Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm của người Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Thực trạng hành vi lựa chọn các mặt hàng thực phẩm của người VN

Khi nói đến thực trạng hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm của người Việt Nam thì vấn đề đầu tiên cần đề cập đến là hành vi lựa chọn các mặt hàng thực phẩm của người Việt.

1.1. Thực trạng hành vi lựa chọn nhóm mặt hàng lương thực

Nhóm lương thực bao gồm rất nhiều loại khác nhau, song lựa chọn hàng đầu trong nhóm các loại lương thực của người Việt Nam là gạo. Người Việt nam sử dụng gạo hầu hết mỗi ngày. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trung bình hộ gia đình người Việt Nam sử dụng khoảng 28kg gạo mỗi tháng, chiếm 87,5% tổng lượng lương thực họ sử dụng hàng tháng34. Gạo được chia thành hai loại là gạo nếp và gạo tẻ. Người Việt chủ yếu sử dụng gạo tẻ như một loại lương thực hàng ngày. Nhóm gạo tẻ cũng chia thành rất nhiều loại. Loại được người Việt ưa chuộng nhất là gạo Tám. Tuy nhiên giá thành của loại này khá cao, vì vậy chỉ có những hộ gia đình có thu nhập khá trở lên mới lựa chọn loại này. Bên cạnh gạo Tám thì còn rất nhiều loại gạo khác, được những hộ gia đình có mức thu nhập phù hợp lựa chọn.

1.2. Thực trạng hành vi lựa chọn nhóm mặt hàng rau, củ, quả 

Rau, củ, quả là những loại thức ăn thiết yếu của người Việt Nam. Nó được sử dụng hàng ngày. Đồng thời Việt Nam là một nước nhiệt đới, hết sức đa dạng về các loại rau, củ, quả vì thế trong xu hướng tiêu dùng của người Việt không có sự khác biệt nhiều trong việc lựa chọn các loại rau quả. Trung bình mỗi hộ gia đình Việt Nam sử dụng 49,7 kg rau quả mỗi tháng, trong đó có 28.2 kg rau và 21.5 kg hoa quả35. Rau quả của Việt Nam được chia theo mùa, mùa nào thức nấy. Tuy nhiên nhìn chung lại, một số loại rau chính được bán tại thị trường Việt Nam là rau Muống, các loại rau họ Cải, Su Hào, và các loại rau gia vị. Còn đối với hoa quả, các loại như Táo, Lê, Dưa Hấu là những loại được bán nhiều nhất do chúng có thể trồng tất cả các mùa trong năm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.3. Thực trạng hành vi lựa chọn nhóm mặt hàng thịt gia súc gia cầm Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Biểu đồ 2: Thực trạng lựa chọn thịt gia súc, gia cầm

Trong nhóm thịt gia súc, gia cầm, người Việt chủ yếu sử dụng ba loại thịt chính là thịt lợn, thịt bò, và thịt gà. Trong ba loại này, thịt lợn là loại dễ chế biến nhất, giá thành rẻ nhất nên nó được sử dụng nhiều nhất. Theo thống kê của Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, mỗi hộ gia đình sử dụng khoảng 7.36kg thịt lợn mỗi tháng, chiếm tỷ lệ 58.6% lượng thịt các hộ gia đình sử dụng. Tuy nhiên, thịt lợn được chia thành rất nhiều phần khác nhau, phụ thuộc vào món ăn người tiêu dùng chế biến và mức giá người ta có thể trả cho nó để lựa chọn. Đứng thứ hai và thứ ba trong lượng sử dụng thịt là thịt bò và thịt gà. Trung bình mỗi gia đình sử dụng khoảng 2.8kg thịt bò và 2.4 kg thịt gà, chiếm tỷ lệ lần lượt là 22.3% và 19.1% trong tổng mức tiêu thụ thịt hàng tháng của các gia đình36. Hiện nay, thịt bò ở Việt Nam có hai loại là thịt bò nuôi trong nước và thịt bò nhập khẩu. Nhìn chung, thịt bò nuôi trong nước vẫn được người dân lựa chọn nhiều hơn. Một phần do giá cả thịt bò trong nước thấp hơn thịt nhập khẩu, phần khác, đa số người dân nhận xét hương vị thịt bò trong nước ngon và tươi hơn so với thịt nhập khẩu. Còn đối với thịt gà, đa phần người dân mua nguyên con. Tuy vậy, cũng có hai loại gà chính là gà nuôi theo phương pháp tự nhiên (còn gọi là gà ta) và gà nuôi theo phương pháp công nghiệp (gọi là gà công nghiệp). Trong hai loại này, người Việt vẫn ưa thích lựa chọn loại gà nuôi theo phương pháp tự nhiên hơn do chất lượng thịt và hương vị của loại gà này ngon hơn so với gà nuôi theo phương pháp công nghiệp.

1.4. Thực trạng hành vi lựa chọn nhóm mặt hàng thủy, hải sản Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Nhóm các sản phẩm thủy hải sản được chia thành hai loại chính là thủy sản và hải sản. Thủy sản là những loại động vật sống ở sông ngòi, ao, hồ còn hải sản là những loại động vật sống ở biển. Trung bình mỗi hộ gia đình Việt Nam sử dụng khoảng 7.85kg thủy hải sản mỗi tháng. Trong đó có khoảng 6.15kg các loại thủy sản, chiếm tỷ lệ 78.4% và 1.7kg hải sản chiếm tỷ lệ 21.6%37. Sở dĩ có sự chênh lệch như vậy là do các loại thủy sản dễ chế biến, giá thành phù hợp với thu nhập của người tiêu dùng hơn các loại hải sản. Trong các loại thủy hải sản, cá là loại được người Việt tiêu dùng nhiều nhất. Người ta sử dụng cá để chế biến rất nhiều các món ăn. Tuy nhiên, mỗi vùng lại có mức độ sử dụng khác nhau. Miền Bắc sử dụng các loại thủy hải sản nói chung và cá nói riêng ít hơn khu vực miền Trung và miền Nam. Đứng sau cá trong mức độ ưu tiên của người dân Việt là các loại tôm. Ngoài ra những loại thủy hải sản còn lại thường ít được sử dụng.

1.5. Thực trạng hành vi lựa chọn nhóm mặt hàng đồ uống

Như trên đã phân tích, bên cạnh loại nước uống phổ biến, sử dụng trong mỗi gia đình Việt Nam là nước tinh khiết thì có bốn loại đồ uống được người tiêu dùng Việt Nam chọn lựa nhiều nhất là chè, cà phê, bia và rượu. Trong hai loại thức uống chè và cà phê thì người Việt Nam sử dụng chè nhiều hơn (0.4kg so với 0.14kg mỗi tháng vào năm 2008)38. Chè có rất nhiều loại, mỗi loại có cách chế biến khác nhau và làm từ các bộ phận khác nhau của cây chè như chè Nụ, chè Bạng, chè Mạn, chè Ô – Long39. Trong đó, người Việt Nam sử dụng chè Mạn là chủ yếu. Còn đối với cà phê, mức độ phân biệt giữa các loại không rõ ràng vì người Việt thường chỉ sử dụng cà phê tan hoặc cà phê pha sẵn ở các cửa hàng. Một đặc điểm chung trong việc lựa chọn hai loại thức uống này là người Việt thích lựa chọn những sản phẩm do các hãng sản xuất trong nước sản xuất ra. Bên cạnh đó với hai loại thức uống còn lại là rượu và bia thì lượng sử dụng bia hàng tháng của mỗi người Việt chiếm ưu thế hơn lượng sử dụng rượu. Trung bình mỗi người Việt Nam sử dụng 1.83 lít bia và 0.3 lít rượu mỗi tháng40. Tuy nhiên, đối với cả hai loại sản phẩm này thì người tiêu dùng Việt Nam lại thích sử dụng những sản phẩm nhập khẩu hơn những sản phẩm sản xuất trong nước.

