Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu và ý nghĩa của nó tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Khái quát tình hình sản xuất hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

1. Lợi thế của Việt Nam trong sản xuất hàng gia công

Để tham gia vào hoạt động gia công xuất khẩu, ngoài những lợi ích quan trọng mà hoạt động gia công mang lại cho nền kinh tế thì bản thân Việt Nam cũng đã phát huy được những lợi thế của mình, khẳng định được vị thế trong nhiều mặt hàng gia công quan trọng như dệt may, da giày hay phần mềm. Xuất hiện chủ yếu với tư cách bên nhận gia công, các lợi thế này gồm có: Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

Vị trí địa lý: Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, thuộc Châu Á – Thái Bình Dương, phía Tây gắn liền với lục địa Châu Á, phía Đông thông ra Thái Bình Dương, được coi là khu vực “năng động” có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng về cả chính trị lẫn kinh tế. Việt Nam nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải quốc tế từ các nước thuộc Liên Xô cũ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Triều Tiên và các nước Nam Á, Trung Đông và Châu Phi. Ven biển Việt Nam có nhiều cảng sâu ở khu vực Nam Trung Bộ trở vào, khí hậu tốt, không có bão, sương mù cho phép tàu thuyền nước ngoài có thể chuyển tải hàng hóa, sửa chữa, tiếp nguyên nhiên vật liệu an toàn quanh năm. Việt Nam lại nằm trên trục đường bộ và đường sắt từ Châu Âu sang Trung Quốc qua Campuchia, Lào, Thái Lan, Myama, Pakistan, Ấn Độ… đặc biệt con đường bộ xuyên Á được đưa vào sử dụng từ năm 2017 đã nối các thị trường Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan góp phần thúc đẩy thương mại, du lịch, vận tải giữa các nước thành viên Asean. Với vị trí thuận lợi này, Việt Nam có nhiều điều kiện để tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế.

Nguồn lao động: với dân số khoảng 87 triệu người, Việt Nam là một nước đông dân xếp thứ 13 trên thế giới. Nguồn lao động dồi dào với chi phí thấp là một lợi thế quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào hoạt động gia công. Giá nhân công ở ta được xếp vào loại một trong những nước thấp nhất trên thế giới.

Bảng 2: Chi phí lao động ở một số quốc gia

Hơn nữa, lao động Việt Nam được đánh giá là cần cù, khéo tay, trình độ văn hóa và tay nghề được đánh giá là ngày càng tăng lên, có khả năng nắm bắt những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, tư duy sáng tạo trong lao động trên nhiều ngành, nghề, lĩnh vực. Những ưu điểm này đã giúp lao động Việt Nam vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh để tham gia và phát triển hoạt động gia công quốc tế.

Sự bình ổn về chính trị: trong nhiều năm qua, Việt Nam được xếp vào một trong những quốc gia có sự ổn định cao về kinh tế, chính trị và xã hội. Toàn Đảng, toàn dân ta vẫn kiên trì phát triển đất nước theo định hướng XHCN với nền kinh tế khá vững vàng. Đây là một điểm quan trọng thu hút nhiều thương nhân nước ngoài quyết định buôn bán với Việt Nam. Do xuất phát điểm thấp, cơ sở vật chất chưa thể đảm bảo cho nhiều ngành sản xuất tự mình xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài cho nên ngay từ đầu chính sách của Đảng và Nhà nước đã khuyến khích phát triển hoạt động gia công. Các thương nhân nước ngoài có thể tận dụng những chính sách ưu đãi, khuyến khích của chính phủ Việt Nam đối với hoạt động gia công hàng hóa với nước ngoài để có được giấy chứng nhận xuất xứ nhằm làm giảm mức thuế khi xuất sản phẩm sang các nước khối ASEAN, APEC, Hoa Kỳ ngay sau khi một loạt hiệp định ra đời. Trong khu vực châu Á, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các cơ chế hợp tác kinh tế trong Hiệp hội các quốc gia Ðông-Nam Á (ASEAN), trong khuôn khổ hợp tác ASEAN+3, ASEAN với Nhật Bản, với Trung Quốc và với Hàn Quốc, các cơ chế hợp tác giữa ASEAN với các nước khác, các cơ chế hợp tác trong Tiểu vùng sông Mê Công, Diễn đàn châu Á… và các diễn đàn liên châu lục như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Á – Âu (ASEM)… để tận dụng được nhiều cơ hội hợp tác với các quốc gia khác.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Tình hình sản xuất hàng gia công xuất khẩu Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

2.1 Tình hình cung cấp

Dệt may: số lượng doanh nghiệp trong ngành dệt may khá đông đảo. Vào cuối năm 2023, cả nước có 3719 doanh nghiệp dệt may chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực may. Thông tin từ hiệp hội dệt may Việt Nam cho thấy tham gia vào nền công nghiệp dệt may ở nước ta có hầu hết các loại hình doanh nghiệp trong đó:

  • Các công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn (TNHH) có vốn của Nhà nước (ít hơn 50%) chiếm 76%.
  • Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18,5%.
  • Số công ty nhà nước hoặc cổ phần nhưng có vốn của Nhà nước (nhiều hơn 50%) chiếm 4,5%.

