Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển kênh phân phối bán bảo hiểm qua ngân hàng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự liên kết của bảo hiểm và ngân hàng, hai ngành kinh tế trong lĩnh vực tài chính là một xu thế tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu; và kênh phân phối bán bảo hiểm qua ngân hàng (Bancassurance) đã được tiến hành và phát triển suốt ba thập kỷ qua trên thế giới. Không chỉ “hai bên cùng có lợi” mà sự bắt tay giữa hai ngành kinh tế then chốt này còn đem đến rất nhiều lợi ích cho khách hàng. Về mặt học thuật, bên cạnh thuật ngữ “Bancassurance” còn có thuật ngữ “assurebank’’ như một cách xác định ai là người chủ động trong mối quan hệ hợp tác này. Tuy quan điểm phổ biến hiện nay coi “Bancasurrance” là hoạt động phân phối các dịch vụ bảo hiểm của các ngân hàng còn “assurebank” là việc các công ty bảo hiểm cung cấp dịch vụ ngân hàng, tài chính nhưng trong khóa luận này, người viết sẽ tập trung vào giải pháp phát triển Bancasurrance từ góc độ các công ty bảo hiểm nhằm phát triển một trong những kênh phân phối hiệu quả- phân phối qua ngân hàng. Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Năm 2009 là một năm đặc biệt khó khăn đối với nền kinh tế thế giới. Sự sụt giảm trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tài chính ngân hàng không thể sớm phục hồi. Một Việt Nam đang trên đà hội nhập đương nhiên không thể tránh khỏi bị ảnh hưởng. Trên thực tế, ngành tài chính trong nước đã bắt đầu đi xuống trước khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra với việc VN-Index chững lại rồi đi xuống từ cuối năm 2007 đến đầu năm 2008. Đây là quy luật tự nhiên sau thời gian tăng trưởng quá nóng của thị trường chứng khoán Việt Nam. Với sự sụp đổ và gặp khó khăn của hàng loạt ngân hàng lớn, tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, thu nhập của người dân trở nên bất ổn, vấn đề bảo hiểm tiền gửi đã không còn là mối quan tâm của các công ty bảo hiểm nói riêng mà đã trở thành vấn đề cấp thiết mà các chính phủ đặc biệt chú ý. Cùng lúc đó, một câu hỏi được đặt ra về sự phát triển của bảo hiểm nhân thọ trong tình cảnh người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu.
Tuy nhiên, không chỉ có khó khăn, khủng hoảng còn có thể mang đến cơ hội phát triển cho những ngành kinh tế biết thích nghi và sớm tìm ra giải pháp. Bất ổn trước những rủi ro tiềm tàng của nền kinh tế, con người cần sự bảo vệ và hỗ trợ của bảo hiểm. Việc đối tác ngân hàng phải giảm lãi suất tiền gửi sẽ giảm bớt sự cạnh tranh về sản phẩm trùng lặp giữa 2 lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm và ngân hàng càng cần đến bảo hiểm trong nỗ lực đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ của mình cũng như tạo niềm tin nơi khách hàng. Do đó, bên cạnh những tiềm năng của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam sẽ được phân tích trong khóa luận, ngành bảo hiểm hoàn toàn có thể tìm đường thoát khỏi cuộc suy thoái thông qua việc phát triển kênh phân phối qua ngân hàng. Đó là lí do người viết lựa chọn thực hiện khóa luận tốt nghiệp có tên “Giải pháp phát triển kênh phân phối bán bảo hiểm qua ngân hàng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam” với nỗ lực tìm ra giải pháp phát triển dịch vụ bancassurance ở nước ta.
Mặc dù vậy, người viết xin tập trung vào thị trường bancassurance nhân thọ vốn phát triển hơn bancassurance phi nhân thọ (vì những lí do sẽ được đề cập đến sau). Hơn nữa, trong số 10 công ty bảo hiểm nhân thọ góp mặt trên thị trường nước ta tính tới thời điểm này, có tới 9 công ty đến từ các tập đoàn nước ngoài đã rất thành công với mô hình bancassurance và hiểu rất rõ hiệu quả mà bancassurance mang lại, nhưng lại chưa thực sự thành công khi áp dụng mô hình này tại Việt Nam. Cho nên, giải pháp phát triển kênh phân phối bán bảo hiểm qua ngân hàng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam chắc chắn là một đề tài thiết thực.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Tình hình nghiên cứu Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Ngay từ khi những dấu hiệu hợp tác đầu tiên xuất hiện và những sản phẩm Bancassurance đầu tiên được tung ra thị trường, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về kênh phân phối này (cụ thể trong phần Tài liệu tham khảo). Do hoạt động “bán bảo hiểm qua ngân hàng” tới nay vẫn còn khá hạn chế nên các nghiên cứu hầu như chỉ mang tính giới thiệu và xác định xu hướng phát triển của kênh phân phối này tại Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu tình hình phát triển của nó tại các thị trường khu vực và trên thế giới. Giác độ nghiên cứu của các tài liệu này khá phong phú, khi thì coi Bancassurance là một dịch vụ kinh doanh bảo hiểm của ngân hàng thương mại, khi thì là xu thế tất yếu của các công ty bảo hiểm nhân thọ, và có lúc đơn giản là một sự hợp tác giữa ngân hàng – bảo hiểm. Đã có khóa luận đề cập tới Bancassurance nhưng trên phạm vi rộng là trên thế giới và trong lĩnh vực bảo hiểm nói chung.
3. Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu kênh phân phối “bán bảo hiểm qua ngân hàng” trong phạm vi lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam từ khi kênh phân phối này xuất hiện vào cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20 tới nay, với mục đích kiểm chứng tính hiệu quả của kênh phân phối này và triển vọng phát triển của nó tại Việt Nam, từ đó đề ra một số giải pháp có thể giúp kênh phân phối Bancassurance phát triển tương xứng với tiềm năng của ngành ngân hàng và bảo hiểm nhân thọ cũng như đáp ứng được tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Khóa luận được nghiên cứu với phương pháp duy vật biện chứng, đặt bảo hiểm nhân thọ trong mối liên hệ với các ngành kinh tế khác và xét bancassurance là một kênh phân phối trong toàn bộ hệ thống phân phối của bảo hiểm nhân thọ, trên cơ sở kết hợp với phương pháp thống kê: so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu và đối chiếu giữa kênh phân phối Bacassurance trong và ngoài nước.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu và đồ thị, phụ lục, khóa luận gồm 3 phần chính sau:
Chương I: Lý luận chung về kênh phân phối “bán bảo hiểm qua ngân hàng” (Bancassurance) trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Chương II: Thực trạng xây dựng và phát triển kênh phân phối Bancassurance trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam thời gian qua
Chương III: Những giải pháp phát triển kênh phân phối bán bảo hiểm qua ngân hàng (Bancassurance) trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
Người viết xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của cô Hoàng Thị Đoan Trang – giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, trường Đại học Ngoại Thương, người đã hướng dẫn người viết hoàn thành khóa luận này.
Do những hạn chế về thời gian, điều kiện nghiên cứu và kiến thức của người viết, việc đi sâu thực tế để tìm ra những hướng giải quyết thỏa đáng cho vấn đề còn gặp nhiều khó khăn, nên chắc chắn khóa luận này còn nhiều hạn chế và thiếu sót. Người viết rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn có quan tâm để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊNH PHÂN PHỐI “BÁN BẢO HIỂM QUA NGÂN HÀNG” (BANCASSURANCE) TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Ngành ngân hàng và bảo hiểm đang biến đổi nhanh chóng trong môi trường kinh tế toàn cầu nhiều đổi thay và thách thức. Trong môi trường tự do hóa đầy cạnh tranh này, mọi người luôn cố gắng để trở nên tốt hơn người khác và tất yếu, kẻ sống sót là kẻ phù hợp nhất.
Điều này đã dẫn đến sự phát triển của một hình thức kinh doanh trong đó hai định chế tài chính lớn kết hợp và hội nhập tất cả thế mạnh và nguồn lực với nhau, tạo ra một công cụ marketing và tiếp thị mới cho các sản phẩm và dịch vụ của họ. Một mặt, ngành ngân hàng rất giàu tính cạnh tranh; mặt khác, ngành bảo hiểm có nhiều tiềm năng phát triển. Khi hai ngành này tham gia cùng nhau, Bancassurance ra đời.
Bancassurance không gì khác chính là sự cộng tác giữa một ngân hàng và một công ty bảo hiểm, trong đó ngân hàng cam kết bán các sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng của ngân hàng, đổi lại sẽ thu phí từ công ty bảo hiểm. Đây là mối quan hệ song phương giữa ngân hàng và nhà bảo hiểm, một mối quan hệ giúp củng cố và bổ sung thêm thế mạnh cũng như hạn chế điểm yếu của nhau.
Bancassurance vẫn còn là một khái niệm mới mẻ ở Việt Nam nhưng đang dần dần “bắt rễ” trong đời sống kinh tế, được chấp nhận bởi các ngân hàng, công ty bảo hiểm cũng như khách hàng. Đây là một thuật ngữ quốc tế cơ bản đang lan rộng trên khắp thế giới và được tất cả ủng hộ.
Chương I của khóa luận sẽ làm rõ các vấn đề xung quanh khái niệm Bancassurance nói chung và Bancassurance nhân thọ nói riêng.
I. Khái quát chung về Bancassurance
1. Khái niệm, tác dụng và đặc điểm của Bancassurance Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
1.1. Khái niệm
Với sự mở cửa của ngành bảo hiểm và sự tham gia của nhiều người vào ngành bảo hiểm Việt Nam, các công ty bảo hiểm cần phải đưa ra các sản phẩm mang tính cải tiến, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm của mình và chào bán ở một mức giá cạnh tranh. Do tất cả các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm và quản lý quỹ đều là những hoạt động có liên quan với nhau và vốn có sự đồng vận, việc bán bảo hiểm qua ngân hàng có lợi cho cả đôi bên ngân hàng và công ty bảo hiểm. Với sự phát triển và áp lực tăng thêm trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, các công ty bắt buộc phải tìm ra những kĩ thuật mới để đưa sản phẩm và dịch vụ ra thị trường. Trong tình hình này, ngành ngân hàng với sức vươn xa và rộng được coi là một kênh phân phối tiềm năng và hiệu quả của các công ty bảo hiểm. Sự hợp nhất của hai ngành này được gọi là Bancassurance.
Thuật ngữ “Bancassurance” xuất phát từ hai từ ghép trong tiếng Pháp cách đây khoảng 35 năm là “banque” và “assurance”. Có nhiều cách định nghĩa về “Bancassurance” khác nhau:
- Bancassurance là “một chiến lược được các ngân hàng hoặc các công ty bảo hiểm sử dụng nhằm hoạt động trong thị trường tài chính theo cách thức hợp nhất dịch vụ ở mức độ nào đó” .
- Bancassurance là việc “ngân hàng và công ty bảo hiểm hợp tác với nhau để phát triển và phân phối một cách hiệu quả các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm thông qua việc cung cấp các sản phẩm cho cùng một cơ sở khách hàng”.
- Bancassurance là việc “cung cấp các sản phẩm bảo hiểm và ngân hàng thông qua một kênh phân phối chung và/ hoặc cho cùng một cơ sở khách hàng”.
Từ các định nghĩa trên, Bancassurance có thể hiểu một cách đơn giản nhất và chung nhất là việc các công ty bảo hiểm cung cấp sản phẩm của mình cho khách hàng thông qua kênh phân phối là ngân hàng. Việc tham gia của ngân hàng có thể ở nhiều cấp độ khác nhau tùy theo hình thức Bancassurance.
1.2. Tác dụng của Bancassurance
Bancassurance là sự phân phối các sản phẩm bảo hiểm qua kênh phân phối của ngân hàng. Đó là một hiện tượng trong đó sản phẩm bảo hiểm được chào bán thông qua các kênh phân phối của các dịch vụ ngân hàng cùng với một loạt các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng và đầu tư. Nói một cách đơn giản, Bancassurance cố gắng khai thác sức mạnh từ sự hợp tác giữa các công ty bảo hiểm và các ngân hàng.
