Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
1. Về chủ thể xuất, nhập khẩu
Khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2008, cùng với việc xây dựng nền kinh tế mở và tăng cường hội nhập, tỷ trọng đầu tư vào các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp ngoài nhà nước liên tục tăng, trong khi vốn đầu tư cho doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu cả nước, khoảng 57% mỗi năm (kể cả dầu thô). Nếu không tính dầu thô, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng, cụ thể: năm 2005 chiếm 34,46% tổng kim ngạch xuất khẩu, đến năm 2007 đã tăng lên 39,72%. Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã kéo theo sự thoái lui của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2008, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,53 tỷ USD, tăng 24,3% so với năm 2007 và đóng góp 47,8% vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước dù chỉ đạt 28,16 tỷ USD nhưng tăng 35,45% và đóng góp tới 52,2% trong mức tăng xuất khẩu. Bù lại, nhập khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng giảm tỷ trọng trong nhập khẩu chung của cả nước nên cán cân thương mại của khối đầu tư nước ngoài luôn thặng dư. Ngược lại, cán cân thương mại của khu vực kinh tế trong nước lại luôn thâm hụt và mức thâm hụt tăng qua các năm. Đỉnh điểm là năm 2008, khu vực kinh tế trong nước đã thâm hụt 22,66 tỷ USD trong khi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thặng dư 6,63 tỷ USD. Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
So với các ngành và lĩnh vực khác, xuất khẩu là lĩnh vực bị tác động trực tiếp và nhiều nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới hiện nay. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã thu hẹp đáng kể luồng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam năm 2009, đồng thời các gói kích cầu lấy đầu tư công làm mục tiêu mũi nhọn đã khiến tỷ trọng vốn đầu tư khu vực nhà nước tăng lên đáng kể. Năm 2009, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 30% xuống còn 24,1812 tỷ USD và nhập khẩu là 26,07 tỷ USD, giảm 6,6% so với năm 2008. Tốc độ suy giảm của xuất khẩu nhanh hơn nhập khẩu đã dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của khối kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ngược lại với khối kinh tế có vốn FDI, khối kinh tế trong nước tiếp tục duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu trong khi kim ngạch nhập khẩu đạt 43,88 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 62,73%, giảm 16,91% so với năm 2008, khiến mức thâm hụt thương mại của năm 2009 của khối này giảm mạnh còn 10,96 tỷ USD.
Số liệu này trích trong bảng số liệu chi tiết từ website Tổng cục Thống kê và phù hợp với số liệu của Hải quan Việt Nam; tuy nhiên chênh lệch khá lớn với số ước tính 29,9 mà Tổng cục Thống kê đã công bố cuối tháng 12/2009.
Tuy vậy, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn giữ vị trí quan trọng. Các doanh nghiệp FDI tham gia xuất khẩu hầu hết các mặt hàng chủ lực và chiếm tỷ trọng cao trong xuất khẩu nhiều mặt hàng, đặc biệt là nhóm hàng công nghiệp chế biến. Một số mặt hàng khối FDI chiếm tỷ trọng lớn là: túi xách, va li mũ dù, hàng dệt may, giày dép, điện tử, máy tính, máy móc, thiết bị, dây cáp điện. Nhóm hàng công nghiệp chế biến là nhóm hàng chiếm tỷ trọng cao nhất (63,5%) trong xuất khẩu của Việt Nam hiện nay và tỷ trọng xuất khẩu của FDI vẫn rất cao. Nếu loại trừ 2 tỷ USD xuất khẩu vàng của khối doanh nghiệp trong nước thì tỷ trọng khối FDI còn cao hơn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Về cơ cấu mặt hàng xuất, nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
2.1 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Năm 2009, phần lớn mặt hàng có khối lượng xuất khẩu tăng hơn năm 2008 (lượng xuất khẩu tăng làm tăng kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD) nhưng do tốc độ giảm giá lớn hơn (khoảng 11 tỷ USD, tương đương giảm 17 – 18% kim ngạch xuất khẩu, trong đó: nhóm nông sản, thủy sản giảm 2,7 tỷ USD; nhóm nhiên liệu khoáng sản giảm 4,6 tỷ USD; nhóm công nghiệp chế biến giảm 3 – 4 tỷ USD) nên tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm bị giảm 9% so với năm 2008. Tuy nhiên, kết quả này còn cao hơn nhiều nước trên thế giới và trong khu vực.
Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản ước đạt 12,15 tỷ USD (chiếm 21,5%), nhóm khoáng sản khoảng 8,51 tỷ USD (chiếm 15%) và nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt xấp xỉ 29,39 tỷ USD (chiếm 51,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và giảm
Số liệu dựa trên Báo cáo tổng kết (tóm tắt) tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2009 và kế hoạch năm 2010 của ngành công thương, thống kê hải quan: Tình hình xuất nhập khẩu tháng 12 và năm 2009 và bẳng số liệu chi tiết về xuất nhập khẩu từ website Tổng cục Thống kê 19,5% so với năm 2008). So với năm 2008, lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản tăng mạnh như: sắn và các sản phẩm từ sắn tăng gấp 2,2 lần, hạt tiêu tăng 40,2%, chè tăng 21,1%, gạo tăng 18%… nhưng do giá xuất khẩu bình quân của các mặt hàng đều giảm (cao su giá giảm 33,6%, hạt tiêu giá giảm 28,6%, gạo giá giảm 26%, cà phê giá giảm 24,2%…) khiến kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này giảm khoảng 7%. Ngoài ra, lượng xuất khẩu dầu thô cũng giảm 7,9%, giá xuất khẩu giảm 60% đã làm cho kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này giảm khoảng 4,1 tỷ USD so với năm 2008; mặt hàng than đá mặc dù lượng tăng 16,5% nhưng do giá xuất khẩu giảm nên kim ngạch xuất khẩu giảm khoảng 62 triệu USD so với năm 2008. Tính chung xuất khẩu nhóm khoáng sản giảm 34,1%.
Biểu đồ 12 – Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chính năm 2009
Năm 2009, hàng dệt may đã vượt dầu thô trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Ngoài ra, hàng hải sản, giày dép các loại, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện, gạo, gỗ và sản phẩm gỗ, cà phê, than đá, cao su vẫn là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch xuất khẩu cao. Chúng ta có thể thấy rõ tình hình xuất khẩu của những mặt hàng này trong 3 năm trở lại đây dựa trên biểu đồ dưới:
Biểu đồ 13 – Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực từ 2007-2009
Hàng dệt may: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2009 đạt 9,06 tỷ USD, giảm 0,6% so với năm 2008. Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản tiếp tục là 3 đối tác lớn nhất của hàng dệt may Việt Nam, chiếm tỷ trọng xuất khẩu lần lượt là 55,1%; 18,2% và 10,5% trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tuy nhiên so với năm 2008, chỉ có xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản là có tốc độ tăng trưởng dương (tăng 16,3%), đạt kim ngạch 954 triệu USD còn thị trường Mỹ đạt 4,99 tỷ USD, giảm 2,2% và Châu Âu đạt 1,65 tỷ USD, giảm 3,1%.