Nếu xét theo khu vực tập trung theo vùng miền, Đông Nam Bộ là nơi có nhiều doanh nghiệp dệt may nhất (58%), tiếp theo đến đồng bằng sông Hồng (27%), các khu vực còn lại như trung du miền múi phía Bắc, đồng bằng duyên hải miền Trung hay đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm 15%.

Ngành công nghiệp dệt may không có sự hiện diện của nhiều hãng lớn nên chỉ mới có một số thương hiệu sản phẩm dệt may Việt Nam đã được người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến như Molis (Công ty dệt Phong Phú), Fhouse (Công ty may Phương Ðông), Sanding (Công ty may Sài Gòn 2), Newera (Công ty may Ðức Giang), Ninomax, Nhà Bè, An Phước… Trong đó công ty may Việt Tiến, công ty May Nhà Bè là hai cái tên thành công với nhiều thương hiệu được người tiêu dùng trong nước và nước ngoài ưa thích. Những dòng sản phẩm thương hiệu của hai công ty này gồm sơ-mi, quần âu, cà-vạt dùng cho doanh nhân, công sở, áo thun, quần jean, ka-ki, váy, bộ thể thao, thắt lưng, mũ, sử dụng cho công sở, dạo phố. Ðồng thời, Việt Tiến và May Nhà Bè thực hiện mô hình mua quyền thương mại đối với một số thương hiệu nổi tiếng để thực hiện chiến lược đa dạng chủng loại sản phẩm và mở rộng phạm vi kinh doanh như Renta, Aoyama, Ann Taylor, Calvin Klei, San Sciaro, Manhattan, Novelty, Cavaldi. Còn lại 90% doanh nghiệp vẫn đang hoạt động dưới hình thức gia công cho đối tác thông qua bên trung gian.

Trong những năm qua đã có 534 dự án có vốn đầu tư nước ngoài từ 28 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam với tổng vốn đăng kí là 3,215 tỷ USD, trong đó Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản… là những quốc gia có lượng vốn đầu tư lớn nhất (Lệ Trần, 2022, “Thu hút đầu tư nước ngoài vào dệt may

Những chuyển động tích cực”). Số dự án của các nước đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là ngành may, sau đó là ngành dệt, cuối cùng là phụ liệu. Điều này cũng dễ hiểu bởi Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm may mặc nên các nước tập trung đầu tư vào ngành này. Còn ngành phụ liệu, xu hướng ở Việt Nam chủ yếu là nhập khẩu nguyên vật liệu cho ngành dệt may nên các nhà đầu tư chưa tập trung mạnh vào lĩnh vực này vì lợi nhuận không cao bằng ngành may.

Biểu đồ 1: FDI vào ngành dệt may trong giai đoạn 2000-2023

Da giày: khi mới thành lập chỉ là một ngành kinh tế – kỹ thuật khiêm tốn, non trẻ trong nền kinh tế quốc dân đến năm 1987 ngành da giày Việt Nam trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật độc lập. Toàn ngành hiện có gần 800 doanh nghiệp sản xuất, các công ty da giày được tập trung chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hải Phòng, Hà Nội. Vào ngày 9/6/1990 hiệp hội da giày Việt Nam được thành lập là tổ chức liên kết kinh tế – xã hội tự nguyện của các nhà sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học kỹ thuật và dịch vụ da giày thuộc mọi thành phần kinh tế đang hoạt động tại Việt Nam. Tới nay hiệp hội có 187 thành viên.

Sản phẩm trong ngành da giày phục vụ chủ yếu cho xuất khẩu tuy nhiên trong tổng khối lượng da giày xuất khẩu thì có tới 70% là theo hình thức gia công. Lượng giày dép mà các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài đều mang nhãn mác của khách hàng như Nike, Adidas, Reebok hoặc thương hiệu của các tập đoàn bán lẻ như Famous Footwear, K, Shoes. Việt Nam mới chỉ có một số doanh nghiệp tạo dựng nhãn hiệu riêng có uy tín trong nước như VINA Giày, Biti’s, Bita’s, Thượng Đình, An Lạc, Thành Hưng… Các sản phẩm chủ yếu là giày thể thao, giày nữ, giày vải; da thuộc; cặp, túi ví, trong đó sản phẩm giày thể thao, giày nữ, giày vải được đánh giá là có khả năng cạnh tranh hơn. Là một quốc gia xuất khẩu da giày lớn tuy nhiên thị phần trong nước của ngành chỉ chiếm 50%, phần còn lại đa số là từ người láng giềng khổng lồ Trung Quốc. Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

GCPM: là một ngành có mức tăng trưởng cao qua các năm so với những ngành kinh tế khác song công nghiệp phần mềm Việt Nam hiện nay chỉ đóng góp một phần nhỏ trong toàn ngành công nghiệp công nghệ thông tin và là con số quá ít ỏi so với công nghiệp phần cứng.