2. Thực trạng hành vi mua các mặt hàng thực phẩm của người Việt Nam

Hành vi mua hàng là một trong những khâu quan trọng của hành vi tiêu dùng nói chung và hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm nói riêng. Trước hết khi nói đến hành vi mua hàng, cần đề cập đến nơi người mua lựa chọn để mua hàng hóa. Người Việt có thói quen đi chợ hàng ngày. Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ở hai khu vực trung tâm của cả nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, có đến 80% người nội trợ ở Việt Nam sử dụng kênh phân phối truyền thống, đặc biệt là chợ. Con số này còn lớn hơn ở các tỉnh thành khác trên cả nước. Ở các khu chợ, giá cả và chất lượng sản phẩm là hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hành vi mua của người tiêu dùng. Bên cạnh kênh phân phối truyền thống, kênh phân phối hiện đại ít được người tiêu dùng sử dụng hơn. . Chỉ có khoảng 10% người tiêu dùng chọn kênh phân phối này làm kênh phân phối chủ yếu cho mình41. Những người chọn mua hàng tại các siêu thị chủ yếu là người có thu nhập cao. Ngoài ra, khi chọn mua hàng tại các siêu thị thì vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm được người tiêu dùng đặt lên hàng đầu.

Tuy nhiên, việc lựa chọn kênh phân phối cũng còn phụ thuộc vào loại và tính chất sản phẩm mà họ định mua. Đối với những sản phẩm tươi sống thì chợ vẫn là ưu tiên số một của người Việt. Trong quan niệm của người Việt, những sản phẩm tươi sống tại các siêu thị thường không được tươi như ở các khu chợ. Nhưng ngược lại, đối với những loại thức ăn chế biến sẵn thì có đến 40% người tiêu dùng chọn mua tại các siêu thị42. Giải thích cho vấn đề này, chủ yếu là vì các siêu thị có hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, sạch sẽ hơn chợ, do đó họ bảo quản những loại thực phẩm đã qua chế biến tốt hơn.

Ngoài ra, khi nói đến hành vi mua hàng thực phẩm của người Việt hiện nay, cũng cần phải nói đến những yếu tố tác động đến nó. Ở Việt Nam, hành vi mua hàng chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau. Cụ thể, nó chịu tác động bởi vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, nguồn gốc thực phẩm, giá cả, giá trị dinh dưỡng, hạn sử dụng, hương vị và cách đóng gói. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề tác động lớn nhất đến hành vi mua hàng của người Việt. Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu người tiêu dùng và doanh nghiệp – báo Sài Gòn Tiếp Thị, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đóng góp đến 40% quyết định của họ. Đứng thứ hai trong ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người Việt là vấn đề nguồn gốc thực phẩm. Nó chiếm đến 31% quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Sở dĩ như vậy là do trong những năm gần đây vấn đề bệnh dịch và vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam có những diễn biến khá phức tạp theo chiều hướng tiêu cực. Bệnh dịch động vật bùng phát ( như dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, dịch lợn tai xanh …), ngộ độc thực phẩm xảy ra thường xuyên (Năm 2007, những vụ ngộ độc thực phẩm đã khiến hơn 7300 người mắc bệnh, trong đó có 55 người tử vong. Năm 2008, số người bị ngộ độc tăng lên trên 7800, và khiến 61 người thiệt mạng43 ).Vì vậy khi quyết định mua hàng, người tiêu dùng đặc biệt quan tâm đến cả hai vấn đề này. Đứng thứ ba trong ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người Việt là vấn đề giá cả. Vấn đề giá cả chiếm 30.5% ảnh hưởng trong hành vi mua hàng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, nó cũng còn phụ thuộc vào mức thu nhập của từng người tiêu dùng. Đứng thứ năm và sáu trong mức ảnh hưởng đến hành vi mua của người tiêu dùng Việt Nam lần lượt là hạn sử dụng của thực phẩm và giá trị dinh dưỡng của thực phẩm (26.5% và 21.6% mức ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng). Đứng cuối cùng trong mức ảnh hưởng đến hành vi mua thực phẩm của người tiêu dùng Việt Nam là hương vị (chiếm 19.7%) và cách thức đóng gói (chiếm 16.2% ).

3. Thực trạng sử dụng các mặt hàng thực phẩm của người VN Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

3.1. Thời gian sử dụng thực phẩm

Trước hết, khi nói đến việc sử dụng các mặt hàng thực phẩm của người Việt Nam thì cần phải đề cập đến thời gian sử dụng thực phẩm của họ. Thông thường, người Việt ăn ba bữa mỗi ngày, trong đó có một bữa ăn nhẹ là bữa sáng và hai bữa ăn chính là bữa trưa và bữa tối. Bữa ăn nhẹ buổi sáng, họ thường ăn khá sớm và ăn tại các quán ăn, bên ngoài gia đình. Bữa trưa và bữa tối là hai bữa sử dụng khá nhiều thức ăn và người Việt thường ăn tại gia đình. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bữa ăn trưa cũng thường được người Việt ăn tại các quán ăn nơi họ làm việc và học tập, do đó chỉ còn bữa tối là bữa ăn chính tại gia đình.

Biểu đồ 4: Tỷ lệ sử dụng thực phẩm bên ngoài qua các năm

Theo số liệu của Trung tâm nghiên cứu người tiêu dùng & doanh nghiệp – báo Sài Gòn Tiếp Thị, tỷ lệ sử dụng thực phẩm bên ngoài gia đình đang có xu hướng tăng lên trong những năm trở lại đây. Năm 2006, tỷ lệ sử dụng thực phẩm bên ngoài gia đình chỉ mới đạt ở mức 18.7% trong tổng lượng thực phẩm sử dụng của mỗi người dân thì sang đến năm 2007 con số này đã lên đến 22.6% và đến năm 2008 thì nó tăng lên mức 31.2%. Song, xu hướng này chủ yếu phổ biến các thành thị, còn các khu vực nông thôn thì chưa thực sự rõ rệt. Sở dĩ như vậy vì các thành phố là nơi tập trung các khu vực hành chính, doanh nghiệp trong và ngoài nước, làm việc theo giờ giấc hiện đại nên những người làm việc trong những khu vực này bắt buộc phải tuân thủ quy định về giờ giấc làm việc, dẫn đến sự biến đổi trong cách sinh hoạt. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho trong những năm gần đây xu hướng ăn bên ngoài gia đình tăng lên. Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác là do thu nhập tăng lên, chất lượng cuộc sống tốt hơn nên họ tổ chức những bữa ăn bên ngoài gia đình như một hình thức giải trí, hưởng thụ cuộc sống. Tuy vậy, nguyên nhân này chỉ chiếm một phần nhỏ trong sự gia tăng tỷ lệ tiêu dùng thức ăn bên ngoài gia đình của người Việt.

