài sản của công ty Kim Ngưu thì ta cần đánh giá qua các chỉ tiêu tổng tài sản, tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của công ty dưới đây:

Bảng 2.6. Một số chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu

Qua bảng số liệu 2.9, ta thấy tổng tài sản của công ty Kim Ngưu có xu hướng tăng lên không ngừng từ 268.090 trđ năm 2018 lên 424.531 trđ vào năm 2020, điều này cho thấy doanh nghiệp đã quan tâm đến việc mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình. Doanh nghiệp không chỉ mở rộng thêm các kho chứa, nhà máy, xe vận chuyển để phục vụ kinh doanh mà còn hoàn thành sửa chữa cải tạo đầu tư thay mới nhiều trang thiết bị hiện đại cho sản xuất.

Sức sản xuất của tổng tài sản:

Năm 2018, với mỗi một đồng tài sản đầu tư vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra được 2,33 đồng doanh thu thuần; năm 2019, với mỗi một đồng đầu tư vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra được 2,16 đồng doanh thu thuần. Như vậy so với năm 2018 thì sức sản xuất của tổng tài sản năm 2019 đã giảm. Sự sụt giảm này tiếp tục xảy ra vào năm 2020 khi sức sản xuất của tài sản giảm xuống còn 1,81 lần. Sang đến 6 tháng đầu năm 2021 thì con số này vẫn chưa được cải thiện mà tiếp tục giảm còn 0,79 lần (giảm 26,9% so với 6 tháng đầu năm 2020). Đây là một dấu hiệu không tốt đối với doanh nghiệp trong tương lai. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản:

Trong năm 2018, doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản thì thu được 0,007 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2019, doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản thì sẽ thu được 0,008 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy, tỷ suất sinh lời của tổng tài sản năm 2019 đã tăng 14,2% so với năm 2018. Tuy nhiên, đến năm 2020 thì con số này lại trở về mức bằng năm 2018 là 0,007. So sánh thêm 6 tháng năm 2021 với 6 tháng năm 2020 thì sức sinh lời giảm đến 80%. Tỷ suất sinh lời của tài sản giảm cho thấy hiệu quả sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp chưa hiệu quả. Điều này có thể do doanh nghiệp còn đang trong quá trình đầu tư mở rộng thêm quy mô hoạt động nên hiệu quả đem lại chưa cao. Doanh nghiệp cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục những tồn tại này

Sức sản xuất của tài sản ngắn hạn:

Sự biến động của sức sản xuất tài sản ngắn hạn có đường đi giống với đường đi của sức sản xuất tổng tài sản đó là: Giảm dần trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020 từ 2,66 lần xuống còn 1,99 lần. Giảm tiếp xuống còn 0,88 lần vào 6 tháng đầu năm 2021 (giảm 0,17 lần so với 6 tháng đầu năm 2020. Tuy nhiên, sức sản xuất của tài sản ngắn hạn luôn cao hơn sức sản xuất của tài sản dài hạn.

Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn:

Trong năm 2018 và năm 2019, doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì thu được 0,009 đồng lợi nhuận sau thuế. Đây là mức cao nhất trong các năm khảo sát. Năm 2021 đang là năm có tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn thấp nhất – Doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì chỉ thu được 0,0009 đồng lợi nhuận sau thuế. Đây là một kết quả không tốt đối với doanh nghiệp, cho thấy doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn không hiệu quả.

Sức sản xuất của tài sản dài hạn:

Sức sản xuất của tài sản dài hạn tăng giảm không đồng đều trong thời gian khảo sát.

Cụ thể, năm 2019, sức sản xuất của tài sản dài hạn là 20,7 (tăng 2,1 lần, tương ứng với 11,2% so với năm 2018). Tuy nhiên, giai đoạn 2019 – 2021, sức sản xuất của tài sản dài hạn bắt đầu giảm. Năm 2020 giảm tương ứng với 2,5 % so với năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2021 giảm tương ứng với 22,8 % so với 6 tháng đầu năm 2020.

Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn:

Có thể thấy rằng, tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn luôn lớn hơn tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn. Điều này cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản dài hạn hiệu quả hơn tài sản ngắn hạn.

