Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.3.1 Mô hình tổ chức quản lý rủi ro lãi suất tại Vietcombank
Sau khi chuyển sang hoạt động theo mô hình NHTMCP, VCB tiếp tục định hướng phát triển thành một tập đoàn tài chính đa năng, thực hiện mục tiêu là một trong những NHTM tiên tiến trong khu vực. Tuy nhiên, trong điều kiện môi trường kinh doanh ngày càng trở nên rủi ro hơn, việc quản lý rủi ro và bảo toàn vốn là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, VCB đã và đang xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro theo các chuẩn mực quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp nhất, có thể chấp nhận được. Bộ máy quản trị rủi ro của VCB bao gồm:
Hội đồng Quản trị (HĐQT)
HĐQT có quyền hạn và nhiệm vụ cao nhất trong việc điều hành tất cả các hoạt động của Ngân hàng liên quan đến quản trị rủi ro, bảo đảm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng không ngừng phát triển, an toàn và bền vững. Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, HĐQT chịu trách nhiệm ban hành các chính sách và chiến lược quản lý rủi ro phù hợp trong từng thời kỳ; xác lập các giới hạn kinh doanh an toàn; trực tiếp phê duyệt các giao dịch kinh doanh có giá trị lớn theo quy định của pháp luật và Ngân hàng trong từng thời kỳ; quyết định cơ cấu tổ chức và các vị trí nhân sự chủ chốt.
Ủy ban quản lý rủi ro (UB QLRR)
Hiện nay, Vietcombank đã thành lập Ủy ban quản lý rủi ro, là đơn vị trực thuộc bộ máy quản lý tại trụ sở chính. UB QLRR là bộ phận do HĐQT Ngân hàng ra quyết định thành lập và chịu trách nhiệm giúp việc cho HĐQT trong việc quản lý mọi loại rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
UBQLRR có nhiệm vụ tham mưu cho HĐQT trong việc phê duyệt các chính sách và định hướng QLRR phù hợp trong từng thời kỳ, bao gồm cả việc xác định các tỷ lệ, giới hạn/hạn chế và mức độ chấp nhận rủi ro của Ngân hàng; Định kỳ báo cáo đánh giá tình hình rủi ro trong các mặt hoạt động của ngân hàng và đề xuất các biện pháp cải thiện kịp thời; Có ý kiến về các khoản vay/tổng các khoản cho vay đối với một khách hàng vượt quá 10% vốn tự có của Ngân hàng.
UBQLRR chỉ có nhiệm vụ tham mưu cho HĐQT, không được quyền ra các Quyết định liên quan đến QLRR.
Ủy ban quản lý tài sản nợ có (ALCO)
ALCO là bộ phận do Tổng Giám đốc ra quyết định thành lập. Chủ tịch ALCO là Tổng Giám đốc. Các thành viên của ALCO là các cán bộ chủ chốt đang thực hiện nhiệm vụ QLRR trong ngân hàng. ALCO có nhiệm vụ giám sát và quản lý tổng thể các hạng mục tài sản có và tài sản nợ trong bảng cân đối kế toán hợp nhất và riêng biệt của Ngân hàng nhằm tối đa hoá lợi nhuận và tối thiểu hoá các tổn thất phát sinh do những biến động bất lợi từ thị trường; Quản lý rủi ro thanh khoản; Điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp. Trong phạm vi phân cấp, ALCO được quyền ra các quyết định liên quan đến QLRR.
Hội đồng xử lý rủi ro
Hội đồng xử lý rủi ro của VCB do HĐQT thành lập và chịu trách nhiệm (i) xem xét việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro trong từng thời kỳ; (ii) quyết định xử lý các khoản nợ xấu từ quỹ dự phòng rủi ro và phương án thu hồi nợ đối với các khoản nợ đã được xử lý rủi ro tín dụng trong từng thời kỳ; xem xét báo cáo tình hình theo dõi, sao kê và thực hiện thu hồi nợ đối với các khoản nợ đã được xử lý rủi ro tín dụng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.3.2 Phương pháp quản lý TSN-TSC để phòng tránh rủi ro lãi suất tại Vietcombank Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Rủi ro lãi suất dẫn đến tổn thất là một tất yếu khó tránh khỏi trong kinh doanh ngân hàng. Kể từ khi NHNN thay đổi cơ chế lãi suất theo hướng tự do hóa lãi suất, sự biến động lãi suất trở nên thường xuyên hơn gây cho các ngân hàng nhiều khó khăn trong kinh doanh do lãi suất chính là giá cả trong kinh doanh tiền tệ. Những biến động về lãi suất thường dẫn đến việc giảm thu nhập, giảm giá trị tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Để hạn chế những tổn thất đó đồi hỏi các ngân hàng phải nhận biết và tính toán chính xác mức độ rủi ro lãi suất trong hệ thống ngân hàng mình.
2.3.2.1 Phương pháp sử dụng biểu đồ độ lệch
Về mặt lý thuyết, các ngân hàng có thể sử dụng nhiều mô hình để lượng hóa rủi ro lãi suất. Tuy nhiên, do điều kiện thực tiễn khó đáp ứng yêu cầu của các mô hình nên phần lớn các ngân hàng, trong đó có Vietcombank lựa chọn phương pháp lập biểu đồ độ lệch để theo dõi và quản lý chênh lệch giá trị TSC-TSN. Đây là phương pháp đo lường bằng biểu đồ, phương pháp này thể hiện số vốn chịu rủi ro lãi suất và số vốn theo từng thời kỳ tái định giá. Bằng cách sử dụng khe hở nhạy cảm lãi suất cùng với việc phân loại các TSN – TSC theo kỳ hạn tái định giá để lập biểu đồ độ lệch
a) Phân loại TSC và TSN nhạy cảm lãi suất:
Để sử dụng phương pháp này, tất cả TSC và TSN của ngân hàng được phân thành hai nhóm: nhóm tài sản nhạy cảm lãi suất và nhóm tài sản kém nhạy cảm lãi suất. theo các mức kỳ hạn, tính trên cơ sở thời hạn còn lại của tài sản. Cơ sở phân loại dựa vào mức độ biến động của thu nhập từ lãi suất ( đối với tài sản có ) và chi phí trả lãi (đối với tài sản Nợ ) khi lãi suất thị trường có sự thay đổi.
