Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. GIỚI THIỆU CÁC CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1. Thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua 8 năm phát triển. Thị trường cũng trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, có lúc lên, lúc xuống, lúc giao dịch sôi động và có những giai đoạn trầm lắng. Tuy nhiên thị trường vẫn thể hiện một xu hướng chung là tăng trưởng mạnh về quy mô, hoàn thiện dần khung pháp lý, thông tin ngày càng minh bạch hơn, khả năng quản lý cũng tốt hơn và quyền lợi nhà đầu tư dần được đảm bảo. Về quy mô thị trường, số lượng công ty niêm yết từ 4 công ty năm 2000 đã tăng lên 207 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (tính đến ngày 13/7/209). Giá trị vốn hoá thị trường tăng từ 301 tỷ khi mới thành lập (năm 2000) lên 342.171 tỷ đồng (đến ngày 02/07/2009) trên sàn thành phố Hồ Chí Minh và 84.580 tỷ đồng (đến ngày 02/07/2009 trên cả hai sản là 426.751 tỷ đồng, tương đương 28,7% G DP năm 2008. Số lượng công ty chứng khoán tăng từ 5 công ty vào thời điểm tháng 7/2000 lên 105 tính đến 02/7/2009. Số lượng công ty quản lý quỹ đến thời điểm 02/7/2009 là 47 công ty. Số lượng tài khoản nhà đầu tư tí nh đến ngày 31/05/2009 là 618.715 tài khoản.
Về diễn biến của chỉ số vnindex từ năm 2000 đến nay có thể chia thành 4 giai đoạn: Giai đoạn từ tháng 7 năm 2000 đến tháng 12 năm 2001; giai đoạn 2 từ tháng 1 năm 2002 đến tháng 12 năm 2005; giai đoạn 3 từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007; và giai đoạn 4 là từ tháng 4 năm 2007 đến nay. Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
Trong giai đoạn 1 từ tháng 7 năm 2000 đến tháng 12 năm 2001 thị trường đã khởi đầu với tốc độ tăng rất mạnh, đến tháng 4/2001 chỉ số vnindex đạt 513 điểm, sau đó chỉ số này đảo chiều và giảm với tốc độ cũng nhanh tương tự. Vì vậy đồ thị của chỉ số vnindex giai đoạn này có hình nón có đỉnh ở giữa, hai bên sườn rất dốc.
Giai đoạn 2 là từ tháng 1 năm 2002 đến tháng 12 năm 2005. Đây là giai đoạn thị trường phát triển khá ổn định, tuy nhiên thị trường iao dịch không mấy sôi động, số lượng các công ty niêm yết mới cũng ít. Chỉ số vnindex trong giai đoạn này tăng từ 200 điểm (tháng 1/2002) lên 320 điểm (tháng 12/2005), điểm thấp nhất của vnindex trong giai đoạn này là 130 điểm (tháng 8 năm 2003).
Giai đoạn 3 từ tháng 01/2006 đến tháng 3/2007, đây có thể nói là giai đoạn phát triển tốt nhất trong lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong giai đoạn này chỉ số vnindex tăng từ 320 điểm lên đến 1.170 điểm. Trong giai đoạn này số lượng công ty niêm yết và số lượng nhà đầu tư đều tăng mạnh. Giá trị vốn hoá thị trường đã có lúc vượt trên 40% GDP ,tâm lý nhà đầu tư rất hưng phấn, phần lớn nhà đầu tư đều lãi lớn.
Giai đoạn 4 là từ tháng 3/2007 đến nay. Trong giai đoạn này, khi chỉ số vnindex đã vượt qua đỉnh tăng trưởng, là lúc xu hướng giảm giá diễn ra. Nhà đầu tư đẩy mạnh bán ra, trong khi các cuộc IPO lớn được thực hiện liên tục, tình hình nền kinh tế diễn biến không thuận lợi, tất cả những yếu đó đã đẩy chỉ số vnindex xuống mức 400 điểm (vào đầu tháng 6/2008).
Sau đó, dưới ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của Việt Nam suy giảm tốc độ tăng trưởng, đẩy chỉ số vnindex xuống mức thấp nhất là 235,5 điểm vào ngày 24/02/2009. Thị trường đã có sự phục hồi mạnh từ thời điểm đó đến nay với sự kỳ vọng nền kinh tế sẽ sớm hồi phục của các nhà đầu tư, vnindex đạt 510.5 điểm vào ngày 2/4/2010.