Dầu thô: Tính đến hết tháng 12/2009, lượng dầu thô xuất khẩu của nước ta đạt 13,4 triệu tấn, giảm 2,8% so với năm 2008. Đơn giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh 38,5% so với năm trước (tương ứng giảm 290 USD/tấn) nên kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này cả năm chỉ đạt 6,19 tỷ, giảm 40,2%. Trong năm qua, dầu thô của nước ta chủ yếu được xuất khẩu sang Australia với 3,33 triệu tấn, giảm 20,1% so với năm 2008; sang Singapore: 2,25 triệu tấn, tăng 9,5%; sang Malaysia: 1,79 triệu tấn, tăng 50,2%; sang Mỹ: 1,06 triệu tấn, giảm 27,5%
Hàng thuỷ sản: Năm 2009, hàng thuỷ sản của nước ta xuất khẩu đạt kim ngạch 4,25 tỷ USD, giảm 5,7% so với năm 2008 (nhưng tăng 14,2% so với năm 2007). Trong đó, tôm đạt 211 nghìn tấn với trị giá: 1,69 tỷ USD; cá Tra & cá Basa đạt 614 nghìn tấn, trị giá: 1,36 tỷ USD
Bảng 5 – Lượng, kim ngạch, tốc độ tăng/giảm xuất khẩu thuỷ sản năm 2009 so với năm 2008
Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang các đối tác lớn trong năm qua như sau: thị trường Châu Âu đạt 1,12 tỷ USD, giảm 2,9%; sang Nhật Bản đạt 761 triệu USD, giảm 8,4%; sang Mỹ đạt 711 triệu USD, giảm 3,8%;…
- Giày dép các loại: Tổng trị giá xuất khẩu cả năm là 4,07 tỷ USD, giảm 14,7% so với năm 2008. Xuất khẩu nhóm hàng này sang Châu Âu trong năm qua đạt 1,97 tỷ USD, giảm 21,4% so với năm 2008 và chiếm 48,5% trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là sang thị trường Mỹ: 1,04 tỷ USD, giảm 3,4%; sang Mexico: 138 triệu USD, giảm 10,1%; sang Nhật Bản : 122 triệu USD, giảm 10,9%;… Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: Cả năm 2009 kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện đạt 2,76 tỷ USD, tăng 4,6% so với năm trước. Các thị trường chính trong năm 2009 cho sản phẩm này là Mỹ với 433 triệu USD, tăng 41,2%; Nhật Bản: 381 triệu USD, tăng 1,4%; Thái Lan: 288 triệu USD, giảm 28,8%; Trung Quốc: 287 triệu USD, tăng 4,9%;…
- Gạo: Năm 2009, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam lên mức kỷ lục với 5,96 triệu tấn, tăng 25,7% so với năm 2008. Tuy vậy, giá xuất khẩu bình quân giảm 26,8% (tương ứng giảm 163USD/tấn) nên trị giá là 2,66 tỷ USD giảm 8% so với năm trước. Việt Nam xuất khẩu gạo sang Châu Á đạt 3,21 triệu tấn, tăng 19,9% so với năm 2008 và chiếm 53,8% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước (trong đó, Philippin tiếp tục là nước dẫn đầu với 1,71 triệu tấn, tăng nhẹ 0,9%; các nước còn lại 1,5 triệu tấn, tăng 52,6%). Tiếp theo là Châu Phi: 1,67 triệu tấn, tăng 41,7%; Châu Mỹ: 497 nghìn tấn, giảm 9,2% so với năm trước…
- Gỗ và sản phẩm gỗ: Năm 2009, gỗ và sản phẩm gỗ của nước ta xuất khẩu đạt 2,6 tỷ USD, giảm 8,2% so với năm 2008 (nhưng vẫn tăng 8,1% so với năm 2007). Mỹ vẫn là nước dẫn đầu về nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam với 1,1 tỷ USD (chiếm 42,35% tổng giá trị xuất khẩu), tiếp theo là những thị trường quen thuộc như Nhật Bản 355,4 triệu USD, Trung Quốc 197,9 triệu USD (tăng 35,9% so với năm 2008), Anh 162,7 triệu USD và Đức 106 triệu USD…
- Cà phê: Tổng lượng xuất khẩu cả năm 2009 đạt 1,18 triệu tấn , tăng 11,7% so với năm 2008. Do đơn giá xuất khẩu bình quân giảm 26,6% nên trịgiá chỉlà 1,73 tỷ USD, giảm 18% so với năm trước . Các thị trường chính nhập khẩu cà phê của Việt Nam là Đức: 136 nghìn tấn, tăng 0,2% so với năm 2008; Bỉ: 132 nghìn tấn, tăng 49,5%; Hoa Kỳ : 128 nghìn tấn , tăng 20,4%; Italia: 96,2 nghìn tấn , tăng 11,3%…
- Than đá: Tổng lượng than xuất khẩu của cả nước năm 2009 đạt gần 25 triệu tấn, tăng 29,1% nhưng kim ngạch giảm 5,15% so với năm trước chỉ còn 1,32 tỷ USD. Trong năm 2009, than đá của nước ta chủ yếu xuất sang thị trường Trung Quốc với 20,5 triệu tấn, chiếm 81,8% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc: 1,78 triệu tấn, Nhật Bản: 1,38 triệu tấn, Thái Lan: 608 nghìn tấn,…
- Cao su: Tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này cả năm đạt 731 nghìn tấn, tăng 11,1% so với năm 2008. Mặc dù vậy, do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh đến 31,1% nên kim ngạch chỉ đạt 1,23 tỷ USD, giảm 23,5% so với năm trước. Trung Quốc tiếp tục là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu cao su của Việt Nam trong năm qua với 510 nghìn tấn (chiếm 69,6% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước), tăng 18,4% so với năm 2008. Tiếp theo là sang Malaixia: 30,1 nghìn tấn, tăng 43,3%; sang Hàn Quốc: 28,3 nghìn tấn, giảm 2,4%; sang Đài Loan: 25 nghìn tấn, tăng 18,1%; sang Đức: 21,4 nghìn tấn, giảm 12,4%…
2.2 Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
Với nhiều biện pháp tăng cường kiểm soát để hạn chế nhập khẩu những mặt hàng tiêu dùng không cần thiết hoặc trong nước đã sản xuất được, khối lượng một số hàng hóa nhập khẩu năm 2009 cũng đã giảm hơn năm 2008, tuy nhiên một số loại hàng hóa khác vẫn còn có mức nhập khẩu cao. Do đó, mặc dù giá nhập khẩu giảm nhưng kim ngạch nhập khẩu giảm chậm.
Nhóm hàng cần nhập khẩu (nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị) đạt 56,76 tỷ USD, giảm 13,2% và chiếm tỷ trọng 82,5% kim ngạch nhập khẩu, giảm 1,4 điểm so với năm 2008. Lượng nhập khẩu nhiều mặt hàng tăng mạnh, nhưng do giá giảm nên kim ngạch giảm hoặc chỉ tăng nhẹ, cụ thể: lúa mỳ lượng tăng 79,8% nhưng giá giảm 39,8% nên kim ngạch tăng 8,3%; phân bón lượng tăng 41,9% nhưng giá giảm 35,5% nên kim ngạch giảm 8,2%; chất dẻo nguyên liệu lượng tăng 25,8% nhưng giá giảm 23,8% nên kim ngạch giảm 4,1%; cao su các loại lượng tăng 64,7% nhưng giá giảm 51,3% nên kim ngạch giảm 19,9%;… Theo thống kê, lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc nhóm nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất tăng mạnh kể từ quý II (quý II tăng 38,3% so với quý I, quý III tăng 6,7% so với quý II và quý IV tăng 3% so với quý III).
Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu đạt 6 tỷ USD, giảm 36,7% và chiếm tỷ trọng 8,7% kim ngạch nhập khẩu, giảm 3,1% so với năm 2008.
Nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu đạt 6,06 tỷ USD, tăng 4,4% và chiếm tỷ trọng 8,8% kim ngạch nhập khẩu, tăng 1,6% so với năm 2008. Tỷ trọng của nhóm hàng này tăng do nhu cầu nhập khẩu hàng tiêu dùng và ô tô tăng.
Tính chung cả năm 2009 giá trị nhập khẩu của hầu hết các nhóm mặt hàng là nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu và một số mặt hàng tiêu dùng giảm so với năm 2008, như: nguyên phụ liệu dệt may da giầy giảm 17,8%, gỗ và sản phẩm gỗ giảm 19,1%, chất dẻo nguyên liệu giảm 4,4%, dây điện và cáp điện giảm 20,8%, thuỷ sản giảm 10,1%, dầu mỡ động thực vật giảm 27,4%, clanhke 49 giảm 23%, phôi thép giảm 37,4%… Tuy nhiên, nhiều mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh tăng mạnh về lượng như: phân bón tăng 41,9%; thép các loại tăng 13,8%; kim loại thường khác tăng 14,8%; sợi các loại tăng 19,5%; chất dẻo nguyên liệu tăng 25,8%; cao su tăng 64,7%; giấy tăng 15,8%… Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao, chủ yếu trong những tháng cuối năm như ô tô nguyên chiếc, rau quả… và việc nhập khẩu vàng đã làm cho tốc độ nhập khẩu tăng cao hơn tốc độ xuất khẩu.