Tại Vietcombank, khoản mục TSC nhạy cảm với lãi suất bao gồm:
- Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác: Đây là khoản vốn tạm thời dư thừa Ngân Hàng gửi tại các TCTD khác để thu lợi nhuận hoặc nhằm mục đích thanh toán. Trên thực tế, những khoản tiền gửi này được các TCTD khác trả lãi và thường có thời hạn dưới 1 năm nên thuộc TSC nhạy cảm lãi suất/ Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
- Tín phiếu Kho bạc: Tín phiếu Kho bạc thường có kỳ hạn dưới 12 tháng (3 tháng, 6 tháng…) nên khi đến hạn những tín phiêu này sẽ được định giá lại trong năm. Do vậy, tín phiếu Kho bạc cũng thuộc TSC nhạy cảm lãi suất
- Các khoản cho vay ngắn hạn: Đây là những khoản cho vay có kỳ hạn dưới 1 năm và sẽ được tái đầu tư trong năm nên thuộc nhóm TSC nhạy cảm lãi suất
- Các khoản cho vay trung dài hạn với điều kiện lãi suất có điều chỉnh: Đây là số dư những tài khoản tín dụng có thời hạn trên 1 năm nhưng được tính theo lãi suất thả nổi và được định giá lại hoặc điều chỉnh trong năm.
- Ngoài ra, khoản mục tiền gửi NHNN cũng được hưởng lãi suất; tuy nhiên, lãi suất rất thấp và chỉ tính trên số tiền vượt mức dự trữ bắt buộc nên mức lãi không đáng kể; không được tính là TSC nhạy cảm lãi suất
Khoản mục TSN nhạy cảm lãi suất bao gồm:
- Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng nội tệ và ngoại tệ: Đây là khoản Ngân Hàng phải tái huy động trong vòng 1 năm, việc định giá lại cũng diễn ra trong 1 năm nên thuộc TSN nhạy cảm lãi suất
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng nội tệ và ngoại tệ: Là khoản tiền mà Ngân Hàng huy động từ dân cư để đầu tư, cho vay và khi đến hạn phải trả tiền cho người gửi tiền và tiếp tục huy động những khoản tiền gửi mới.Những khoản này cũng được định giá lại trong năm nên thuộc TSN Nhạy cảm lãi suất
- Kỳ phiếu ngân hàng kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng
- Tiền gửi và tiền vay các TCTD khác: Đây là khoản tiền vay ngắn hạn tạm thời của Ngân hàng để bù đắp thiếu hụt tạm thời về khả năng thanh toán của Ngân hàng. Lãi suất của khoản vay này phụ thuộc vào lãi suất thị trường tiền tệ.
- Tiền vay NHNN để bù đắp thiếu hụt tạm thời của Ngân hàng về khả năng thanh toán trong ngắn hạn. Lãi suất khoản vay này cũng phụ thuộc vào lãi suất thị trường và được định giá lại trong năm nên thuộc TSN nhạy cảm lãi suất
b) Lập biểu đồ độ lệch
Theo báo cáo tài chính của Vietcombank năm 2008, ta có bảng giá trị TSN-TSC theo từng kỳ hạn định giá như sau:
Bảng 2.7. Giá trị TSN-TSC theo từng thời kỳ định giá 2008
Dựa vào biểu đồ độ lệch trên Nhà quản trị có thể có cái nhìn tổng quát về tình hình TSN – TSC của ngân hàng, có thể đánh giá được tính thanh khoản của hệ thống ứng với từng thời điểm. Ví dụ, trong 1 tháng tới, ngân hàng sẽ có khe hở nhạy cảm lãi suất âm, lợi nhuận ngân hàng sẽ tăng nếu như lãi suất giảm. Tuy nhiên, trong vòng từ 3 đến 6 tháng tới, khe hở này là dương; do đó, một sự giảm lãi suất sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng vì chi phí trả lãi sẽ lớn hơn thu nhập từ lãi. Vì biến động lãi suất thị trường không phụ thuộc vào muốn chủ quan của ngân hàng nên nhà quản trị rủi ro chỉ có thể dựa vào kinh nghiệm của bản thân, diễn biến thị trường để có kết luận định tính về thu nhập của ngân hàng chứ không có một kết quả định lượng trong trường hợp lãi suất thị trường biến động. Với kết quả khe hở nhạy cảm lãi suất dương đối với kỳ hạn 3-6 tháng, 1-5 năm và trên 5 năm và khe hở nhạy cảm lãi suất âm với các kỳ hạn còn lại của Vietcombank, nhà quản trị có thể có phản ứng sau:
2.3.2.2. Phương pháp quản lý khe hở kỳ hạn Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Sử dụng bảng giá trị TSN-TSC ở trên, ta có thể lập được bảng kỳ hạn hoàn vốn của từng khoản mục trong danh mục TSC và kỳ hạn hoàn trả của từng khoản mục trong danh mục TSN thông qua cách lấy trung bình hai khoảng thời điểm của từng thời kỳ định giá. Ví dụ, đối với khoảng thời gian từ 1 đến tháng, kỳ hạn hoàn trả của TSN hoặc kỳ hạn hoàn vốn của TSC trung bình là 2 tháng.
Bảng 2.8 Kỳ hạn trung bình của các khoản mục TSN-TSC 2008
Sau khi có được kỳ hạn hoàn vốn/hoàn trả của từng khoàn mục trong danh mục, theo công thức tính kỳ hạn hoàn vốn/hoàn trả trung bình của danh mục:
Tính tương tự như năm 2008, tại thời điểm 31/12/2009 kỳ hạn hoàn vốn trung bình của TSC là 6,9 tháng, kỳ hạn hoàn trả trung bình của TSN là 3 tháng và khe hở kỳ hạn là 3,95 tháng.