Biểu đồ 1: Diễn biến VN-index từ tháng 4/2007 đến nay
2. Các công ty tăng trưởng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán Việt Nam vài năm trở lại đây gặp nhiều khó khăn là lý do các công ty khó giữ được tốc độ tăng trưởng cao và đều đặn qua các năm. Theo đánh giá của sinh viên, hiện nay cổ phiếu nào có tốc độ tăng trưởng ổn định hàng năm từ 15% đến 30% và có giá giao dịch hợp lý thì đó là cổ phiếu tốt, được xếp vào cổ phiếu tăng trưởng. Dưới đây là một số công ty có mức tăng trưởng về doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế trên 15% qua các năm:
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
II. PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
1. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới cổ phiếu
1.1. Các yếu tố vĩ mô
1.1.1. Tổng sản quốc nội (GDP)
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam qua các năm
Năm 2009 là một năm không mấy tốt đẹp với nền kinh tế Việt Nam khi mà hầu hết các ngành sản xuất chủ lực như thủy sản, dệt may, dầu thô, cao su…. đều bị ảnh hưởng đáng kể. Bên cạnh đó, sự thu hẹp tiêu dùng của người dân cũng là nguyên nhân khiến hoạt động đầu tư bị giảm sút và xuất khẩu giảm mạnh. Năm 2009, tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 5,32%, mức thấp nhất kể từ năm 2000 đến nay.
Biểu đồ 3: GDP theo quý 2008-2009
Tuy nhiên, mức tăng trưởng 5,32% đã vượt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch đặt ra và trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm mà kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng dương tương đối cao như trên là một thành công lớn. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam được cải thiện dần qua các quý trong năm (Hình 2). Từ mức tăng trưởng rất thấp, 3.14% ở quý I/2009, tăng trưởng GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp hơn 2 lần, đạt 6,9% trong quý IV/2009. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, Việt Nam đã dần vượt qua được thời kỳ suy giảm tăng trưởng.
1.1.2. Tỷ giá hối đoái
Biểu đồ 4: Diễn biến tỷ giá USD/VND 2009
Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã cố gắng duy trì chính sách ổn định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ. Diễn biến tỷ giá trong năm 2009 là tương đối phức tạp. Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng và biên độ từ +3% lên + 5% vào tháng 4/2009, trên thị trường tự do giá ngoại tệ nhanh chóng áp sát mức 18.300 đồng/ đô la Mỹ và đến tháng 11 đã lên trên 19.000 đồng/ đô la Mỹ.
Hình trên cho thấy càng về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh, thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng. Ngoại tệ luôn trong tình trạng khan hiếm. Các ngân hàng không đủ ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và nếu có bán thì mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần do NHNN quy định.
1.1.3. Lạm phát và Lãi suất Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
Lạm phát
Lạm phát đã giảm mạnh mẽ do giá cả hàng hoá cơ bản trên thế giới đã thấp hơn và sự tăng trưởng kinh tế trong nước cũng tương đối chậm. So với mức lạm phát cao 23% năm 2008, lạm phát năm 2009 đã về mức trung bình, còn 6.88%. 8,3% trong giai đoạn từ tháng một đến thá ng tám năm 2009. Lạm phát giảm xuống còn 2 % trong tháng Tám năm 2009 từ 28,3% trong tháng Tám năm 2008. Mặc dù vậy, sức ép lạm phát xuất hiện trở lại trong quý II khi giá cả hàng hoá cơ bản tăng vọt và tăng trưởng gia tăng. Lạm phát hàng tháng đã tăng lên tới 0,8% giai đoạn từ tháng sáu đến tháng bảy, một tỷ lệ khá cao do giá cả hàng hoá cơ bản thế giới đã thấp hơn so với các mức cao nhát.
Biểu đồ 5: Chỉ số lạm phát 2000-2009
Lãi suất
Diễn biến lãi suất năm 2009 cho thấy: Lãi suất VND diễn biến khá phức tạp và có xu hướng tăng trong nửa cuối của năm 2009. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay USD đều giảm. Mục tiêu giữ ổn định lãi suất nhằm góp phần thực hiện chủ trương chống suy giảm kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô về cơ bản đã thành công nhờ sự kết hợp hài hoà các biện pháp kinh tế, pháp luật về hành chính. Cơ chế trần lãi suất (150% lãi suất cơ bản) mặc dù được đánh giá là công cụ mang tính chất hành chính nhưng thực sự đóng vai trò rất quan trọng trong việc bình ổn lãi suất trong điều kiện lãi suất biến động bất lợi, đặc biệt ở thời điểm khi mà nhu cầu vốn tín dụng tăng nhanh, áp lực tăng lãi suất lớn, trong khi đó lại phải đảm bảo duy trì lãi suất thấp hợp lý để ổn định kinh tế vĩ mô và kích thích kinh tế.