Biểu đồ 14 – Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu chính năm 2009
- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 là 12,67 tỷ USD, giảm 3,3% so với năm 2008. Nhóm hàng này nhập khẩu chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 4,16 tỷ USD, tăng 6,1% so với năm 2008; tiếp đến là Nhật Bản: 2,3 tỷ USD, giảm 13,5%; Châu Âu: 2,2 tỷ USD, giảm 14,1%; Hàn Quốc: 808 triệu USD; giảm 15,6%; Mỹ: 716 triệu USD, tăng 9,4%;… 50
- Xăng dầu: Tính đến hết tháng 12/2009, cả nước nhập khẩu 12,7 triệu tấn xăng dầu các loại, giảm 2% so với năm trước. Giá nhập khẩu bình quân nhóm hàng này giảm mạnh (41,8%) so với cùng kỳ 2008 nên kim ngạch nhập khẩu là gần 6,3 tỷ USD, giảm tới 43%. Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong năm qua chủ yếu có xuất xứ từ Singapore với 4,9 triệu tấn, tiếp theo là Trung Quốc: 2,4 triệu tấn, Đài Loan: 2 triệu tấn, Hàn Quốc: 1,3 triệu tấn, Thái Lan: 685 nghìn tấn, Malayxia: 660 nghìn tấn, Nga: 613 nghìn tấn,…
- Sắt thép các loại: Lượng nhập khẩu cả năm 2009 đạt 9,75 triệu tấn , tăng 15,2% so với năm 2008, trong đó lượng phôi thép là 2,4 triệu tấn, tăng nhẹ (1%) so với năm 2008, trị giá đạt hơn 1 tỷ USD. Năm 2009, Việt Nam nhập khẩu sắt thép chủ yếu có xuất xứ từ Nga : 1,74 triệu tấn, tăng 179%; Nhật Bản: 1,46 triệu tấn, tăng 11,5%; Trung Quốc : 1,3 triệu tấn , giảm 57,6%; Hàn Quốc : gần 1,3 triệu tấn, tăng 105%; Đài Loan : 1,17 triệu tấn , tăng 32%; Malaixia: 726 nghìn tấn , tăng 98% so với năm 2008;…
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong năm 2009 lên 3,95 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2008 (trong đó trị giá nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm đến 64,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước). Năm 2009, Trung Quốc là thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho nước ta với 1,46 tỷ USD, tăng 12,3% so với năm 2008; tiếp theo là Nhật Bản: 839 triệu USD, giảm 0,8%; Đài Loan: 309 triệu USD, tăng 8,6%; Hàn Quốc: 307,6 triệu USD, tăng 33,5%, Malaysia: 281 triệu USD, tăng 2,2%;… Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
- Chất dẻo nguyên liệu: Hết 12 tháng, lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu là 2,2 triệu tấn, tăng 25,2% so với năm 2008, trị giá đạt 2,8 tỷ USD. Nhóm hàng này nhập khẩu trong năm qua chủ yếu có xuất xứ từ: Hàn Quốc: 404 nghìn tấn, tăng 40,6%; Đài Loan: 329 nghìn tấn, tăng 3,5%; Thái Lan: 283 nghìn tấn, tăng 7,2%;….
- Nhóm hàng nguyên liệu ngành dệt may, da giày: Cả năm 2009, nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày có kim ngạch là 7,36 tỷ USD, giảm 8,5% so với năm 2008. Trong đó, nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 4,6 tỷ USD, giảm 6,2% so với năm 2008. Các thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong năm qua là: Trung Quốc: 2,09 tỷ USD, Đài Loan: 1,47 tỷ USD, Hàn Quốc: 1,44 tỷ USD, Nhật Bản: 466 triệu USD, Hồng Kông: 415 triệu USD,…
- Ôtô nguyên chiếc các loại: Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc cả năm 2009 là 80,6 nghìn chiếc (tăng đến 57,85% so với năm 2008), trong đó xe dưới 9 chỗ là 47,1 nghìn chiếc chiếm 58,4% lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu của cả nước. Trong đó, số lượng ô tô nhập khẩu có xu hướng tăng dần qua các tháng.
Biểu đồ 15: Lượng nhập khẩu ô tô từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009
Kim ngạch nhập khẩu ô tô nguyên chiếc năm 2009 là 1,27 tỷ USD (tăng 22% so với năm 2008), trong đó ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống chiếm 39,66%, ô tô tải chiếm 32,97%. Ô tô nhập khẩu về thị trường Việt Nam chủ yếu có xuất sứ từ Hàn Quốc (47,3 nghìn chiếc chiếm 58,7% tổng số lượng xe nhập khẩu tương ứng 0,46 tỷ USD chiếm 36,3% tổng giá trị) và Mỹ (10,5 nghìn chiếc đạt 0,27 tỷ USD), ngoài ra kim ngạch nhập khẩu từ Nhật (176 triệu USD) và Trung Quốc (152,6 triệu USD) cũng rất cao.
Linh kiện và phụ tùng ô tô: Tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này cả năm 2009 là 1,8 tỷ USD, giảm 1,6% so với năm 2008. Nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu có xuất xứ từ: Thái Lan 406 triệu USD, Nhật Bản 395 triệu USD, Trung Quốc 314 triệu USD, Hàn Quốc 287 triệu USD,…
Thức ăn gia súc và nguyên liệu: Tổng trị giá nhập khẩu mặt hàng này trong năm 2009 đạt gần 1,77 tỷ USD, tăng 1% so với năm trước. Trong đó, mặt hàng khô dầu đậu tương nhập khẩu gần 2,5 triệu tấn với trị giá là 1,03 tỷ USD, chiếm 58,2% kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này. Thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam là Ấn Độ: 470 triệu USD, giảm 41,5%; Achentina: đạt 451 triệu USD, tăng 97%; Mỹ: 176 triệu USD, tăng 14%; Trung Quốc: 141 triệu USD, tăng 51% so với năm 2008…
Kim loại thường: Tổng lượng nhập khẩu nhóm hàng này là 550 nghìn tấn, tăng 15,1% so với năm 2008, trị giá đạt 1,62 tỷ USD. Trong đó, nhập khẩu nhóm hàng kim loại chưa gia công tăng cao; cụ thể: nhôm dạng thỏi và chưa gia công: đạt 174 nghìn tấn, chì: 76,7 nghìn tấn, kẽm: 58,6 nghìn tấn,… Trong năm 2009, Việt Nam nhập khẩu kim loại thường chủ yếu có xuất xứ từ: Australia 102,6 nghìn tấn, Hàn Quốc 78,6 nghìn tấn, Đài Loan 68,5 nghìn tấn, Trung Quốc 57,2 nghìn tấn…
Phân bón: Hết tháng 12/2009, tổng giá trị phân bón nhập khẩu là 1,4 tỷ USD, giảm gần 4% so với năm 2008 nhưng lượng phân bón các loại nhập khẩu vào Việt Nam tăng đến 48,9% lên 4,5 triệu tấn. Trong đó, lượng phân Urê nhập khẩu là 1,43 triệu tấn, trị giá gần 417 triệu USD chiếm 29,46% tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm phân bón các loại. Mặt hàng phân bón các loại được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 1,95 triệu tấn; tiếp theo là Nga 395 nghìn tấn, Hàn Quốc 348 nghìn tấn; Philippin 294 nghìn tấn, Nhật Bản 191 nghìn tấn …
3. Về các thịtrường xuất, nhập khẩu chính Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
3.1 Các thị trường xuất khẩu chính
Tuy được hưởng lợi từ chính sách hỗ trợ nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn khá bế tắc do sự phụ thuộc lớn vào các thị trường xuất khẩu. Năm 2009 có sự dịch chuyển thị trường giữa các nước xuất khẩu do nhu cầu ở các nước này bị ảnh hưởng nặng nề khủng hoảng tài chính. Cụ thể, năm 2009 duy nhất xuất khẩu sang thị trường khu vực Châu Phi có mức tăng trưởng dương, khoảng 17,5% (đạt 986 triệu USD) do tăng xuất khẩu gạo sang thị trường Bờ biển Ngà và tái xuất khẩu vàng sang Nam Phi, còn các thị trường khác đều giảm, giảm mạnh nhất là thị trường châu 53
Đại dương (đạt 2,27 tỷ USD giảm 47,2% so với năm 2008) do lượng dầu thô xuất khẩu sang Australia giảm. Thị trường Châu Á đạt kim ngạch 25,27 tỷ USD, giảm 13,1% so với năm 2008, trong đó: Thị trường Nhật Bản đạt 6,3 tỷ USD, giảm 26,3%, thị trường ASEAN đạt 8,6 tỷ USD, giảm 15,7% so với năm 2008. Thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc và Hồng Kông tăng tương ứng 8,2%; 15,7% và 17,9%. Thị trường châu Âu đạt 12,28 tỷ USD, giảm 0,9 % so với năm 2008, trong đó: Khối EU đạt kim ngạch 9,4 tỷ USD, giảm 13,6%; khối các nước Tây Âu, Bắc Âu và Đông Âu, tăng 98% do tái xuất khẩu vàng sang Thụy Sỹ trong những tháng đầu năm. Thị trường châu Mỹ đạt 12,94 tỷ USD, giảm 7,2% so với năm 2008, trong đó: thị trường Mỹ đạt kim ngạch 11,4 tỷ USD, giảm 4,3%; Canada đạt 634 triệu USD, giảm 3,4%.