Việt Nam hiện có trên 2800 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực phần mềm nhưng chỉ có một số ít là thực sự hoạt động. Theo ước tính có khoảng 940 doanh nghiệp chính thức tham gia vào hoạt động GCPM với khoảng 48.000 nhân sự. Hầu hết các doanh nghiệp làm phần mềm là các doanh nghiệp nhỏ, chỉ có khoảng 20 doanh nghiệp có từ 100-500 nhân viên. Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA) được thành lập tháng 4/2002, đến nay quy tụ 171 doanh nghiệp phần mềm hàng đầu quốc gia. VINASA đại diện cho ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam, đã tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế như WITSA (Liên minh CNTT thế giới), ASOCIO (Tổ chức công nghiệp điện toán châu Á – châu Đại Dương), có quan hệ với các tổ chức đại diện công nghệ phần mềm và CNTT của trên 30 nước trên thế giới. Các doanh nghiệp GCPM lớn ở nước ta thường là đối tác của các bạn hàng đến từ Nhật, Mỹ và Tây Âu trong đó phải kể đến các doanh nghiệp tiêu biểu như: TMA, PSV, FPT, Silkroad, Global Cybersoft… Bức tranh chung về các doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT Việt Nam là đông về số lượng nhưng xấu đều, tốt lỏi, tự phát: chỉ có 5% trong tổng số doanh nghiệp khoảng hơn 40 doanh nghiệp nhưng quyết định tới 95% tổng doanh số phân mềm và dịch vụ và quyết định gần như 100% doanh thu xuất khẩu phần mềm và dịch vụ. 95% doanh nghiệp còn lại chỉ đóng góp có 5% tổng doanh thu (Chu Tiến Dũng, 2023).

Vốn đầu tư tại các doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT do tư nhân và các thành phần kinh tế phi nhà nước nắm giữ tuyệt đối. Điều này cho thấy mặc dù nhà nước rất quan tâm đưa công nghiệp phần mềm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn nhưng mới chỉ dừng lại ở chủ trương chính sách. Nhà nước chưa đóng vai trò đầu tư xây dựng các đầu tầu và lực lượng nòng cốt, chủ lực để thực hiện mục tiêu đề ra, thả nổi các doanh nghiệp phát triển tự phát. Trong khi đó các ngành kinh tế quan trọng khác thì đều có vai trò của các tập đoàn kinh tế nhà nước, nhưng trong lĩnh vực sản xuất phần mềm thì không nhìn thấy thành phần vốn đầu tư của nhà nước ở doanh nghiệp.

Xét về khía cạnh chuẩn chất lượng, hiện tại Việt Nam có 20 doanh nghiệp đạt các chứng chỉ quản lý chất lượng quốc tế như CMM-5, CMM-4 hoặc CMM-3 và hơn 40 doanh nghiệp đã được cấp chứng chỉ ISO 9001 và ISO 27001(“Tổng quan về ngành phần mềm Việt Nam nửa đầu 2023”, 2023, www.vinasa.org.vn). Nhìn chung quy mô này còn quá nhỏ trong khi ngành gia công lại đòi hỏi có sự tăng trưởng cả về số lượng lẫn chất lượng nguồn lực để thực hiện được những dự án ngày càng lớn cả về quy mô và độ phức tạp.

2.2 Điều kiện sản xuất Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

Dệt may: trình độ công nghệ và năng lực sản xuất của các doanh nghiệp may Việt Nam hiện nay vẫn còn thấp hơn 30 – 50% so với mặt bằng chung của khu vực. Đây là một thiệt thòi lớn cho Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian qua, một số doanh nghiệp cũng đã chủ động đầu tư cải tiến về công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí.

Trong ngành dệt, số trang thiết bị tương đối lớn song phần lớn đã cũ, thiếu đồng bộ và khung dệt hẹp. Trong số 4200 máy dệt kim tròn và dệt kim bằng chỉ có hơn 1000 máy dệt hiện đại, năng suất cao. Thiết bị kéo sợi chủ yếu là cọc sợi chải thô, chỉ số bình quân thấp. Dây chuyền nhuộm cũng đã lạc hậu, tiêu hao nhiều hóa chất, thuốc nhuộm. Ngành hiện có hơn 70 vạn máy may nhưng trong đó khoảng 20% là thiết bị đã sử dụng hơn 10 năm cần phải thay thế (xem bảng 3). Tuy nhiên so với ngành dệt thì ngành may tỏ ra hiện đại và có nhiều ưu thế hơn. Các doanh nghiệp đã quan tâm nhiều hơn đến thiết bị trong ngành may. Nhờ đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ nên các doanh nghiệp như Việt Tiến, Nhà Bè, Đức Giang đã được khách hàng trong nước và nước ngoài biết đến. Qua những nhận xét trên có thể thấy hiện nay đang tồn tại sự mất cân đối trong ngành dệt và may. Ngành dệt chưa thể hiện vai trò hỗ trợ đầu vào cho ngành may cho nên có thể nói đầu tư vào công nghệ là vấn đề quan trọng với ngành nếu muốn duy trì vị trí một mặt hàng chủ đạo.

Bảng 3: Thông tin máy móc thiết bị trong ngành

Ngành dệt may là nguồn thu hút nhiều lao động với khoảng 1,2 triệu nhân công, chiếm hơn ¼ số lượng nhân công trong tất cả các ngành công nghiệp. Trong đó 80% lượng lao động trong lĩnh vực này may mặc là phụ nữ.