Biểu đồ 6: Biến động lãi suất năm 2009
1.1.4. Thâm hụt ngân sách
Theo Tổng cục thống kê, thâm hụt ngân sách năm 2009 bằng 7% GDP, cao hơn đáng kể so với mức thâm hụt năm 2008 (7%) và năm 2007 (5,5%). Thâm hụt ngân sách tăng cao bởi nỗ lực cứu vãn nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái trong quý I-2009, trong đó, chủ yếu là các khoản chi ngân sách được sử dụng cho các gói kích thích kinh tế.
1.1.5. Chi tiêu của người tiêu dùng và lạm phát Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
Khác với năm 2008, chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 tương đối ổn định. Ngoài tháng 2 và tháng 12 có chỉ số giá tiêu dùng tăng trên 1%, các tháng còn lại giảm hoặc tăng thấp. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân trong năm 2009 tăng 6,88% so với bình quân năm 2008, được ghi nhận là mức thấp nhất trong 6 năm trở lại đây.
Biểu đồ 7: Chỉ số giá tiêu dùng năm 2009
Trong nhóm hàng hoá được sử dụng để tính chỉ số giá tiêu dùng, nhóm hàng lương thực, thực phẩm, giao thông vận tải và vật liệu xây dựng vẫn là những nhóm hàng có chỉ số giá tăng cao trong năm nay. Đặc biệt, cùng với nhu cầu gia tăng về các sản phẩm hàng nhập khẩu cao cấp như bia, rượu, thuốc lá và chính sách nới lỏng biên độ tỷ giá USD/VND, nhóm hàng này đã ghi nhận là nhóm hàng có chỉ số giá tăng cao nhất trong 12 tháng qua – tăng 9,56%.
1.2. Các yếu tố ngành kinh tế
Năm 2009 là một năm khó khăn với thị trường chứng khoán Việt Nam, tuy nhiên một số doanh nghiệp về cuối năm đã phục hồi ấn tượng kéo theo sự tăng trưởng tốt của ngành như nhành bất động sản (tăng 63,83% doanh thu), khai thác mỏ (tăng 91,16% doanh thu), dịch vụ dầu khí (36,43%).
Theo một thống kê của CTCK VCB, mặc dù năm 2009 rất khó khăn nhưng số liệu đến quý III đã cho thấy nhiều doanh nghiệp phục hồi ấn tượng, nhất là DN thuộc lĩnh vực BĐS, khai khoáng, thựcphẩm, sản xuất xăm lốp, dịch vụ dầu khí, dược. Đây được xem là những ngành có tăng trưởng lợi nhuận trên CP cao nhất với trung bình 300% so với năm trước. Một vài nhóm tăng trưởng chậm hơn như đồ nội thất, hàng gia dụng. VC B nhận thấy những nhóm ngành tăng trưởng lợi nhuận đột biến trong năm cũng đồng thời có mức tăng giá CP mạnh nhất, chẳng hạn săm lốp, BĐS, vật liệu xây dựng.
Bảng 2: Phân loại ngành và các chỉ tiêu về quy mô, tăng trưởng
2. Thị giá cổ phiếu trên TTCK Việt Nam ngày 2/4/2010
Để định giá cổ phiếu của công ty tăng trưởng, sinh viên chọn ra 5 ổ phiếu của 5 công ty tăng trưởng tốt và ổn định trong thời gian qua. Đó là các cổ phiếu của CTCP Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT (MCK: FPT): CTCP Tập đoàn Hoà Phát (MCK: HPG); CTCP Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (MCK: PNJ); CTCP Khoan và Dịch vụ Dầu khí (MCK: PVD) và CTCP Thép Việt ý (MCK: VIS).