Bancassurance có thể là một nguồn doanh thu quan trọng. Với sự cạnh tranh tăng lên và việc hạn chế sự tăng lãi suất, vấn đề lợi nhuận dường như là một áp lực lớn đối với các ngân hàng. Khoản thu nhập từ phí dịch vụ có thể tăng lên qua việc rao bán các sản phẩm rủi ro như bảo hiểm.
Nếu được hiểu đúng và được vận hành đúng cách, Bancassurance sẽ luôn đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia: ngân hàng, nhà bảo hiểm và khách hàng.
1.2.1. Tác dụng đối với ngân hàng Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Bancassurance giúp các ngân hàng có thêm dịch vụ cung cấp cho khách hàng, qua đó tăng cường khả năng cạnh tranh, tăng khả năng duy trì khách hàng và thu hút thêm nhiều khách hàng mới sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Điều này rất có lợi cho ngân hàng trong xu thế các ngân hàng thương mại ngày nay đều muốn đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ cung cấp như là một chính sách cạnh tranh để tiếp tục phát triển. Thực tế các khách hàng của ngân hàng ngày càng có xu hướng muốn sử dụng các dịch vụ ngân hàng như một giải pháp tài chính tổng thể. Khi hợp tác với bảo hiểm, các ngân hàng trở thành một siêu thị tài chính theo mô hình “một cửa” và những nhu cầu về dịch vụ ngân hàng hay bảo hiểm của khách hàng đều có thể được đáp ứng. Từ đó, các ngân hàng có thể tăng được sức hấp dẫn, củng cố sự hài lòng của khách hàng bằng những giao dịch thường xuyên và biến họ trở thành những khách hàng trung thành.
Bancassurance là một hướng đi mới, tạo ra các dòng thu nhập và đa dạng hóa các hoạt động của ngân hàng. Việc bán bảo hiểm qua ngân hàng giúp các ngân hàng thương mại gia tăng tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) bởi vì chi phí hoạt động thấp nhưng doanh thu các khoản tiền thưởng và hoa hồng từ các hợp đồng bảo hiểm tương đối cao. Mặt khác, ngân hàng có thể tăng doanh thu từ việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng mua bảo hiểm như thu phí các dịch vụ ngân hàng (phí chuyển khoản, ATM, thẻ tín dụng…), cho thuê mặt bằng giao dịch…, nâng cao tỷ trọng thu về dịch vụ trong tổng thu nhập từ khách hàng.
Ngân hàng có thể tận dụng cơ sở khách hàng, mối quan hệ dài hạn với khách hàng, hệ thống phân phối hiện thời… nhằm tạo ra lợi thế so với các kênh phân phối khác trong hoạt động phân phối các sản phẩm bảo hiểm nhằm tạo thu nhập ổn định.
Bancassurance giúp các ngân hàng tăng năng suất hoạt động của nhân viên ngân hàng thông qua việc cung cấp thêm các sản phẩm bảo hiểm, do vậy giúp giảm chi phí cố định một cách tương đối cho ngân hàng, đồng thời, các nhân viên ngân hàng cũng có thêm động lực và thu nhập. Ngoài ra, “văn hóa bán hàng” thu nhận được trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm sẽ tác động tích cực trở lại đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.
Khi hợp tác với công ty bảo hiểm, ngân hàng có thể tăng cường thương hiệu và uy tín của mình trên thị trường, đồng thời, tạo thêm năng lực đổi mới, giảm bớt sự biến động của lợi nhuận theo thời gian do khả năng sinh lợi của ngành ngân hàng và bảo hiểm thường biến động không theo cùng một chu kỳ. Thêm vào đó, Bancassurance giúp giảm vốn theo rủi ro của ngân hàng.
Việc cung cấp các sản phẩm bảo hiểm cũng giúp giảm thiểu rủi ro không thu hồi được nợ của ngân hàng đối với các khoản cho vay.
Hoạt động Bancassurance giúp tăng nguồn vốn huy động của ngân hàng từ phía bảo hiểm. Có thể thấy trong các thỏa thuận hợp tác của các công ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam với các ngân hàng đều bao hàm các thỏa thuận đầu tư tiền hoặc phí bảo hiểm thu được vào ngân hàng.
1.2.2. Tác dụng đối với công ty bảo hiểm Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Bancassurance tạo ra nguồn khách hàng mới và cơ hội cho các sản phẩm mới của các công ty bảo hiểm do công ty bảo hiểm có thể tiếp cận và sử dụng nguồn dữ liệu rất lớn về khách hàng của ngân hàng, nhờ đó có thể khai thác tối đa tiềm năng của thị trường. Có thể thấy, những khách hàng của ngân hàng là những khách hàng tiềm năng lớn đối với các công ty bảo hiểm vì họ thường có thu nhập trung bình khá trở lên và ít nhiều có thói quen sử dụng dịch vụ tài chính.
Bancassurance giúp tiết kiệm chi phí cho công ty bảo hiểm nhờ tận dụng được quy mô lớn các đại lý của ngân hàng, qua đó giảm chi phí phân phối sản phẩm. Đồng thời, công ty bảo hiểm gia tăng được lợi nhuận từ việc giảm chi phí chi trả cho các đại diện bán hàng truyền thống.
Bancassurance giúp các công ty bảo hiểm đa dạng hóa các kênh phân phối, tăng cường khả năng cạnh tranh nhất là trong giai đoạn thị trường bão hòa, đồng thời giảm bớt sự biến động lợi nhuận theo thời gian.
Trong hợp tác bán bảo hiểm qua ngân hàng, các công ty bảo hiểm có thể giảm thiểu rủi ro phát sinh từ việc giao dịch bằng tiền mặt, giải quyết tốt bài toán thu phí, thanh toán quyền lợi bảo hiểm bằng tiền mặt. Đối với các nước mà người dân có thói quen sử dụng tiền mặt cao như ở Việt Nam, điều này rất có ý nghĩa. Thực tế cho thấy, các công ty bảo hiểm, đặc biệt là các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam chịu rủi ro lớn trong việc quản lý tiền mặt trong quá trình thu phí, giải quyết quyền lợi bảo hiểm (mất cắp, tiền giả, nhầm lẫn…) và giải quyết bài toán rất lớn về tổ chức lực lượng thu phí bảo hiểm. Rõ ràng, Bancassurance giúp giảm bớt sự lệ thuộc của công ty bảo hiểm vào hệ thống đại lý và môi giới.
Hợp tác với ngân hàng, các công ty bảo hiểm có thể tăng cường thương hiệu và uy tín của mình trên thị trường trong việc sử dụng uy tín và thương hiệu của ngân hàng, vì trên thực tế hệ thống ngân hàng thường có uy tín rất lớn trong đời sống kinh tế – xã hội.
Đặc biệt là trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, khi sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và hiệu quả của việc phân phối qua các kênh truyền thống có xu hướng sụt giảm thì việc liên kết với các ngân hàng vốn có kinh nghiệm quốc tế trong quan hệ với khách hàng và chiến lược marketing sẽ hết sức có lợi cho các công ty bảo hiểm.
1.2.3. Tác dụng đối với khách hàng
Sự ra đời của Bancassurance giúp cho khách hàng được sử dụng một dịch vụ tài chính tổng thể với chi phí thấp hơn và tính thuận tiện cao hơn. Khách hàng có thêm một kênh để tiếp cận sản phẩm, mở rộng sự chọn lựa của mình.
Khách hàng mua bảo hiểm qua kênh phân phối Bancassurance sẽ được hưởng mức phí rẻ hơn do chi phí phân phối thấp hơn như đã phân tích ở trên. Thêm vào đó, việc thanh toán phí cũng sẽ trở nên thuận tiện, đơn giản hơn do được thanh toán trực tiếp qua ngân hàng, đặc biệt đối với các khách hàng vốn đã có nhiều giao dịch từ trước với ngân hàng.
Khi mua các sản phẩm Bancassurance, khách hàng có thể quản lý rủi ro tốt hơn và hoạch định tài sản hiệu quả hơn. Đồng thời, khách hàng có thể được hưởng các dịch vụ gia tăng khác.
Bên cạnh đó, khi mua bảo hiểm tại ngân hàng, khách hàng được cung cấp thêm nhiều thông tin và củng cố thêm niềm tin vì có thêm một đối tượng để “bảo lãnh uy tín” cho công ty bảo hiểm. Khách hàng cũng có thể được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước.
1.3. Đặc điểm
Mặc dù ra đời muộn so với các kênh phân phối bảo hiểm truyền thống nhưng Bancassurance với nền tảng là sự liên kết của hai ngành ngân hàng và bảo hiểm đã mang những đặc điểm và lợi thế nổi bật, trở thành một kênh phân phối có năng lực cạnh tranh vượt trội.
1.3.1. Kênh phân phối hiệu quả, có uy tín và rộng khắp Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Trước hết, Bancassurance là một kênh phân phối bảo hiểm hiệu quả và rộng khắp. Điều này có được do Bancassurance hoạt động dựa trên mạng lưới các đại lý và chi nhánh có sẵn, dày đặc và uy tín của ngân hàng. Lợi thế từ các mạng lưới này đã tạo ra khả năng cung cấp một cách thuận tiện các sản phẩm Bancassurance đến khách hàng xuất phát từ sự gần gũi về mặt con người và địa lý. Mối quan hệ gần gũi mật thiết với khách hàng cũng chính là một yếu tố quan trọng trong hợp tác Bancassurance bởi nó không chỉ tạo dựng sự tin tưởng và lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng mà sẽ giúp tăng cơ hội bán các sản phẩm bảo hiểm, từ đó giúp cho việc hợp tác bán bảo hiểm qua ngân hàng trở nên dễ dàng hơn.
Mặt khác, cũng chính vì bán bảo hiểm qua ngân hàng là sự kết hợp của các công ty bảo hiểm và ngân hàng, nên uy tín vốn có của các ngân hàng đã trở thành uy tín của kênh bán bảo hiểm mới này và là một sự đảm bảo cho các hoạt động Bancassurance. Việc hoạt động có hiệu quả của ngân hàng sẽ tác động tích cực tới hoạt động Bancassurance. Thực tế, tại hầu hết các nước trên thế giới hiện nay, công chúng có sự nhìn nhận tốt và lòng tin đối với các ngân hàng, chẳng hạn như tại các nước Pháp, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Italia hay Bỉ, các khách hàng có quan hệ đặc biệt tin tưởng đối với ngân hàng và các nhân viên ngân hàng. Và các ngân hàng cũng thu được lợi nhuận từ sự tin tưởng đó cho dù thực tế vẫn không thể nói được là các ngân hàng có lợi thế hơn các công ty bảo hiểm trong việc giải quyết các vấn đề tài chính hay không. Chính từ sự tin tưởng với ngân hàng nên dù ban đầu Bancassurance còn là một kênh phân phối mới mẻ nhưng các khách hàng cũng đã có niềm tin đối với Bancassurance do họ thấy được sự đảm bảo từ các ngân hàng mà họ tin cậy. Mặt khác, các sản phẩm bảo hiểm cung cấp qua kênh ngân hàng lại thường được các công ty bảo hiểm có uy tín và am hiểu sâu sắc lĩnh vực bảo hiểm và quản lý đầu tư thiết kế, cho nên uy tín của Bancassurance chính là một sự cộng hưởng uy tín của hai đối tác tài chính ngân hàng và bảo hiểm.
1.3.2. Bancassurance có thế mạnh về đội ngũ nhân viên bán hàng
Nhờ nền tảng là quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng và công ty bảo hiểm mà Bancassurance có thể huy động được một lực lượng khá dồi dào các nhân viên bán hàng lành nghề thuộc cả hai lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm. Những nhân viên này có đủ khả năng và kinh nghiệm làm việc để thích ứng với các dự án hợp tác giữa các ngân hàng và công ty bảo hiểm.
Đối với các ngân hàng, ưu thế mà họ có chính là sự tiếp xúc thường xuyên với các khách hàng, hiểu rõ nhu cầu của khách hàng và có được cơ sở thông tin cần thiết về khách hàng. Do đó, việc bán bảo hiểm qua ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế này để phục vụ khách hàng một câch tốt nhất, khách hàng khi đến các ngân hàng tin cậy có thể mua được các sản phẩm bảo hiểm tối ưu do đội ngũ bán hàng Bancassurance sẽ dựa trên các hiểu biết về khách hàng và đưa ra những sự tư vấn phù hợp, đồng thời trực tiếp giải đáp được mọi thắc mắc của khách hàng.