2.2.2.3. Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí của công ty Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

Phân tích hiệu quả chi phí giúp cho chủ thể quản lý thấy được trình độ quản lý chi phí từ tổng quát đến chi tiết. Hiệu quả sử dụng chi phí của công ty Kim Ngưu được thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 2.7. Các chỉ số về hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu

Tổng chi phí:

Qua bảng số liệu trên, có thể thấy tổng chi phí của công ty tăng liên tục từ 77.788trđ lên 94.024trđ trong giai đoạn 2018 – 2020. Tuy nhiên đến 6 tháng đầu năm 2021 thì chi phí doanh nghiệp giảm còn 36.196trđ, giảm 10.427trđ, tương ứng giả, 22,4% so với 6 tháng đầu năm 2020. Xu hướng này là hợp lý bởi khi doanh thu tăng thì chi phí tăng, khi doanh thu giảm thì chi phí cũng giảm xuống. Tuy nhiên, ta cần xem xét tốc độ tăng giảm của chi phí có lớn hơn tốc độ tăng giảm của doanh thu không

Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí:

Năm 2018, với 100 đồng chi phí tạo ra 0,02 đồng lợi nhuận sau thuế; năm 2019, với đồng tổng chi phí tạo ra 0,03 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy, tỷ suất sinh lời của chi phí năm 2019 đã tăng 0,01% so với năm 2018. Sang đến 2020, tỷ suất sinh lời vẫn giữ ở mức ổn định, bằng năm 2019 là 0,03%. Tuy nhiên đến đầu năm 2021 thì tỷ suất này giảm chỉ còn 0,008%, giảm 0,022% so với 6 tháng đầu năm 2020. Kết quả trên cho thấy hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp không đạt hiệu quả, đây là một xu hướng không tốt với doanh nghiệp trong tương lai.

Đối với sức sản xuất của chi phí:

Năm 2019, cứ 1 đồng chi phí tạo ra thì tạo ra 7,8 đồng doanh thu. Sức sản xuất của chi phí năm 2019 đã giảm so với năm 2018 là 0,2 lần. Đến năm 2020 thì sức sản xuất chi phí của công ty đã hồi phục, đạt 8,2 lần (tăng 0,4 lần so với năm 2019). Sang 6 tháng đầu năm 2021 thì mỗi đồng chi phí chỉ tạo ra 7,7 đồng doanh thu, giảm 0,1 lần so với 6 tháng đầu năm 2020. Nhìn chung, sức sản xuất của chi phí của công ty tăng giảm không ổn định và có xu hướng giảm trong tương lai, đây là dấu hiệu không tốt đối với tình hình doanh thu của công ty.

2.2.2.4. Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty

Vốn kinh doanh là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình sản xuất. Muốn tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất nào DN cần phải có vốn kinh doanh. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề cấp thiết đối với các doanh nghiệp và Kim Ngưu cũng vậy. Muốn tìm ra được giải pháp cho vấn đề này thì trước tiên cần phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty qua bảng số liệu dưới đây:

Bảng 2.8. Bảng phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết Bị Kim Ngưu

Từ bảng số liệu trên, ta thấy tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động và tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định của công ty đều có xu hướng ổn định vào giai đoạn 2018 – 2020. Đạt lần lượt 0,1% đối với vốn lưu động và 0,2% đối với vốn cố định (tức là 1 đồng vốn lưu động bỏ ra thu được 0,1 đồng lợi nhuận và 1 đồng vốn cố định bỏ ra thì thu được 0,2 đồng lợi nhuận). Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định đang cao hơn tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động trong giai đoạn này. Tuy nhiên, Đến năm 2021 thì tình trạng ổn định này ở cả 2 nguồn vốn đều không còn nữa, tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu độn trong 6 tháng đầu năm 2021 giảm 87,5 % so với 6 tháng đầu năm 2020. Đối với tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định cũng không khả quan hơn khi tỷ suất này chỉ đạt 0,03%, tương ứng giảm 70% so với 6 tháng đầu năm 2020. Tỷ suất này giảm là do lợi nhuận của công ty năm 2021 đang giảm mạnh so với năm 2020.