Biểu đồ 16 – Kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường chính từ 2007 – 2008
EU: Liên minh châu Âu là thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam, tuy nhiên vài năm gần đây, tỷ trọng xuất khẩu sang EU liên tục giảm. Thị trường có kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam cao nhất là Đức đạt 1,9 tỷ USD (giảm 9% so với năm 2008), tiếp đến là Hà Lan (giảm 13%) và Anh (giảm 16%). Ngoài ra, bốn thị trường lớn khác là Tây Ban Nha, Bỉ, Pháp và Ý (kim ngạch xuất khẩu 2009 đạt gần 1 tỷ USD). Các mặt hàng xuất khẩu sang thị trường EU đa số là hàng công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp như giầy dép, hàng dệt may, sản phẩm nhựa, gốm sứ, mây, tre, cói, thảm, gỗ và sản phẩm gỗ, túi xách, ví, vali, mũ & ô dù, máy vi tính và linh kiện… và hàng nông lâm thủy sản (cà phê, hạt điều, cao su, hải sản…). Trong đó, giày dép các loại chiếm tỷ trọng cao nhất tới 23,11% đạt 2,5 tỷ USD, tiếp đó là hàng dệt may 15,7% đạt 1,7 tỷ USD và hải sản 10,6% với trị giá trên 1 tỷ USD.
ASEAN: ASEAN là thị trường xuất nhập khẩu chiến lược của Việt Nam. Tuy nhiên giống như EU, xuất khẩu sang thị trường này năm 2009 cũng bị co hẹp. Những đối tác xuất khẩu chính trong khu vực như Singapore giảm gần 22% (đạt trên 2 tỷ USD), Malaysia giảm 14%, Philippine giảm gần 20%, Thái Lan giảm 6,14% và Cambodia cũng giảm gần 20%.
Biểu đồ 17 – Cơ cấu xuất khẩu vào thị trường ASEAN năm 2009
Năm 2009, mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất là dầu thô, tuy tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu mấy năm gần đây ngày càng giảm nhưng vẫn đạt 2,3 tỷ USD chiếm 26,8%. Ngoài ra, những mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao khác là gạo, máy tính và linh kiện, hải sản, hàng dệt may… Trong đó, xăng dầu, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác, sắt thép, hóa chất tăng tỷ trọng và cà phê, than đá, cao su giảm tỷ trọng.
Mỹ: Sau khi Mỹ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ liên tục tăng mạnh đến năm 2008 đã đạt 11,87 tỷ USD. Bước sang năm 2009, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ có giảm 4,32% xuống 11,36 tỷ USD song số lượng mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ lại tăng thêm 5 mặt hàng. Đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu vẫn là hàng dệt may với gần 5 tỷ USD (giảm 2,2% so với năm 2008), tiếp theo là gỗ và sản phẩm gỗ 1,1 tỷ USD (tăng 3,4%), giầy dép các loại 1 tỷ USD (giảm 3,4%). Ngoài 7 mặt hàng duy trì từ năm 2008 (gồm hải sản, dầu thô, máy tính và linh kiện, hạt điều, túi xách, ví vaili mũ & ô dù, cà phê và sản phẩm từ chất dẻo), trong số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt hàng tỷ USD xuất hiện thêm 2 mặt hàng là phương tiện vận tải và phụ tùng, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác.
Nhật Bản: Nhật Bản là đối tác thương mại lâu đời của Việt Nam và có cán cân thương mại khá cân bằng. Nhật Bản chủ yếu nhập khẩu từ Việt Nam các mặt hàng công nghiệp chế biến như dây điện và dây cáp điện, máy vi tính và linh kiện, sản phẩm từ chất dẻo, giầy dép, hàng dệt may… Dù Nhật là nước nổi tiếng với các tiêu chuẩn kĩ thuật khắt khe nhưng giá trị xuất khẩu máy vi tính và linh kiện, phương tiện vận tải và phụ tùng, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác của Việt Nam đang tăng lên. Trong khi đó, nhiều mặt hàng khác có kim ngạch xuất khẩu giảm như hải sản, gỗ và các sản phẩm gỗ… thậm chí cả một số mặt hàng có khối lượng xuất khẩu tăng như than đá, cà phê, dầu thô cũng giảm. Đặc biệt, dầu thô – mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong những năm trước giảm mạnh còn 480 triệu USD, giảm đến 77,95% so với năm 2008. Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
Trung Quốc: Kể từ năm 2004, Trung Quốc liên tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tuy nhiên giá trị xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chưa tương xứng. Cơ cấu hàng xuất khẩu ch ủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc gồm ba nhóm hàng chính là nguyên , nhiên liệu và khoáng sản như than đá , dầu thô; hàng nông, lâm, thủy sản như rau quả , cao su, cà phê, chè, gạo…; hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp như gỗ và sản phẩm gỗ, máy vi tính và linh kiện, giầy dép, dây điện và dây cáp điện,… Trong đó, tỷ trọng hàng xuất khẩu chế biến tuy đã tăng so với những năm gần đây nhưng vẫn còn thấp, chỉ gần 20%. Ba mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc lớn nhất là than đá (936 triệu USD chiếm 19,1% tổng kim ngạch xuất khẩu), cao su (857 triệu USD chiếm 17,5%), sắn và các sản phẩm từ sắn (506 triệu USD chiếm 10,3%) đều thuộc nhóm mặt hàng xuất khẩu thô.
Australia: Từ khi mở cửa thị trường, kim ngạch xuất khẩu sang Australia liên tục tăng nhưng năm 2009 lại giảm mạnh (46%) xuống còn 2,3 tỷ USD. Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này là do cả giá và sản lượng dầu thô xuất khẩu đều giảm, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu của dầu thô – mặt hàng chủ lực của Việt Nam vào thị trường Australia giảm tới 52,86%. Ngoài dầu thô, một số mặt hàng khác cũng có mức giảm so với năm 2008 khá lớn như đá quý, kim loại quý và sản phẩm (giảm 76% xuống 44,3 triệu USD), gỗ và sản phẩm gỗ (giảm 10,52%), hạt điều (giảm 13,48%)… Trong khi hầu hết các mặt hàng đều giảm, kim ngạch xuất khẩu máy vi tính và linh kiện lại tăng kỷ lục lên 36,7 triệu USD, tuy chỉ chiếm 1,61% tổng kim ngạch xuất khẩu vào Australia nhưng mức tăng 90% vẫn là một tín hiệu đáng mừng.
Hàn Quốc: Tuy không có kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam cao như Mỹ, Nhật, EU nhưng mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc rất cao: năm 2008 đạt 42,4%, năm 2009 không những không giảm như nhiều thị trường khác mà còn tăng 15,7%. Đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc năm 2009 là dầu thô đạt 389 triệu USD, tăng 125,9% so với năm ngoái, chiếm 18,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc. Sau dầu thô là mặt hàng thuỷ sản đạt 312,8 triệu USD, tăng 3,6%, chiếm 15,2%; thứ ba là hàng dệt may đạt 242,5 triệu USD, tăng 74%, chiếm 11,7%… Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu sang Hàn Quốc năm 2009 đều giảm về kim ngạch; giảm mạnh là mặt hàng dây điện và dây cáp điện (đạt 16,9 triệu USD, giảm 66,1%), cà phê (đạt 46,4 triệu USD, giảm 44%), sản phẩm chất dẻo (đạt 10,4 triệu, giảm 36,3%)… Tuy nhiên tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc năm 2009 lại tăng 15,7% do nước ta đã tăng đáng kể số lượng các mặt hàng xuất khẩu sang Hàn Quốc từ 21 mặt hàng năm 2008 lên 29 mặt hàng năm 2009.