Đối với các công ty bảo hiểm, lợi thế mà họ mang lại cho Bancassurance chính là đội ngũ nhân viên lành nghề, có kiến thức chuyên môn về các sản phẩm bảo hiểm. Kết hợp với cơ sở thông tin về nhu cầu và tình hình tài chính của khách hàng mà các ngân hàng cung cấp, sự hiểu biết chuyên môn và kinh nghiệm tư vấn bảo hiểm của các chuyên viên bảo hiểm sẽ mang lại những sự tư vấn hay hợp đồng Bancassurance hiệu quả cho các khách hàng. Đồng thời, các nhân viên bảo hiểm sẽ hỗ trợ các nhân viên ngân hàng những kiến thức về bảo hiểm, về các sản phẩm bảo hiểm mà nhân viên ngân hàng sẽ bán cho các khách hàng. Chính nhờ sự hỗ trợ từ các nhân viên bảo hiểm này mà trong thời gian đầu hoạt động, các ngân hàng không cần thiết phải tạo ra những sản phẩm mới mà có thể khai thác hiệu quả các sản phẩm bảo hiểm sẵn có, đáp ứng các nhu cầu của khách hàng.
1.3.3. Danh mục sản phẩm Bancassurance đa dạng, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
Trình độ dân trí ngày càng tăng, mức sống phát triển cùng khả năng lĩnh hội nhanh hơn các kênh phân phối mới khiến các khách hàng ngày nay luôn có nhu cầu và sự đòi hỏi cao hơn về chủng loại cũng như phương thức cung cấp các dịch vụ tài chính.
Với Bancassurance, khách hàng được sử dụng các dịch vụ tài chính đa dạng và “trọn gói” qua “một cửa” với chi phí thấp hơn, thuận tiện hơn trước và được hưởng thêm các dịch vụ gia tăng khác. Các sản phẩm mà các ngân hàng và công ty bảo hiểm cung cấp qua kênh phân phối Bancassurance là các sản phẩm kết hợp giữa các dịch vụ ngân hàng và sản phẩm bảo hiểm, như: sản phẩm bảo hiểm tín dụng, sản phẩm bảo hiểm cho vay thấu chi, sản phẩm bảo hiểm đầu tư, sản phẩm bảo hiểm mang tính bảo vệ, sản phẩm bảo hiểm tiết kiệm… Chính đặc điểm của sự kết hợp dịch vụ tạo nên các sản phẩm đa dạng như vậy giúp cả ngân hàng và công ty bảo hiểm đạt được mục tiêu tối đa hóa chất lượng và số lượng dịch vụ phục vụ khách hàng. Điều này không dễ gì có được nếu ngân hàng và công ty bảo hiểm hoạt động riêng rẽ bởi không có ngân hàng hay công ty bảo hiểm nào có thể cung cấp một tập hợp dịch vụ với những tính năng ưu việt như thế.
2. Quá trình ra đời và phát triển của dịch vụ Bancassurance Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Châu Âu là “cái nôi” của Bancassurance và những hình thức liên kết sơ khai đầu tiên giữa ngân hàng và bảo hiểm đã ra đời tại Pháp và Tây Ban Nha. Tại Pháp, vào đầu thập niên 70 của thế kỷ 20, ACM (Assurances du Crédit Mutuel) Vie et IARD (life and general insurance – Công ty bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm hỗn hợp) đã chính thức được phép đi vào hoạt động, đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử ngành bảo hiểm. Ý tưởng của công ty này là tránh việc phải sử dụng đơn vị trung gian bảo hiểm khoản cho vay và bảo vệ chính các khách hàng có giao dịch ngân hàng với mình. Đây chính là tiền thân của hoạt động mà 15 năm sau được gọi là “Bancassurance”. Vào năm 1971, ngân hàng Credit Lyonnais của Pháp đã mua lại Médicale de France Group và đến năm 1993, công ty này đã ký kết thỏa thuận với công ty bảo hiểm Union des Assurances Federales cho phép Union dé Assurances Federales độc quyền cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua mạng lưới của Credit Lyonnais.
Tại Tây Ban Nha, Bancassurance xuất hiện vào năm 1981 với việc ngân hàng Banco de Bilbao mua lại phần lớn công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Duroseguros SA.
Tại Bỉ, Bancassurance xuất hiện vào năm 1989 với việc công ty bảo hiểm hàng đầu AG và ngân hàng Générale de Banque hợp tác cho ra đời sản phẩm Alpha Life. Năm 1990, công ty bảo hiểm lớn của Hà Lan AMVE N.V. và ngân hàng Hà Lan VSB đánh dấu sự bắt đầu của hoạt động Bancassurance tại đây bằng việc sáp nhập với nhau. Cùng với sự tham gia sau đó của tập đoàn AG, các công ty này đã thực hiện vụ sáp nhập chéo đầu tiên trong ngành tài chính thế giới và cho ra đời tập đoàn ngân hàng – bảo hiểm Fortis Group, một trong những đế chế tài chính hàng đầu tại châu Âu hiện nay.
Các nước Đức, Italia phải rất lâu sau mới bắt đầu các hoạt động Bancassurance, điều này cũng tương tự với Châu Á. Còn tại Mỹ, việc thông qua đạo luật Gramm-Leach Bliley (Đạo luật hiện đại hóa hệ thống tài chính) – một đạo luật cải cách toàn diện cơ cấu hoạt động tài chính, theo đó cho phép sử dụng nhiều kênh phân phối qua các ngân hàng và các công ty bảo hiểm vào năm 1999 – đã thúc đẩy sự phát triển của Bancassurance. Trước đó, công ty bảo hiểm Travelers Group và ngân hàng Citicorp đã sáp nhập với nhau và tạo bước khởi đầu cho Bancassurance tại nước này. Tuy nhiên, Bancassurance chỉ thực sự được triển khai trên quy mô đầy đủ khi Đạo luật trên có hiệu lực vào năm 2000.
Như vậy, Bancassurance đã có lịch sử hơn 35 năm trên thế giới. Tại các thị trường mà Bancassurance đã phát triển đầy đủ như Pháp và Bỉ, các công ty như Fortis hay Cardif đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới; tiến đến các thị trường Bancassurance mới; hoặc các công ty lớn liên kết với nhau thành các Consortium tạo ra những tập đoàn chuyên kinh doanh về Bancassurance, với mức phí bảo hiểm hàng năm đạt trên 13 tỷ Euro. Hiện tượng này ngày càng trở nên phổ biến hơn theo thời gian. Trong khi đó, tại những thị trường khác, Bancassurance đang từng bước phát triển, và thậm chí ở một số nước Bancassurance chỉ mới bắt đầu xuất hiện.
3. Phân loại Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
3.1. Phân loại theo cấu trúc
3.1.1. Mô hình hợp tác (Referral Model)
Các ngân hàng không có ý định mạo hiểm có thể ứng dụng mô hình hợp tác, trong đó họ chỉ chia sẻ cơ sở dữ liệu khách hàng với mục đích thu hoa hồng. Giao dịch thực sự với khách hàng tiềm năng trong mô hình này do nhân viên công ty bảo hiểm thực hiện tại trụ sở ngân hàng hoặc bất kì nơi nào. Mô hình hợp tác chính là một thỏa thuận đơn giản trong đó ngân hàng, cùng lúc kiểm soát việc truy cập cơ sở dữ liệu khách hàng, chỉ làm việc dẫn mối cho các đại lý hoặc nhân viên bán hàng của công ty bảo hiểm để hưởng “phí chỉ dẫn” (referral fee) hoặc tiền hoa hồng cho mỗi thương vụ dắt mối thành công. Trên thực tế, một số ngân hàng ở Việt Nam đã dựa vào chiến lược này để bắt đầu hoạt động Bancassurance. Mô hình này sẽ thích hợp cho hầu hết các loại ngân hàng bao gồm ngân hàng khu vực nông thôn (Regional Rural Banks – RRBs)/các ngân hàng hợp tác (cooperative banks) và thậm chí là các tổ chức liên kết cả ở nông thôn và thành thị. Trong trung hạn, mô hình này sẽ được áp dụng ở phạm vi lớn hơn vì các ngân hàng khi bắt đầu hoạt động Bancassurance sẽ tiếp cận mô hình này và rồi sẽ chuyển sang mô hình khác.
3.1.2. Đại lý công ty (Corporate Agency)
Một hình thức phân phối khác là Đại lý công ty (Corporate Agency), trong đó nhân viên ngân hàng với tư cách là một tổ chức sẽ đóng vai trò đại lý công ty cho sản phẩm bảo hiểm để được nhận phí hoặc hoa hồng. Mô hình này có vẻ thích hợp và có khả năng thực hiện cao hơn đối với hầu hết các ngân hàng qui mô trung bình ở Việt Nam vì tỉ lệ hoa hồng cũng sẽ tăng lên tương đối so với trường hợp thỏa thuận hợp tác (referral arrangement). Tuy nhiên, điều này có thể làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng tiếp thị (marketing bank). Ngoài ra, ngân hàng cũng có những khó khăn trong triển khai liên quan đến kiến thức nghề nghiệp về sản phẩm bảo hiểm. Song, khó khăn này có thể khắc phục bằng việc tăng cường đào tạo nhân viên đã được lựa chọn cũng như xác định mục tiêu đúng đắn trong ngân hàng, đồng thời, ngân hàng chỉ bán sản phẩm bảo hiểm đơn giản ở giai đoạn đầu tiên. Mô hình này thích hợp nhất đối với phần lớn các ngân hàng, bao gồm một số ngân hàng liên kết thành thị (urban cooperative banks) lớn bởi vì không có sự chia sẻ rủi ro cũng như không đòi hỏi một khoản đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và đó sẽ là một nguồn thu nhập đáng kể. Mô hình Bancassurance này vận hành tốt ở Hoa Kì do người tiêu dùng thông thường thích mua các hợp đồng bảo hiểm qua một ngân hàng môi giới, nơi chào bán một diện rộng các sản phẩm từ nhiều nhà bảo hiểm khác nhau hơn.
3.1.3. Dịch vụ Tài chính liên kết đầy đủ/công ty liên doanh (Insurance as Fully Integrated Financial Service/ Joint ventures)
Khác với hai mô hình trên, dịch vụ tài chính liên kết đầy đủ thể hiện một mối quan hệ toàn diện và phức tạp hơn nhiều giữa nhà bảo hiểm và ngân hàng, trong đó chức năng của ngân hàng – bao quát toàn bộ hoạt động của mô hình và bán sản phẩm bảo hiểm chỉ là một chức năng bên trong mà thôi. Mô hình này bao gồm các ngân hàng sở hữu hoàn toàn các chi nhánh bảo hiểm với sự tham gia của yếu tố nước ngoài hoặc không. Lợi thế lớn của chiến lược này là ngân hàng có thể sử dụng toàn bộ tiềm năng của mình để thu lợi ích từ sự hợp tác, từ đó đạt được lợi thế kinh tế theo qui mô (economies of scope – tính kinh tế theo qui mô). Có lẽ điều này sẽ phù hợp với các ngân hàng tương đối lớn, có nguồn tài chính vững mạnh và cơ sở hạ tầng tốt hơn.
3.2. Phân loại theo sản phẩm Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
3.2.1. Sản phẩm bảo hiểm riêng biệt (Stand-alone Insurance Products)
Trong trường hợp này, Bancassurance bao gồm việc marketing sản phẩm bảo hiểm thông qua thỏa thuận chỉ dẫn (referral arrangement) hoặc đại lý công ty (corporate agency) mà không kết hợp sản phẩm bảo hiểm với bất kì sản phẩm/dịch vụ nào của bản thân ngân hàng. Bảo hiểm được bán như một món hàng trong danh mục sản phẩm được chào bán tới khách hàng của ngân hàng. Tuy nhiên, sản phẩm của ngân hàng và sản phẩm bảo hiểm sẽ có những nhãn hiệu riêng.