Bảng 3: Thị giá cổ phiếu ngày 2/4/2010
3. Định giá cổ phiếu tại thời điểm 2/4/2010 Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
3.1. Giới thiệu chung về Công ty
3.1.1. Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT
3.1.2. Công ty cổ phần Tập đoàn Hoà Phát(HPG)
Công ty cổ phần Tập đoàn Hoà phát thuộc nhóm ngành kim loại công nghiệp; có vốn điều lệ là 2.945.459.970.000 đồng; hoạt động trong các lĩnh vực buôn bán và xuất nhập sắt thép, vật tư thiết bị luyện, cán thép; sản xuất cán kéo thép, sản xuất tôn lợp; sản xuất ống thép không mạ và có mạ, ống Inox; sản xuất và mua bán kim loại màu các loại, phế liệu kim loại màu; luyện gang, thép; đúc gang, sắt, thép; khai thác quặng kim loại; mua bán kim loại, quặng kim loại, sắt thép phế liệu; sản xuất, kinh doanh các loại máy xây dựng và máy khai thác mỏ; sản xuất hàng nội thất phục vụ văn phòng, gia đình, trường học; đầu tư và xây dựng đồng bộ hạ tầng, kỹ thuật khu công nghiệp và khu đô thị; kinh doanh bất động sản (không bao gồm hoạt động tư vấn về giá đất); sản xuất, kinh doanh, lắp ráp, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành hàng điện; điện tử, điện lạnh, điện dân dụng, điều hoà không khí; sản xuất xi măng và kinh doanh vật liệu xây dựng.
3.1.3. Công ty cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận thuộc nhóm ngành khai thác mỏ; có vốn điều lệ là 399.999.210.000 đồng; hoạt động trong các lĩnh vực dịch vụ kiểm định kim cươn và đá quý; cho thuê nhà; sản xuất, kinh doanh trang sức thành phẩm bằng vàng; bạc; đá quý, vàng miếng thành phẩm (không phân phối kim cương đã được chưa được gia công nhưng chưa được gắn hoặc nạm dát; đá quý (trừ kim cương), đá bán quý, đã hoặc chưa được gia công hoặc phân loại nhưng chưa xâu chuỗi, chưa gắn hoặc nạm dát; đá quý (trừ kim cương); đá quý hoặc đá bán quý tổng hợp hoặc tái tạo, đã hoặc chưa gia công hoặc phân loại nhưng chưa xâu thành chuỗi, chưa gắn hoặc nạm dát; bạc (kể cả bạc được mạ vàng hoặc bạch kim) – chưa gia công hoặc ở dạng bán thành phẩm hoặc dạng bột; vàng (kể cả vàng mạ bạch kim) chưa gia công hoặc ở dạng bán thành phẩm hoặc dạng bột; bạch kim, chưa gia công hoặc ở dạng bán thành phẩm hoặc dạng bột; chỉ bao gồm bạc hoặc vàng, dát phủ bạch kim, chưa gia công quá mức bán thành phẩm thuộc nhóm 71111).
3.1.4. Công ty cổ phần khoan và dịch vụ dầu khí (PVD)
Công ty cổ phần khoan và dịch vụ dầu khí thuộc nhóm ngành dụng cụ, dịch vụ và phân phối dầu; có vốn điều lệ: 2.105.082.150.000 đồng; hoạt động trong lĩnh vực khoan và sửa chữa các giếng khoan dầu khí; cung ứng giàn khoan và gian khoan khai thác dầu khí; thực hiện các dịch vụ: Thiết kế, chế tạo, lắp đặt, kiểm tra chất lượng, sửa chữa, bảo dưỡng, vận hành giàn khoan, giàn khoan khai thác dầu khí; cung ứng vật tư, thiết bị khoan và khai thác; dịch vụ ứng cứu sự cố dầu tràn và bảo vệ môi trường; thử vỉa, bơm trám xi măng, đo địa vật lý giếng khoan và các dịch vụ khác liênq uan đến công tác khoan và khai thác; tham gia đào tạo công nhân khoan dầu khí, cung cấp lao động cho các giàn khoan, giàn khai t hác dầu khí của Tổng công ty dầu khí Việt Nam và cung cấp lao động có chuyên môn khoan dầu khí cho các nhà thầu trong và ngoài nước; thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Tổng công ty dầu khí Việt Nam giao; thực hiện các dịch vụ cung cấp vật tư, lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị dây chuyển công nghiệp phục vụ các ngành công nghiệp ngoài ngành dầu khí ; cung cấp các dịch vụ liên quan đến công tác khoan dầu khí cho các dự án dầu khí ở nước ngoài.
3.1.5. Công ty cổ phần thép Việt ý (VIS) Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
Công ty cổ phần thép Việt ý thuộc nhóm ngành kim loại công nghiệp; có vốn điều lệ: 300.000.000.000 đồng; hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh các sản phẩm thép có thương hiệu thép Việt – ý (VISCO); sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, thiết bị phụ tùng phục vụ cho ngành thép; kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá.
3.2. Định giá cổ phiếu theo mô hình P/E
P0 = P/E x EPS
Trong đó: P/E: Thị giá/ thu nhập cổ phiếu
EPS: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
Bảng 4: P/E ngành của các công ty cần định giá
Bảng 5: Giá cổ phiếu tính theo mô hình P/E
Nhận xét:
- Các cổ phiếu FPT, PNJ và VIS đang bị đánh giá thấp hơn giá trị thực của nó.