3.2. Thời điểm và loại thực phẩm được sử dụng Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Bên cạnh thời gian sử dụng thực phẩm, thì những dịp sử dụng thực phẩm và loại thực phẩm được sử dụng cũng là những vấn đề cần đề cập đến. Danh mục hàng thực phẩm của người Việt Nam rất phong phú. Như đã đề cập ở những phần trước, nó bao gồm các sản phẩm từ cây lương thực, các loại rau củ quả, thịt gia súc, gia cầm, hải sản và các loại gia vị. Các sản phẩm từ cây lương thực là không thể thiếu trong mọi bữa ăn của người Việt bất kể dịp nào, đặc biệt trong hai bữa chính của ngày. Loại sản phẩm lương thực được sử dụng phổ biến nhất là gạo, chiếm khoảng 87.5% các bữa ăn. Bên cạnh đó, các sản phẩm từ lúa mạch cũng được sử dụng, nhưng với tỷ lệ khá nhỏ, khoảng 10% các bữa ăn. Ngoài ra, người Việt cũng có thói quen sử dụng các loại rau, củ, quả và gia vị hàng ngày. Chính vì thế những sản phẩm này xuất hiện rất thường xuyên và có mức sử dụng hết sức ổn định trong mọi thời điểm của năm. Tuy nhiên, những sản phẩm từ động vật hoặc tươi sống hoặc đã chế biến sẵn lại được sử dụng nhiều hay ít tùy thuộc vào từng dịp. Cụ thể:

3.2.1. Bữa ăn hàng ngày

Trong bữa ăn hàng ngày, các sản phẩm từ thịt lợn được sử dụng nhiều nhất. Theo thống kê điều tra năm 2008 của Trung tâm thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, 42.7% hộ gia đình trên cả nước sử dụng thịt lợn trong bữa ăn hàng ngày, 52.4% sử dụng 1 vài lần 1 tuần, chỉ 4.7% sử dụng 1 vài lần 1 tháng và 0.2% sử dụng rất ít. Sở dĩ thịt lợn được sử dụng nhiều như vậy bởi lẽ giá cả của sản phẩm này tương đối rẻ hơn so với các loại sản phẩm từ động vật khác. Đồng thời đây cũng là loại sản phẩm dễ chế biến, dễ sử dụng, phù hợp với khẩu vị của người Việt. Xếp thứ hai là các sản phẩm từ thịt bò. Các sản phẩm từ thịt bò được sử dụng ít thường xuyên hơn các sản phẩm từ thịt lợn. 31.4% các hộ gia đình trên cả nước sử dụng nó hàng ngày, 45.7% sử dụng một vài lần một tuần, 21,3% sử dụng một vài lần một tháng và 1.6% rất ít khi sử. So với thịt bò và thịt lợn, thịt gia cầm được sử dụng ít hơn. Chỉ 6.5% hộ gia đình sử dụng nó trong bữa ăn hàng ngày, 53.0% sử dụng 1 vài lần 1 tuần và 24.3% sử dụng 1 vài lần 1 tháng vì gia cầm có giá đắt và khó mua, khó chế biến. Cuối cùng là các sản phẩm từ hải sản. 16.6% các hộ gia đình sử dụng hải sản hàng ngày, 48.4% sử dụng vài lần mỗi tuần và 35% sử dụng vài lần mỗi tháng.

Biểu đồ 5: Tần suất sử dụng một số loại thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày

Bên cạnh đó, thức ăn chế biến sẵn cũng chiếm một tỷ lệ nhất định trong bữa ăn hàng ngày, do chúng rất tiện lợi, tiết kiệm thời gian và thực sự đáng tin cậy về vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, do sở thích và thói quen tiêu dùng, lượng sử dụng thường xuyên những thực phẩm chế biến sẵn vẫn thấp hơn nhiều so với thực phẩm tươi. Tỷ lệ sử dụng một số loại thực phẩm chế biến sẵn tiêu biểu như giò, xúc xích, thịt, cá hộp cũng rất nhỏ. Theo số liệu điều tra của Trung Tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn , các loại giò – thứ được coi là một món ăn dân tộc cũng chỉ được sử dụng từ 3-4 lần 1 tháng, chiếm 33.6% các hộ gia đình. 38.4% hộ gia đình sử dụng giò ở mức độ ít hơn và 13.0% không sử dụng chúng. Đối với sản phẩm xúc xích, chỉ có 6.9% hộ gia đình sử dụng sản phẩm này thường xuyên. Nó thường được sử dụng vào bữa sáng, đặc biệt đối với trẻ em.14.6% hộ gia đình sử dụng chúng 1 vài lần 1 tuần và 20.8% sử dụng chúng 1 vài lần 1 tháng. Thịt và cá đóng hộp được sử dụng ít hơn. Số hộ gia đình sử dụng thịt, cá đóng hộp ba đến bốn lần mỗi tháng chỉ chiếm lần lượt là 10.5% và 16.2%. Còn lại 44.2% các hộ gia đình không sử dụng thịt đóng hộp và 36.4% các hộ gia đình không sử dụng cá đóng hộp. Thịt hun khói được sử dụng ở mức độ thấp nhất trong bữa ăn hàng ngày (0.5%), 64.2% hộ gia đình không sử dụng chúng.

Đối với các loại đồ uống, trong bữa ăn hàng ngày, bên cạnh nước tinh khiết, người Việt Nam chủ yếu sử dụng chè và cà phê. Bia, rượu không được sử dụng nhiều hàng ngày.

3.2.2. Bữa ăn sum họp gia đình, chiêu đãi, du lịch Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Tại Việt Nam, trong các bữa ăn sum họp gia đình, hoặc buổi chiêu đãi, thịt bò và thịt gia cầm chiếm ưu thế hơn thịt lợn với tỉ lệ 64.0%và 59.5%. Thịt lợn và sản phẩm ngư nghiệp được sử dụng trong các dịp này chỉ khoảng 55.4%.Đối với các dịp du lịch, ngày nghỉ thì người tiêu dùng thường sử dụng các sản phẩm thủy hải sản (chiếm 64.8%). Chỉ có 27.3% họ sử dụng thịt bò, và khoảng gần 10% họ sử dụng thịt lợn và gia cầm trong những dịp này. Ngoài ra, đối với các loại thức ăn chế biến sẵn thì thịt hộp, cá hộp, thịt xông khói, xúc xích cũng thường được sử dụng nhiều trong những dịp này, chiếm tỷ lệ 62% …44. Đối với những dịp như thế này, người Việt Nam chủ yếu sử dụng các loại bia, rượu, còn chè và cà phê thì ít được sử dụng.

Biểu đồ 6: Tỷ lệ sử dụng một số mặt hàng thực phẩm trong các dịp đặc biệt

3.2.3. Các dịp lễ hội, Tết cổ truyền

Cuối cùng trong các dịp lễ, Tết, việc sử dụng thức ăn tươi cũng giữ 1 tỷ lệ lớn. Do nghi thức cúng lễ của người Việt không thể thiếu gà do đó trong những dịp này, tỉ lệ sử dụng gia cầm tăng mạnh. 85% các hộ gia đình sử dụng gia cầm trong các dịp lễ, Tết. Hộ gia đình sử dụng thịt bò trong các dịp này chiếm 69.1% và thịt lợn là 70.9%. Số lượng gia đình sử dụng sản phẩm thủy hải sản trong Tết chỉ chiếm 49.5%. Thực phẩm chế biến sẵn chiếm một tỷ lệ tương đối trong dịp lễ, Tết do một số loại thực phẩm truyền thống đòi hỏi chế biến phức tạp, mất nhiều thời gian như bánh Trưng (82% các gia đình dùng bánh Trưng chế biến sẵn), xôi (41.4%), giò, chả (85.6%), nem cuốn (38.7%)… Tuy nhiên với những loại còn lại như thịt hộp, cá hộp, xúc xích, thịt xông khói thì người tiêu dùng ít hoặc không được sử dụng trong những dịp này. Đối với các loại đồ uống, cũng như những dịp sum họp gia đình và đi dã ngoại, người Việt thường sử dụng bia, rượu trong những dịp này. Chè và cà phê được sử dụng rất ít.

4. Thực trạng đánh giá và xỷ lý loại bỏ các mặt hàng thực phẩm sau khi sử dụng của người VN Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Đánh giá và xử lý loại bỏ các mặt hàng thực phẩm sau khi sử dụng là khâu cuối cùng của hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm. Khâu này luôn tồn tại trong hành vi tiêu dùng nói chung và hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm nói riêng, song nó hầu như không được chú trọng, đặc biệt là tại Việt Nam, đất nước mà sự bảo vệ người tiêu dùng là một vấn đề hết sức mới mẻ. Thực trạng đánh giá và xử lý loại bỏ các mặt hàng thực phẩm sau khi sử dụng được chia thành hai phần. Phần thứ nhất, tác giả xin đề cập đến thực trạng đánh giá các mặt hàng thực phẩm sau khi sử dụng và phần thứ hai là thực trạng xử lý loại bỏ hàng thực phẩm sau khi sử dụng.