3.2.2. Bảo hiểm kết hợp với sản phẩm ngân hàng (Blend of Insurance with Bank Products)
Phương pháp này nhằm mục đích pha trộn các sản phẩm bảo hiểm như một phần giá trị gia tăng khi xúc tiến bán các sản phẩm của riêng ngân hàng. Nhờ vậy, các ngân hàng có thể bán các sản phẩm bảo hiểm mà không cần đầu tư thêm bất kì nguồn lực nào. Trong hầu hết trường hợp, ngân hàng đưa ra hợp đồng bảo hiểm (insurance cover) ở một mức phí danh nghĩa (nominal premium) hoặc đôi khi không đưa ra mức phí xác định (explicit premium) sẽ làm tăng sức hút đối với các sản phẩm của ngân hàng như thẻ tín dụng, các khoản vay hỗ trợ nhà ở, khoản vay hỗ trợ giáo dục… Nhiều ngân hàng ở Việt Nam trong những năm gần đây đã rất năng động trong việc tiếp thị thẻ tín dụng (credit card) và thẻ ghi nợ (debit card), trong đó chủ thẻ nhận bảo hiểm ở một mức phí danh nghĩa hoặc được miễn một mức phí xác định (explicit charges/premium) (ẩn trong phí hàng năm). Tương tự, các khoản cho vay mua nhà, mua xe … cũng được thiết kế với một mức bảo hiểm ưu đãi nhằm khuyến khích tiêu dùng.
3.3. Phân loại theo mức độ liên kết giữa ngân hàng và công ty bảo hiểm
Xét về mức độ kết hợp giữa ngân hàng và bảo hiểm, Bancassurance có thể được phân chia thành các hình thức cơ bản sau:
- Thỏa thuận phân phối (Distribution Agreement)
- Đồng minh chiến lược (Strategic Alliance)
- Liên doanh (Joint Venture) Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
- Tập đoàn dịch vụ tài chính (Financial Services Group)
Dưới đây là các đặc điểm của mỗi hình thức, được trình bày theo mức độ kết hợp tăng dần:
Bảng 1. Đặc điểm của các hình thức Bancassurance phân loại theo mức độ liên kết
Ngân hàng phân phối các sản phẩm bảo hiểm (bán riêng rẽ hoặc bán hàng với các sản phẩm
- Mức độ kết hợp cao hơn trong việc cung cấp ản phẩm và quản lý kênh phân phối.
- Cùng sở hữu về sản phẩm và khách hàng.
- Chia sẻ cơ sở dữ liệu khách
- Các hoạt động và hệ thống được kết hợp hoàn toàn.
- Có khả năng cao trong việc sử dụng cơ sở dữ liệu
Dựa trên các hình thức hợp tác này, Bancassurance được chia thành ba mô hình hoạt động chính là Mô hình liên kết (Integrated Model), Mô hình không liên kết (Non-integrated Model) và Mô hình cấu trúc mở (Open Architecture Model).
3.3.1. Mô hình liên kết (Integrated Model)
Theo mô hình này, các ngân hàng thường thành lập hay sở hữu một công ty bảo hiểm hay thông qua liên doanh sẽ ký kết các thỏa thuận phân phối độc quyền. Các hoạt động bảo hiểm sẽ liên kết ở mức độ cao với quy trình làm việc của ngân hàng. Phí bảo hiểm được thu bởi ngân hàng, thông thường khấu trừ trực tiếp từ tài khoản của khách hàng ở ngân hàng. Các dữ liệu khách hàng và việc bán bảo hiểm sẽ được thực hiện bởi các nhân viên ngân hàng, một số trường hợp có thể có thêm sự tư vấn của các chuyên gia bảo hiểm nếu sản phẩm phức tạp hơn hay phải đáp ứng nhu cầu riêng của khách hàng.
Ưu điểm của mô hình này là tính hiệu quả rất cao. Cho đến nay đây là mô hình Bancassurance thành công nhất trên thế giới và chỉ với mô hình này các ngân hàng mới giành được thị phần và lợi nhuận cao nhất. Lý do là các ngân hàng tận dụng được tối đa ưu thế về cơ sở khách hàng, sự trung thành của khách hàng và năng lực bán hàng của hệ thống chi nhánh rộng lớn của mình. Đồng thời, đây là mô hình mà Bancassurance đem lại hiệu quả chi phí rõ rệt nhất so với các kênh phân phối truyền thống khác.
Tuy nhiên, nhược điểm là việc bán các sản phẩm bảo hiểm sẽ chủ yếu phụ thuộc vào mục tiêu bán hàng của các nhân viên và chi nhánh ngân hàng mà không quan tâm nhiều đến việc phân tích nhu cầu của khách hàng. Việc đào tạo nhân viên bán bảo hiểm ở ngân hàng cũng hạn chế, điều này có thể dẫn đến những sai sót hoặc bỏ lỡ các cơ hội bán hàng, nhất là trong trường hợp ngân hàng thâm nhập vào thị trường bảo hiểm hưu trí. Điều này cũng tạo ra những khó khăn khi ngân hàng muốn bán các sản phẩm phức tạp, có nhiều giá trị gia tăng hơn.
3.3.2. Mô hình không liên kết (Non-integrated Model) Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Trong mô hình này, ngân hàng thường thiết lập mạng lưới các nhà tư vấn bảo hiểm được ủy quyền bán các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được phép. Các nhà tư vấn này thường hoạt động như các đại lý liên kết và độc quyền bán sản phẩm của các công ty bảo hiểm trực thuộc ngân hàng hay một bên thứ ba khác. Mô hình này thường được áp dụng khi các quy định pháp lý và luật pháp về thuế không cho phép mức độ liên kết và thâm nhập sâu giữa ngân hàng và bảo hiểm, chẳng hạn: Các nhân viên ngân hàng không được phép bán các sản phẩm bảo hiểm hay thiết kế các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ để tận dụng được các lợi thế về thuế, tạo ra những bất lợi đối với ngân hàng.
Điểm mạnh của mô hình này là các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của ngân hàng sẽ được bán bởi các chuyên gia tư vấn bảo hiểm dựa trên cơ sở phân tích và chọn lựa theo các nhu cầu của khách hàng. Do vậy, mô hình này cho phép những nhà kinh doanh Bancassurance xây dựng một mối quan hệ lâu dài với khách hàng nhờ việc cung cấp cho sự tư vấn hữu ích và có thể bán các sản phẩm giá trị gia tăng lớn với lợi nhuận biên cao hơn.
Tuy nhiên, điểm hạn chế là khối lượng sản phẩm kinh doanh sẽ thấp hơn. Điều này cùng với thực tế là mức độ hợp tác giữa ngân hàng và bảo hiểm trong mô hình này chưa cao dẫn đến việc Bancassurance không tận dụng được lợi thế giảm chi phí hoạt động so với các kênh phân phối truyền thống.
3.3.3. Mô hình cấu trúc mở (Open Architecture Model)
Mô hình này thường được áp dụng khi có những hạn chế về mặt pháp lý đối với Bancassurance (chẳng hạn như các ngân hàng không được phép liên kết với một số công ty bảo hiểm), hoặc để đáp ứng những nhu cầu của khách hàng bằng việc cung cấp cho họ nhiều sự lựa chọn hơn về sản phẩm bảo hiểm.
Điểm mạnh của mô hình này là các ngân hàng sẽ không bị ràng buộc liên kết với một công ty bảo hiểm nào cố định. Ngân hàng có thể lựa chọn đối tác bảo hiểm tốt nhất cho mình đối với từng loại sản phẩm bảo hiểm và trong một số trường hợp có thể thay đổi hoặc thiết kế các sản phẩm đặc biệt để đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của người tiêu dùng. Sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các công ty bảo hiểm để có được đối tác Bancassurance tốt nhất cho phép các ngân hàng có được những sản phẩm và/hoặc mức hoa hồng hấp dẫn. Đối với các công ty bảo hiểm đang tìm kiếm sự đa dạng hóa trong chiến lược phân phối của mình thì mô hình này cho phép họ có cơ hội xây dựng và phát triển các sản phẩm dựa trên năng lực và đặc thù riêng có để thiết lập các quan hệ hợp tác phân phối với ngân hàng.
Điểm yếu của mô hình này là sự kém hiệu quả về mặt chi phí so với mô hình liên kết do mức độ hợp tác trên hệ thống và quy trình phân phối sản phẩm bảo hiểm thấp hơn.
4. Vai trò của Bancassurance Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
4.1. Đối với các ngân hàng
4.1.1. Mang lại nguồn phí đáng kể
Nguồn thu phí truyền thống của ngân hàng là những khoản phí cố định đánh trên các khoản cho vay (loans and advances), thẻ tín dụng, phí bán hàng dựa trên các giao dịch mua bán thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, thư tín dụng và các hoạt động khác. Nguồn thu này gần như ổn định theo thời gian và sự tăng trưởng có thể dự đoán được. Tuy nhiên, khi lãi suất giảm mạnh, canh tranh tăng và sự luân chuyển ngang của khách hàng tăng lên thì buộc các ngân hàng phải tìm kiếm một giải pháp bù đắp cho lợi nhuận cận biên giảm xuống; và Bancassurance chính là thứ họ tìm kiếm. Phí thu được từ việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm đã mở ra những chân trời mới cho các ngân hàng.
Từ quan điểm của các ngân hàng, cơ hội và xác suất thu lợi từ kênh Bancassurance là vô tận. Một ngân hàng thương mại điển hình có tiềm năng tối đa hóa khoản phí thu từ Bancassurance lên tới 50% tổng phí từ tất cả các nguồn. Thu nhập từ phí Bancassurance cũng làm giảm tổng chi phí tiếp cận khách hàng trên góc độ tính toán của ngân hàng. Cuối cùng, không rủi ro mà chỉ có lợi, đó là khoản “tiền rẻ” (easy money) đối với các ngân hàng.
4.1.2. Đa dạng hóa sản phẩm Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Về mặt sản phẩm, cơ hội cho các ngân hàng cũng vô hạn. Bảo hiểm nhân thọ với điều khoản thông thường, đơn bảo hiểm trợ cấp, lợi tức niên kim, bảo hiểm giáo dục, bảo hiểm người gửi và bảo lãnh tín dụng là những hợp đồng thường được bán qua các kênh Bancassurance. Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xe hơi, bảo hiểm nhà ở và bảo hiểm du lịch cũng là những sản phẩm được phân phối bởi các ngân hàng. Tuy nhiên, những đổi mới gần đây trong thị trường bảo hiểm đã cung cấp ngày càng nhiều các sản phẩm Bancassurance để thỏa mãn nhu cầu tăng lên của ngân hàng về các sản phẩm này.
Các nhà bảo hiểm thường bị cáo buộc không linh động về giá cả và cơ cấu sản phẩm đã phản ứng tốt với những thách thức (có thể là cơ hội) gia tăng do sự phát triển của Bancassurance. Họ sẵn sàng đổi mới, thử nghiệm và đưa ra những sản phẩm Bancassurance chuyên biệt trong phạm vi của mình.
4.1.3. Xây dựng mối quan hệ mật thiết với khách hàng
Sự cạnh tranh tăng lên cũng gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc giữ chân khách hàng của mình. Bancassurance cũng chính là giải pháp trong trường hợp này. Việc cung cấp nhiều dịch vụ tại chỉ một địa điểm cho khách hàng nghĩa là nâng cao mức độ thỏa mãn của khách hàng. Ví dụ, thông qua Bancassurance, một khách hàng có thể nhận được khoản vay mua nhà cùng với bảo hiểm ở một địa điểm duy nhất như là một sản phẩm kết hợp. Một lợi thế quan trọng khác mà Bancassurance mang lại cho các ngân hàng là sự phát triển văn hóa bán hàng trong đội ngũ nhân viên. Đồng thời, nghiệp vụ ngân hàng ở Việt Nam chủ yếu được tiến hành theo mô hình trực tiếp (brick and mortar model), có nghĩa là hầu hết khách hàng vẫn đến làm việc tại các tòa nhà chi nhánh ngân hàng. Điều này làm cho các nhân viên ngân hàng có thể liên hệ cá nhân với khách hàng của họ. Trong một mô hình Bancassurance điển hình, khách hàng có thể tiếp cận với một hỗn hợp sản phẩm rộng hơn – một gói dịch vụ tài chính toàn diện, bao gồm các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm.