NHẬN XÉT:
Kết quả khe hở kỳ hạn dương (kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản lớn hơn kỳ hạn hoàn trả trung bình của nợ) 7,2 tháng năm 2008 và 3,95 tháng năm 2009 hoàn toàn phù hợp với thực trạng sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn trong giai đoạn tình hình kinh tế thế giới nói chung và trong nước nói riêng biến động phức tạp từ đầu năm 2008 đến cuối năm 2009 và cho thấy mặt hạn chế trong việc sử dụng các biện pháp quản trị rủi ro lãi suất tại Vietcombank. Điều này có thể làm giảm lợi nhuận của ngân hàng nếu lãi suất tăng. Trong những tháng đầu năm 2008, do NHNN thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, nguồn cung tiền giảm. Để đảm bảo số dư huy động phục vụ cho việc duy trì các khoản cho vay trung dài hạn như cho vay bất động sản, các ngân hàng phải cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn với công cụ chủ yếu là lãi suất làm lãi suất huy động tăng liên tục. Vì các ngân hàng đã dùng nguồn vốn huy động ngắn để cho vay trung dài hạn nên khi nguồn cung tiền giảm, cộng với các đợt tăng lãi suất liên tiếp đã làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng.
Rủi ro lãi suất xuất hiện vì kỳ hạn hoàn vốn lớn hơn kỳ hạn hoàn trả. Trong khi quá tập trung vào tăng trưởng tín dụng thì những yếu tố bất lợi xuất hiện: giá cả leo thang, doanh nghiệp vay vốn gặp khó khăn do chi phí tăng, lạm phát. Trước tình hình đó, Chính phủ phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bắt buộc 41 Ngân hàng mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, đồng thời tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu (chẳng hạn, vào tháng 6/2008 lãi suất cơ bản đã tăng lên từ 12% đạt mức 14%) làm cho các ngân hàng bị mất cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn. Để đảm bảo thanh khoản, các ngân hàng trong đó có Vietcombank phải tăng lãi suất huy động, đóng cửa tín dụng. Rủi ro lãi suất tăng lên vì lãi suất huy động tăng nhanh hơn, vượt lãi suất cho vay làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Cụ thể: Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Vào đầu tháng 01/2008, lãi suất huy động LNH kỳ hạn 1 năm chỉ ở mức 10.55%/năm, lãi suất huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư tính thêm dự trữ bắt buộc ở mức khoảng 10,50%/năm, lãi suất cho vay khoảng 12,36%/năm. Như vậy các ngân hàng có chênh lệch lãi suất cho vay và huy động khoảng 1,86%. Phần chênh lệch lãi suất này được dùng để trang trải các chi phí quản lý và tạo lợi nhuận cho ngân hàng. Với các hợp đồng tín dụng lãi suất điều chỉnh 3 tháng 1 lần hoặc 6 tháng 1 lần, hoặc 1 năm 1 lần giải ngân vào đầu tháng 1 hoặc vừa điều chỉnh lãi vào đầu tháng 1/2008 thì đến đầu tháng 7 mới có thể điều chỉnh lãi suất. Trong khi đó, từ đầu năm 2008, lãi suất huy động tăng liên tục, đến tháng 02/2008 lãi suất huy động đã tăng lên đến 12%/năm, nếu tính thêm lãi suất bắt buộc thì lãi suất huy động vào khoảng 13,48%/năm, so với lãi suất cho vay 12,36%/năm thì ngân hàng đã bị lỗ và sẽ phải chịu mức lỗ này trong những tháng còn lại. Thêm vào đó, lãi suất huy động tăng liên tục và cho đến tháng 08/2008 đã ở mức 19%/năm (tính thêm dự trữ bắt buộc là 21,35%/năm). Với lãi suất huy động 21,35%/năm, nếu các ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất cho vay cũng không được vượt 21%/năm. Nhìn vào những con số trên chúng ta có thể thấy được sự thay đổi lãi suất trong thời gian qua đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi nhuận của ngân hàng. Một số trường hợp, trong hợp đồng tín dụng, lãi suất điều chỉnh hàng quý cũng bị ảnh hưởng nhưng mức độ ảnh hưởng ít hơn.
Ngoài ra, với việc khống chế tỷ lệ tăng trưởng tín dụng không quá 30%, các tổ chức tín dụng, Vietcombank cũng không ngoại lệ, trong quý I năm 2008 đã giải ngân vượt mức tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cho phép khi có quyết định đã ngừng giải ngân, chỉ tập trung thu hồi nợ. Một số khách hàng tới hạn trả nợ nhưng không trả vì e ngại ngân hàng không cho vay lại và khó có thể vay tại ngân hàng khác trong điều kiện thị trường tín dụng hầu như đóng băng hoặc nếu vay lại phải chịu lãi suất quá cao (lãi suất vay cũ khoảng 12%/năm, lãi suất phạt quá hạn là 18%/năm, thấp hơn so với lãi suất vay mới 21%/năm) nên không trả nợ, chấp nhận để nợ quá hạn. Vì vậy, ngân hàng một mặt phải cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn đảm bảo thanh khoản (có thời điểm phải huy động LNH với lãi suất lên đến 35%/năm), một mặt không thể thu hồi nợ làm xuất hiện khe hở kỳ hạn dương, với lãi suất huy động ngày càng tăng làm ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng.
Việc trích lập dự phòng rủi ro: Tại điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN về việc ban hành “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các TCTD”, việc phân loại nợ chỉ dựa trên việc đánh giá khả năng trả nợ của từng khoản vay riêng lẻ và nếu khách hàng trả nợ đúng hạn thì khách hàng đó tốt. Thậm chí, ngân hàng có thể gia hạn nợ cho khách hàng hoặc cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng vay nóng để trả nợ và giải quyết cho khách hàng vay lại trong thời gian ngắn. Vì vậy, khách hàng vẫn là khách hàng tốt và khoản nợ của khách hàng tại ngân hàng vẫn ở là nợ tốt (thuộc nhóm 1) trong trường hợp nền kinh tế ổn định. Nhưng từ đầu 2008, với chính sách thắt chặt tiền tệ, các ngân hàng nói chung hầu như chỉ tập trung thu hồi nợ và không cho vay lại. Khi đó, chỉ những khách hàng có khả năng tài chính thực sự mới có thể trả được nợ và những khách hàng có dư nợ tốt nhờ những thủ thuật trên sẽ lộ diện và khoản nợ của họ không còn thuộc nợ nhóm 1, điều này góp phần làm cho nợ quá hạn tại các ngân hàng tăng lên. Vì không thu hồi được nợ nên các ngân hàng bị mất cân đối giữa dòng tiền vào – dòng tiền ra theo kế hoạch, làm ảnh hưởng đến kế hoạch lợi nhuận của Ngân hàng.