Da giày: trong môi trường cạnh tranh ngày một gay gắt như hiện nay thì nhân tố khoa học công nghệ đóng vai trò càng ngày càng quan trọng đối với các doanh nghiệp. Những năm qua, trong lĩnh vực sản xuất da giày ở nước ta chủ yếu theo công nghệ băng tải dài, tốc độ chậm, tiêu thụ nhiều nguyên liệu, trình độ tự động hóa thấp và chất lượng chưa cao dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp. Ngành giày dép tuy có tốc độ phát triển cao về sản lượng song kỹ thuật công nghệ, quản lý và thiết kế mẫu mốt vẫn bị lệ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài. Máy móc thiết bị trong ngành có thể được chia thành hai thế hệ: trên 10 năm tuổi và dưới 10 năm tuổi. Hầu hết thiết bị sản xuất giày dép sử dụng trên 10 năm được nhập khẩu từ Đài Loan và Hàn Quốc theo phương thức trả chậm, các dây chuyền máy móc chủ yếu là công nghệ của thập kỷ 70, 80 có tuổi thọ ngắn. Những máy móc có thiết bị ít hơn 10 năm tuổi có trình độ công nghệ hiện đại hơn được nhập khẩu từ Nhật Bản, Italia. Đây chủ yếu là thiết bị phục vụ cho công đoạn may ráp, gò ráp. Một vài thiết bị đơn giản đã bắt đầu được chế tạo trong nước như băng tải, thùng sấy, máy bôi keo, máy bào nhám giúp cho doanh nghiệp giảm bớt được phần chi phí đầu tư. Giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn FDI thì các công ty nước ngoài có điều kiện sản xuất hiện đại hơn do họ có điều kiện về vốn thuận lợi hơn. Một số doanh nghiệp có tiềm năng đã đầu tư hoàn chỉnh hệ thống tự động hóa thiết kế, các dây chuyền sản xuất thực nghiệm phục vụ công tác ra mẫu chào hàng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng như công ty cổ phần An Lạc, công ty cổ phần giày Thái Bình và các công ty có 100% vốn nước ngoài như Pou Yuen, Pou Chen, Tea Kwang Vina, Shyang Hung Cheng… So với các quốc gia khác có thế mạnh về ngành da giày như Trung Quốc, Thái Lan… thì chúng ta vẫn còn thua kém do ngành da giày phụ thuộc nhiều vào lao động hơn so với nước bạn.

Da giày là một ngành thu hút nhiều lao động, số người lao động trong ngành tăng đáng kể qua nhiều năm trở lại đây. Vào cuối năm 2023, có khoảng 610.000 nhân công làm việc tại các nhà máy sản xuất da giày chiếm 10,9% tổng số lao động trong các ngành công nghiệp. Trong số đó 80% là nữ vốn xuất thân từ các vùng quê nghèo nơi quanh năm chỉ biết trông cậy vào đồng ruộng (Nguyễn Đăng Hào, 2023).

Bảng 4: Cơ cấu lao động trong ngành da giày qua các năm

Trình độ học vấn của người lao động đa phần thấp, thường là chưa học hết cấp 2, cá biệt có một bộ phận còn chưa tốt nghiệp cấp 1. Đến từ những vùng nông thôn nên những nhân công này chưa có bất cứ kiến thức chuyên môn nào về sản xuất da giày. Để có thể bắt đầu công việc trong các nhà máy, họ thường phải tham dự khóa đào tạo cơ bản trong hai tuần. Theo Lefaso, các chủ doanh nghiệp thường không quan tâm nhiều đến việc huấn luyện và đào tạo này. Sau khóa ngắn hạn đó, những người mới đến bắt đầu làm việc trong các nhà máy và tại đây, những người có kinh nghiệm tuổi nghề hơn sẽ hướng dẫn thêm cho họ. Một bộ phận lao động đã qua đào tạo đến từ các trường dạy nghề nhưng chiếm tỷ trọng ít ỏi trong cơ cấu lao động của ngành. Do thiếu kiến thức chuyên môn nên năng suất lao động của ngành da giày Việt Nam thấp hơn các quốc gia khác trong khu vực. Mức lương của lao động trong ngành đang ở mức thấp, ở miền Bắc vào khoảng 1.100.000 – 1.400.000 VND (tương đương 60 – 78$); ở các nhà máy miền Nam vào khoảng 1.700.000 – 2.000.000 VND (tương đương 94 – 110$). Có thể thấy rằng mức lương này chưa đủ để trang trải cho họ một cuộc sống đầy đủ nhất là trong bối cảnh giá tiêu dùng và lạm phát tăng cao như hiện nay. Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