4.2. Đối với các công ty bảo hiểm
4.2.1. Nâng cao năng lực cạnh tranh Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Hiện nay, do quá trình tự do hóa nền kinh tế, các công ty bảo hiểm tư nhân có thể dễ dàng tham gia vào “cuộc chiến” mà đòi hỏi cấp thiết là người tham gia phải luôn cố gắng khôn khéo hơn người khác. Thậm chí những công ty lâu đời nhất cũng đã bắt đầu phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt. Vì vậy, để cạnh tranh với nhau và để đi trước một bước, chiến lược mới dưới hình thức Bancassurance là cần thiết. Điều này cũng sẽ mang lại lợi ích cho khách hàng qua việc đa dạng hóa sản phẩm.
4.2.2. Giải quyết vấn đề chi phí đại lý cao
Các nhà bảo hiểm đã đặt chân vào nhiều hình thức phân phối khác do chi phí dịch vụ đại lý cao. Những chi phí này đã trở thành gánh nặng quá lớn đối với nhiều công ty so với những gì mà việc kinh doanh đem lại. Do đó, công ty bảo hiểm cần phải có một kênh phân phối hiệu quả về mặt chi phí. Đó chính là lí do ngân hàng trở thành một kênh phân phối các sản phẩm bảo hiểm.
4.2.3. Thâm nhập thị trường nông thôn
Ngành bảo hiểm không mấy thành công trong việc thâm nhập thị trường nông thôn. Người dân nông thôn vẫn còn thiếu nhận thức về bảo hiểm như một công cụ đảm bảo cho cuộc sống của họ. Tuy nhiên, khác biệt về khu vực này có thể được san lấp với sự giúp đỡ của Bancassurance. Mạng lưới chi nhánh ngân hàng có thể giúp người dân nông thôn nâng cao nhận thức về bảo hiểm, từ đó mở rộng phạm vi kinh doanh của các công ty bảo hiểm.
4.2.4. Phân phối đa kênh
Ngày nay, các công ty bảo hiểm đang cố gắng khai thác từng cách và mọi cách để bán sản phẩm của mình. Vì mục đích này, họ sử dụng nhiều kênh phân phối khác nhau. Bảo hiểm có thể được bán qua đại lý, trung gian hoặc thông qua các chi nhánh… Để tận dụng triệt để qui mô dân số và vươn tới một số lượng khách hàng đáng kể, các công ty bảo hiểm cần phải áp dụng mô hình phân phối Bancassurance.
4.2.5. Hướng tới đối tượng khách hàng có thu nhập trung bình
Trước đây, khi người dân còn thiếu nhận thức về bảo hiểm, các đại lý bán hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng giàu có, thuộc tầng lớp trên của xã hội mà ít quan tâm tới nhóm người có thu nhập trung bình. Thông qua liên doanh với các ngân hàng, các công ty bảo hiểm có thể tiếp cận được thị trường bị bỏ quên này. Bancassurance cần thiết để mở rộng cơ sở dữ liệu khách hàng có thu nhập trung bình của ngân hàng.
5. Các kênh phân phối Bancassurance Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Bản chất Bancassurance là một kênh phân phối các sản phẩm bảo hiểm qua ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động Bancassurance lại bao gồm nhiều kênh bán bảo hiểm khác nhau mà thành công của Bancassurance có được chính là nhờ sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ giữa các kênh phân phối này. Các kênh phân phối chính của Bancassurance hiện nay gồm có:
5.1. Các đại lý chuyên nghiệp (Career Agents)
Các đại lý chuyên nghiệp là những người có ký hợp đồng đại lý để bán các sản phẩm bảo hiểm. Họ thường được coi là những nhà thầu độc lập, tức là công ty ký hợp đồng với họ và chỉ quản lý những hoạt động của đại lý được nêu rõ trong hợp đồng. Mặc dù phạm vi quản lý có hạn, nhưng các đại lý chuyên nghiệp là những người bán bảo hiểm được đào tạo chuyên môn, nên nếu có động lực phù hợp và được giám sát hợp lý thì họ sẽ cho năng suất cao, sử dụng các chi phí bỏ ra một cách hiệu quả. Ngoài ra, nếu cung cấp dịch vụ khách hàng tốt sẽ được nhận các khoản thưởng theo hợp đồng nên chất lượng dịch vụ khách hàng của các đại lý chuyên nghiệp thường cao.
Tuy nhiên, một số công ty hoạt động Bancassuance lại tránh sử dụng kênh phân phối này do xu hướng các đại lý này chạy theo số lượng nên cố bán được càng nhiều sản phẩm càng tốt mà ít chú trọng đến chất lượng. Nhược điểm này không phát sinh từ bản chất của kênh phân phối này mà là do một số đại lý thường lợi dụng những quy định chưa chặt chẽ về thù lao và tiền thưởng.
5.2. Các nhà tư vấn đặc biệt (Special Advisers) Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Các nhà tư vấn đặc biệt là những nhân viên có trình độ chuyên môn cao, thường là nhân viên của bên đối tác bảo hiểm – bên phân phối sản phẩm bảo hiểm cho các khách hàng của ngân hàng. Các ngân hàng thường chuyển những yêu cầu phức tạp liên quan tới bảo hiểm tới các nhà tư vấn này để giải quyết. Đối tượng khách hàng của các nhà tư vấn đặc biệt chủ yếu bao gồm những người đòi hỏi dịch vụ chất lượng cao và đáp ứng được các nhu cầu cá nhân. Thông thường, các nhà tư vấn đặc biệt nhận được thù lao và tiền thưởng dựa theo doanh số sản phẩm bán được.
5.3 Các đại lý được trả lương (Salaried Agents)
Các đại lý được trả lương nằm dưới sự quản lý và giám sát của công ty bảo hiểm hoạt động Bancassurance. Bán bảo hiểm qua kênh này có thuân lợi là các đại lý thực hiện đúng nhiệm vụ và mục tiêu của công ty quản lý. Kênh phân phối này gần giống với kênh các đại lý truyền thống của công ty bảo hiểm và có đặc điểm chung với kênh các đại lý chuyên ghiệp. Điểm khác biệt duy nhất là họ được trả lương, trong khi các đại lý chuyên nghiệp nhận được tiền thưởng dựa trên doanh số sản phẩm bán được.
Một số công ty hoạt động Bancassurance chịu ảnh hưởng bởi những kết quả tiêu cực do các đại lý chuyên nghiệp quá tập trung chạy theo doanh số, không chú trọng tới chất lượng dịch vụ khách hàng đã chuyển đổi hệ thống bán hàng của họ thành các đại lý được trả lương.
5.4. Các nhân viên bán hàng tại ngân hàng (Bank Employees/ Platform Banking)
Các nhân viên bán hàng tại ngân hàng là những nhân viên ngân hàng được bố trí ngay tại các ngân hàng để giới thiệu cho khách hàng gặp những đại diện của công ty bảo hiểm trong ngân hàng. Nhân viên bán hàng tại ngân hàng có thể là nhân viên thu ngân hoặc một trợ lý về nghiệp vụ ngân hàng; còn người đại diện cho công ty bảo hiểm trong ngân hàng có thể là một nhân viên ngân hàng chuyên trách hoặc một đại diện đến từ công ty bảo hiểm đối tác.
Tại một số ngân hàng, các nhân viên bán hàng có sự trợ giúp của các nhà tư vấn tài chính trong ngân hàng. Các nhân viên ngân hàng thiết lập quan hệ với khách hàng để bán các sản phẩm giản đơn; còn những khách hàng quan trọng hơn, các sản phẩm phức tạp hơn thuộc phạm vi đảm nhận của các nhà tư vấn tài chính trong ngân hàng. Các nhà tư vấn tài chính thường bán bảo hiểm ngay tại chi nhánh ngân hàng; nhưng một số ngân hàng cũng thành lập lực lượng bán bảo hiểm di động.
Các nhân viên bán hàng tại ngân hàng thường bán những sản phẩm bảo hiểm đơn giản, tuy nhiên hiệu quả bán hàng lại chưa cao do việc bán bảo hiểm của họ chỉ hạn chế trong giờ làm việc của ngân hàng, và họ còn phải đảm nhiệm những nhiệm vụ khác trong ngân hàng. Ngoài ra, thị trường mục tiêu của họ chỉ giới hạn ở những khách hàng tới ngân hàng trong giờ làm việc.
5.5. Thành lập hoặc mua lại các đại lý hoặc các công ty môi giới (Corporate Agencies and Brokerage Firms) Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Đây là kênh phân phối ra đời muộn từ sự hợp tác của ngân hàng với các đại lý bảo hiểm hoặc công ty môi giới bảo hiểm hoạt động độc lập, từ đó thành lập các đại lý hợp tác. Lợi thế của các đại lý hợp tác là có nhiều chuyên viên cho những hợp đồng bảo hiểm phức tạp, và nếu hợp tác với các công ty môi giới bảo hiểm thì sẽ mang lại cơ hội cho khách hàng của các ngân hàng nhận được đơn chào hàng từ không chỉ một mà nhiều công ty bảo hiểm. Do có sự tham gia của các công ty môi giới, những người hiểu biết về thị trường bảo hiểm, nên kênh phân phối này có khả năng đáp ứng nhu cầu phục vụ những khách hàng cao cấp của ngân hàng.
5.6. Bán hàng trực tiếp (Direct Response)
Với kênh phân phối này, không có việc người bán hàng tìm đến khách hàng để xúc tiến bán hàng, không có liên hệ trực tiếp giữa người mua và người bán. Khách hàng mua sản phẩm trực tiếp từ công ty hoạt động Bancassurance bằng cách trả lời quảng cáo, thư chào hàng hoặc chào hàng qua điện thoại của công ty. Kênh phân phối này được sử dụng cho những sản phẩm đơn giản mà người mua có thể hiểu được dễ dàng, không cần có sự hỗ trợ hay giải thích nhiều.
5.7. Bán hàng qua Internet
Các dịch vụ ngân hàng qua Internet hiện đã được thiết lập một cách an toàn, trở thành một phương thức thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng hiệu quả và có khả năng thu lợi nhuận. Trong tương lai, các dịch vụ ngân hàng cá nhân qua Internet sẽ còn được cung cấp mạnh mẽ hơn nữa. Và các ngân hàng, công ty bảo hiểm cũng tin tưởng ngân hàng qua Internet là một phương thức hữu hiệu để bán các sản phẩm bảo hiểm. Thực tế cho thấy, ngày càng nhiều khách hàng cao cấp – thị trường mục tiêu của các công ty bảo hiểm – coi các ngân hàng có tên tuổi, thương hiệu, uy tín và năng lực thương mại điện tử là một nguồn cung cấp thích hợp các sản phẩm không thuộc lĩnh vực ngân hàng.
Vì những thuận lợi nêu trên, các ngân hàng đã bắt đầu quan tâm đến việc phát triển khai thác các trang web với tính tương tác cao hơn, cung cấp nhiều thông tin hơn, đồng thời bổ sung những tính năng mới nhằm khai thác dữ liệu thông tin cá nhân của khách hàng để tăng cơ sở khách hàng, chia sẻ nguồn khách hàng này với công ty bảo hiểm và phát triển việc bán các sản phẩm bảo hiểm.
5.8. Môi giới điện tử (E-brokerage) Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Các ngân hàng có thể tự mở hoặc thuê một môi giới điện tử và thông qua môi giới này bán các sản phẩm bảo hiểm của nhiều công ty bảo hiểm khác nhau. Những rào cản về mặt pháp lý trên thế giới đang được dỡ bỏ, sẽ giúp Bancassurance hoạt động theo hướng sử dụng các môi giới điện tử phổ biến hơn. Lợi thế của kênh phân phối này là có quy mô hoạt động lớn, uy tín cao, việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm được tiến hành một cách dễ dàng và có sự trợ giúp đắc lực của Internet.
Với các thị trường và các khách hàng khác nhau, mỗi công ty hoạt động Bancassurance sẽ sử dụng các kênh phân phối khác nhau. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng môt kênh phân phối riêng lẻ thì sẽ rất khó đạt được mục tiêu kinh doanh và chiếm lĩnh các thị trường mục tiêu. Do đó, trên thực tế, các đơn vị hoạt động Bancassurance sử dụng nhiều kênh phân phối khác nhau, tránh được sự phụ thuộc vào một kênh phân phối duy nhất, đồng thời cung cấp các dịch vụ cho một thị trường mục tiêu lớn hơn, mang lại nhiều sự lựa chọn cho khách hàng.