Sức sản xuất của vốn lưu động có xu hướng giảm từ 38,4 vòng trong năm 2018 xuống còn 30,1 vòng trong năm 2020 và tiếp tục giảm xuống còn 14,8 vòng vào 6 tháng đầu năm 2021 (giảm 3,8 vòng so với 6 tháng đầu năm 2020). Sức sản xuất của vốn cố định có xu hướng ổn định, tăng nhẹ trong giai đoạn 2018 đến 6 tháng đầu năm 2021. Các chỉ số của sức sản xuất của vốn cố định cũng cao hơn so với sức sản xuất của vốn lưu động. Điều này cho thấy công ty đang sử dụng vốn cố định có hiệu quả hơn so với vốn lưu động.

2.3. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

Qua việc đánh giá khái quát hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn 2018 – 2021, ta thấy được tình hình hoạt động và hiệu quả kinh doanh của Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu. Từ đó thấy được những thành công và hạn chế của Công ty:

2.3.1. Thành công của Công ty

Trong giai đoạn 2018 – 2021, mặc dù gặp phải không ít những khó khăn và thử thách từ sự tăng trưởng số lượng của các doanh nghiệp trong ngành hóa chất, thiết bị hóa chất dẫn đến tình trạng cạnh tranh khốc liệt nhưng công ty vẫn đạt được kết quả đáng kể nhờ đưa ra những phương án kinh doanh hợp lý. Bốn năm liền công ty làm ăn luôn có lãi. Công ty đã tạo được niềm tin đối với khách hàng và khẳng định được chỗ đứng trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Công ty đã biết nắm bắt những ưu điểm để thu được hiệu quả kinh doanh như mong muốn, những kết quả đạt được đó là:

  • Nhờ sự chỉ đạo sáng suốt và kịp thời, phương án kinh doanh hợp lý của lãnh đạo công ty đã góp phần củng cố khối đoàn kết nhất trí cao cho các đơn vị trong toàn công ty, nâng cao ý thức trách nhiệm của các cá nhân trong công việc.
  • Công ty luôn thực hiện đúng theo các quy định, pháp luật của nhà nước trong Luật Doanh nghiệp, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ Thuế với nhà nước, trách nhiệm với công nhân. Do đặc thù ngành nghề ảnh hưởng nhiều đến môi trường nên công ty luôn cố gắng làm tốt công tác giữ gìn và bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững.
  • Thực hiện cải tiến, nâng cấp hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2015 và đã được trung tâm chứng nhận phù hợp chất lượng – Quacert đánh giá và cấp chứng nhận. Đồng thời Quản lý môi trường theo tiêu chuẩn hệ thống ISO 14001:2015 và được chứng nhận hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp ISO 45001: 2018.
  • Nâng cấp khu văn phòng tại chi nhánh TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ, đồng thời xây dựng được Kho Hải Hà tại Hải Phòng để chuẩn bị cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian tới
  • Đào tạo nội bộ về chuyên môn, kỹ năng cho cán bộ nhân viên được thực hiện thường xuyên, xuyên suốt từ các ban chuyên môn công ty đến các đơn vị xí nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động.
  • Công ty đã đảm bảo được hoạt động, nhiệm vụ và chức năng của mình mang lại thu nhập cho công ty cũng như tạo được việc làm cho nhiều người lao động.
  • Hiệu quả trong việc sử dụng lao động của Công ty được cải thiện đáng kể nhờ các chính sách phù hợp từ bộ máy quản lý của Công ty giúp Công ty phát triển và hoạt động hiệu quả hơn. Mặc dù do ảnh hưởng của dịch bệnh, công ty đã có những chính sách điều chỉnh phù hợp đối với nhân viên giúp tỷ suất sinh lời của lao động và năng suất lao động đều đạt mức ổn định, giúp công ty duy trì được hoạt động kinh doanh, doanh thu đạt được khả quan và có lợi nhuận.
  • Đối với vốn cố định, Công ty đã không ngừng khai thác công suất máy móc thiết bị, đồng thời huy động tối đa các tài sản cố định vào sản xuất nhằm hạn chế lãng phí gây ứ đọng vốn.