Đài Loan: Đài Loan là một đối tác thương mại lớn của Việt Nam nhưng không phải trên khía cạnh xuất khẩu. Cụ thể theo Thương vụ Việt Nam tại Đài Loan năm 2009, xuất khẩu sang Đài Loan chỉ đạt trên 1 tỷ USD, giảm 20% so với năm 2008. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chưa cao; trong đó, chiếm tỷ trọng cao nhất là hàng dệt may với 215,5 triệu USD, tiếp theo là hàng hải sản (98,616 triệu USD), gạo (81,616 triệu USD), máy móc, thiết bị phụ tùng khác (62,978 triệu USD), giấy và các sản phẩm từ giấy (62,845 triệu USD)…
3.2 Các thị trường nhập khẩu chính Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
Cơ cấu thị trường nhập khẩu không có nhiều sự thay đổi. Châu Á vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất là 77,8% kim ngạch nhập khẩu cả nước. Trong đó, từ ASEAN chiếm hơn 19,8%, các nước Đông Á chiếm 53,9%, riêng Trung Quốc chiếm hơn 23,2%. Tám đối tác chủ yếu của Việt Nam những năm trước vẫn chiếm hơn 85% tổng kim ngạch nhập khẩu 2009. Trong đó, ASEAN đạt 13,8 tỷ USD, giảm 29,4%; Trung Quốc vươn lên vị trí dẫn đầu với 16,44 tỷ USD, tăng 5% so với năm 2008; Nhật Bản đạt 7,47 tỷ USD, giảm 9,4%; Hàn Quốc đạt 6,98 tỷ USD, giảm 1,3%; Đài Loan đạt 6,25 tỷ USD, giảm 25,2%; Châu Âu đạt 6,42 tỷ USD, tăng 17,9%; Mỹ đạt 3 tỷ USD, tăng 14,2% và Australia đạt 1,05 tỷ USD, giảm 22,9%. Tuy kim ngạch nhập khẩu giảm trong năm 2009 do sức cầu chịu ảnh hưởng của suy thoái và mặt bằng giá trở nên rẻ hơn nhưng những yếu tố này sẽ thay đổi trong năm 2010 và có thể sẽ khiến kim ngạch nhập khẩu sớm tăng trở lại.
Biểu đồ 18 – Kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường chính từ 2007 – 2008
Trung Quốc: Mức thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam với thị trường Trung Quốc không chỉ lớn nhất mà còn có xu hướng tăng, năm 2009 lên tới 11,5 tỷ USD. Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc rất đa dạng, phong phú, gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, vải, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, xăng dầu, khí đốt, sắt thép và sản phẩm từ sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu và nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may da giày, hoá chất và sản phẩm hoá chất, linh kiện, phụ tùng ô tô, sản phẩm từ chất dẻo, hàng rau quả… Trong đó, nước ta nhập khẩu nhiều nhất năm 2009 là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác lên tới 4,2 tỷ USD, chiếm 25,3% tổng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc. Ngoài ra, ba mặt hàng khác đạt giá trị nhập khẩu trên 1 tỷ USD là vải các loại (chiếm 9,5%), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (chiếm 8,9%) và xăng dầu các loại (chiếm 7,8%). Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
ASEAN: ASEAN là thị trường có tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong khối, Việt Nam nhập khẩu hơn 90% từ các nước phát triển trong khu vực. Năm 2009, nhập khẩu từ Thái Lan 4,5 tỷ USD, Singapore 4,2 tỷ USD, Malaysia 2,5 tỷ USD và Indonesia 1,5 tỷ USD. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là xăng dầu (chiếm 21,3% tổng kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN), máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (chiếm 8,7%), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (chiếm 5,7%), chất dẻo nguyên liệu (chiếm 5,5%), sắt thép (chiếm 4,6%), linh kiện, phụ tùng ô tô (chiếm 3,9%). Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN giảm mạnh so với năm 2008, đa số các mặt hàng nhập khẩu chính đều giảm trên 15%, trong đó giảm mạnh nhất là xăng dầu các loại (giảm tới 51%) và máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (giảm 35%). Đặc biệt, vì nhu cầu nhập khẩu ô tô tăng mạnh trong năm qua nên có sự tăng đột biến của mặt hàng linh kiện phụ tùng ô tô (tăng trên 30%) và ô tô nguyên chiếc (tăng gấp 3,5 lần năm 2008).
Nhật Bản: Nhật Bản là thị trường nhập khẩu truyền thống của Việt Nam với nhiều sản phẩm có chất lượng cao, kỹ thuật tiên tiến như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, ô tô nguyên chiếc các loại và linh kiện, phụ tùng ô tô, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác, sắt thép và sản phẩm từ sắt thép, chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo, vải, hoá chất và sản phẩm từ hoá chất,… Trong khi nhiều mặt hàng có mức giảm đáng kể như sắt thép (19,4%), hóa chất (11,5%), thậm chí không còn nhập khẩu như xăng dầu các loại thì có vài mặt hàng tăng như ô tô nguyên chiếc các loại (22%), linh kiện phụ tùng ô tô (17%), kim loại thường khác (8,3%), nguyên phụ liệu dệt may da giầy (2,4%).
Đài Loan: Nếu không kể khối kinh tế ASEAN thì Đài Loan là thị trường có mức nhập siêu lớn thứ 2 năm 2009, sau Trung Quốc. Trong các mặt hàng nhập khẩu từ thị trường này, chiếm tỷ trọng cao nhất là xăng dầu các loại đạt 1 tỷ USD (chiếm 16% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Đài Loan); sau đó là vải các loại 785,67 triệu USD (chiếm 12,6%), sắt thép các loại 717,63 triệu USD (chiếm 11,48%), máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng 648,6 triệu USD (chiếm 10,37%), chất dẻo nguyên liệu 455,32 triệu USD (chiếm 7,28%).
Hàn Quốc: Đứng đầu về kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc là mặt hàng vải với hơn 938 triệu USD (chiếm 13,45%), tiếp theo là sản phẩm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 808,2 triệu USD (chiếm 11,59%) và mặt hàng xăng dầu (chiếm 9,8%), sắt thép (chiếm 9,65%)… So với năm 2008, tuy gỗ và sản phẩm gỗ chỉ đạt 7,22 triệu USD nhưng đạt mức tăng trưởng mạnh nhất tới 164,69%; ngoài ra, nhiều mặt hàng khác cũng có mức tăng rất cao như thuốc trừ sâu và nguyên liệu (114,86%), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (107,12%, đạt 307,58 triệu USD), thức ăn gia súc và nguyên liệu (102,24%). Ngược lại, một số mặt hàng có giá trị nhập khẩu giảm mạnh như: bông chỉ đạt 0,89 triệu USD, giảm mạnh nhất tới 70,34%; xăng dầu tuy kim ngạch đạt cao thứ 3 (684,03 triệu USD) nhưng lại giảm 48,95%; Clinker cũng giảm 48,13%; dầu mỡ động thực vật giảm 28,42%; kim loại thường khác giảm 27,95%. Mặt khác, năm 2009 cũng có thêm nhiều sản phẩm mới nhập khẩu từ Hàn Quốc như các sản phẩm từ sắt thép, chất dẻo, dầu mỏ, kim loại thường khác, giấy, cao su…
EU: Năm 2009, Việt Nam nhập khẩu từ 26/27 nước thuộc liên minh châu Âu, tuy nhiên chỉ có 3 nước có kim ngạch nhập khẩu trên 500 triệu USD là Đức (1,6 tỷ USD chiếm tới 24,73% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam với EU), Pháp (864,4 triệu USD, chiếm 13,47%) và Italia (726,2 triệu USD, chiếm 11,32%). Sản phẩm nhập khẩu từ EU chủ yếu là các mặt hàng thuộc nhóm cần thiết nhập khẩu như máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; dược phẩm; hoá chất và sản phẩm hoá chất, sắt thép, chất dẻo nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may da giầy, thức ăn gia súc, thuốc trừ sâu và nguyên liệu,… Tuy nhiên, đa số các mặt hàng trên đều giảm kim ngạch nhập khẩu, trong khi một số mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu như ô tô nguyên chiếc, linh kiện, phụ tùng ô tô; phương tiện vận tải khác và phụ tùng lại có xu hướng tăng rất mạnh, tăng khoảng 1,5 lần, đặc biệt linh kiện phụ tùng tô tăng đến 3,6 lần.
Mỹ: Năm 2009, trong khi kim ngạch nhập khẩu với nhiều thị trường chính của Việt Nam giảm thì kim ngạch nhập khẩu với thị trường Mỹ tăng mạnh. Một số mặt hàng đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu và thuốc chữa bệnh có kim ngạch nhập khẩu từ Mỹ tăng rất cao như thức ăn gia súc và nguyên liệu (tăng 25,5%), hóa chất và sản phẩm hóa chất, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác (khoảng 70%), dược phẩm (tăng 242%), đặc biệt giá trị nhập khẩu phân bón các loại tăng gấp gần 22 lần so với năm 2008. Tuy nhiên, những mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu cũng tăng như tô nguyên chiếc 5,7%, nguyên phụ liệu thuốc 7,8%. Bên cạnh đó, số lượng mặt hàng nhập khẩu vào Mỹ cũng tăng từ 27 năm 2008 lên 35 năm 2009. Mặt khác, trong những mặt hàng đã nhập khẩu từ năm 2008 có một số mặt hàng giảm kim ngạch như chất dẻo nguyên liệu (6,5%), nguyên phụ liệu dệt may da giày (42,3%), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (31,2%), gỗ và sản phẩm gỗ (16%).