Trong cuộc đua lãi suất vừa qua, rất nhiều ngân hàng đưa ra sản phẩm Tiết kiệm rút gốc linh hoạt, theo đó khách hàng gửi tiền có thể rút trước hạn mà vẫn được hưởng lãi suất cao hơn lãi suất không kỳ hạn. Sản phẩm này vô hình chung khuyến khích khách hàng gửi tiền kỳ hạn dài để có lãi suất cao hơn nhưng có thể rút ra bất cứ lúc này. Ngoài ra, để giảm chi phí dự trữ bắt buộc, các ngân hàng TMCP thỏa thuận với khách hàng gửi tiền kéo dài thời gian gửi tiền trên hợp đồng lên đến 12 tháng hoặc dài hơn so với thời gian thực gửi. Đây là một trong những nguyên nhân làm ngân hàng phải đối mặt với rủi ro cao vì các ngân hàng không thể xác định được kỳ hạn hoàn trả của khoản tiền, gây khó khăn cho công tác Quản lý TSN – TSC.
2.3.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Vietcombank Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
2.3.3.1 Kết quả đạt được
Trong thời gian qua, việc NHNN nới lỏng dần sự kiểm soát lãi suất đòi hỏi các NHTM phải quan tâm hơn đến công tác quản trị rủi ro lãi suất. Trong công tác này, tuy chưa nhiều nhưng Vietcombank đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận sau:
- Vietcombank đã bước đầu có nhận thức về nguy cơ rủi ro lãi suất, đã nhận ra thực tế là Ngân hàng có thể phải gánh chịu những tổn thất trước những thay đổi của lãi suất thị trường. Nhận thức này rất quan trọng, không chỉ tạo cơ sở cho Ngân hàng có định hướng đúng đắn trong công tác quản trị rủi ro mà còn tập trung vào việc quản lý rủi ro tín dụng, các loại rủi ro khác có khả năng gây thiệt hại cho Ngân hàng.
- Ngân hàng đã quyết định thành lập ALCO có nhiệm vụ tư vấn cho HĐQT các vấn đề có liên quan đến công tác quản trị rủi ro lãi suất. Chẳng hạn, tư vấn về việc xác định rủi ro lãi suất, lượng hóa (tính toán quy mô ảnh hưởng), đặt ra các hạn mức về rủi ro, kiểm tra tình hình rủi ro thường nhật thông qua báo cáo tài chính. Đồng thời, ALCO có trách nhiệm kiểm soát hoạt động và kiểm soát nội bộ, đảm bảo sự thống nhất, không chồng chéo các quy trình, hệ thống quản lý nội bộ trong Ngân hàng; theo dõi, kiểm tra sự tuân thủ đối với các quy định nhà nước, NHNN và các cơ quan có liên quan. Việc thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ của ALCO sẽ giúp cho Ngân hàng tăng cường hiệu quả quản lý kinh doanh cũng như quản lý rủi ro, bao gồm cả quản trị rủi ro lãi suất
- Vietcombank đã có những bước triển khai đầu tiên thực hiện biện pháp để phòng ngừa rủi ro lãi suất, thể hiện ở sự chỉ đạo của Tổng giám đốc Ngân hàng đối với công tác điều hành lãi suất kinh doanh trong toàn hệ thống. Đó chính là việc quản lý rủi ro lãi suất tập trung tại trụ sở chính, đồng thời TGĐ Ngân hàng có xem xét ủy quyền cho các giám đốc có đơn vị thành viên quyết định lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay tối thiểu trên địa bàn thành phố, thị xã và những nơi có cạnh tranh. Đặc biệt, Vietcombank còn chú trọng việc áp dụng chính sách lãi suất cho vay thỏa thuận thay đổi theo thời gian đối với các khoản cho vay trung dài hạn để hạn chế rủi ro lãi suất.
Với những kết quả đạt được trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất, VCB ngày càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng và bước đầu thực hiện một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro lãi suất. Ngân hàng luôn chủ động theo dõi và dự đoán tình hình biến động lãi suất, gắn liền với việc tuân thủ các quy định của Nhà nước và các quy trình nghiệp vụ quản lý rủi ro của ngành ngân hàng. Việc thành lập ủy ban quản lý TSC và TSN gần đây là bước đi rất quan trọng trong việc đổi mới nội dung và phương pháp quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng. Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách tổng thể công tác quản lý rủi ro lãi suất trong thời gian hiện tại có thể thấy rằng nội dung quản lý chưa toàn diện và các biện pháp phòng ngừa chỉ là các biện pháp tình thế. Do vậy, để nâng cao chất lượng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất, VCB cần phải xác định hạn chế của hoạt động này và nguyên nhân của những hạn chế đó để từ đó tìm ra giải pháp khắc phục.
2.3.3.2 Những khó khăn tồn tại Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Thứ nhất, Vietcombank chưa có mô hình tổ chức quản trị rủi ro phù hợp.