- Các cổ phiếu HPG, PVD đang được định giá cao hơn giá trị thực của nó.
3.3. Định giá cổ phiếu theo mô hình chiết khấu cổ tức (DDM)
Ta sẽ định giá các cổ phiếu tăng trưởng theo thứ tự như sau:
Tính becta:
Sử dụng phương pháp hồi quy, áp dụng công thức:
Ta lần lượt tính được becta của các cổ phiếu sau (tham khảo Phụ lục 1:
Tính β của các công ty tăng trưởng)
Sử dụng phương pháp hồi quy cho lịch sử giao dịch của chỉ số VNindex từ ngày 28/7/2000 đến ngày định giá là 2/4/2010:
Ta tính được Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
rm trung bình ngày = Trung bình cộng “% tăng giảm” = 0.06%.
Suy ra rm trung bình năm = rm trung bình ngày x 250 = 13.92%.
Tính lãi suất chiết khấu r (hay rs):
Lợi suất phi rủi ro rf có thể lấy bằng lãi suất tiền gửi.
Áp dụng công thức:
r = rf + b (rm – rf)
Ta tính được r của cổ phiếu như sau:
Tính giá cổ phiếu HPG:
- Dự đoán về cổ phiếu HPG trong năm 2010 như sau:
- ROE = 26.12%
- EPS = 6100 đồng
- Chi trả cổ tức bằng tiền mặt là D1 = 5300 đồng Suy ra tỷ lệ tái đầu tư RE = 1 – 5300/6100 = 0.131148
Suy ra tốc độ tăng trưởng g = ROE x RE = 3.43% Ta tính được giá cổ phiếu HPG năm 2009 là
Suy ra giá cổ phiếu cuối tháng 3, đầu tháng 4/2010 là
P04/2010 = P0 x rwacc 3/12 = 54057 x 0,13233/12 = 55763 (đồng)
Tương tự, ta tính được gia của các cổ phiếu lần lượt:
Bảng 6: Giá cổ phiếu tính theo mô hình chiết khấu cổ tức
Nhận xét:
- Các cổ phiếu FPT, PNJ và VIS đang bị định giá thấp hơn giá trị thực của nó.
- Các cổ phiếu HPG, PVD đang được định giá cao hơn giá trị thực của nó.
3.4. Định giá cổ phiếu theo mô hình chiết khấu dòng tiền
Ta sẽ định giá cổ phiếu các công ty dựa trên số liệu lịch sử các năm từ năm 2005 đến năm 2009 để dự đoán dòng tiền tương lai từ năm 2010 đến năm 2015.
Ta dự tính tốc độ tăng trưởng doanh thu qua các năm của các công ty, dựa vào tốc độ tăng trưởng doanh thu trong quá khứ như sau:
Bảng 7: Giá cổ phiếu tính theo mô hình Chiết khấu dòng tiền
III. MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG VIỆC ĐỊNH GIÁ CÁC CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG TẠI VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
1. Khó khăn trong việc lựa chọn phương thức định giá
Có nhiều phương thức định giá khác nhau nhưng việc lựa chọn một phương thức định giá phù hợp là không dễ dàng cho các nhà đầu tư, bởi mỗi phương pháp định giá lại có một ưu điểm nhược điểm riêng. Ví dụ như trong phương pháp định giá P/E, nhược điểm lớn nhất đó là EPS của công ty có thể không thực, tức là đôi khi công ty che giấu thu nhập thực tế của họ bằng cách công bố lãi nhiều hơn thực tế. Nhược điểm thứ hai của phương pháp này là khi công ty không có lợi nhuận, có nghĩa là lợi nhuận âm, thì thị giá cổ phiếu chia cho lợi nhuận trong một năm là âm, như vậy sẽ không tính được P/E.
Hơn thế nữa, mỗi công ty tăng trưởng lại có đặc điểm riêng nên việc lựa chọn phương thức định giá phù hợp cho từng công ty lại càng khó khăn hơn. Ví dụ như đối với công ty hoạt động theo chu kì: do doanh thu và lợi nhuận biến động mạnh theo chu kỳ nên việc định giá là tương đối khó khăn. Nếu nhà đầu tư không dự báo được chu kỳ biến động của tình hình hoạt động kinh doanh của công ty thì kết quả định giá có thể có những sai lệch lớn. Ví dụ như khi định giá công ty vào thời điểm cuối thời kỳ tăng trưởng, nếu nhà đầu tư vẫn dự báo là công ty còn duy trì tốc độ tăng trưởng đó trong một thời gian dài tiếp theo thì kết quả định giá có thể cho ra một kết quả rất cao, trong khi giá trị thực của cổ phiếu lại không cao như vậy.