Tuy nhiên, xung đột có thể nảy sinh giữa các kênh phân phối khác nhau và ngay trong một kênh phân phối thuộc hệ thống đa kênh. Để tránh các xung đột đó, doanh nghiệp cần phải đảm bảo những điều kiện sau:
- Các đồng nghiệp trong cùng một kênh hoặc các kênh phải có động lực hợp tác;
- Có mối liên hệ chặt chẽ về tầm quan trọng của các mắt xích trong quy trình phân phối;
- Các khác biệt về văn hóa phải được tôn trọng và chia sẻ;
- Phải đạt được mục đích của hai bên đối tác trong quy trình phân phối;
- Phải nêu rõ, hiểu rõ và tôn trọng vai trò và trách nhiệm cụ thể của mỗi thành viên trong kênh phân phối;
- Khuyến khích thông tin liên lạc giữa các kênh phân phối;
- Bộ phận quản lý kênh phân phối phải quyết đoán và nỗ lực để thành công.
Việc sử dụng, phối hợp và quản lý các kênh phân phối một cách có hiệu quả sẽ thực sự mang lại hiệu quả cho các ngân hàng và công ty bảo hiểm trong việc cung ứng các sản phẩm bảo hiểm và có thể phát triển hoạt động Bancassurance này ở mức cao hơn.
II. Khái quát chung về bảo hiểm nhân thọ và kênh phân phối bán bảo hiểm qua ngân hàng (Bancassurance) trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
1. Bảo hiểm nhân thọ
1.1. Khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Khái niệm
Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia bảo hiểm (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người.
1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
1.1.2.1. Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng. Hoặc số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm. Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần thiết như: thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái… Chính vì vậy, BHNT vừa mang tính chất tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro. Tính chất tiết kiệm ở đây thể hiện ngay trong từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật. Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một khoản tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là khi người được bảo hiểm không may gặp rủi ro, trong thời hạn bảo hiểm đã được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm. Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong BHNT.
1.1.2.2. Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm
Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT đã đáp ứng được nhiều mục đích. Mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống của họ khi già yếu. Hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền bảo hiểm khi họ bị tử vong. Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố như: trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụ dưỡng cha mẹ già… Hợp đồng BHNT đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác… Chính vì sự đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng lớn và được rất nhiều người quan tâm.
1.1.2.3. Các loại hợp đồng trong bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng và phức tạp
Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ở ngay trong các sản phẩm BHNT. Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các hợp đồng 5 năm, 10 năm. Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia… Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp. Khác với các bản hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, mỗi hợp đồng BHNT có thể có 4 bên tham gia: người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm.
1.1.2.4. Phí bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Trong tiến trình để đưa sản phẩm BHNT đến với công chúng, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm như: chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng. Tuy nhiên, những chi phí đó mới chỉ là một phần kết cấu tạo nên giá cả sản phẩm BHNT (tính phí BHNT), một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào:
- Độ tuổi của người được bảo hiểm.
- Tuổi thọ bình quân của con người.
- Số tiền bảo hiểm.
- Thời hạn tham gia.
- Phương thức thanh toán.
- Lãi suất đầu tư.
- Tỷ lệ phạm phát và thiểu phát của đồng tiền…
Điều đó khác với việc định giá cả một chiếc ô tô. Chiếc ô tô là sản phẩm của một dây chuyền sản xuất, để sản xuất ra nó, người ta phải chi ra rất nhiều khoản chi phí nguyên, vật liệu, chi phí lao động sống, khấu hao tài sản cố định… Những khoản chi phí này là những chi phí thực tế phát sinh và thực chất chúng là những khoản chi phí “đầu vào” được hạch toán một cách chi tiết, đầy đủ và chính xác để phục vụ cho quá trình định giá. Thế nhưng, khi định giá phí BHNT, một số yếu tố nêu trên phải giả định như: tỷ lệ chết, tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát… Vì thế, quá trình định phí ở đây rất phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trường nói chung.
1.1.2.5. Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định
Các nước kinh tế phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay. Ngược lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được BHNT, mặc dù người ta hiẻu rất rõ vai trò và lợi ích của nó. Để giải đáp vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế – xã hội phải phát triển.
Những điều kiện về kinh tế như:
- Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
- Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân trên 1 đầu người dân.
- Mức thu nhập của dân cư.
- Tỷ lệ phạm phát của đồng tiền.
- Tỷ giá hối đoái…
- Điều kiện dân số.
- Tuổi thọ bình quân của người dân.
- Trình độ học vấn.
- Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh.
Ngoài điều kiện kinh tế – xã hội thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự ra đời và phát triển của BHNT. Thông thường ở các nước, luật Kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển. Luật Bảo hiểm và các văn bản có liên quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề như: tài chính, đầu tư, hợp đồng, thuế… Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn đối với hoạt động kinh doanh BHNT.
1.2. Vai trò kinh tế – xã hội của bảo hiểm nhân thọ Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Cũng như các loại hình bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự, BHNT ra đời có những tác dụng chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, BHNT góp phần ổn định đời sống nhân dân, là chỗ dựa tinh thần cho người được bảo hiểm. Mặc dù trong thời đại hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển cao, nhưng rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy ra và thực tế đã chứng minh rằng nhiều cá nhân và gia đình trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong gia đình, đặc biệt thành viên đó lại là người trụ cột bị chết, hoặc bị thương tật vĩnh viễn. Khi đó, gia đình phải chịu chi phí mai táng chôn cất, chi phí nằm viện, thuốc men, chi phí phẫu thuật và bù đắp những khoản thu nhập thường xuyên bị mất đi. Khó khăn hơn nữa là một loạt các nghĩa vụ và trách nhiệm mà người chết chưa kịp hoàn thành như trả nợ, phụ dưỡng bố mẹ già, nuôi dạy con cái ăn học… Tham gia bảo hiểm, con người sẽ phần nào giải quyết được những khó khăn đó.
Thứ hai, BHNT góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, tạo lập mối quan hệ gần gũi, gắn bó giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tùy theo đặc điểm ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, các chủ doanh nghiệp thường mua bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn… cho người làm công và những người chủ chốt trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống và tạo ra sự lôi cuốn, gắn bó ngay cả trong những lúc doanh nghiệp gặp khó khăn, tránh cho doanh nghiệp sự bất ổn về tài chính khi mất người chủ chốt. Mua bảo hiểm cho họ, có thể đảm bảo cho doanh nghiệp khỏi sự thua thiệt tài chính vì những tai nạn rủi ro gây nên mà vẫn có được những chi phí bù đắp thay thế.
Thứ ba, thông qua dịch vụ bảo hiểm con người, một dịch vụ có đối tượng tham gia rất đông đảo, các nhà bảo hiểm thu được phí để hình thành quỹ bảo hiểm, quỹ này được sử dụng chủ yếu vào mục đích bồi thường, chi trả và dự phòng. Khi nhàn rỗi, quỹ sẽ là nguồn vốn đầu tư hữu ích góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư của các công ty BHNT thường rất lớn, vì hoạt động BHNT mang tính dài hạn, do đó, nguồn vốn BHNT cung cấp cho thị trường cũng là vốn dài hạn, thường từ 10 năm trở lên. Nếu đầu tư vào phát triển các vùng kinh tế chiến lược, xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ rất phù hợp và có hiệu quả. Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Thứ tư, BHNT còn là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằm ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm, góp phần chống lạm phát. Ở các nước đang phát triển và chậm phát triển, thường thiếu các công cụ để đáp ứng nhu cầu tiết kiệm hoặc đầu tư của người dân, vì vậy BHNT ra đời đã giúp các tổ chức và cá nhân thực hiện nhu cầu một cách có hiệu quả. Do đối tượng rộng, lại vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro, hơn nữa do cơ chế và cách thức đóng phí thuận lợi, cho nên BHNT có nhiều ưu điểm hơn hẳn gửi tiền tiết kiệm. Vì thế, việc thực hành tiết kiệm từ chi tiêu ngân sách gia đình để mua BHNT sẽ dễ dàng hơn. Điều này không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với từng gia đình mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế – xã hội.
Thứ năm, BHNT còn góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội như: tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho việc giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống đẹp, tiết kiệm và có kế hoạch… Khi tổ chức các dịch vụ BHNT, các công ty bảo hiểm luôn cần một mạng lưới đại lý khai thác, nhân viên sử dụng máy vi tính, thống kê, kế toán rất lớn; vì đối tượng và phạm vi bảo hiểm rộng, thời gian dài, cho nên, phát triển các dịch vụ này sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Thêm nữa, việc hình thành các quỹ bảo hiểm từ hoạt động của BHNT cũng góp phần chia sẻ gánh nặng đối với xã hội khi người tham gia bảo hiểm không may gặp phải rủi ro trong cuộc sống.
1.3. Các loại hình BHNT cơ bản
BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau. Đối với những người tham gia mục đích chính của họ là bảo vệ con cái và những người phụ thuộc tránh khỏi những nỗi bất hạnh về cái chết bất ngờ của họ hoặc tiết kiệm để đáp ứng các nhu cầu tài chính trong tương lai… Do vậy, người bảo hiểm đã thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm BHNT, thực chất là đa dạng hóa các loại hợp đồng nhằm đáp ứng và thỏa mãn mọi nhu cầu của người tham gia bảo hiểm. Trong thực tế, có 3 loại hình BHNT cơ bản:
- Bảo hiểm trong trường hợp tử vong.
- Bảo hiểm trong trường hợp sống.
- BHNT hỗn hợp.
Ngoài ra, người bảo hiểm còn áp dụng các điều khoản bổ sung cho các loại hợp đồng BHNT cơ bản như:
- Bảo hiểm tai nạn.
- Bảo hiểm sức khỏe.
- Bảo hiểm không nộp phí khi thương tật.
- Bảo hiểm cho người đóng phí…
Thực chất các điều khoản bổ sung không phải là BHNT, vì không phụ thuộc vào sinh mạng, cuộc sống của con người, mà là bảo hiểm các rủi ro khác có liên quan đến con người. Tuy nhiên, đôi khi người tham gia bảo hiểm vẫn thấy rất cần thiết phải tham gia để bổ sung cho hợp đồng cơ bản (hợp đồng chuẩn).
1.4. Đối tượng bảo hiểm và trách nhiệm của người bảo hiểm Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
1.4.1. Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chính là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con người. Khi có sự kiện xảy ra đối với những đối tượng kể trên sẽ làm phát sinh trách nhiệm trả tiền của doanh nghiệp bảo hiểm.
1.4.2. Trách nhiệm của người bảo hiểm
Trách nhiệm của người bảo hiểm cũng như trách nhiệm của người được bảo hiểm đều được quy định cụ thể trong từng hợp đồng bảo hiểm. Có thể tóm gọn trách nhiệm của người bảo hiểm trong một số nội dung sau:
Trách nhiệm chính của người bảo hiểm là giải quyết bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, gây tổn thất. Việc thanh toán phải đảm bảo nhanh chóng, kịp thời và hợp lý. Khi soạn thảo hợp đồng, người bảo hiểm (cụ thể là công ty bảo hiểm) phải đảm bảo tính trung thực để bảo vệ quyền lợi của cả hai bên. Khi giao kết hợp đồng, công ty bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, trung thực và chính xác các thông tin liên quan tới hợp đồng bảo hiểm, đồng thời phải giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm.
Bên cạnh đó, công ty bảo hiểm còn có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty bảo hiểm phải có trách nhiệm đề phòng, hạn chế các tổn thất có thể xảy ra. Nếu có bất kỳ sự thay đổi nào ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm và quyền lợi của bên mua bảo hiểm thì công ty bảo hiểm phải thông báo cho bên mua biết. Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Trong hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm có thể đưa ra các điều khoản loại trừ trách nhiệm. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm thường là những loại trừ áp dụng cho những rủi ro mang tính thảm hoạ lớn, những rủi ro chỉ được bảo hiểm trong điều kiện đặc biệt, những sư kiện, sự cố mang tính chất chủ quản vi phạm pháp Luật, vi phạm cam kết thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm còn là điều khoản thu hẹp phạm vi bảo hiểm, hay nói một cách khác là giảm bớt trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm nếu xảy ra những quy định được loại trừ này. Ngay cả trường hợp bảo hiểm mọi rủi ro thì vẫn có những điều khoản loại trừ, cũng có nghĩa là không phải cứ tham gia bảo hiểm mọi rủi ro thì tổn thất nào cũng được bồi thường. Những tổn thất do một trong những nguyên nhân loại trừ gây nên sẽ không được bồi thường.