GCPM: khác với ngành dệt may và da giày khi cả hai đều không đòi hỏi lao động có trình độ thì trong lĩnh vực GCPM có thể nói trụ cột quan trọng nhất chính ở yếu tố nguồn nhân lực có tay nghề. Việt Nam là một quốc gia có số dân đông, trong đó khoảng 34% dân số ở độ tuổi 15-34 đã tạo ra một sức mạnh tiềm năng cho ngành công nghệ phần mềm ở nước ta. Số lao động trong lĩnh vực phần mềm tại thời điểm tháng 1/2010 theo Bộ Thông tin và truyền thông là 48.000 người. Tính đến cuối năm 2023, Việt Nam có 209 trường đại học và 160 trường cao đẳng có chuyên ngành CNTT, đào tạo khoảng 15.000 sinh viên đại học và khoảng 10.000 sinh viên cao đẳng chuyên ngành này mỗi năm. Hiện nay, 50-60% nhân viên của các công ty phần mềm có bằng đại học và 10% có bằng trên đại học (“Tổng quan về ngành phần mềm Việt Nam nửa đầu 2023”, 2023, www.vinasa.org.vn). Lao động CNTT có khả năng tiếp thu và nâng cao trình độ nhanh, các lao động dễ thích nghi với điều kiện làm việc cường độ cao và được đánh giá là có giá nhân công rẻ nhất khu vực châu Á. Sự khuyến khích của Chính phủ dành cho các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia vào đào tạo nguồn nhân lực cho CNTT đã tạo đà để thị trường GCPM nước ta thu hút ngày càng nhiều đối tác nước ngoài. Số lượng trường đại học và cao đẳng đào tạo công nghệ thông tin tăng lên hàng năm, nhưng điều này không có nghĩa là các trường mới được mở ra cho các chuyên ngành này mà chính các trường đại học, cao đẳng hiện tại mở thêm chuyên ngành đào tạo. Sự hạn chế hiện nay nằm ở chỗ là nội dung và chất lượng đào tạo sinh viên chuyên ngành công nghệ thông tin, đặc biệt sinh viên cao đẳng đang có vấn đề do việc phát triển một cách ồ ạt và không có sự rõ ràng giữa đào tạo cao đẳng dạy nghề và không phải dạy nghề. Điều này dẫn đến một thực tế khó khăn trong việc tuyển dụng những ứng viên đạt tiêu chuẩn mà các lãnh đạo nhiều công ty phần mềm đã phản ánh. Số lao động hoạt động trong ngành GCPM của nước ta vẫn còn khiêm tốn so với Trung Quốc hay Ấn Độ, chưa kể tới vấn đề chất lượng của nguồn nhân lực khi ra trường khi mà họ rất thiếu kỹ năng thực tế và trình độ tiếng nước ngoài. Bên cạnh đó, đội ngũ nguồn nhân lực hoạt động trong ngành GCPM phần lớn là các cử nhân CNTT chỉ chuyên về lĩnh vực kỹ thuật, kiến thức về quản trị dự án hay khả năng nắm bắt thông tin thị trường còn yếu. Nếu như Ấn Độ hay Trung Quốc đã biết tận dụng được nguồn lực từ các Ấn Kiều hay Hoa Kiều thì ở Việt Nam chưa có mối liên hệ chặt chẽ của ngành CNTT với các Việt Kiều ở nước ngoài.

Sau yếu tố nguồn nhân lực không thể không kể đến yếu tố hạ tầng viễn thông và các khu công nghệ phần mềm tập trung khi bàn về các điều kiện sản xuất của ngành. Hạ tầng viễn thông, Internet của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc nhờ chiến lược đi thẳng vào hiện đại trong thời gian vừa qua. Dung lượng kết =nối Internet quốc tế liên tục tăng trong những năm gần đây với tốc độ tăng trưởng 200-250%/năm. Vấn đề độc quyền trong viễn thông từng bước được xóa bỏ, giá cước ngày càng giảm, thị trường cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng. Hiện cả nước có 6 nhà cung cấp dịch vụ Internet chính với 3 nhà cung cấp chiếm 86% thị trường gồm có: VNPT, FPT và Vietel và 3 nhà cung cấp điện thoại đường dài trong nước, quốc tế: VNPT, ETC, Vietel (“Viettel sắp “qua mặt” FPT trên vũ đài Internet”, 2023, www.tin247.com). Bộ thông tin và truyền thông đang tiếp tục thẩm định cấp giấy phép cho mộ số doanh nghiệp xin đăng ký cung cấp dịch vụ Internet. Việt Nam hiện nay là quốc gia có số người dùng Internet xếp thứ 17 trên thế giới, thứ 6 trong khu vực châu Á. Song những vấn đề về băng thông, giá cước thuê kênh và giá cước gọi đường dài quốc tế đắt vẫn là những rào cản với doanh nghiệp GCPM của nước ta. Vì vậy vấn đề nổi bật hiện nay là không chỉ tập trung vào tăng số người dùng, giảm giá cước như trước đây mà là yêu cầu ngày càng cao về tốc độ, chất lượng và độ an toàn của hạ tầng mạng Internet.