2. Khó khăn trong việc lựa chọn các thông số và giả định cho việc định giá Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
Trong các phương pháp định giá cổ phiếu, việc lựa chọn thông số và giả định là hết sức quan trọng, đặc biệt trong hai phương pháp chiết khấu cổ tức và chiết khấu dòng tiền. Việc lựa chọn thông số và các giả định càng chính xác bao nhiêu thì giá trị doanh nghiệp sau khi được định g iá càng chính xác bấy nhiêu. Tuy nhiên TTCK Việt Nam hiện nay còn mới mẻ nên nhà đầu tư gặp phải một số khó khăn trong việc ước lượng các thông số và giả định sau:
- Khó khăn trong lựa chọn lãi suất chiết khấu: Khi định giá theo phương thức chiết khấu luồng cổ tức hoặc chiết khấu luồng tiền thì chúng ta phải lựa chọn lãi suất chiết khấu phù hợp, khi đó thì việc định giá mới cho kết quả đúng. Công thức phổ biến để lựa chọn lãi suất chiết khấu phù hợp là dựa vào mô hình CAMP, trong đó xác định lãi suất chiết khấu thông qua hệ số β. Tuy nhiên TTCK Việt Nam còn mới mẻ nên chưa có quy luật thị trường, chưa tính được các chỉ số chung của thị trường. Việc tính β phải dựa trên việc ước lượng, mà việc ước lượng này đối với những nhà đầu tư các nhân thì rất khó. Bởi họ khó có thể có được đầy đủ các số liệu của một công ty và số liệu của cả thị trường thì còn khó hơn nhiều.
- Khó khăn trong lựa chọn các giả định về doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền: Ở Việt Nam, việc công bố thông tin của các công ty niêm yết còn hạn chế, thêm nữa các công ty mới chỉ đưa ra kế hoạch sản xuất kinh doanh trong 1, 2 năm tới nên khó có thể dự tính được các giai đoạn phát triển của công ty, từ đó khó có thể lựa chọn chính xác các giả định về doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền, Ví dụ như trong mô hình định giá chiết khấu luồng cổ tức hai giai đoạn: khó khăn đầu tiên là việc xác định độ dài của giai đoạn tăng trưởng mạnh đầu tiên. Vì tỷ lệ tăng trưởng được mong đợi là sẽ giảm xuống mức ổn định sau giai đoạn này, giá trị của khoản đầu tư sẽ tăng lên khi giai đoạn này kéo dài. Khó khăn thứ hai của mô hình chiết khấu cổ tức hai giai đoạn là nó dựa trên những giả định về tỷ lệ tăng trưởng cao trong giai đoạn đầu tiên và sau đó đột ngột chuyển xuống tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn nhưng ổn định vào ngay cuối giai đoạn đầu tiên. Sự thay đổi tính toán đột ngột này rõ rang trong thực tế khó xảy ra, vì thực tế quá trình chuyển từ tăng trưởng nhanh sang tăng trường ổn định diễn ra từ từ.
- Khó khăn trong lựa chọn thông số cho việc định giá theo phương pháp định gia theo hệ số P/E: Việc áp dụng P/E để tính giá cổ phiếu tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do thiếu số liệu và thị trường chứng khoán còn non trẻ và vẫn trong giai đoạn hoàn thiện. Trong phương pháp định giá theo P/E, việc tính toán P/E trung bình ngành là rất quan trọng, tuy nhiên số liệu P/E trung bình ngành ở Việt Nam chưa có số liệu chung cho cả thị trường, mả chỉ có do ước lượng của nhà đầu tư hay một số công ty chứng khoán.