Theo phân tích ở trên, sau khi chuyển sang hoạt động theo mô hình NHTMCP, VCB tiếp tục định hướng phát triển thành một tập đoàn tài chính đa năng, thực hiện mục tiêu là một trong những NHTM tiên tiến trong khu vực. Ngân hàng cũng nhận tức được trong điều kiện môi truờng kinh doanh ngày càng trở nên rủi ro hơn, việc quản lý rủi ro và bảo toàn vốn là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, VCB đã và đang xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro theo các chuẩn mực quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp nhất, có thể chấp nhận được. HĐQT có quyền hạn cao nhất trong công tác quản lý rủi ro, đồng thời Tổng Giám đốc cũng chịu trách nhiệm trước HĐQT trong việc tổ chức triển khai kịp thời và có hiệu quả các chính sách, định hướng, quyết nghị liên quan đến QLRR do HĐQT ban hành; Ủy ban QLRR, Ủy ban Quản lý Tài sản nợ có (ALCO), Hội đồng xử lý rủi ro cũng có nhiệm vụ tham mưu cho HĐQT góp phần giúp cho ngân hàng tăng cường hiệu quả quản lý kinh doanh cũng như quản lý rủi ro, bao gồm cả quản lý rủi ro lãi suất. Tuy nhiên, hoạt động của bộ máy này mới chỉ tập trung vào quản lý rủi ro tín dụng và chủ yếu thiên về biện pháp xử lý rủi ro chứ chưa đưa ra những phương pháp đo lường, dự báo và phòng ngừa cụ thể cho từng loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mặt khác, trong xu thế tự do hóa tài chính tiền tệ ngày nay, ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro như: rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản… nên có thể thấy mô hình tổ chức quản lý rủi ro tại Vietcombank là chưa đáp ứng được nhu cầu quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Hơn nữa, trong cơ cấu tổ chức của ngân hàng chưa hình thành Khối chuyên trách quản trị rủi ro và có sự phân định rõ ràng về chức năng của từng cấp quản lý trong công tác quản trị rủi ro. Quyết định thành lập ALCO có quy định các chức năng nhiệm của ALCO nhưng hiện tại các nhiệm vụ này vẫn chưa được triển khai thực sự sâu rộng và vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn cung cho toàn Ngân hàng về công tác quản trị rủi ro lãi suất, vai trò của ALCO còn mờ nhạt.
Thứ hai, Vietcombank chưa thực hiện một cách toàn diện những biện pháp cần thiết để phòng ngừa rủi ro lãi suất.
Cụ thể, các biện pháp nội bảng, chủ yếu Ngân hàng mới chỉ dừng lại ở các biện pháp thả nổi lãi suất trong cho vay trung dài hạn mà chưa có biện pháp tích cực để duy trì sự cân xứng về kỳ hạn của TSC và TSN. Các khoản vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn chưa cân xứng với kỳ hạn của các khoản cho vay. Đối với các biện pháp ngoại bảng, cho đến nay, ngân hàng hoàn toàn chưa ứng dụng một cách đáng kể. Chẳng hạn, về việc phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các biện pháp ngoại bảng, sử dụng các công cụ tài chính phái sinh: Theo báo cáo tài chính năm 2008, tổng giá trị hợp đồng các công cụ phái sinh chỉ đạt 1 999 tỷ đồng, còn rất khiêm tốn so với các biện pháp phòng ngừa nội bảng. Theo báo cáo tài chính năm 2009, tổng giá trị hợp đồng của các công cụ phái sinh tăng lên đáng kể đạt 3 674 tỷ đồng nhưng vẫn ở mức thấp do với quy mô tổng tài sản hơn 225 nghìn tỷ đồng.
Thứ ba, Vietcombank chưa có mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất một cách phù hợp.
Như đã trình bày ở trên, hiện tại Vietcombank cũng như các NHTM khác tại Việt Nam đang sử dụng phổ biến phương pháp lập biểu đồ độ lệch để quản trị rủi ro lãi suất. Phương pháp này khá đơn giản, chủ yếu là phân loại tài sản nợ tài sản có theo từng kỳ hạn, dựa trên thời hạn còn lại của tài sản; sau đó, đành giá mức độ chênh lệch giá trị TSC – TSN để đưa ra giải pháp quản trị rủi ro cho phù hợp với mức độ chấp nhận rủi ro mà ngân hàng quy đinh. Những nhà quản lý rủi ro chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và số liệu quá khứ để dự đoán mức độ biến động của lãi suất cũng như tác động của sự thay đổi này lên thu nhập và giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Tuy nhiên, hiện nay, hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng trở nên đa dạng, thị trường trong nước cũng như quốc tế ngày càng phức tạp và khó dự đoán hơn. Nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm và số liệu quá khứ thì chưa đủ mà còn cần tính đến cả những giả định về lãi suất trong tương lai và ảnh hưởng sự biến động của lãi suất lên hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trên thế giời hiện nay, có nhiều mô hình giả định được sử dụng như: mô hình kỳ hạn đến hạn, mô hình thời lượng, mô hình định giá lại; trong đó, mô hình định giá lại được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt ở Mĩ.
Thứ tư, Vietcombank cũng còn tồn tại một số hạn chế khác: thiếu các cản bộ am hiểu về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất, công nghệ kĩ thuật ngân hàng còn lạc hậu chậm phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới, hệ thống thông tin lãi suất thị trường và thông tin kiểm soát rủi ro lãi suất đã được đưa vào vận hành nhưng hoạt động còn yếu kém,hệ thống kiểm soát nội bộ chưa hoạt động hiệu quả…
2.3.3.3. Nguyên nhân hạn chế hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Vietcombank Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Khách quan:
Nguyên nhân từ chính sách điều hành tiền tệ của NHNN
Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, từ năm 2003 đến 2007, cung tiền mỗi năm tăng 25% trong khi lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc giữ nguyên không đổi đã khiến lạm phát liên tục ở mức cao, tình trạng dư VNĐ kéo dài, lãi suất thị trường Liên ngân hàng (LNH) giảm, có thời điểm lãi suất huy động LNH kỳ hạn 1 tháng chỉ khoảng 4.2%/năm.
Bảng 2.10 Lãi suất thị trường liên ngân hàng từ tháng 7/2007 đến tháng 9/2009
Với lãi suất thực âm (giá vốn quá rẻ), các nhà đầu tư dễ dàng vay tiền để đầu tư vào bất động sản và chứng khoán bất chấp rủi ro. Ngay cả các ngân hàng hầu như cũng bỏ qua các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất (dùng nguồn vốn ngắn hạn, vốn vay trên thị trường LNH cho vay trung dài hạn) để đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn.