Trước hết, mỗi người sau khi sử dụng bất kì loại hàng hóa nào đều có những nhận xét, đánh giá nhất định về sản phẩm đó. Hàng thực phẩm cũng không phải ngoại lệ. Tại Việt Nam, sau khi sử dụng các mặt hàng thực phẩm, những nhận xét, đánh giá của người tiêu dùng thường được chia sẻ với họ hàng, bạn bè. Những đánh giá tốt hay xấu thì đều sẽ ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của những cá nhân khác trong cộng đồng. Người Việt Nam tin tưởng vào nguồn thông tin này vì vậy theo số liệu của Trung Tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, có đến 51.9% người tiêu dùng tìm kiếm thông tin qua kênh bạn bè, người thân. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp cung cấp hàng thực phẩm, thì người Việt lại thường không đưa hoặc đưa không chuẩn xác nhận xét trực tiếp về sản phẩm họ đã sử dụng. Chính điều này khiến cho những cuộc điều tra, tìm hiểu khách hàng, mức độ hài lòng đối với sản phẩm thực phẩm mà doanh nghiệp cung cấp thường đi vào bế tắc, không giúp ích nhiều cho thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.

Hơn nữa, trong những trường hợp bị xâm phạm lợi ích khi sử dụng các mặt hàng thực phẩm, người tiêu dùng Việt Nam cũng hầu như không bao giờ khiếu nại hay kiện tụng các doanh nghiệp. Điều này khiến cho các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm Việt Nam thường lơ là thái độ người tiêu dùng, thậm chí có những hành vi cố tình xâm phạm lợi ích người tiêu dùng.

Hiện nay, tuy đã có Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, song tình hình xâm phạm lợi ích người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng thực phẩm nói riêng không được cải thiện là bao. Bên cạnh Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng còn có các lực lượng chức năng được thành lập theo pháp luật như các lực lượng quản lý thị trường. Các lực lượng này đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc bảo vệ người tiêu dùng hàng thực phẩm. Cụ thể, trong công tác phòng chống dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, năm 2007, lực lượng Quản lý thị trường các địa phương đã tham gia 200.932 ngày công; xử lý hơn 8000 vụ vi phạm, xử phạt 1,052 tỷ đồng; tịch thu và tiêu huỷ 658.379 con gia cầm, 169.173 kg thịt và phụ phẩm gia cầm, 4.284.900 quả trứng gia cầm, 7.453 con gia súc45. Hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường đã góp phần tích cực vào việc ngăn chặn gia súc, gia cầm và sản phẩm gia súc, gia cầm không qua kiểm dịch, nhiễm bệnh, không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng, ngăn chặn dịch lây lan.

Bên cạnh vấn đề đánh giá sau khi sử dụng hàng thực phẩm của người Việt thì cũng cần phải đề cập đến thực trạng xử lý, loại bỏ sau khi sử dụng hàng thực phẩm của họ. Có rất nhiều cách xử lý, loại bỏ sản phẩm thực phẩm sau khi sử dụng. Người Việt thường không vứt bỏ các loại thực phẩm thừa sau khi sử dụng mà tận dụng chúng cho việc nuôi các loại vật nuôi trong nhà. Đến 95% các con vật nuôi trong nhà ở Việt Nam thường được nuôi bằng những loại thực phẩm mà con người bỏ đi, và chỉ có một số ít được nuôi bằng những loại thức ăn dành riêng cho vật nuôi như vật nuôi tại các nước phương Tây. Bên cạnh đó, tại một số nơi, người ta cũng sử dụng các loại thức ăn con người bỏ đi để nuôi gia súc,gia cầm đặc biệt là nuôi lợn. Cách nuôi như vậy tuy tiết kiệm được thức ăn chăn nuôi song hiệu quả không cao so với cách chăn nuôi bằng các loại thức ăn chăn nuôi chuyên dụng.

III. Ảnh hưởng của văn hóa phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

1. Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến văn hoá Việt Nam

1.1. Ảnh hưởng của tính chất nông nghiệp – nông thôn

Tính chất nông nghiệp – nông thôn là một trong những đặc điểm nổi bật, là bản sắc dễ thấy nhất của văn hóa phương Đông. Đặc điểm này ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa Việt Nam trên nhiều bình diện.

Trước hết, nó thể hiện qua văn hóa ẩm thực của người Việt Nam. Điều dễ thấy nhất là cơ cấu bữa ăn của người Việt mang đậm dấu ấn của truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước. Đó là một cơ cấu ăn thiên về thực vật. Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung, sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt ( 17% diện tích của Việt Nam là đất canh tác). Loại cây họ trồng nhiều nhất là cây lúa nước vì vậy LÚA GẠO là loại lương thực chính trong bữa ăn của người Việt.

Cũng vì vậy mà bữa ăn của người Việt thường được gọi là bữa cơm. Đứng thứ hai trong bữa ăn của người Việt là các loại rau quả và cây gia vị. Nằm trong trung tâm trồng trọt nên Việt Nam có một danh mục rau quả mùa nào thức nấy vô cùng phong phú. Danh mục rau quả này cùng với thói quen tự cấp tự túc của người Việt đã khiến cho rau quả trở thành một phần không thể thiếu trong bữa ăn của họ.

Ngoài ra, tính chất nông nghiệp – nông thôn còn thể hiện qua tín ngưỡng, sự sùng bái thiên nhiên của người Việt Nam. Tại một số làng quê Việt Nam có thờ cúng thần Đất ( Thổ Công), thần Nước, thần Sông, thần Biển. Đây chính là nét tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên, mong muốn sự thuận lợi từ thiên nhiên để có mùa màng tươi tốt. Gắn liền với tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên là các lễ hội nông nghiệp được tổ chức tại các làng quê Việt Nam như lễ rước nước, lễ hội mừng được mùa …

Một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam đó là các sinh hoạt văn hóa dân gian. Tính chất nông nghiệp – nông thôn thể hiện rõ qua từng câu hát, câu ca dao, từng điệu múa. Những điệu múa mô phỏng động tác cầy cấy, gặt hái là hết sức phổ biến ở các làng quê Việt Nam. Các nhạc cụ phục vụ đời sống tinh thần của người dân đa số cũng là những sản phẩm nông nghiệp ( sáo, kèn, chiêng, trống …)

1.2. Ảnh hưởng của tính cộng động đồng, mềm dẻo trong quan hệ giữa người với người

Văn hóa Việt Nam thừa hưởng tính cộng đồng, cách cư xử thiên về tình cảm, mềm dẻo trong quan hệ giữa người với người của văn hóa phương Đông. Người Việt Nam cũng như đa số các dân tộc khác ở phương Đông sống chủ yếu bằng nghề nông, vì vậy họ cần huy động sức mạnh tập thể. Đây chính là lý do trong ý thức của người dân Việt đã hình thành cuộc sống tập thể, nương tựa và xây dựng tình làng nghĩa xóm. Cụ thể, từ xưa đến nay, người Việt luôn sống quây quần với nhau thành từng làng. Trong mỗi làng, người dân sống với nhau hòa thuận, chia sẻ công việc, nương tựa, bảo vệ nhau. Họ sống với nhau dựa trên tình cảm là chính, mọi vấn đề được giải quyết hết sức mềm dẻo, dựa trên tình cảm vốn có của hai phía.