2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

Qua tìm hiểu, có thể thấy một số hạn chế, tồn tại cần thiết phải khắc phục để Công ty CP XNK Hóa chất và Thiết bị Kim Ngưu có thể hoàn thiện hoạt động kinh doanh của mình, được thể hiện như sau:

  • Từ các số liệu và phân tích về doanh thu của công ty cho thấy doanh thu của công ty tăng liên tục trong giai đoạn 2018 – 2020 nhưng doanh thu của công ty không đạt mức hiệu quả như mong muốn, không những thế trong 6 tháng đầu năm 2021, doanh thu còn có xu hướng giảm mạnh so với những năm trước. Nói doanh thu của công ty chưa đạt mức hiệu quả như mong muốn bởi tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu rất thấp, chưa năm nào vượt 1%. Điều này cho thấy tuy có nhiều lợi thế về cơ sở vật chất nhưng công ty chưa thích ứng kịp thời với những biến động thị trường, chưa có các chính sách phù hợp. Đồng thời, do phần giá vốn hàng bán phải bỏ ra là quá cao so với doanh thu đạt được dẫn đến lợi nhuận của công ty đạt được là khá thấp và không có dấu hiệu tăng nhiều qua các năm, thậm chí còn có xu hướng giảm dần vào năm 2021 và các năm tiếp theo. Vậy nên, để nâng cao hiệu quả kinh doanh thì công ty cần tìm giải pháp để tăng doanh thu và lợi nhuận, trong đó ưu tiên việc giảm chi phí giá vốn hàng bán bằng cách tận dụng tối đa các nguồn lực trong nước.
  • Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản, tài sản ngắn hạn cũng như tài sản dài hạn đều giảm trong giai đoạn 2018 – 2021 cho thấy Công ty chưa có các chính sách hiệu quả khai thác nguồn tài sản.
  • Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí và sức sản xuất của tổng chi phí đều có xu hướng giảm cho thấy hiệu quả sử dụng chi phí của công ty giảm. Công ty cần có những giải pháp cụ thể để tiết kiệm chi phí, góp phần tăng lợi nhuận
  • Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty giảm do tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động và sức sản xuất của vốn lưu động giảm dần qua các năm, giảm mạnh vào 6 tháng đầu năm 2021. Điều này cho thấy doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong công tác thanh toán bán hàng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Công ty cần có biện pháp cụ thể nhằm nâng cao khả năng sinh lời của vốn cũng như biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
  • Kinh doanh hóa chất, thiết bị hóa chất là một ngành kinh doanh có điều kiện đặc thù. Vậy nên việc đưa ra và thực hiện những biện pháp ngăn ngừa rủi ro của ngành kinh doanh này là điều cần thiết.

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan

Những tiêu cực của kinh tế thị trường đang gây khó khăn rất lớn cho công ty trong hoạt động kinh doanh như: diễn bình tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới đang diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến giá dầu. Đặc biệt là tình hình dịch Covid diễn biến căng thẳng và khó kiểm soát trong năm 2021 doanh thu và lợi nhuận đều giảm mạnh trong năm này. Từ đó dẫn đến nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh đều bị giảm vào năm 2021.

Thị trường ngày càng xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh nên việc tiêu thụ sản phẩm ngày càng khó khăn, lượng hàng tồn kho ngày càng tăng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan

Công ty chưa tận dụng được nguồn nguyên liệu trong nước dẫn đến phần chi phí cho giá vốn hàng bán mà doanh nghiệp phải bỏ ra là quá cao so với doanh thu đạt được. Ngoài ra thì các chi phí khác phục vụ hoạt động kinh doanh cũng ngày càng tăng cùng với việc phải thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường. Tất cả những điều đó dẫn đến tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu mà công ty đạt được là khá thấp so với mong đợi. Vậy nên công ty cần có những biện pháp tiết kiệm chi phí, góp phần tăng lợi nhuận.

Công ty còn đang trong quá trình đầu tư và mở rộng quy mô, chưa xây dựng được các chính sách phù hợp, chưa suy xét kỹ đến vấn đề hiệu quả kinh doanh bao gồm nhiều nhân tố như: tài sản, chi phí, thuế… dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản, chi phí của công ty đều giảm. Công ty cần có phương án thích hợp để tối đa và sử dụng các nguồn lực hợp lý. Trình độ quản lý và sử dụng vốn lưu động còn nhiều hạn chế, nguyên nhân là do vốn bằng tiền và hàng tồn kho tăng. Chính sách hàng tồn kho hiện tại chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng lượng hàng tồn kho lớn, làm giảm vòng quay hàng tồn kho, từ đó tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao kinh doanh của Cty Kim Ngưu

One thought on “Khóa luận: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Cty Kim Ngưu

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan hoạt động kinh doanh của Cty Kim Ngưu

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464