Từ cuối năm 2007, trước sức ép lạm phát NHNN buộc phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bằng một loạt biện pháp: phát hành tín phiếu bắt buộc để hút tiền trong lưu thông về, chuyển tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các Ngân hàng về NHNN, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, mở rộng biên độ tỷ giá hối đoái, tăng mạnh tỷ giá, khống chế dư nợ tín dụng,…. Đáng lẽ với những biện pháp này
NHNN có thể kiềm chế được lạm phát nhưng hành động này của NHNN đã đẩy các NH TMCP vào cuộc đua lãi suất để đảm bảo thanh khoản mặc dù biết trước rủi ro lãi suất sẽ xảy ra rất cao. Lý do là trên thực tế, tồn tại một nghịch lý: Lãi suất LNH thấp nhưng lãi suất huy động dân cư và các TCKT tại các ngân hàng vẫn tiếp tục tăng. Thực trạng này sẽ gây khó khăn cho việc thực thi chính sách tiền tệ: Một khi còn có các ngân hàng dư thừa vốn trong khi còn có những ngân hàng thiếu vốn thì việc NHNN thay đổi cung tiền, thay đổi lãi suất cơ bản để thực thi các chính sách tiền tệ là rất khó khăn.
Việc thay đổi liên tục các quyết định về lãi suất huy động áp dụng tại các ngân hàng TMCP của NHNN (ấn định lãi suất trần huy động 12%/năm; thay đổi lãi suất cơ bản từ 8.75%/năm lên đến 12%/năm, 13%/năm, 14%/ năm) đã tạo tâm lý không ổn định cho khách hàng gửi tiền, vì vậy khách hàng chỉ gửi tiền với kỳ hạn ngắn do kỳ vọng lãi suất sẽ tăng. Điều này làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của các Ngân hàng, gây khó khăn đến công tác Quản trị TSN – TSC của ngân hàng. Vì các ngân hàng chủ yếu huy động được các nguồn vốn ngắn hạn, và khách hàng sẵn sàng rút tiền từ chỗ có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao, làm các ngân hàng bị động trong hoạt động kinh doanh của mình.
Chưa có quy định trong các văn bản pháp lý về việc đo lường và quản lý rủi ro lãi suất tại NHTM
Cho đến nay các văn bản pháp luật về hoạt động ngân hàng chưa có văn bản nào quy định việc đo lường và quản lý rủi ro lãi suất tại các NHTM, cả kể Quy chế giám sát của Thanh tra NHNN cũng chưa có quy định về nội dung này. Một khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có quy định yêu cầu cụ thể thì các ngân hang chưa thể ý thức về sự cần thiết cũng như cách thức thực hiện quy trình quản trị rủi ro lãi suất và đây cũng là một hạn chế trong việc đo lường rủi ro lãi suất tại các NHTM. Mặt khác, các văn bản pháp lý về nghiệp vụ phái sinh cũng chưa được hoàn thiện. Hiện tại, NHNN cũng chỉ mới ban hành văn bản quy định về nghiệp vụ phái sinh ngoại tệ: giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi. Đối với nghiệp vụ phái sinh lãi suất mới chỉ có Quyết định của Thống đốc NHNN VN số 1133/2003/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 9 năm 2003 về việc ban hành quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất. Cho đến nay, chưa có văn bản nào quy định về các nghiệp vụ phái sinh lãi suất khác như quyền chọn lãi suất, kỳ hạn lãi suât (FRA)… Đối với các giao dịch phái sinh về chứng khoán, mới chỉ có giao dịch kỳ hạn, quyền chọn trái phiếu, giao dịch về cổ phiếu vẫn chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện ở Việt Nam.
Thị trường tài chính – tiền tệ chưa phát triển.
Sự lạc hậu, sơ khai của thị trường tài chính Việt Nam biếu hiện ở chỗ các công cụ tài chính còn nghèo nàn về chủng loại, khiêm tốn về khối lượng giao dịch tại các sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và trên thị trường tiền tệ trong những năm qua. Thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động được 10 năm và có những khoảng thời gian diễn ra rất sôi động; tuy nhiên, hàng hóa giao dịch trên thị trường cón chưa phong phú. Thực chất thì hiện nay Việt Nam chưa có một thị trường chứng khoán theo đúng nghĩa của nó. Hầu hết các nhà đầu tư ở thị trường chứng khoán hiện nay chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, họ có xu hướng đầu tư mang tính đầu cơ ngắn hạn và ít quan tâm đến các chiến lược đầu tư dài hạn hơn trên cơ sở những hiểu biết căn bản về hoạt động kinh doanh của công ty. Điều này giải thích một phần cho sự biến động thường xuyên của chỉ số VN-Index trong hai năm đầu hoạt động cũng như tình trạng sụt giảm tiếp theo. Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Cộng đồng các nhà đầu tư hiện nay ở Việt Nam thiếu các nhà đầu tư có tư cách pháp nhân, và do đó không tạo ra một nền tảng đủ mạnh để làm tăng đáng kể số lượng các công ty được niêm yết và giá trị lũy kế của các cổ phiếu lưu hành trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, sự hoạt động của thị trường mở, thị trường tiền tệ cùng với thị trường liên ngân hàng cón ít sôi động. Các giao dịch trên thị trường này cón mang tính một chiều, một số ngân hàng chuyên cho vay vốn, một số luôn có nhu cầu vay vốn. Thị trường tiền tệ cung cấp những thông tin quan trọng trong việc xác định lãi suất ngắn hạn để có thể hình thành đường cong lãi suất, làm cơ sở cho việc dự báo lãi suất thị trường cũng như việc định giá các trái phiếu có lãi suất cố định và các hợp đồng phái sinh. Như vậy, chính sự kém phát triển của thị trường tài chính tiền đã đã gây khó khăn cho Vietcombank cũng như các NHTM khác trong việc định lượng và sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất.