Ngoài ra, cách cư xử tình cảm, thiên về tính cộng đồng của người Việt Nam còn thể hiện qua cách họ thăm viếng lẫn nhau. Nếu đã thân thiết thì hàng ngày dù thường xuyên gặp gỡ, họ vẫn tới thăm nhau. Thăm viếng không còn là nhu cầu công việc như các nước phương Tây, mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ. Ngược lại, người dân Việt cũng rất có tinh thần hiếu khách. Khi có khách đến viếng thăm, dù quen dù lạ, dù thân hay sơ, họ cũng đều cố gắng đón tiếp hết sức chu đáo, tiếp đãi thịnh tình và dành cho khách những tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon nhất…

1.3. Ảnh hưởng của quan hệ ứng xử với thiên nhiên Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Trong quan hệ ứng xử với thiên nhiên, văn hóa Việt Nam hòa đồng với tự nhiên, tận dụng thiên nhiên phục vụ cuộc sống của mình. Trước hết, người dân Việt luôn sống thuận theo thiên nhiên. Minh chứng rõ ràng nhất cho luận điểm này đó là nền sản xuất nông nghiệp của người Việt luôn tuân thủ tính thời vụ.

Một năm có hai vụ lúa là vụ Chiêm và vụ Mùa. Hay một minh chứng khác người dân đồng bằng sông Cửu Long luôn “ sống chung với lũ”. Như vậy có thể thấy trong văn hóa phương Đông cũng như văn hóa Việt Nam, người dân thường phục tùng thiên nhiên, sống nương theo tự nhiên hơn là cải tạo, khắc phục, biến đổi thiên nhiên.

Tuy nhiên, trong văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay người dân luôn có ý thức tận dụng thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình. Điều này thể hiện rõ nét trong văn hoá ẩm thực của người Việt. Người dân Việt xưa sống gần các khu vực sông nước, tận dụng những sản vật từ thiên nhiên vì vậy chiếm một phần quan trọng trong cơ cấu bữa ăn của người Việt là THỦY SẢN – sản phẩm của vùng sông nước. Các loại tôm cá không những được sử dụng luôn sau khi đánh bắt về mà còn được chế biến thành các loại mắm, dùng để cất trữ, sử dụng lâu dài. Ngoài bữa ăn chính, những thức uống của người Việt cũng chủ yếu xuất phát từ thiên nhiên như nước chè ( lấy từ lá cây chè), nước Nụ Vối ( lấy từ nụ cây Vối), rượu ( chưng cất từ gạo nếp) …

Bên cạnh thực phẩm, phục trang của người Việt cũng mang dáng dấp của thiên nhiên. Người Việt có sở trường tận dụng các chất liệu có nguồn gốc từ thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt và cũng là những chất liệu mỏng, nhẹ, thoáng, rất phù hợp với xứ nóng như tơ tằm, tơ chuối, tơ đay, gai, sợi bông …

Trong vấn đề nhà ở và đi lại, người Việt cũng khá khéo léo tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cuộc sống của mình. Người Việt xưa thường xây nhà bằng những chất liệu tư nhiên. Đa số nhà làm bằng gỗ, lợp mái bằng các loại lá. Sau này người ta thay mái lá bằng các loại gạch, được nung từ đất – một chất liệu của thiên nhiên.

Bên cạnh việc nhà ở thì phương tiện di chuyển của người Việt cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ tự nhiên. Do địa hình nhiều sông ngòi nên người Việt xưa thường di chuyển bằng thuyền bè. Những con thuyền này đa phần được làm bằng gỗ – một vật liệu có nguồn gốc từ tự nhiên. Như vậy có thể thấy trong nét văn hóa của người Việt luôn xuất hiện hai khía cạnh song song tồn tại đó là phục tùng thiên nhiên và tận dụng thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người.

1.4. Ảnh hưởng của giá trị truyền thống Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Văn hóa Việt Nam coi trọng giá trị truyền thống, không thích sự thay đổi. Người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng coi trọng các giá trị văn hóa mang tính truyền thống. Họ tin tưởng, coi trọng những giá trị được truyền lại từ các thế hệ trước. Chính vì vậy trong tư duy của người Việt luôn có vị trí nhất định cho những hiện vật, dấu ấn của quá khứ. Bên cạnh đó, cuộc sống của người dân Việt Nam trước đây chủ yếu dựa vào nghề nông, vì vậy họ hướng tới một cuộc sống ổn định và rất sợ những điều bất thường xảy ra.Tư tưởng này cho đến nay vẫn tồn tại trong tư duy của người Việt và hình thành nên một lối sống không thích sự thay đổi. Minh chứng cho luận điểm này, ta có thể thấy, đa phần người dân Việt Nam đến tuổi lao động đều mong được làm trong khu vực nhà nước. Tuy khu vực này trả lương không cao, nhưng họ có được sự ổn định, ít có sự thay đổi công tác hay bị sa thải bất chợt như khu vực tư nhân.

2. Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm của người Việt Nam

Như đã nghiên cứu trong những phần trước, văn hóa phương Đông là một nền văn hóa lớn, đa dạng, phong phú. Nền văn hóa này có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của văn hóa Việt Nam. Mặt khác, vấn đề hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm là một vấn đề luôn hiện hữu và không thể thiếu ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Vấn đề này chịu tác động rất lớn từ văn hóa phương Đông nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng. Cụ thể :

2.1. Ảnh hưởng đến lựa chọn các mặt hàng thực phẩm Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

2.1.1. Ảnh hưởng của tính chất nông nghiệp nông thôn

Trong những phần trước, tác giả đã đề cập, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, sống bằng việc trồng trọt là chính, nền kinh tế trong thời gia trước chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp, tự cấp, tự túc. Vì vậy hành vi lựa chọn thực phẩm của người Việt chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tính chất nông nghiệp – nông thôn. Họ có một cơ cấu ăn thiên về thực vật. Trong thói quen tiêu dùng thực phẩm của người Việt Nam, họ có xu hướng sử dụng nhiều các sản phẩm do nền sản xuất nông nghiệp tạo ra như cây lương thực, rau, củ, quả.

Đứng đầu danh mục hàng thực phẩm của người Việt Nam là LÚA GẠO. Sở dĩ như vậy bởi trong cơ cấu trồng trọt của Việt Nam từ xưa đến nay, cây lúa vẫn chiếm vị trí số 1, sản lượng gạo của Việt Nam mỗi năm rất lớn, đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước, dự trữ quốc gia và một phần xuất khẩu. Loại lương thực này được người Việt Nam sử dụng hầu như hàng ngày. Trung bình mỗi người Việt sử dụng khoảng 7kg đến 10kg gạo mỗi tháng46. Họ sử dụng gạo để chế biến hầu hết các món chính trong bữa ăn như cơm, xôi, cháo, phở, bún…

Bên cạnh lúa gạo, người Việt nam còn sử dụng những loại cây lương thực khác nhu ngô, khoai, sắn, kê … cũng là những sản phẩm của nhà nông. Sau cây lương thực, trong bữa ăn của người Việt không thể không có rau, củ, quả. Họ sử dụng rau, củ. quả với một lượng rất lớn. Trung bình mỗi người dân sử dụng khoảng hơn 7kg rau và 3kg hoa quả mỗi tháng. So với lượng tiêu thụ thịt thì lượng tiêu thụ rau lớn hơn khoảng ba đến bốn lần, tùy thuộc vào từng khu vực. Song dù bất cứ ở khu vực nào đi nữa thì không thể phủ nhận người Việt ưu tiên chọn lựa và sử dụng nhiều rau hơn thịt. Tính chất nông nghiệp – nông thôn trong hành vi lựa chọn hàng thực phẩm của Việt Nam thể hiện rõ ở điểm này.