Những năm vừa qua ghi nhận sự ra đời của nhiều khu phần mềm tại nhiều địa phương trên cả nước như trung tâm phần mềm Sài Gòn SSP, tòa nhà E-Town, khu công nghệ phần mềm Đại học Quốc gia ở thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm phần mềm Hà Nội, trung tâm phần mềm Đà Nẵng và nhiều trung tâm ở các tỉnh thành khác. Các khu phần mềm tập trung được hầu hết đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước. Các khu phần mềm đã cung cấp cho môi trường làm việc cho khoảng 120 công ty phần mềm với 4000 nhân viên. Sự ra đời của các khu công nghệ phần mềm tập trung đã góp phần tạo nên hình ảnh cho Việt Nam – một quốc gia sản xuất phần mềm. Ngoài những đóng góp đó thì hiện nay các khu công nghệ phần mềm đang bộc lộ một số nhược điểm đó là sự đầu tư dàn trải, thiếu tập trung và quy hoạch. Một số khu phần mềm được thành lập thiếu sự tính toán cân nhắc kỹ càng, quyết định mang tính chủ quan mà chưa xem xét đến các yếu tố khả thi, khiến cho sau khi thành lập không thể phát triển được, phải chuyển đổi hình thức hay nội dung hoạt động gây nên hiện tượng lãng phí nguồn đầu tư. Phần lớn các khu công nghệ phần mềm hiện nay đều có quy mô nhỏ, ngoại trừ một số khu công viên phần mềm được xây dựng theo mô hình khép kín và hoạt động khá hiệu quả mà điển hình là khu Quang Trung. GCPM ở Việt Nam hiện nay đã có vị trí trên trường quốc tế cho nên việc phát triển và hoàn thiện nhanh hạ tầng trong các khu công nghệ phần mềm tập trung này có ý nghĩa rất quan trọng, sẵn sàng cho việc phát triển các dịch vụ và tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài.

Những khái quát chung về điều kiện sản xuất trong ba ngành trên cho thấy GCXK ở nước ta đang phụ thuộc nhiều vào nguồn lao động giá rẻ. Sự yếu kém trong hệ thống trang thiết bị là một vấn đề lớn với ngành dệt may và da giày vốn được coi là những ngành chủ lực của nền kinh tế. Điều kiện cơ sở vật chất trong ngành GCPM cũng bộc lộ nhiều nhược điểm vì chưa phát huy được đúng vai trò hỗ trợ ban đầu của mình. Nếu muốn tham gia sâu hơn vào sân chơi toàn cầu chúng ta cần phải có biện pháp để nâng cao chất lượng sản xuất nhiều hơn nữa.

2.3 Các ngành công nghiệp phụ trợ Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

Tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm dệt may và da giày hiện nay còn đang ở mức thấp. Phần lớn nguyên vật liệu chúng ta vẫn còn đang phải nhập khẩu với số lượng lớn chứng tỏ các ngành công nghiệp phụ trợ của chúng ta không làm tròn vai trò hỗ trợ đầu vào cho hai ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Việt Nam đang diễn ra hoạt động thương mại nội bộ ngành (intra – industry trade – IIT), được hiểu là thương mại hai chiều khi một quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu cùng một loại mặt hàng. Thương mại nội ngành được chia thành thương mại nội ngành theo chiều ngang liên quan đến sản phẩm tương tự xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời tại cùng một giai đoạn của quá trình sản xuất và chủ yếu là do sự khác biệt về mặt sản phẩm; và theo chiều dọc thương mại nội ngành theo chiều dọc liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa đồng thời trong cùng một ngành, nhưng tại các giai đoạn sản xuất khác nhau, và chủ yếu là do sự chuyên sâu về nhân tố trong một ngành. Xu hướng thương mại nội ngành ngày càng tăng từ năm 2001 – 2020 và đã có xu hướng giảm đi trong hai năm trở lại đây. Trong một nghiên cứu được thực hiện trước đây, sau khi xem xét thương mại quốc tế của Việt Nam từ 1998 đến 2019 sử dụng số liệu của Tổng cục thống kê với các mã HS 2 chữ số, dệt may là ngành có chỉ số thương mại nội ngành cao nhất trong các ngành của Việt Nam, tiếp theo là các ngành cơ khí, ngành da giày, điện tử máy tính (Nguyễn Đức Thành, 2022). Phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài có thể nói đang là thách thức lớn nhất, khó vượt qua nhất của Việt Nam. Đó cũng là lý do tại sao GCXK vẫn là hình thức phổ biến của nước ta.

Vì tính chất đặc thù của từng ngành nên khóa luận chỉ xét đến các ngành công nghiệp phụ trợ trong ngành dệt may và da giày.

Dệt may

Thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam được đánh giá đang ở mức thấp. Nhìn chung ngành công nghiệp phụ trợ chưa tách rời thành một bộ phận độc lập với ngành dệt may. Chưa có một khu công nghiệp nào chuyên sản xuất các sản phẩm của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may trong khi tại bất kỳ địa phương nào cũng có một vài cơ sở sản xuất nhỏ lẻ. Nguyên nhân là do cơ cấu phát triển của ngành dệt may đang “dàn hàng ngang”. Hiện tượng này bắt nguồn từ việc các địa phương đều ưu tiên xây dựng một vài nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu lấy thành tích dẫn tới việc kém hiệu quả trong sản xuất các nguyên liệu phụ trợ. Bên cạnh đó, theo nhận định của một số chuyên gia thì tâm lý của các nhà sản xuất là “ăn xổi ở thì”, ngại đầu tư lâu vì khó thu hồi vốn. Vì vậy, tỷ lệ nhập khẩu nguyên phụ liệu của ngành dệt may tuy có giảm qua các năm nhưng vẫn rất cao trong kim ngạch xuất khẩu. Năm 2019 là 90,2%; 2020 xuống 84,2% và năm 2023 mới đây là 66% (Hiệp hội dệt may Việt Nam, 2023).