Vì vậy, khi bán bảo hiểm, công ty bảo hiểm có nghĩa vụ giải thích rõ điều kiện loại trừ bảo hiểm, người mua bảo hiểm có quyền yêu cầu công ty bảo hiểm giải thích rõ điều kiện loại trừ và cần đọc hiểu kỹ điều khoản loại trừ thu hẹp phạm vi bảo hiểm này.
1.5. Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
1.5.1. Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là khoản tiền được xác định trong hợp đồng bảo hiểm thể hiện giới hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm. Điều đó có nghĩa là, trong bất kỳ trường hợp nào, số tiền bồi thường hay số tiền chi trả cao nhất của công ty bảo hiểm cũng chỉ bằng số tiền bảo hiểm.
1.5.2. Phí bảo hiểm
Để tính phí bảo hiểm nhân thọ, người ta phải dựa vào các giả định. Một trong các giả định có tính nguyên tắc là: Công ty bảo hiểm nhân thọ thu hút được số lớn người mua bảo hiểm. Nếu tập hợp được đủ lớn số lượng người mua bảo hiểm thì quy Luật số lớn là đúng và những dự tính của công ty bảo hiểm về số sống, số tử vong của người được bảo hiểm là chính xác. Trong trường hợp như vậy, công ty bảo hiểm sẽ cân bằng được số phí thu được và số phải thanh toán. Đây gọi là nguyên lý cân bằng.
Các giả định tính phí bao gồm:
- Tỷ lệ tử vong
- Lãi suất kỹ thuật
- Chi phí hoạt động
Do những yếu tố này ở mỗi công ty khác nhau (khác nhau về cách thu thập thông tin để có được các số liệu liên quan đến các yếu tố, khác nhau về cách tính toán các yếu tố đó…) nên mức phí của các công ty không bằng nhau. Hơn nữa, các sản phẩm của các công ty thường mang lại cho người được bảo hiểm quyền lợi khác nhau cũng là lí do chính dẫn đến sự khác nhau này.
2. Các kênh phân phối của bảo hiểm nhân thọ Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
2.1. Kênh truyền thống
2.1.1. Đại lý
Đại lý bảo hiểm là người được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền, thay mặt doanh nghiệp làm nhiệm vụ tư vấn, bán bảo hiểm cũng như các nhiệm vụ khác được quy định trong hợp đồng đại lý.
Ưu điểm của kênh phân phối qua đại lý:
- Tăng nhanh doanh thu trong một thời gian ngắn, chiếm lĩnh thị trường. Với một lực lượng đại lý đông đảo, các công ty bảo hiểm có thể đưa sản phẩm đến nhiều địa bàn, tiếp cận nhiều đối tượng khách hàng.
- Tạo dựng nhanh uy tín, hình ảnh công ty cũng như nâng cao hiểu biết của người dân về bảo hiểm. Với đặc thù công việc là tư vấn tại chỗ theo hình thức cá nhân hoặc tập thể, các đại lý có thể truyền tải đầy đủ, chi tiết thông tin về sản phẩm bảo hiểm vốn rất phức tạp và chuyên ngành. Hơn nữa, thông qua hoạt động tư vấn và phục vụ khách hàng, đại lý có được sự tin cậy, chỗ đứng trong khách hàng và từ đó uy tín của công ty bảo hiểm sẽ được tạo dựng vững chắc.
- Trao đổi thông tin thường xuyên, hỗ trợ khách hàng nhanh chóng và kịp thời.
Nhược điểm :
- Chi phí tốn kém, công tác quản lý phức tạp.
- Tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp chưa cao.
2.1.2. Môi giới Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Môi giới cũng được coi là người trung gian giữa công ty và khách hàng nhưng được coi là người đại diện cho khách hàng và chịu trách nhiệm trước khách hàng. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm, môi giới bắt buộc phải là tổ chức.
Môi giới bảo hiểm thường nắm rất vững về kỹ thuật nghiệp vụ, đặc biệt là những thông tin về thị trường. Về lý thuyết, người môi giới sau khi nghiên cứu nhu cầu khách hàng sẽ tìm kiếm doanh nghiệp có loại hình bảo hiểm đáp ứng nhu cầu khách hàng với mức phí tốt nhất.
Ưu điểm:
- Giúp cho cung và cầu về sản phẩm bảo hiểm dễ gặp nhau.
- Tăng uy tín cho doanh nghiệp.
Nhược điểm:
- Phải tính đến những ưu đãi cho môi giới.
- Công ty bảo hiểm không gặp được khách hàng nếu không có môi giới.
- Dễ bị môi giới nhượng khách cho doanh nghiệp bảo hiểm khác.
Kênh phân phối này phù hợp với các nghiệp vụ bảo hiểm lớn, bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ nhóm.
2.1.3. Văn phòng tư vấn bán hàng
Quá trình tư vấn và bán hàng được tiến hành tại trụ sở của công ty hoặc phòng bảo hiểm khu vực đặt tại các địa bàn dân cư, siêu thị, trung tâm thương mại, bưu điện, ngân hàng…
Làm việc trong các văn phòng này là nhân viên hoặc đại lý của công ty. Văn phòng được đặt gần các trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí, những nơi đông người để thu hút sự chú ý và cung cấp một số dịch vụ nhất định để thu hút khách hàng vào văn phòng tư vấn. Khách hàng đến văn phòng để lấy thông tin chỉ dẫn, nghe tư vấn, ký hợp đồng và quay trở lại khai báo tổn thất ( nếu có) hoặc lập văn bản sửa đổi hợp đồng.
2.1.4. Phân phối tại công sở
Phân phối tại công sở là quá trình phân phối sản phẩm nhân thọ cá nhân hoặc bảo hiểm nhóm tới khách hàng tại nơi làm việc. Nhân viên hoặc đại lý của công ty bảo hiểm sẽ tiếp xúc với người sử dụng lao động để chào sản phẩm bảo hiểm tại công sở.
Phí bảo hiểm có thể do người sử dụng lao động thanh toán toàn bộ hoặc cùng đóng góp với người lao động. Nếu người lao động đóng góp một phần hoặc toàn bộ phí bảo hiểm, người sử dụng lao động sẽ lập kế hoạch khấu trừ vào lương để thanh toán phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm.
2.2. Kênh phản hồi trực tiếp Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Trong kênh phân phối phản hồi trực tiếp, không có sự tiếp xúc mặt đối mặt giữa khách hàng và đại lý nhân viên của công ty. Thay vào đó, người tiêu dùng mua sản phẩm trực tiếp từ công ty bảo hiểm như một động tác phản hồi lại quảng cáo hay hoạt động chào bán trực tiếp của công ty.
Hệ thống phân phối phản hồi trực tiếp có thể sử dụng nhiều phương tiện quảng cáo như truyền hình, phát thanh, báo viết, tạp chí và Internet. Một số công ty cũng gửi quảng cáo sản phẩm trực tiếp tới khách hàng tiềm năng qua đường thư tín và mời chào bán hàng trực tiếp qua đường điện thoại.
Khách hàng liên hệ trực tiếp với công ty bảo hiểm thông qua điện thoại, fax, thư, email. Thông qua bán hàng trực tuyến công ty giảm được một số chỉ phí trung gian, tạo điều kiện giảm giá, tạo lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, hình thức này chỉ được áp dụng khi công nghệ và thói quen tiêu dùng của khách hàng phát triển.
2.3. Kênh phân phối thông qua trung gian tài chính – ngân hàng
Phân phối qua ngân hàng là phương thức phân phối sản phẩm bảo hiểm thông qua các kênh phân phối của ngân hàng một cách hiệu quả, đặc biệt là thông qua các văn phòng chi nhánh, các điểm giao dịch ngân hàng.
Công ty bảo hiểm thiết kế sản phẩm hấp dẫn và phù hợp với các phân đoạn thị trường của ngân hàng, hỗ trợ đào tạo về sản phẩm và nghiệp vụ bán hàng, cung cấp dịch vụ khách hàng liên quan đến sản phẩm.
Ngân hàng cùng với công ty bảo hiểm thiết lập chương trình marketing để biến sản phẩm bảo hiểm thành một bộ phận trong chương trình phát triển bán hàng tổng thể của ngân hàng, sử dụng quầy giao dịch tại mỗi chi nhánh, tuyển dụng và cung cấp nhân sự bán hàng với trang bị tốt, có chất lượng và chuyên nghiệp. Thêm nữa, ngân hàng thực hiện đào tạo nhân viên bán hàng, cùng thiết kế phương thức trả thù lao và thưởng, tiến hành quảng cáo và khuyếch trương.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện thời, kênh phân phối qua ngân hàng chủ yếu được thực hiện dưới dạng công ty đặt quầy giao dịch tại ngân hàng (giống như kênh phân phối qua văn phong tư vấn bán hàng) hoặc sử dụng một bộ phận nhân viên ngân hàng làm nhiệm vụ bán bảo hiểm.
3. Thực trạng và xu hướng triển khai kênh phân phối “bán bảo hiểm qua ngân hàng” (bancassurance) trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ trên thế giới
3.1. Sự thích hợp của Bancassurance đối với việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Các ngân hàng có thể cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ hoặc phi nhân thọ qua kênh phân phối Bancassurance. Ví dụ, khi một người vay tiền ngân hàng mua một tài sản nào đó (chẳng hạn mua ô tô), ngân hàng có thể yêu cầu người đó mua bảo hiểm đối với tài sản nhằm đảm bảo khả năng trả nợ (một phần hoặc toàn bộ) trong trường hợp phát sinh rủi ro đối với tài sản (ví dụ mua ô tô bị rủi ro cháy, tai nạn, mất cắp…). Đây là sự kết hợp giữa ngân hàng và nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Ngân hàng có thể yêu cầu người vay mua bảo hiểm tử kỳ (term life) để đảm bảo khả năng trả nợ trong trường hợp người vay tiền chết trước khi trả hết nợ. Đây là sự kết hợp giữa ngân hàng và nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ.
Tuy nhiên, sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ không có những đặc điểm nổi bật, phù hợp với hoạt động Bancassurance. Trong khi đó, các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm nhân thọ có thể bổ trợ cho nhau vì cả hai đều hướng tới phục vụ việc tích lũy và quản lý tài sản của khách hàng. Do vậy, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ dễ bán qua ngân hàng hơn các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ. Hơn nữa, do hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng dài hạn nên đòi hỏi phải có sự tin tưởng của khách hàng đối với tổ chức cung cấp dịch vụ này. Các ngân hàng thường được các khách hàng tin tưởng rất cao nên có thể bán sản phẩm bảo hiểm nhân thọ một cách dễ dàng. Đồng thời, việc bán các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đòi hỏi ngân hàng phải có sự hiểu biết rõ ràng về tình trạng tài chính và những yêu cầu của khách hàng, trong khi đó việc bán hầu hết các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ không cần sự hiểu biết này. Thêm vào đó, ngân hàng thường có ít lợi thế so với các cửa hàng bán ô tô. Những điều trên giải thích tại sao hoạt động Bancassurance giữa ngân hàng và bảo hiểm nhân thọ lại phát triển mạnh mẽ hơn rất nhiều so với hoạt động Bancassurance giữa ngân hàng và bảo hiểm phi nhân thọ.
Nói một cách ngắn gọn, Bancassurance phù hợp hơn với các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ vì:
- Mức độ bổ trợ cho các sản phẩm ngân hàng cao.
- Các sản phẩm thuận tiện hơn cho người thu quỹ của ngân hàng (vì hầu hết là các sản phẩm tài chính).
- Ngân hàng bán các sản phẩm liên kết tốt hơn các kênh phân phối khác.
Trong khi đó, Bancassurance ít thành công hơn đối với các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ vì những lí do sau:
- Sự cạnh tranh khốc liệt từ các kênh phân phối khác (đại lý, nhân viên bán hàng được trả lương, môi giới, nhân viên bán hàng trực tiếp…).
- Quyết định mua sản phẩm phi nhân thọ của khách hàng chủ yếu dựa trên giá cả.