Kiến thức hiểu biết của nhiều doanh nghiệp về các nghiệp vụ phái sinh và vấn đề phòng chống rủi ro còn thấp
Phần lớn nguồn vốn tài trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là nguồn vay nợ từ bên ngoài, đặc biệt là từ các ngân hàng. Đối với các doanh nghiệp có hợp đồng tín dụng trung dài hạn với giá trị vay nợ lớn, lãi suất cố định cũng như các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường xuyên ở trạng thái mở về ngoại tệ (trường hoặc đoản) luôn phải đối mặt với nguy cơ rủi thị trường rất lớn như rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối. Đối với các doanh nghiệp huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu trung dài hạn (5 đến 10 năm) muốn chuyển đổi lãi suất cố định thành lãi suất thả nổi để giảm chi phí huy động và cân đối bảng tổng kết tài sản, hoặc dự đoán lãi suất thị trường giảm thì việc bán một hợp đồng hoán đổi lãi suất có thể đáp ứng được yêu cầu này. Đối với doanh nghiệp có nhu cầu đảm bảo có nguồn vốn dài hạn ổn định cho hoạt động kinh doanh của mình, có thể giao dịch nguồn vốn ngắn hạn của mình với ngân hàng thành nguồn vốn dài hạn và ổn định. Tuy nhiên, hiện nay nhận thức của các doanh nghiệp về nghiệp vụ phái sinh nói chung còn rất hạn chế; đặc biệt, hiểu biết về cách thức phòng chống rủi ro lãi suất bằng các công cụ phái sinh lại càng xa lại hơn. Chính vì vậy, các doanh nghiệp không sẵn sàng tham gia phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi dẫn đến khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong việc phát triển các công cụ phái sinh. Một hợp đồng phái sinh phải mất vài tháng để ký kết; chủ yếu do doanh nghiệp chần chừ, không hiểu và không biết, còn ngân hàng thì phải ra sức thuyết phục.
Thực tế, chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam trong những năm gần đây đã thay đổi rất nhiều và thông thoáng trong cách ứng dụng các nghiệp vụ mới. Các nghiệp vụ phái sinh đã được phép áp dụng từ lâu nhưng thực tế, số hợp đồng phái sinh mà các ngân hàng thực hiện là rất ít do việc sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và vướng phải sự e ngại của các doanh nghiệp. Kể từ khi những hợp đồng phái sinh đầu tiên được ký vào năm 1997-1998, đến nay thị trường phái sinh tại Việt Nam chưa phát triển được bao nhiêu. Chẳng hạn, công cụ phái sinh hiện phát triển khá khiêm tốn ở chi nhánh ngân hàng Citibank, Standard Chartered, BIDV, Vietcombank, HSBC với doanh số chưa đáng kể so với doanh số nghiệp vụ truyền thống. Ngay cả với HSBC sau 4 năm triển khai dịch vụ, mới chỉ có vài doanh nghiệp sử dụng dịch vụ này.
Hạn chế trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN
Mục tiêu chính của hoạt động thanh tra giám sát của NHNN với NHTM là nhằm ngăn ngừa và phát hiện kịp thời các sai phạm trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, trên cơ sở đó đảm bảo sự ổn định và an toàn của toàn hệ thống, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Cùng với công tác thanh tra tại chỗ, công tác giám sát từ xa của Thanh tra NHNN được hình thành từ đầu năm 1992 và cho đến nay đã đạt được những kết quả nhất định, về cơ bản đã kiểm soát được hoạt động của các tổ chức tín dụng, không để xảy ra tình trạng đổ vỡ tín dụng như thời gian trước, xử lý khắc phục được các sai phạm và nguy cơ có thể xảy ra. Tuy nhiên, hoạt động giám sát ngân hàng còn một số hạn chế, được bộc lộ qua các mặt sau:
- Nội dung giám sát còn nặng về số liệu thống kê, chưa xây dựng được các chỉ tiêu đánh giá, xếp loại ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt chưa xâu dựng được các chỉ tiêu đánh giá sự nhạy cảm các NHTM trước các rủi ro thị trường: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối…
- Hoạt động thanh tra chủ yếu mang tính kiểm tra, xử lý những sai phạm quy chế, mang tính chất vụ việc, nội dung chưa đạt được mức độ thanh tra giám sát các nghiệp vụ kinh tế của các NHTM, đặc biệt chưa quy định nội dung cụ thể giám sát các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu là do những hiểu biết hạn chế về trình độ nghiệp vụ ngân hàng của các cán bộ thanh tra.
- Chưa có sự gắn kết giữa giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ
- Hạn chế trong ứng dụng công nghệ thông tin
Chủ quan:
Tại Vietcombank, thiếu những cán bộ ngân hàng am hiểu một cách toàn diện về quản trị rủi ro lãi suất.
Hiện nay, vấn đề quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng cón khá mới mẻ đối với nhiều cán bộ từ chuyên môn cho đến quản lý. Trên thực tế, muốn biết mức độ tổn thất của rủi ro lãi suất để có biện pháp phòng chống, ngân hàng cần phải tính toán được mức độ ảnh hưởng của rủi ro lãi suất lên thu nhập, giá trị tài sản và nguồn vốn của ngân hàng như thế nào. Để làm được điều đó, các cán bộ ngân hàng cần phải thực sự am hiểu về quản trị TSN-TSC của ngân hàng; đồng thời, phải có kiến thức toàn diện về tài chính để có thể nắm vững những kỹ thuật trong việc sử dụng các mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất. Cho đến nay, các cán bộ tại Vietcombank vẫn chưa thực sự được trang bị tốt về những kiến thức này. Bên cạnh đó, trình độ hiểu biết của các cán bộ ngân hàng về nghiệp vụ phái sinh vẫn còn hạn chế. Mặc dù các công cụ phái sinh rất hữu ích trong phòng ngừa rủi ro lãi suất nhưng lại đang phát triển khá khiêm tốn tại Vietcombank với doanh số không đáng kể so với các nghiệp vụ truyền thống. Ngân hàng chưa có một đội ngũ thực sự am hiểu về tài chính, pháp lý, thị trường giao dịch và đặc biệt là việc định giá và giao dịch các công cụ phái sinh. Điều đó kết hợp với nguyên nhân khách quan là rất ít doanh nghiệp sử dụng nghiệp vụ này chính là một trong những nguyên nhân cản trở sự pháp triển của thị trường công cụ phái sinh tại Việt Nam.