Ngành công nghiệp phụ trợ được chia thành các nhóm chính: ngành sản xuất bông; ngành nuôi trồng dâu- tơ tằm, kéo sợi; ngành dệt; nhuộm và hoàn tất vải.

Ngành sản xuất bông: mặc dù Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để xây dựng phát triển vùng nguyên liệu cây bông nhưng do năng suất trồng bông thấp nên người nông dân đã chuyển sang các loại cây khác có lợi ích kinh tế cao hơn. Vì vậy, sản lượng bông xơ không đáp ứng được nhu cầu ngành dệt, thực tế chỉ vào khoảng 10% còn lại phải nhập khẩu chủ yếu từ Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nước Tây Phi.

Nuôi trồng dâu, tơ tằm, kéo sợi: trồng dâu nuôi tằm là nghề truyền thống của Việt Nam, gắn liền với lịch sử văn hóa có từ cách đây hơn 2000 năm. Nhiều làng nghề truyền thống trước đây gắn liền với hoạt động trồng dâu, nuôi tằm, kéo sợi như Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Quảng Nam… Đây là nguồn nguyên liệu quý hiếm vì ngành dâu tằm khó phát triển ở quy mô lớn nên sản lượng khá hạn chế. Diện tích đất trồng dâu ngày càng bị thu hẹp là một trở ngại rất lớn đối với ngành trồng dâu nuôi tằm ở Việt Nam.

Nguyên liệu sợi hóa học từ ngành hóa dầu: hiện nay Việt Nam đang phải nhập khẩu hoàn toàn nguyên liệu này nhưng trong tương lai, nguồn nguyên liệu sợi hóa học có thể được cung cấp khi công nghiệp lọc dầu Việt Nam được xây dựng và đi vào hoạt động.

Sản phẩm từ ngành dệt: trong những năm qua ngành dệt Việt Nam đã có những bước phát triển nhưng so với ngành dệt của thế giới, ngành dệt của Việt Nam vẫn còn rất lạc hậu. Với lĩnh vực sản xuất dệt nhuộm, chúng ta cung cấp được 150.000 nghìn tấn đáp ứng 60% nhu cầu; dệt thoi 680 triệu m2 đáp ứng 30% nhu cầu (Đặng Phương Dung, 2022). Các máy móc trong lĩnh vực dệt kim từ trước năm 1986 đã được chuyển nhượng và thanh lý mà thay vào đó là các máy dệt kim từ Đức, Italia, Pháp… với đặc điểm được vi tính hóa nên năng suất cao và tính năng sử dụng lớn hơn. Bên cạnh đó, các sản phẩm dệt thoi cũng có những bước phát triển đáng kể với việc nhập khẩu các thiết bị hiện đại của Picanol, Nissan… Song do công nghệ chưa đồng bộ, quản lý sản xuất chưa được nâng cao nên sản phẩm dệt còn đơn điệu và chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Hiện nay nhu cầu vải sợi của Việt Nam tăng cao trong khi sản xuất trong nước vẫn còn hạn chế nên chúng ta phải gia tăng nhập khẩu mặt hàng này đáp ứng nhu cầu nguyên liệu. Việt Nam chủ yếu nhập khẩu vải sợi và nguyên phụ liệu ngành may từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Ấn Độ.

Nhuộm in và hoàn tất: đây vẫn là những khâu yếu nhất của Việt Nam hiện nay. Hầu hết thiết bị và công nghệ in nhuộm đều được nhập khẩu từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Trung Quốc… chỉ có một số thiết bị nhỏ được chế tạo trong nước. Bên cạnh đó thuốc nhuộm cũng phải nhập khẩu từ 80-100%. Đánh giá chung thì năng suất cũng như chất lượng của chúng ta trong mảng này chưa thật hiệu quả vì sử dụng nhiều hóa chất, thuốc nhuộm, tốn nhiều nước và năng lượng, giá thành cao do đó đã làm giảm tính cạnh tranh trên thương trường.

Da giày

Nguyên phụ liệu vẫn là một vấn đề nan giải với các doanh nghiệp da giày vì bản thân ngành này cần rất nhiều nguyên phụ liệu đầu vào. Các loại nguyên phụ liệu chính để sản xuất da giày gồm có: da và giả da, vải, cao su, đế giày. Theo giới kinh doanh da giày, 3 loại nguyên liệu chủ yếu để sản xuất da giày là chất liệu da và giả da; đế; các nguyên liệu phụ trợ như keo dán, chỉ khâu, cúc, nhãn hiệu, gót… thì đến 70-80% là nhập khẩu từ các nước châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… (Phan Anh, 2022, “Da giày vẫn vướng ở khâu nguyên phụ liệu”). Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