Australia: Hàng năm kim ngạch nhập khẩu từ Australia không cao và năm 2009 giảm về mức xấp xỉ năm 2007. Tuy nhiên, hai mặt hàng truyền thống, có kim ngạch nhập khẩu cao nhất là kim loại thường khác (chiếm 29,8%) và lúa mỳ (chiếm 26,2%), sắt thép các loại (chiếm 7,5%) đều có mức tăng cao, tương ứng là 26% và 45%. Ngoài ra, các mặt hàng nhập khẩu khác đều giảm tương đối mạnh như sắt thép các loại giảm 64,5%, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác giảm 18,6%, dược phẩm 17%, hóa chất 42%…
III. Nguyên nhân thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trong thời gian qua Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
1. Nguyên nhân khách quan
Các số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam cho thấy cán cân thương mại của Việt Nam thường xuyên bị thâm hụt. Tình trạng này là do một số nguyên nhân sau:
Chịu ảnh hưởng nhiều vào nguồn vốn và công nghệ, nguyên liệu của nước ngoài do trình độ phát triển công nghệ, kỹ thuật… của nền kinh tế còn hạn chế, năng lực chế tạo máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất trong nước còn lạc hậu, chưa đủ đáp ứng quy mô tăng trưởng của nền kinh tế. Việc nhập khẩu tăng trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là yêu cầu khách quan và cũng là nguyên nhân gây thâm hụt cán cân thương mại. Nhằm phục vụ cho việc đầu tư xây dựng cơ bản, phát triển các ngành sản xuất trong nước và thúc đẩy xuất khẩu tăng nhanh, Việt Nam thường xuyên nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu và máy móc thiết bị. Các chính sách nhập khẩu của Việt Nam trong suốt thời gian qua đều được điều chỉnh theo hướng tạo thuận lợi cho tiếp nhận máy móc, công nghệ, thiết bị và nguyên liệu phục vụ phát triển kinh tế, trước hết là cơ sở hạ tầng, khuyến khích xuất khẩu, xây dựng các ngành công nghiệp nội địa… Do đó, nhập khẩu được khuyến khích và gia tăng, trong khi xuất khẩu chưa cao dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân thương mại.
Chính sách đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế trong nước. Xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn và được khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, dòng vốn FDI tăng thường kéo theo sự gia tăng của kim ngạch nhập khẩu, ảnh hưởng tới nỗ lực cân bằng cán cân thương mại trong ngắn hạn.18 Ngoài ra, khi vốn đầu tư trực tiếp vào dưới dạng ngoại tệ tăng lên sẽ làm thay đổi tương quan cung cầu ngoại tệ. Nếu chính phủ không can thiệp có thể dẫn đến khuynh hướng nội tệ lên giá. Điều này gây bất lợi cho xuất khẩu. Cuối cùng, xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng khiến thâm hụt cán cân thương mại gia tăng.
Khu vực FDI được kỳ vọng là nơi sản xuất hướng về xuất khẩu nhưng thống kê mới công bố của tổng cục Hải quan cho thấy, kim ngạch nhập khẩu của khu vực này trong các năm 2006 – 2009 chiếm khoảng 36% kim ngạch nhập khẩu cả nước và kim ngạch nhập khẩu thường cao hơn kim ngạch xuất khẩu khoảng 10%/năm, tốc độ tăng nhập khẩu trung bình khoảng 30%/năm.
Thực hiện các cam kết đã kí về thương mại khi gia nhập các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện giảm dần các hàng rào thuế và phi thuế, nới lỏng các hạn chế thương mại, mở cửa thị trường. Cụ thể, mức thuế nhập khẩu trung bình của Việt Nam phải giảm từ 17,4% xuống còn 13,4% trong vòng 5-7 năm kể từ ngày chính thức là thành viên của WTO. Do đó, kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh và xu hướng này còn có khả năng tăng nhanh hơn nữa trong thời gian tới khi Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong WTO.
Mặt khác, cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống dân cư được cải thiện, thu nhập tăng dẫn đến nhu cầu tiêu dùng những sản phẩm có chất lượng cao của nước ngoài tăng lên, trong khi mức giá lại giảm (do thuế và các hàng rào thương mại khác giảm); vì vậy, tốc độ nhập khẩu hàng tiêu dùng tăng mạnh hơn trước. Nhu cầu về nhập khẩu tư liệu sản xuất (máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu) và hàng tiêu dùng (kể cả hàng tiêu dùng xa xỉ) đều tăng lên từ khi gia nhập WTO khiến cho cán cân thương mại nước ta càng thâm hụt.
Khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và hàng sản xuất trong nước thay thế nhập khẩu của Việt Nam còn thấp. Vấn đề tồn tại lớn nhất của xuất khẩu bộc lộ trong nhiều năm qua là việc phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản. Các mặt hàng công nghiệp chế biến vẫn mang tính chất gia công. Thêm vào đó, giá hàng xuất khẩu thô và một số sản phẩm chế biến như điện tử, dệt may, da giầy của nước ta thường thấp hơn nhiều so với các sản phẩm cùng loại của Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc… Như vậy, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa xây dựng được các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu.
Bị ảnh hưởng xấu từ xu hướng “giá cánh kéo”19 do đặc điểm cơ cấu ngành hàng xuất khẩu và nhập khẩu. Khi khủng hoảng kinh tế diễn ra, giá hàng công nghiệp thường giảm ít hơn giá hàng nông sản, thậm chí giá một số hàng công nghiệp vẫn tăng hoặc không đổi trong khi giá hàng nông sản hạ (tuyệt đối hay tương đối). Do đó, giữa hai loại sản phẩm hình thành một mức chênh lệch giá. Ngược lại mức so sánh chênh lệch giữa giá hàng công nghiệp với giá hàng nông sản khi giá tăng, vì tính co dãn của giá sản phẩm nông nghiệp ít nên giá cũng không tăng nhanh như sản phẩm công nghiệp. Nông dân thường buộc phải mua hàng công nghiệp (vật tư, phân bón phục vụ nông nghiệp) với giá tương đối cao và bán nông sản với giá tương đối thấp. Vì vậy, chênh lệch giữa giá hàng công nghiệp và giá nông sản có xu hướng ngày càng mở rộng, với cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của nước ta hiện nay, điều này khiến cho thâm hụt thương mại gia tăng. Ngoài ra, những năm gần đây giá cả diễn biến thất thường nên hiện tượng cánh kéo không chỉ xảy ra trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn xảy ra trong nhiều lĩnh vực khác.
Bất cập về cơ cấu xuất nhập khẩu: hàm lượng nhập khẩu trong hàng hóa xuất khẩu cao và sự mất cân đối thương mại lớn với một số thị trường. Do chưa đầu tư thỏa đáng cho phát triển các ngành phụ trợ nên nước ta vẫn chỉ là nơi gia công, lắp ráp cho nước ngoài, sản phẩm không có hàm lượng giá trị gia tăng cao. Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức cao, chiếm khoảng 2/3 giá xuất xưởng. Vì vậy, muốn tăng xuất khẩu nhất thiết phải tăng nhập khẩu.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn bị mất cân đối thương mại với gần 90% nhập siêu từ Trung Quốc. Đáng chú ý hơn là thâm hụt thương mại với Trung quốc ngày càng lớn về giá trị và tăng tỉ trọng trong tổng thâm hụt của Việt Nam20; trong khi Việt Nam vẫn duy trì thặng dư thương mại với Mỹ, Anh, Đức, Australia. Do vị trí địa lý gần, giá thấp, mẫu mã phong phú, quy mô mậu dịch biên giới lớn, hàng hóa Trung Quốc nhập vào Việt Nam hầu hết không qua các doanh nghiệp lớn mà chủ yếu là các công ty mang tính địa phương nên khó kiểm soát. Những mặt hàng Trung Quốc xuất sang Việt Nam là hàng cơ điện, máy móc các loại; nguyên phụ liệu, hàng dệt may; sắt thép, kim loại; hóa chất; khoáng sản các loại… có tổng giá trị lớn; ngược lại, Việt Nam xuất sang Trung Quốc chủ yếu là các sản phẩm từ thực vật, động vật, khoáng sản… với giá trị thấp. Những mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc phần lớn phục vụ cho sản xuất, chế biến xuất khẩu; trong khi đó, các ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn chưa phát triển và cần một khoảng thời gian nhất định để có
Cán cân thương mại của Việt Nam thâm hụt với Trung Quốc năm 2001 là 18,7 % nhưng đến năm 2007 là 73,7%, năm 2008 là 69,8%, năm 2009 là 97,1% và dự đoán năm 2010 là 94,4% thể đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, thay thế nhập khẩu của đất nước. Vì vậy, xu thế nhập khẩu cao từ Trung Quốc dẫn đến thâm hụt thương mại là khó tránh khỏi, kể cả trong những năm tiếp theo. Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
Bảo hộ mậu dịch của các nước có nền kinh tế phát triển có xu hướng gia tăng. Điển hình là xuất khẩu thủy sản của nước ta liên tục khó khăn do vấp phải những hàng rào kĩ thuật và thuế, kiện chống bán phá giá, nhất là vào thị trường Mỹ. Khi xuất khẩu vào những nước với kim ngạch lớn nhất định, hàng hóa của Việt Nam còn bị các rào cản như hạn ngạch, vệ sinh an toàn thực phẩm,… Trong bối cảnh chịu tác động của khủng hoảng, những rào cản thương mại mới ngày càng nhiều với hành vi bảo hộ thương mại tinh vi hơn tại các thị trường lớn, xuất khẩu của Việt Nam còn phải chịu những thách thức lớn hơn, đặc biệt là đối với các mặt hàng chủ lực như khoáng sản, nông, lâm, hải sản.