3. Các khó khăn phát sinh từ phía Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
Trước tiên có thể nhận thấy ngay những hạn chế trong việc công bố thông tin và quản lý công bố thông tin trên TTCK Việt Nam: công bố thông tin của các doanh nghiệp chưa chính xác, đầy đủ và kịp thời. Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có quy định cụ thể về việc bắt buộc công bố thông tin đối với các doanh nghiệp cổ phần, tuy nhiên một số doanh nghiệp vẫn nộp thiếu, nộp chậm thậm chí không nộp các báo cáo tài chính, hay có nộp nhưng thông tin thiếu trung thực chính xác. Chính điều này dẫn đến những nhận định đánh giá sai lầm về doanh nghiệp và triển vọng phát triển của danh nghiệp trong tương lai, gây khó khăn cho việc dự đoán ước lượng các thông số của các nhà phân tích định giá cổ phiếu. Hơn thế nữa, việc doanh nghiệp công bố các thông tin thiếu chính xác sẽ dẫn đến tâm lý bất ổn mất lòng tin của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, như thế bản thân giá trị của doanh nghiệp trên thị trường sẽ bị phản ánh dưới giá trị thực của doanh nghiệp đó. Một số doanh nghiệp có nộp đầy đủ, chính xác thông tin nhưng lại công bố chậm trễ đem đến chậm trễ trong việc phân tích định giá khi các số liệu chưa được cập nhật kịp thời, dẫn đến lúc có số liệu để định giá thì không cập nhật được với diễn biến thị trường.
Thứ hai là cách thức công bố thông tin chưa tổng hợp và có hệ thống, cơ sở dữ liệu thông tin về ngành và thị trường còn chưa đầy đủ, gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc ước lượng các thông số và giả định trong việc định giá. Trong các mô hình định giá cổ phiếu thì việc ước lượng các tham số ngành và thị trường để định giá là hết sức quan trọng, ví dụ như chỉ số P/E ngành trong mô hình định giá cổ phiếu bằng P/E; hay tham số β trong mô hình định giá bằng chiết khấu cổ tức hay chiết khấu dòng tiền. Hiện nay ở Việt Nam, cơ sở dữ liệu về ngành và thị trường chưa đầy đủ, dẫn đến chưa có số liệu chung thống nhất cho cả thị trường. Bản than mỗi công ty chứng khoán lại có những số liệu khác nhau, không thống nhất chung khiến không ít nhà phân tích định giá cổ phiếu băn khoăn trong việc lựa chọn số liệu, dẫn đến khó khăn cho công tác phân tích và định giá cổ phiếu. Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
Thứ ba là hoạt động của các tổ chức xếp hạng tín dụng của Việt Nam gần như mờ nhạt, chưa thể hiện được vai trò quan trọng trong việc tăng tính minh bạch cho thị trường, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư. Ở Việt Nam hiện nay có ít nhất là 3 tổ chức được cho là cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, đó là Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng nhà nước Việt Nam CIC, Trung tâm khoa học thẩm định tín nhiệm doanh nghiệp CRC và Công ty thông tin và xếp hạng tín nhiệm C&R. Tuy nhiên theo như những báo cáo của họ thì dịch vụ mà CIC và C&R cung cấp giống như là của cơ quan thông tin tín dụng hơn là công ty xếp hạng tín dụng. Hai cơ quan này cung cấp thông tin về hồ sơ công ty (tên, địa chỉ, ngành nghề kinh doanh, lịch sử hoạt động v.v, và xếp hạng của riêng họ. Tuy nhiên họ lại không đưa ra các tiêu chuẩn để xếp hạng. CRC có dịch vụ xếp hạng tín nhiệm nhưng vẫn chưa chính thức đưa vào hoạt động do vậy cũng chưa tìm thấy bản báo cáo xếp hạng nào. Hơn nữa, số lượng doanh nghiệp đăng kí để được xếp hạng tín nhiệm là không nhiều. Với số lượng hạn chế cũng như vai trò mờ nhạt của các tổ chức xếp hạng tín dụng như vây, TTCK Việt Nam chưa có được sự minh bạch thông tin, có những số liệu đánh giá khách quan về tình hình hoạt động của doanh nghiệp để hỗ trợ đắc lực cho việc phân tích và định giá cổ phiếu của các nhà quản trị, ngân hàng và các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thứ tư là quy mô thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn nhỏ bé kể cả về số lượng cổ phiếu niêm yết cũng như về các loại chứng khoán, các công cụ phái sinh (bao gồm quyền chọn mua, quyền chọn bán chứng khoán, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn). Số lượng công ty niêm yết ở Việt Nam chưa đủ lớn để hình thành nhiều rổ thị trường, dẫn đến có ít căn cứ để tính toán hệ số beta, gây khó khăn cho việc áp dụng chính xác mô hình chiết khấu cổ tức hay chiết khấu dòng tiền. Bên cạnh đó, quy mô TTCK Việt Nam vẫn còn hạn chế dẫn đến khó khăn trong việc so sánh, đối chiếu giữa các công ty trong thị trường, trong cùng ngành kinh tế. Nói chung, khi quy mô TTCK VN chưa thực sự phát triển để có thể ước lượng các tham số tốt hơn, áp dụng nhiều phương pháp định giá hơn, từ đó phục vụ tốt hơn cho việc phân tích và định giá cổ phiếu.