Da và giả da: nhu cầu da thuộc của toàn ngành khoảng 350 triệu feet vuông, trong khi đó các nhà máy thuộc da của Việt Nam và nước ngoài đầu tư tại Việt Nam mới chỉ sản xuất và đáp ứng được 20% nhu cầu da thuộc của cả nước, 80% còn lại phải nhập khẩu. Nhà máy thuộc da chưa đáp ứng được nhu cầu và hiện chỉ hoạt động được 25% công suất do thiếu nguyên liệu. Hàng năm, Việt Nam chỉ có thể cung cấp 5000 tấn da bò và 100 tấn da trâu nhưng nguồn nguyên liệu nội địa không được tận dụng và giá trị xuất khẩu thấp. 60% nguồn da này được xuất sang Trung Quốc và Thái Lan, phần còn lại thì không đủ tiêu chuẩn để sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Chất liệu giả da, đặc biệt được sử dụng nhiều cho giày thể thao, mặc dù chiếm tỷ trọng xuất khẩu gần bằng 50% giá trị da giày xuất khẩu cũng sử dụng đến 80% nguyên liệu nhập ngoại. Vì thế mỗi năm Việt Nam chi từ 170 tới 230 triệu USD để nhập da giả và từ 80 tới 100 triệu USD để nhập da từ Thái Lan, Đài Loan và Hàn Quốc (Phan Anh, 2022, “Da giày vẫn vướng ở khâu nguyên phụ liệu”).

Vải: năng lực của ngành dệt tương đối lớn song chưa đủ khả năng cung cấp cho ngành da giày vì ngành dệt chủ yếu phục vụ cho ngành dệt may. Ngành dệt Việt Nam mới chỉ sản xuất được các loại vải bạt, vải lót 100% cotton làm phần lót giày, vải colico làm một số chi tiết của giày vải, giày thể thao cấp thấp. Thêm vào đó, chất lượng vải trong cùng một cuộn, một lô hàng không đều nhau; vải sản xuất hàng loạt khác với vải mẫu. Do đó, các nhà sản xuất của ta mới chỉ dám sử dụng vải trong nước cho sản xuất giày vải cấp thấp và một vài chi tiết cho giày thể thao phục vụ những thị trường không khó tính.

Cao su: cao su là nguyên liệu chính dùng cho sản xuất các chi tiết đế giày và keo dán. Cao su gồm hai loại: tự nhiên và nhân tạo. Cao su tự nhiên được sản xuất từ mủ cây cao su, còn cao su tổng hợp được sản xuất từ các chế phẩm dầu mỏ thông qua các quá trình chưng cất phân đoạn. Trong quá trình sản xuất ra các chi tiết giày, cao su được pha trộn với các chất xúc tác để có các tính năng yêu cầu. Việt Nam sản xuất được nhiều cao su tự nhiên nên chúng ta không phải nhập ngoại tuy nhiên vẫn phải nhập ngoại các loại cao su tổng hợp như SBR, BR, keo…

Đế giày: một đôi giày có thể cùng sử dụng rất nhiều loại đế như đế ngoài, đế giữa, lót gót, đệm mũi… và mỗi loại giày lại đòi hỏi một loại đế khác nhau. Để tạo ra được đế giày thuần cao su, thuần TPR, xốp EVA cho giày thể thao, đế lót giữa cho giày vải và giày nữ cần phải có các loại nguyên liệu là cao su tự nhiên và CaCO3 (có sẵn trong nước), còn các nguyên liệu hóa chất khác như TiO2, ZnO, cao su tổng hợp, các phụ gia, chất tạo màu lại phải nhập khẩu. Các loại đế thuần TPU, thuần da, đế EVA, các loại đệm không khí chúng ta đang phải nhập khẩu hoàn toàn. Với giày nữ, các loại đế như PVC, TPR, ABS, PS, PUR đều được sản xuất ở Việt Nam nhưng nguyên liệu được nhập theo hình thức gia công. Còn với mặt hàng giày thể thao, chỉ với một số loại đế phục vụ cho sản xuất các giày thể thao cấp thấp trong nước thì được sản xuất, còn lại hầu hết phải nhập khẩu. Để được hưởng các ưu đãi thuế quan khi nhập khẩu đế giày, Việt Nam thường không nhập khẩu đế giày hoàn chỉnh mà nhập khẩu các chi tiết của đế rồi mới thực hiện lắp ghép các chi tiết tại Việt Nam. Chỉ một số loại gia công cho Nike hay Adidas mới phải nhập khẩu nguyên chiếc.

Các phụ kiện khác: doanh nghiệp Việt Nam chỉ sản xuất được một vài mặt hàng rất hạn chế như nhãn, ren, dây giày… nhưng lại bỏ ngỏ những loại phụ kiện tinh xảo là các sản phẩm nhựa có xi mạ như khoen, móc, cườm, các vật trang trí trên giày, đặc biệt là giày nữ và giày trẻ em. Do vậy, khi gia công cho đối tác nước ngoài các doanh nghiệp đều tự tìm nguồn cung cấp những loại này để tránh rủi ro.

Hiện nay, với tư cách là bên nhận gia công Việt Nam đã có nhiều sự chủ động hơn về giá cả trong nhập khẩu nguyên phụ liệu. Tuy nhiên lợi thế này đã giảm giá trị vì khối lượng nhập khẩu nguyên phụ liệu của chúng ta quá lớn. Xuất khẩu nhiều thành phẩm nhưng nhập khẩu nguyên phụ liệu cho ngành lớn làm cho giá trị gia tăng không cao, đặc biệt trong ngành dệt may kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu là tương đối ngang nhau. Do đó, giải quyết khâu nguyên liệu là một vấn đề quan trọng của Việt Nam trong thời gian tới. Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464