2.1.2. Ảnh hưởng của tính hòa đồng, thuận theo tự nhiên, tận dụng thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người

Việc chọn lựa hàng thực phẩm của người Việt Nam không chỉ thể hiện tính chất nông nghiệp – nông thôn mà còn thể hiện một sự gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên, tận dụng thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình. Trước hết, có thể thấy xuất hiện trong khẩu phần ăn của người Việt, bên cạnh gạo và rau là những loại thủy sản. Trong cuộc sống trước kia và kể cả hiện nay khi khoa học công nghệ phát triển, có thể nuôi được khá nhiều loại thủy sản, nhưng những loại thủy sản đánh bắt từ thiên nhiên vẫn có giá thành cao hơn và được người dân ưu tiên lựa chọn hơn so với thủy sản được nuôi trồng. Sở dĩ như vậy bởi trong quan niệm từ xưa đến nay, người Việt tận dụng thiên nhiên, phục vụ cho cuộc sống. Họ coi trọng thiên nhiên, và trong ý thức của người Việt, đặc biệt là những người lớn tuổi thì những gì do tự nhiên ban tặng bao giờ cũng tốt hơn những thứ nhân tạo. Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Một khía cạnh nữa thể hiện sự gần gũi với thiên nhiên trong việc lựa chọn hàng thực phẩm của người Việt đó là họ thích những sản phẩm thực phẩm tươi sống. Cuộc sống từ xưa của người Việt Nam phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Mặt khác sản vật từ thiên nhiên ở Việt Nam hết sức đa dạng, phong phú. Điều đó khiến cho người dân thường chỉ khai thác và sử dụng ngay những loại thức ăn kiếm được từ thiên nhiên trong ngày. Điều đó đã hình thành trong người dân Việt Nam ý thức thích sử dụng những sản phẩm tươi sống từ tự nhiên và ý thức đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn và thói quen mua sắm hàng thực phẩm của người Việt cho đến tận ngày nay.

Ngoài ra, sự gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên còn thể hiện qua việc người Việt yêu thích những sản phẩm thực phẩm có màu sắc, hình dạng, hương vị gần gũi với thiên nhiên đặc biệt là sản phẩm sau khi chế biến. Những sản phẩm sau khi chế biến, người Việt luôn mong muốn giữ được những đặc tính, hình dạng, màu sắc, hương vị của nguyên liệu chế biến tự nhiên. Ví dụ tiêu biểu nhất cho luận cứ này là hai sản phẩm bánh dân tộc – bánh trưng và bánh dầy. Trước hết, về hình dáng, bánh Trưng và bánh Dầy đều mang hình dạng tượng trưng cho tự nhiên. Theo quan niệm của người Việt xưa, mặt đất hình vuông, còn bầu trời hình tròn vì vậy họ sáng tạo ra hai bánh để cúng tiến trời đất, thể hiện lòng biết ơn với thiên nhiên: bánh Trưng tượng trưng cho đất, còn bánh Dầy tượng trưng cho trời. Về màu sắc, bánh Trưng mang màu xanh của lá rong, tượng trưng cho màu xanh non của cây cỏ nơi mặt đất, còn bánh Dầy mang màu trắng tinh khiết của gạo, tượng trưng cho màu trắng của bầu trời. Về hương vị, do tượng trưng cho đất nên bánh Trưng có hương vị tươi ngon, tổng hòa của những sản vật tự nhiên như gạo, đỗ, thịt, lá rong. Ngược lại, bánh Dầy mang duy nhất một hương vị tinh khiết, thơm ngọt của một thứ lương thực mà theo người xưa là “ngọc thực” – vật phẩm do ông Trời ban tặng cho con người. Song, dù là hương vị có khác nhau nhưng loại hương vị của cả hai loại bánh này đều mang một tính chất chung đó là hương vị tự nhiên. Hay những thức ăn hàng ngày của người Việt cũng luôn giữ được tiêu chuẩn gần gũi với thiên nhiên về màu sắc, hình dáng, hương vị như rau phải có màu xanh, cá sau khi chế biến phải cố gắng giữ được hình dạng nguyên con như khi còn tươi sống, hay nước trà phải có hương thơm của loài hoa ướp trà, vị chát, ngọt của trà tự nhiên…

2.1.3. Ảnh hưởng của sự coi trọng giá trị truyền thống, không thích sự thay đổi Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Như đã biết, người Việt Nam sống chủ yếu bằng nghề nông nên họ mong muốn một cuộc sống ổn định và không thích sự thay đổi. Điều này cũng có ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn hàng thực phẩm của người Việt. Đối với những sản phẩm thực phẩm họ đã quen sử dụng thì họ thường không thích chuyển sang những loại khác tương tự nếu như sản phẩm họ thường dùng không có vấn đề gì về chất lượng. Minh chứng tiêu biểu cho luận điểm này là việc Kinh Đô mua lại thương hiệu kem Wall’s của Italy và thay thế bằng thương hiệu kem Kido`s. Trước khi mua lại, Wall’s là một hãng kem rất phổ biến ở Việt Nam, chiếm 50% thị phần kem với khoảng 4.000 điểm phân phối, rất được người tiêu dùng hết sức ưa chuộng. Người ta dễ dàng tìm thấy ở các khu phố rất nhiều những điểm bán kem Wall’s. Trong khi đó, sau khi mua lại thương hiệu, mặc dù dây chuyền sản xuất kem và hình dáng, chất lượng sản phẩm không hề thay đổi, đồng thời từ thời điểm mua lại thương hiệu vào cuối tháng 11 năm 2003 đến cuối năm 2004, Kinh Đô vẫn giữ logo Wall’s tồn tại song song cùng lôgô Kido’s của Kinh Đô, song lượng kem bán được giảm sút, những điểm bán kem biến mất dần và sau hơn bốn năm mua lại, thương hiệu kem này chỉ còn tồn tại hết sức mờ nhạt. Nguyên nhân chính giải thích cho hiện tượng này là bởi người Việt đã quá quen thuộc với hình tượng kem Wall’s, họ tin tưởng chất lượng và hương vị loại kem này. Tuy nhiên khi Kinh Đô mua lại thương hiệu kem này và thay đổi lôgô, tạo cho người tiêu dùng có cảm giác đây là một thương hiệu khác, không phải Wall`s. Đó là điều người Việt không chấp nhận bởi họ ngại thay đổi. Nó làm cho thương hiệu kem này không giữ được doanh số như trước.

Chưa hết, sau 5 năm vắng bóng, đến năm 2008, thương hiệu kem Wall’s đã chính thức quay trở lại Việt Nam với giá cả bình dân như trước. Ngay lập tức, nó đã chiếm được một lượng khách nhất định, những người trước đây đã tin dùng sản phẩm kem của hãng này49. Một lần nữa, thương hiệu kem này lại chứng minh cho nét văn hóa coi trọng truyền thống và không thích thay đổi của văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa phương Đông nói chung. Không chỉ có vậy nét văn hóa coi trọng truyền thống của người Việt còn thể hiện qua cách họ chọn lựa những loại thức ăn trong bữa ăn. Hầu hết những thức ăn sử dụng trong bữa ăn hàng ngày và trong những dịp lễ, Tết của người Việt là những món ăn truyền thống dân tộc. Tuy hiện nay rất nhiều loại thức ăn được chế biến theo phong cách của nước ngoài du nhập vào Việt Nam nhưng những loại thức ăn này thường chỉ được người Việt sử dụng một vài lần mỗi tháng. Những bữa ăn còn lại thì món ăn dân tộc vẫn là lựa chọn hàng đầu.