Thứ năm là Nhà nước chưa có những bước đột phá trong việc phổ biến rộng rãi kiến thức về chứng khoán và đầu tư chứng khoán cho các nhà đầu tư. Mặc dù hiện nay, Ủy ban chứng khoán nhà nước đã mở lớp đào tạo chứng khoán, đồng thời đồng ý cho một số trường đại học mở lớp đào tạo và cấp bằng đầu tư chứng khoán, nhưng số lượng các trung tâm đào tạo như vậy vẫn chưa phục vụ đủ hết nhu cầu của rất nhiều nhà đầu tư trên thị trường. Không có định hướng phổ biến kiến thức của Nhà nước, nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc tìm kiếm kiến thức, tiếp cận các mô hình định giá cũng như các kiến thức khác để phục vụ cho công tác phân tích định giá cổ phiếu bởi không phải nhà đầu tư nào cũng có điều kiện được đào tạo bài bản về chứng khoán và đầu tư chứng khoán từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
4. Các khó khăn phát sinh từ các tổ chức kinh doanh chứng khoán Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
Các nhận định thị trường, các báo cáo phân tích của các công ty chứng khoán có tác động không nhỏ đến nhận định, tâm lý của nhà đầu tư trên TTCK. Một số không nhỏ các nhà đầu tư dựa vào những báo cáo phân tích, những nhận định thị trường của các công ty chứng khoán để đưa ra quyết định đầu tư, hay dựa vào đó để ước lượng các tham số cho việc định giá cổ phiếu của mình. Tuy nhiên, hiện nay nguồn nhân lực phân tích chứng khoán của các công ty chứng khoán năng lực còn hạn chế, chưa được đào tạo chuyên sâu dẫn đến các nhận định sai lệch về thị trường hoặc các nhận định sai lệch giữa các công ty chứng khoán với nhau khiến cho nhà đầu tư hoang mang, gây khó khăn cho việc định giá.
Bên cạnh đó, một thực trạng hiện nay ở các công ty chứng khoán là để thu hút được các nhà đầu tư, các công ty chứng khoán đua nhau cung cấp thông tin. Công ty chứng khoán nào càng đưa ra được nhiều thông tin cho nhà đầu tư thì càng thu hút được khách hàng. Chính vì số lượng hơn chất lượng, vì mục đích tăng lợi nhuận mà không ít công ty chứng khoán đã đưa ra những thông tin sai lệch, thu hút sự chú ý của nhà đầu tư khiến cho nhà đầu tư có những nhận định sai lầm về thị trường cũng như doanh nghiệp, dẫn đến định giá sai lệch.
5. Các khó khăn phát sinh từ bản thân các nhà đầu tư
Đối với bản thân các nhà đầu tư chưa trang bị cho mình vốn kiến thức cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Họ coi đầu tư chứng khoán như một canh bạc mà ở đó người thắng là những người may mắn chọn được mã cổ phiếu tốt. Họ tham gia thị trường chứng khoán chỉ theo cảm tính, đầu tư theo đám đông thay vì phân tích, định giá chứng khoán để có quyết định đầu tư cho riêng mình. Thị trường chứng khoán Việt Nam có lẽ đã qua thời “cứ mua là thắng” (điển hình như năm 2007), tình trạng mua bán theo “phong trào” đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính bền vững của thị trường. Các nhà đầu tư nghiệp dư khi thấy giá cổ phiếu lên vùn vụt, thay vì phân tích và nhận định thị trường, họ mua vào khối lượng lớn, càng khiến cổ phiếu đó “sốt ảo”, dù cho tình hình hoạt động của doanh nghiệp tốt hay xấu. Trong những đợt “sốt ảo” như vậy, chỉ có các nhà đầu tư chuyên nghiệp đi trước sẽ thu nhiều lợi nhuận, còn những người đến sau sẽ phải ôm nhiều rủi ro hơn là hy vọng có lãi. Như vậy, chính bản thân các nhà đầu tư đã tự tạo ra trào lưu đầu tư theo phong trào, khiến cho vai trò của phân tích và định giá cổ phiếu trở nên mờ nhạt hay có phân tích và định giá thì cũng không chính xác bởi giá trị doanh nghiệp trên thị trường không phản ánh giá trị thực của doanh nghiệp, mà được chi phối chính bởi quan hệ cung –cầu trên TTCK. Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao giá cổ phiếu tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