Bên cạnh đó, năm 2009, cả kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều giảm (lần đầu tiên kể từ năm 1991), mức thâm hụt cán cân thương mại cũng giảm đáng kể so với năm 2008. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này như sau:
Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Năm 2008, nền kinh tế thế giới suy thoái sâu rộng trên quy mô toàn cầu: những tháng đầu năm, các nền kinh tế trên thế giới phải chống chọi với sự tăng giá chóng mặt của các loại hàng hóa và tài sản; đến nửa cuối năm, vấn đề quan tâm hàng đầu lại là sự đổ vỡ dây chuyền của các định chế tài chính, sự đóng băng của thị trường tín dụng và suy thoái kinh tế. Năm 2009 tiếp tục là một năm khó khăn với sự sụp đổ của một loạt các tên tuổi lớn như Công ty hóa chất hàng đầu thế giới Lyondell Chemical, tập đoàn thiết bị viễn thông lớn nhất tại Bắc Mỹ Nortel Networks Corp, tổ chức cho vay của Nhật SFCG, hãng xe lớn nhất thế giới General Motors, đại gia lĩnh vực bất động sản General Growth Properties… và những bê bối, lừa đảo, gian lận tài chính đã làm dấy lên mối lo ngại về bong bóng tài chính còn tiềm ẩn tại các thị trường mới nổi. Tiếp đó, tỉ lệ thất nghiệp tăng nhanh (đặc biệt tại các quốc gia phát triển là đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật…). Vì vậy, nhu cầu tiêu dùng giảm mạnh, khiến cầu về hàng xuất khẩu cũng như nhập khẩu của Việt Nam đều giảm đáng kể.
Giá cả hàng hóa thế giới giảm. Phần lớn mặt hàng xuất khẩu đã tăng về lượng so với năm 2008 (lượng xuất khẩu tăng làm tăng kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD), nhưng do tốc độ giảm giá lớn hơn (khoảng 11 tỷ USD, tương đương giảm 17 – 18% kim ngạch xuất khẩu, trong đó: nhóm nông sản, thủy sản giảm 2,7 tỷ USD; nhóm nhiên liệu khoáng sản giảm 4,6 tỷ USD; nhóm công nghiệp chế biến giảm 3 – 4 tỷ USD)21 nên tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2009 thấp hơn năm 2008. Bên cạnh đó, nhóm mặt hàng chế biến, công nghiệp và thủ công nghiệp còn gặp phải tình trạng thu hẹp thị trường.
Đặc biệt, biến động của giá dầu thô quốc tế không chỉ tác động lớn đến giá nhiều mặt hàng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất mà còn ảnh hưởng mạnh đến kim ngạch xuất khẩu dầu thô của nước ta. Giá dầu từ đỉnh cao tháng 7/2008 đã giảm mạnh và tiếp tục giảm trong những tháng đầu năm 200922. Sau đó, từ tháng 3/2009, nỗi lo về sự tiếp tục xấu đi của tình hình kinh tế thế giới được xoa dịu khiến thị trường dầu thô quốc tế và thị trường chứng khoán thế giới đồng loạt đảo chiều, giá dầu tăng trở lại23. Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm dầu trong nước, giá dầu thế giới hạ nhiệt đem lại nhiều lợi ích như giúp giảm bớt căng thẳng về tài chính, chủ động tính toán thời điểm nhập hàng, cân đối cung cầu…; đồng thời, khiến cho kim ngạch nhập khẩu xăng dầu giảm. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu dầu thô thì việc giá dầu giảm mạnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, từ năm 2009, 1/4-1/3 sản lượng dầu thô khai thác được dành cho lọc dầu ở nhà máy Dung Quất, dẫn đến lượng dầu thô xuất khẩu cũng giảm. Vì vậy, năm 2009, kim ngạch xuất khẩu dầu thô (đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu những năm trước) đã giảm mạnh, khiến tổng kim ngạch xuất khẩu giảm đáng kể.
- Theo Báo cáo tổng kết (tóm tắt) tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2009 và kế hoạch năm 2010 của ngành công thương
- Trước khi khủng hoảng tài chính quốc tế bùng phát toàn diện, giá dầu quốc tế đã đi theo chiều hướng tăng đột biến, từ khoảng 20USD/thùng đầu năm 2002 lên mức cao kỷ lục là 147,27 USD/thùng vào 11/7/2008. Tuy nhiên, sau khi đạt đỉnh vào tháng 7, giá dầu bất ngờ lao dốc không phanh do nhu cầu sử dụng dầu tại nhiều quốc gia (đặc biệt Trung Quốc và Ấn Độ) sụt giảm mạnh và một lượng vốn lớn rút khỏi thị trường dầu thô. Ngày 24/11/2008, giá dầu xuống mức 48,55USD/thùng. Nửa đầu năm 2009, giá dầu tiếp tục rơi xuống mức thấp nhất 32,7 USD/thùng vào ngày 20/1/2009.
- Mức cao nhất của năm 2009 là 82 USD/thùng, đạt vào ngày 21/10/2009; tính trung bình cả năm 2009, giá dầu thô đạt khoảng 63 USD/thùng.
Giá vàng tăng cao. Khi nền kinh tế suy yếu, giá dầu ở mức thấp, đặc biệt là lạm phát cao và tỷ giá VNĐ/USD thất thường, vàng đã trở thành phương tiện bảo lưu vốn và tài sản được nhiều người lựa chọn nên giá vàng luôn ở mức cao. Thêm vào đó, mô hình sàn giao dịch vàng giúp cho hoạt động đầu tư vàng giá trị trở thành một kênh đầu tư phổ biến và là cầu nối giữa biến động giá vàng thế giới với giá vàng trong nước trở nên chặt chẽ hơn. Năm 2009 giá vàng thế giới liên tục tăng24 khiến USD chịu sức ép tăng giá (do USD được sử dụng chính trong các hoạt động nhập khẩu vàng). Vì vậy, giá vàng tăng đã tác động lớn đến hoạt động tài chính tiền tệ trong nước hai năm gần đây, cụ thể là những biến động đột ngột của tỷ giá USD/VND trong hệ thống liên ngân hàng và thị trường tự do, qua đó ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu.
Mặt khác, vàng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Trong cơ cấu nhập khẩu năm 2008, vàng chiếm đến 3,4%. Nhưng sang năm 2009, tỷ trọng vàng nhập khẩu không chỉ giảm xuống 0,5% mà Việt Nam còn tái xuất vàng với khối lượng và kim ngạch khá lớn nên đã cải thiện được tương đối cán cân thương mại, đặc biệt là trong những tháng đầu năm.