2.2. Ảnh hưởng đến quyết định mua các mặt hàng thực phẩm Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Không chỉ ảnh hưởng đến việc lựa chọn các mặt hàng thực phẩm, một số đặc điểm của văn hóa phương Đông còn ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người dân Việt Nam. Cụ thể:

2.2.1. Ảnh hưởng của lối sống đề cao tính cộng đồng và cách ứng xử tình cảm, mềm dẻo trong quan hệ giữa người với người

Như đã nghiên cứu ở những phần trước, văn hóa phương Đông nói chung và nền văn hóa Việt Nam nói riêng là một nền văn hóa mang tính cộng đồng cao, người dân có cách cư xử mềm dẻo, tình cảm. Chính điều này có tác động đến quyết định mua hàng của người Việt. Đối với những mặt hàng cần mua, họ thường tham khảo thông tin từ những người thân, họ hàng, hàng xóm … Theo báo cáo của Trung Tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn , có đến 51,9% người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của họ hàng và người thân trong quyết định mua hàng. Ngoài ra, quyết định của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng từ những thông tin trên TV. Có đến 59,4% người tiêu dùng chịu ảnh hưởng từ kênh thông tin này. Xét về bản chất, TV cũng là một cách thức của tiếng nói của cộng đồng đặc biệt là trong thời đại ngày nay, vì vậy cũng có thể hiểu rằng người tiêu dùng chịu ảnh hưởng từ những thông tin trên TV cũng là chịu ảnh hưởng từ những thông tin của cộng đồng. Hệ quả của nét văn hóa này là khi có tin đồn về một loại sản phẩm thực phẩm hoặc một sự kiện nào đó ảnh hưởng đến tiêu dùng thực phẩm của người dân lập tức tin đồn sẽ lan rất nhanh trong cộng đồng chủ yếu qua truyền miệng và tác động rõ rệt đến quyết định mua hàng của người dân. Ví dụ như cuối tháng 7 năm 2007 tại Đà Nẵng có hai trường hợp ngộ độc nhập viện. Ngay khi nguyên nhân chưa được xác minh thì đã lan rộng tin đồn hai người kia là nạn nhân của ngộ độc thịt heo. Trong suốt khoảng thời gian đó, người tiêu dùng không dám mua thịt heo bán ở các chợ, kể cả thịt có dấu kiểm dịch. Hầu hết các quầy hàng bán thịt heo ở các chợ đều ngừng hoạt động vì không có người mua. Khi chưa có dịch, cơ sở giết mổ tập trung tại Đà Sơn – Đà Nẵng mổ thịt 650 con/ngày đêm nhưng khi có tin đồn, họ chỉ giết mổ khoảng 100 con/ngày vẫn không có nơi tiêu thụ. Qua đó có thể thấy được sức mạnh của tiếng nói cộng đồng, người thân, gia đình trong quyết định mua hàng của người tiêu dùng.

2.2.2. Ảnh hưởng của sự coi trọng giá trị truyền thống, không thích sự thay đổi Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Bên cạnh sự ảnh hưởng của lối sống coi trọng tính cộng đồng, quyết định mua hàng của người Việt còn chịu ảnh hưởng của nét văn hóa coi trọng những giá trị truyền thống và không thích sự thay đổi. Trước hết, trong quyết định mua hàng của người Việt, họ thường chọn kênh phân phối là các chợ truyền thống. Thói quen họp chợ và đi chợ của người Việt được hình thành từ rất lâu đời và thói quen này vẫn được giữ cho đến tận ngày nay. Mặc dù trong thời đại mới có những kênh phân phối hiện đại như siêu thị, cửa hàng thực phẩm song chợ vẫn chiếm ưu thế trong quyết định mua hàng của người dân. Theo số liệu của Trung Tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, có đến 80% người nội trợ trên cả nước sử dụng kênh phân phối này. Điều này có được trước hết là do sự tiện lợi của chợ Việt Nam nhưng ngoài ra nó còn do thói quen mua sắm hàng thực phẩm tại chợ và tâm lý không thích thay đổi của người Việt Nam.

Một điểm nữa thể hiện sự coi trọng truyền thống và không thích sự thay đổi của người Việt đó là đối với những mặt hàng cùng chủng loại thì những mặt hàng mang dáng dấp truyền thống thường được người tiêu dùng ưu tiên hơn. Tiêu biểu nhất là thương hiệu kem Tràng Tiền. Thương hiệu kem này thành lập từ năm 1958, tính đến nay nó đã tồn tại được 51 năm nhưng dường như thương hiệu kem này chưa bao giờ vắng khách. Người Hà Nội ăn kem Tràng Tiền như một thói quen, một nét truyền thống, một chút quá khứ còn phảng phất lại của đất Hà Nội. Thói quen đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân, nên dù cho Hà Nội có rất nhiều hãng kem với đủ loại hương vị phong phú thì kem Tràng

Tiền vẫn luôn giữ được vị trí của mình qua năm tháng. Như vậy có thể thấy người dân Việt nam nói chung và người Hà Nội nói riêng rất coi trọng những gì thuộc về truyền thống, về quá khứ và nó ảnh hưởng rất rõ nét đến quyết định mua thực phẩm của họ.

2.3. Ảnh hưởng đến việc sử dụng các mặt hàng thực phẩm Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Sử dụng các mặt hàng thực phẩm cũng là một bộ phận của hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm vì thế nó cũng chịu tác động từ những đặc điểm của văn hóa phương Đông và văn hóa Việt Nam.

2.3.1. Ảnh hưởng của tính chất nông nghiệp nông thôn

Trước hết, cần đề cập đến thời gian sử dụng thức ăn của người Việt. Cuộc sống trước đây của người Việt chủ yếu dựa vào nghề nông, lao động hai buổi trong ngày, thời gian lao động thường bắt đầu rất sớm và kết thúc cũng sớm. Điều này trở thành thói quen lao động của họ cho đến tận bây giờ. Khác với các nước phương Tây, thường bắt đầu ngày làm việc vào lúc 9h sáng thì người Việt bắt đầu ngày làm việc khá sớm, vào lúc 7h sáng, kết thúc giờ làm việc buổi sáng thường vào lúc 11h30. Thời gian làm việc buổi chiều của họ thường bắt đầu vào lúc 1h và kết thúc vào lúc 5h chiều ( ở phương Tây thường kết thúc vào lúc 6-7giờ chiều). Từ giờ giấc làm việc chịu ảnh hưởng của tính chất nông nghiêp – nông thôn như vậy nên người Việt chia thời gian sử dụng thức ăn thành ba bữa chính. Bữa sáng thường được sử dụng khá sớm, là bữa ăn nhẹ, sử dụng ít thức ăn nhất trong ba bữa. Bữa ăn này đa số người dân ăn ở các quán ăn bên ngoài gia đình. Bữa trưa và bữa tối sử dụng nhiều thức ăn hơn và thường được gọi là “bữa cơm”.

Thời gian trước đây, người Việt hầu như ăn tại nhà trong cả hai bữa ăn này. Song trong vài năm trở lại đây, người dân Việt thường ăn trưa tại các nơi học tập và làm việc của mình nên chỉ còn bữa tối là bữa ăn chính và thường được ăn tại nhà. Bữa trưa của người Việt thường rơi vào khoảng thời gian từ 11giờ 30 đến 12giờ trưa, còn bữa tối thường vào khoảng 19giờ hàng ngày. Khác với các nước công nghiêp, thời gian sinh hoạt thường muộn hơn, các nước nông nghiệp nói chung và Việt Nam nói riêng có thói quen sinh hoạt sớm vì vậy nó cũng có những ảnh hưởng đến giờ giấc sử dụng thức ăn của họ.

2.3.2. Ảnh hưởng của tính hòa đồng, thuận theo tự nhiên, tận dụng thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Giờ giấc sử dụng thức ăn của người Việt chịu ảnh hưởng của tính chất nông nghiệp nông thôn, còn tính chất và thời hạn sử dụng thức ăn thì chịu ảnh hưởng của tính hòa đồng, thuận theo tự nhiên, tận dụng thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người.Do cuộc sống hòa đồng, gần gũi với thiên nhiên nên người Việt thường thích sử dụng những sản phẩm tươi sống. Điều này khiến cho họ có thói quen đi chợ hàng ngày và chế biến, sử dụng những loại thức ăn mua trong ngày. Cuộc sống hiện đại, bận rộn cũng khiến một số gia đình chọn cách đi chợ, siêu thị vài ngày một lần và cất trữ sử dụng thực phẩm tươi trong vài ngày. Song số người chọn cách cất trữ thức ăn như vậy không phổ biến tại Việt Nam, còn lại đa số người Việt không lưu trữ thực phẩm tươi.