Hệ thống kế toán thống kê chưa cung cấp đầy đủ số liệu cần thiết cho hoạt động tính toán, lượng hóa rủi ro lãi suất
Để tính toán đo lường rủi ro lãi suất, cần phải có một hệ thống kế toán cập nhật chính xác tình hình tài sản của ngân hàng nhưng hiện nay, Vietcombank cũng như các NHTM khác nói chung vẫn chưa thực hiện tốt việc này. Chẳng hạn, hiện nay, Vietcombank vẫn chưa có số liệu thống kê về thời gian còn lại của các khoản cho vay, các khoản đầu tư cũng như thời hạn còn lại của nguồn vốn huy động và vốn vay. Đối với các khoản mục được thanh toán theo nhiều kỳ hạn như cho vay tiêu dùng cá nhân (cho vay trả góp), cho vay trung dài hạn, các ngân hàng chưa có số liệu thống kê về giá trị các dòng tiền thanh toán ứng với từng kỳ hạn. Chính những điều này đã gây khó khăn cho ngân hàng trong việc lượng hóa và quản trị rủi ro lãi suất một cách hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Chưa có bộ phận chuyên trách thực hiện việc đo lường rủi ro lãi suất
Đo lường, đánh giá rủi ro lãi suất là công việc tương đối khó và đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp. Công việc này có một vị trí quan trọng trong quá trình quản trị rủi ro lãi suất tại một ngân hàng nên cần phải được phân công cho một bộ phận chuyên trách đặc biệt.
Hệ thống thông tin, trình độ công nghệ của Ngân hàng còn yếu chưa đáp ứng yêu cầu quản trị rủi ro trong xu thế hội nhập quốc tế
Hoạt động ngân hàng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc té đòi hỏi các ngân hàng phải có một hệ thống thông tin thông suốt và cập nhật từng phút những biến động của thị trường tiền tệ thế giới cũng như của hệ thống ngân hàng mình. Hiện tại, các mạng thông tin quốc tế như Reuters, Dowjones đã giúp các ngân hàng rất nhiều trong việc cập nhật tình hình thị trường tiền tệ thế giới. Tuy nhiên, các vấn đề bật cập về quản trị rủi ro lãi suất lại nằm trong chính các ngân hàng. Một số ngân hàng và các chi nhánh vẫn chưa có đủ khả năng kiểm soát trạng thái kỳ hạn còn lại của các TSN và TSC hàng ngày của toàn hệ thống theo phương pháp chuẩn quốc tế.
Bên cạnh đó, việc xác định chính xác mức lãi suất trong tương lai là rất khó khăn đối với một ngân hàng. Thay vào đó, ngân hàng chỉ có thể chấp nhận và điều chỉnh hoạt động của mình theo xu hướng biến động của lãi suất. Chính vì vậy, những thông tin về thị trường là rất quan trọng đối với các ngân hàng trong việc dự đoán xu hướng biến động của lãi suất, Có thể thấy rằng, từ khi NHNN bắt đầu quá trình tự do hóa lãi suất, lãi suất thị trường trong nước cả nội tệ lẫn ngoại tệ đều chịu sự tác động của các nhân tố bên ngoài và bên trong. Chẳng hạn, lãi suất ngoại tệ thị trường trong nước trong thời gian gần đây hầu như hoàn toàn chịu sự chiu phối của lãi suất thị trường quốc tế. Trong những năm gần đây, đồng USD liên tục biến động với mức dao động lớn
Hoạt động kiểm toán nội bộ của ngân hàng còn hạn chế
Kiểm toán được coi là phương tiện thông tin quan trọng cho chủ ngân hàng. Bởi mục tiêu chủ yếu của nhiệm vụ kiểm toán là chứng nhận rằng: các tài khoản hàng năm là đều đặn và chân thực cho một hình ảnh trung thực về kết quả của những hoạt động trong năm tài khóa đã qua, cũng như tình hình tài chính và tổng thể tài sản ở khóa đó. Nhiệm vụ thường xuyên của kiểm toán là kiểm tra các giá trị và các tài liệu kế toán và kiểm tra sự phù hợp của kế toán với các quy tắc hiện hành; kiểm tra sự chân thực và khớp nhau giữa các thông tin được đưa ra trong báo cáo.
Đối với Vietcombank, việc thực hiện kiểm toán hiện nay mới chỉ thực hiện được một phần của việc kiểm toán tính tuân thủ, còn việc kiểm tra, xác định tính chính xác của những con số về TSC, TSN cũng như lợi tức và chỉ tiêu NH, việc kiểm toán mức độ tin cậy của hệ thống thông tin chưa được phản ánh rõ ràng hay việc tư vấn nâng cao hiệu quả hoạt động cũng chưa được phát huy trong quá trình hoạt động.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Sau khi đưa ra thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại THương Việt Nam và phân tích nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan của nó, chúng ta đã có cái nhìn khá toàn diện về tình hình kiểm soát rủi ro lãi suất tại Vietcombank. Bên cạnh những giải pháp đã được thực hiện tại ngân hàng để hạn chế rủi ro lãi suất vẫn còn một số khó khăn hạn chế xuất phát từ tình hình kinh tế thế giới và trong nước; năng lực tài chính, trình độ công nghệ, trình độ quản lý… của ngân hàng. Vì vậy, một số giải pháp và kiến nghị trong chương 3 sẽ góp phần giải quyết những khó khăn này để việc kiểm soát rủi ro lãi suất tại Vietcombank được hoàn thiện hơn nhằm bảo vệ lợi nhuận của ngân hàng khỏi rủi ro lãi suất. Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng về Vietcombank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