Diễn biến tỷ giá phức tạp. Trong 2 năm 2008-2009, hầu như toàn bộ các đồng tiền của những nền kinh tế đang phát triển đều mất giá so với đô la Mỹ. Nhưng sau những tháng đầu năm tăng giá, đến ngày 27/7, USD rơi xuống mức thấp kỷ lục trong năm 2009. Vì NHNN Việt Nam vẫn kiên trì chính sách ổn định VND so với USD nên diễn biến tỷ giá năm 2009 tương đối phức tạp. Mặc dù, NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng và biên độ từ + 3% lên + 5% vào tháng 4/2009 nhưng càng về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh, thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, USD tín dụng thừa trong khi USD thương mại thiếu. Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và nếu có bán thì mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần do NHNN quy định. Tỷ giá bán trên thị trường tự do luôn cao hơn và có mức chênh đáng kể so với tỷ giá chính thức trong. Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
Giá vàng tăng khá đều đặn trong quý 1, quý 2, quý 3/2009 và lên mạnh trong quý 4/2009. Giá vàng thế giới đã lập đỉnh cao chưa từng có ở mức 1226,56 USD/ounce và 29,30 triệu đồng/lượng của giá vàng trong nước vào ngày 11/11/2009 khu vực ngân hàng thương mại. Những bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái đã gây thêm khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Biểu đồ 19 – Diễn biến tỷ giá USD/VND 2008-2009
Nguyên nhân chủ quan
Việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu còn chậm. Do nước ta phần lớn xuất khẩu thô hoặc ở dạng gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp, cần nhiều nguyên liệu và các sản phẩm trung gian để sản xuất hàng xuất khẩu, nhưng ngành công nghiệp phụ trợ trong nước chưa đáp ứng được nên tất yếu phải nhập khẩu những mặt hàng này từ nước ngoài. Đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ chưa đúng mức dẫn đến sản xuất hàng xuất khẩu tiếp tục phải phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu. Bên cạnh đó, nước ta còn chậm chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng gia tăng tỷ trọng hàng xuất khẩu chế biến. Trên thế giới, nhu cầu về sản phẩm thô và sơ chế ngày càng giảm, nhu cầu về sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao ngày càng tăng. Với trình độ khoa học công nghệ còn hạn chế, nước ta chưa sản xuất được những mặt hàng có hàm lượng kĩ thuật cao, đem lại giá trị lớn cho xuất khẩu, trong khi sản phẩm trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân nên cũng phải nhập khẩu những mặt hàng này. Vì vậy, cán cân thương mại không được cải thiện.
Hiệu quả các biện pháp điều hành của chính phủ chưa cao. Hiệu quả điều hành trực tiếp của chính phủ phụ thuộc rất nhiều vào hai yếu tố: cơ cấu nền kinh tế và năng lực thực thi của các bộ phận điều hành nhưng cả hai đều đang trong giai đoạn chuyển đổi và vấp phải những hạn chế lớn. Về cơ cấu kinh tế, đánh giá một cách toàn diện, cơ cấu kinh tế ngành vẫn còn manh mún, nhỏ và phân tán; chưa phát huy tốt lợi thế so sánh của đất nước; chủ yếu dựa vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên và lao động phổ thông; trình độ công nghệ và mức độ chế tác của các ngành công nghiệp hiện còn thấp; sản xuất công nghiệp phần lớn còn ở dạng gia công, lắp ráp, chủ yếu dựa vào nhập khẩu nguyên liệu và các sản phẩm trung gian từ bên ngoài; giá trị gia tăng và trình độ công nghệ còn thấp, chậm đổi mới; chưa có sản phẩm chủ lực mới; rất ít sản phẩm có thương hiệu quốc gia hay vị thế trong thị trường khu vực và quốc tế.25 Về năng lực thực thi của các bộ phận điều hành, khả năng dự báo, phương pháp điều hành trong bối cảnh và cơ cấu kinh tế mới, kinh nghiệm đội ngũ thực thi triển khai còn nhiều hạn chế và hiệu quả tổng thế của các triển khai đơn lẻ chưa cao.26 Vì vậy, Nhà nước chưa tạo được sự chuyển dịch cơ cấu và tăng tốc, đột phá trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, hướng tới cân bằng cán cân thương mại.
Các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu của nước ta chưa đủ mạnh. Chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, tỷ giá biến động mạnh, lãi suất vay vốn cao, tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng gặp khó khăn, kênh huy động vốn qua thị trường chứng khoán tắc nghẽn, nhu cầu tiêu dùng và thị trường thu hẹp,… đã khiến phần lớn các.
Trong số 112 ngành kinh tế quốc dân hiện nay có 26 ngành đóng góp từ 1% GDP trở lên, chủ yếu là những sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và khai khoáng, các sản phẩm công nghiệp sơ chế và dịch vụ phục vụ tiêu dùng sử dụng nhiều lao động phổ thông. Có 21 sản phẩm có đóng góp từ 0,5% đến dưới 1% GDP nhưng cũng chủ yếu là sản phẩm sơ chế, nguyên liệu và một số dịch vụ. Chỉ có năm sản phẩm công nghiệp chế biến gồm: ô-tô, xe máy, xe đạp và phụ tùng, các phương tiện vận tải khác, máy móc thiết bị điện và dệt.
Ví dụ về chính sách tiền tệ, việc quản lý, điều tiết thị trường ngoại hối còn nhiều bất cập: Năm 2009, cả doanh nghiệp và người dân đều nhận thức được sự giảm sút nguồn cung ngoại tệ cho nền kinh tế nên lo ngại sự mất giá mạnh của VND, khiến cho hiện tượng găm giữ ngoại tệ diễn ra. Ngược lại, các doanh nghiệp nhập khẩu bằng mọi cách, mọi giá đi mua ngoại tệ, một số người dân cũng chuyển từ tiền gửi nội tệ sang tiền gửi ngoại tệ. Hiện tượng này trái với mọi năm khi số dư tiền gửi của tổ chức kinh tế lên, xuống theo chu kỳ xuất, nhập khẩu, tạo ra sự lưu thông ngoại tệ nhằm tự điều tiết cung – cầu ngoại tệ trên thị trường. Khi đó, các cơ quan chức năng đã không ngăn được hoạt động đầu cơ trên thị trường chợ đen hay bình ổn được những tin đồn thất thiệt, các đợt sóng mà giới đầu cơ chủ động tạo ra nhằm kiếm lời. doanh nghiệp Việt Nam rơi vào tình cảnh sản xuất đình trệ, khó khăn trong thanh toán và tín dụng. Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh chưa cao và những điểm yếu cần khắc phục của các doanh nghiệp Việt Nam. Đó là năng lực quản lý hạn chế, không có chiến lược và tầm nhìn kinh doanh, đầu tư kém hiệu quả và thiếu cẩn trọng, hàm lượng giá trị gia tăng nhỏ bé. Ngoài ra, sự hào hứng quá mức với thị trường chứng khoán kéo dài từ giữa năm 2006 đến hết 2007 dẫn đến nguồn vốn được huy động dễ dàng tạo tâm lý chủ quan và hưởng thụ trong một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự lúng túng của các doanh nghiệp khi đối đầu với khủng hoảng kinh tế.
Lĩnh vực nhập khẩu hồi phục nhanh hơn xuất khẩu. Nhờ sự hỗ trợ của những gói giải cứu từ chính phủ, các lĩnh vực sản xuất chính chịu sự tác động mạnh từ suy thoái đã tạm thời phục hồi nhưng tốc độ phục hồi trong lĩnh vực nhập khẩu lại nhanh hơn xuất khẩu. Do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu khiến giá hàng hoá, vật tư, máy móc, thiết bị giảm mạnh nên các doanh nghiệp trong nước đã tranh thủ cơ hội để gia tăng lượng hàng nhập về với giá rẻ. Điều này sẽ khiến khối lượng nhập khẩu ở một số mặt hàng tăng cao, nhất là ở nhóm hàng máy móc, thiết bị. Ngoài ra, hàng tiêu dùng nhập khẩu tuy có tỷ trọng nhỏ nhưng có biểu hiện của chi tiêu vượt quá mức cần thiết. Trong lúc giá xăng dầu tăng cao, chính phủ yêu kêu gọi tiết kiệm nhưng giá trị nhập khẩu ô tô nguyên chiếc lại tăng. Ngược lại với xuất khẩu, lĩnh vực xuất khẩu không có nhiều chuyển biến về chất do các mặt hàng chủ đạo vẫn là các mặt hàng gia công sơ chế, nông lâm thủy sản có giá trị xuất khẩu thấp. Thêm vào đó, suy thoái kinh tế tại các thị trường xuất khẩu chính khiến sức cầu suy kiệt, thị phần xuất khẩu bị thu nhỏ, chưa thể phục hồi ngay trong ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát thâm hụt thương mại của Việt nam