Ngoài ra mục đích sử dụng thực phẩm của người Việt cũng chịu ảnh hưởng của lối suy nghĩ thuận theo tự nhiên. Do cuộc sống của người Việt là cuộc sống sản xuất nông nghiệp, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nên trong tiềm thức của họ, thiên nhiên là đấng tối cao. Họ sử dụng một phần thức ăn vào việc cúng tế trời, đất, và những vị thần thiên nhiên như thần Biển, thần Mưa, thần Gió trong những dịp lễ hội nhằm tỏ lòng thành kính và cầu mong mưa thuận, gió hòa. Loại thức ăn sử dụng cúng tế trời đất có rất nhiều, phụ thuộc vào phong tục của mỗi vùng miền. Tiêu biểu nhất cho việc sử dụng thức ăn cúng tế thiên nhiên là tục lệ sử dụng bánh Trưng và bánh Dầy để cúng trời đất có từ thời các Vua Hùng và tồn tại cho đến tận ngày nay.

2.3.3. Ảnh hưởng của lối sống đề cao tính cộng đồng và cách ứng xử tình cảm, mềm dẻo trong quan hệ giữa người với người

Trong mục đích sử dụng thực phẩm của người Việt, một phần thực phẩm được sử dụng để biếu, tặng những người thân, họ hàng, hàng xóm, láng giềng. Điều này thể hiện cách ứng xử tình cảm, mềm dẻo trong quan hệ giữa người với người. Người Việt biếu tặng thực phẩm trong rất nhiều dịp như lễ tết, khánh thành nhà, sinh nhật, đi chơi xa về, qua thăm chơi nhà nhau… và đôi khi cũng không nhân một dịp cụ thể nào mà đơn thuần vì tình cảm quý mến lẫn nhau. Thực phẩm được đem biếu tặng chủ yếu là những loại thực phẩm có thể cất trữ được lâu như gạo, rượu, bia, các loại bánh dân tộc … Tuy hầu hết những loại thực phẩm đem đi biếu tặng không có giá trị vật chất quá cao, nhưng nó thể hiện một nét văn hóa ứng xử của người Việt Nam: cư xử mềm dẻo, thiên về tình cảm, mang tính cộng đồng cao, chẳng vậy mà trong tục ngữ Việt Nam có câu “của ít, lòng nhiều”.

2.3.4. Ảnh hưởng của sự coi trọng giá trị truyền thống, không thích sự thay đổi Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Mục đích sử dụng thực phẩm của người Việt còn chịu ảnh hưởng của sự coi trọng giá trị truyền thống. Nó thể hiện tín ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên ở mỗi gia đình của người Việt. Người Việt sử dụng những loại thức ăn ngon nhất, đẹp đẽ nhất để dâng lên tổ tiên, ông bà để thể hiện lòng nhớ ơn công sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ. Hoạt động này diễn ra khá thường xuyên trong mỗi gia đình người Việt, đặc biệt là trong những dịp Tết cổ truyền bởi người Việt quan niệm dịp Tết cổ truyền của dân tộc là dịp gia đình đoàn tụ, những người đã khuất được về sum họp với gia đình trong ba ngày Tết vì thế trong dịp này họ thường sử dụng nhiều loại thực phẩm cho việc cúng lễ tổ tiên, ông bà nhiều hơn những ngày thường. Những loại thực phẩm họ sử dụng thường là những món ăn truyền thống của dân tộc như xôi, gà, giò, bánh Trưng, mâm ngũ quả …

2.4. Ảnh hưởng đến việc đánh giá xỷ lý loại bỏ các mặt hàng thực phẩm sau khi sử dụng

Bộ phận cuối cùng cấu thành nên hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm là đánh giá, xử lý, loại bỏ sau khi sử dụng. Tuy đây là bộ phận cuối cùng của hành tiêu dùng song nó cũng là một bộ phận khá quan trọng đối với các doanh nghiệp vì nó thể hiện thái độ, hành vi của người tiêu dùng sau khi sử dụng sản phẩm. Việc đánh giá, xử lý loại bỏ sản phẩm sau khi sử dụng cũng chịu nhiều tác động từ những đặc điểm chính của văn hóa phương Đông.

2.4.1. Ảnh hưởng của tính chất nông nghiệp nông thôn Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Như trong phần trước đã nêu rõ, người Việt không có thói quen vứt bỏ thực phẩm thừa, không sử dụng nữa. Họ thường tận dụng chúng cho làm thức ăn cho những loại gia súc, gia cầm, vật nuôi trong nhà. Cách xử lý thực phẩm sau khi sử dụng như vậy thể hiện nét văn hóa mang đậm tính chất nông nghiệp – nông thôn. Sở dĩ như vậy bởi cuộc sống nhà nông là một cuộc sống vất vả, “bán lưng cho đất, bán mặt cho trời” vì thế hình thành trong người Phương Đông và Việt Nam một phong cách tiêu dùng tiết kiệm, và một cách xử lý thực phẩm sau khi sử dụng khá đặc biệt.

2.4.2. Ảnh hưởng của lối sống đề cao tính cộng đồng và cách ứng xử tình cảm, mềm dẻo trong quan hệ giữa người với người

Trong phần thực trạng đánh giá hàng thực phẩm sau khi sử dụng nêu ở trên tác giả đã đề cập đến cách thức người Việt đưa ra thông tin đánh giá của mình về sản phẩm thực phẩm họ đã sử dụng. Người Việt thường đưa ra những nhận xét chủ quan của bản thân mình với người thân, bạn bè, họ hàng về sản phẩm đã sử dụng khi được hỏi. Nhờ vậy đã hình thành ở Việt Nam một kênh thông tin hết sức độc đáo và đáng tin cậy. Có được điều này là do trong hành vi tiêu dùng nói chung và tiêu dùng hàng thực phẩm nói riêng của người Việt, họ chịu tác động của lối ứng xử mang tính cộng đồng cao – điều đã trở thành một trong những đặc điểm nổi bật của văn hóa phương Đông.

Ngoài ra, trong hành vi đánh giá sau khi sử dụng thực phẩm của mình, người Việt còn chịu tác động của lối cư xử mềm dẻo của văn hóa phương Đông. Sở dĩ nói vậy bởi trong phần thực trạng, tác giả đã phân tích rõ người Việt rất ngại phải góp ý trực tiếp với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng thực phẩm, đặc biệt là những ý kiến mang tính phê bình. Và thậm chí, họ gần như không bao giờ xử lý đối với những tranh chấp, hay sai xót của phía doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng thực phẩm. Họ chọn cách bỏ qua và trong những lần lựa chọn sau sẽ không lựa chọn sản phẩm do doanh nghiệp đó cung cấp nữa.

Như vậy, kết thúc chương II – Ảnh hưởng của văn hóa phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm của người Việt Nam, tác giả đã giới thiệu tổng quan về thị trường hàng thực phẩm tại Việt Nam với những yếu tố cơ bản nhất như cơ cấu tiêu dùng thực phẩm, giá cả, kênh phân phối, vấn đề dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, tác giả đã đưa ra thực trạng hành vi tiêu dùng của người Việt, đồng thời khái quát hóa và dẫn chứng rõ ràng về ảnh hưởng của văn hóa phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm của người Việt, làm tiền đề để chuyển sang chương III – Những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp kinh doanh ngành hàng này tại Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện kinh doanh thực thực tại VN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng của phương đông đến VN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464