- Quản lý sản phẩm phi nhân thọ phức tạp hơn (kĩ năng tính phí, số tiền khiếu nại…)
3.2. Đặc điểm của Bancassurance trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
3.2.1. Bancassurance hạn chế tác động của sự biến động lãi suất lên các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Như chúng ta đã biết, bắt đầu từ đầu thập niên 70 của thế kỷ 20, nền kinh tế của các nước phát triển đã có sự thay đổi rất lớn mà biểu hiện rõ nhất là sự thay đổi thường xuyên của lãi suất. Đơn cử như tại Mỹ, từ năm1971 trở về sau, lãi suất đã biến động rất lớn, thậm chí biến động rất nhiều trong một năm.
Từ sự biến động về lãi suất, các sản phẩm BHNT truyền thống bao gồm các yếu tố tính phí bảo hiểm nhân thọ cố định không còn phù hợp cả ở góc độ khách hàng và công ty bảo hiểm nhân thọ.
Xét về khía cạnh công ty bảo hiểm nhân thọ: Khi lãi suất đầu tư luôn biến động, để đảm bảo khả năng thu được lợi nhuận cũng như chi trả cho khách hàng tham gia bảo hiểm, công ty bảo hiểm sử dụng lãi suất kỹ thuật khi tính phí tương đối thận trọng. Chính vì vậy, phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có xu hướng tăng lên. Mặt khác, nếu áp dụng mức lãi suất tính phí cố định cao, công ty bảo hiểm phải gánh chịu những rủi ro khi lãi suất hạ xuống quá thấp. Các công ty bảo hiểm của Nhật Bản là những ví dụ điển hình nhất gánh chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất.
Trong khi đó, nếu xét từ khía cạnh khách hàng, lãi suất biến động cũng ảnh hưởng nhiều đến khả năng mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của khách hàng. Khách hàng không còn ưa thích các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ truyền thống do lãi suất cố định. Họ muốn được hưởng quyền lợi nhiều hơn trong trường hợp lãi suất thị trường tăng lên.
Từ lý do trên, để cùng nhau san sẻ những rủi ro cũng như lợi nhuận từ sự biến động lãi suất, một loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mới ra đời trong đó các cơ sở tính phí, chủ yếu là lãi suất biến động theo lãi suất thị trường (loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Universial Product) hoặc loại hình bảo hiểm nhân thọ mà số tiền bảo hiểm có quan hệ chặt chẽ với tình hình đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm (Unit-linked hay Variable Product).
Trong mấy thập kỷ qua, đặc biệt là trong những năm gần đây, các nước kinh tế phát triển sử dụng các học thuyết kinh tế mới, trong đó lãi suất được sử dụng như một công cụ đầy tiềm năng và hiệu quả để điều tiết nền kinh tế thông qua việc kích thích đầu tư. Chính nhờ việc sử dụng công cụ lãi suất để điều tiết nền kinh tế mà nền kinh tế nước Mỹ đã đạt được thành công rực rỡ nhất.
Sự biến động của lãi suất là nguyên nhân cơ bản thay đổi suy nghĩ của khách hàng về các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Những biến động này đã buộc các Công ty bảo hiểm thay vì sử dụng lãi suất tính phí bảo hiểm cố định bằng việc sử dụng mức lãi suất biến đổi, tức là các công ty bảo hiểm đã buộc phải chạy theo xu hướng quan tâm thường xuyên đến sự biến động của lãi suất, mà theo đánh giá chung của mọi người, ngân hàng có lợi thế hơn trong lĩnh vực này. Nói cách khác, các sản phẩm BHNT được phân phối qua kênh ngân hàng sẽ hạn chế được tác động bất lợi của sự biến động lãi suất.
Từ những năm 1970, do nền kinh tế phát triển, đời sống người dân được cải thiện cùng với những tiến bộ về y học mà tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên đáng kể. Do vậy, họ quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi sống, tức là yếu tố đầu trong sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có vai trò quan trọng hơn. Đầu tư luôn gắn liền với lãi suất và một lần nữa, ngân hàng lại có lợi thế hơn.
3.2.2. Đòi hỏi cao về kiến thức nghiệp vụ bảo hiểm đối với phía ngân hàng
Những kiến thức bảo hiểm về rủi ro và thương tật, cũng như các công thức tính phí phức tạp là một thách thức đối với kênh phân phối Bancassurance trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ vì các ngân hàng hầu như không quen làm việc với các rủi ro. Nhận thức được điều đó, các ngân hàng đã khôn khéo vượt qua thách thức này bằng việc thuê, tuyển dụng các chuyên gia bảo hiểm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động phổ biến của ngân hàng là việc lựa chọn sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Ngân hàng đã bán các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thuần túy (pure endowment). Với sản phẩm này, ngân hàng hoàn lại phí bảo hiểm chết trong thời hạn hợp đồng. Xử lý linh hoạt như vậy, ngân hàng đã vượt qua được thế yếu của chính mình, đó là sự không am hiểu các kiến thức về bảng tỷ lệ tử vong và bảng tỷ lệ thương tật.
3.3. Kinh nghiệm triển khai Bancassurance ở một số nước Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
3.3.1. Bancassurance tại thị trường bảo hiểm nhân thọ Pháp
3.3.1.1. Khái quát chung:
Thị trường Pháp là một trong những thị trường phát triển mạnh mẽ nhất về Bancassurance, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Chủ yếu do bản chất của Bancassurance và một phần đáng kể do các sản phẩm tiết kiệm và chính sách thuế đã thực thi mà Pháp là thị trường bảo hiểm nhân thọ số một Châu Âu và thứ 3 trên thế giới sau Nhật và Hoa Kì. Trong vòng 5, 6 năm qua, Pháp đã vượt qua Anh và Đức nhờ sự phát triển của các kênh phân phối qua ngân hàng. Năm 1998, các chi nhánh bảo hiểm trực thuộc ngân hàng nắm tới 70% các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mới trên thị trường Pháp. Đi tiên phong trong lĩnh vực bảo hiểm – ngân hàng là ngân hàng khu vực Credit Mutuel. Credit Mutuel đã thành lập các công ty con bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ của mình vào đầu những năm 70. Trong nhiều năm, công ty bảo hiểm nhân thọ lớn nhất nước Pháp là một công ty con của Ngân hàng Credit Mutuel. Trong suốt những năm 80, nhiều ngân hàng đã mở các công ty bảo hiểm nhân thọ của riêng mình. Natio Vie, BNP, là công ty đầu tiên được thành lập năm 1980. Predica ra đời năm 1986. Sogecap, một công ty con của ngân hàng lớn thứ 2 nước Pháp Societe, đã mở chi nhánh riêng năm 1984. Nay không một ngân hàng nào ở Pháp không có các công ty bảo hiểm con cung cấp sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Thời gian gần đây, các ngân hàng còn đa dạng hóa danh mục sản phẩm với bảo hiểm tài sản và bảo hiểm tai họa. Hiện tại, các sản phẩm bảo hiểm tài sản và tai nạn (P&C) mới phần lớn do các công ty con của ngân hàng nắm giữ.
3.3.1.2. Câu chuyện Bancassurance của Ngân hàng Credit Agricole
Credit Agricole là một ngân hàng bán lẻ hàng đầu nước Pháp với 25% thị phần cho vay thế chấp, 21% thị phần tiền gửi tiết kiệm và gần 11% thị phần bảo hiểm nhân thọ; cứ 3 hộ gia đình thì có một hộ có tài khoản tại Credit Agricole (Nguồn: [8]). Vào đầu những năm 70, Credit Agricole bắt đầu phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, nhưng do một công ty khác bảo lãnh phát hành. Thỏa thuận này kéo dài đến năm 1985 khi tập đoàn quyết định đi sâu vào việc kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Thay đổi đầu tiên là tập đoàn Credit Agricole tăng mức phí bảo hiểm lên 4 lần từ năm 1985 đến năm 1986 khi đưa Predica vào hoạt động. Rồi năm 1990, Credit Agricole tiến một bước xa hơn với việc mở rộng khả năng bảo hiểm sang bảo hiểm tài sản và tai họa để kết hợp nhiều sản phẩm bảo hiểm khác nhau và đội ngũ nhân viên bán hàng có thể dễ dàng tiếp cận tất cả với cùng một hệ thống thông tin. Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ – vốn cơ bản là một thị trường tiết kiệm, Predica hi vọng sẽ nắm bắt được thị trường phát triển rất nhanh này. Nếu lưu ý rằng 2/3 khoản tiết kiệm phụ của dân cư Pháp phân bổ cho bảo hiểm nhân thọ, thì sẽ rất nguy nếu một ngân hàng gửi tiết kiệm lớn như Credit Agricole không tham gia vào lĩnh vực này. Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Ngày nay, hơn 60% phí bảo hiểm nhân thọ ở Pháp được thu bởi các chi nhánh ngân hàng. Trong khi đó, bảo hiểm phi nhân thọ mới chỉ là một hoạt động mới của các ngân hàng với chỉ dưới 8% phí được thu bởi ngân hàng vào năm 1995. Vào năm 2005, con số này đã tăng lên đến 15%. Predica đã làm ăn có lãi ngay khi mới đi vào hoạt động năm 1986. Hiện đây là công ty bảo hiểm lớn thứ 2 ở Pháp về việc thu phí bảo hiểm hàng năm. Khoảng 12.000 nhân viên tại các chi nhánh bán bảo hiểm cho khách hàng. Những người này là nhân viên ngân hàng chứ không phải là các chuyên gia bảo hiểm, và họ làm việc với các sản phẩm ngân hàng. Trong thị trường bảo hiểm qui mô của Pháp, các công ty hiệu quả nhất hoạt động với chi phí chỉ bằng 25% tổng số phí bảo hiểm họ thu được, bao gồm chi phí quản trị, quản lý các hợp đồng bảo hiểm và chi phí phân phối. Các công ty đại lý truyền thống chiếm dưới 50% thị trường bảo hiểm Pháp hoạt động ở tỉ lệ chi phí hơn 30%. Predica đạt mức chi phí hoạt động 18% trong vòng 1 hoặc 2 năm sau khi phân phối sản phẩm qua ngân hàng.
Trong các trụ sở ngân hàng, Predica tổ chức 2 cơ quan:
- Một là một nhóm hỗ trợ và đào tạo bán hàng để đào tạo đội ngũ nhân viên bán hàng, duy trì năng lực và liên tục hỗ trợ trong việc bán hàng.
- Hai là nhóm quản lý danh mục sản phẩm. Mỗi thương vụ và hợp đồng sẽ được ngân hàng bảo lãnh. Các nhóm quản lý danh mục là những người bảo đảm cho chất lượng của danh mục. Họ phải đảm bảo rằng các tiêu chuẩn bảo lãnh được áp dụng đúng đắn.
Predica đã phát triển một tập quán khác thường trong việc trả hoa hồng cho ngân hàng khu vực. Công ty trả phí cao để khuyến khích các ngân hàng hội nhập hoàn toàn nghiệp vụ bảo hiểm vào việc kinh doanh của họ và muốn các ngân hàng có trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm cung cấp. Bằng việc giao phó trách nhiệm này, Predica tránh được sự chồng chéo trong công việc và nhiệm vụ, kiểm soát tốt hơn chi phí hoạt động. Đồng thời, công ty trả hoa hồng cho ngân hàng bằng cách chia sẻ lợi nhuận với ngân hàng. Mỗi năm, Predica tính toán khoản doanh thu phí cho mỗi ngân hàng khu vực, cân nhắc số tiền bồi thường theo danh mục sản phẩm, từ đó tính ra hệ số lãi gộp, cùng với một số yếu tố tái bảo hiểm, mà Predica sẽ chia cho ngân hàng. Vì thế, ngân hàng sẽ thu được số tiền tương ứng với chất lượng của danh mục sản phẩm ngân hàng quản lý. Đồng thời, mỗi ngân hàng khu vực tự chịu toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động bảo hiểm của mình, bao gồm chi phí xử lí dữ liệu hoạt động, xử lí bồi thường…
3.3.2. Bancassurance tại thị trường bảo hiểm nhân thọ Malaysia Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
3.3.2.1. Khái quát chung
Thỏa thuận Bancassurance đầu tiên ở Malaysia do ngân hàng Negara Malaysia thực hiện vào cuối năm 1993. Năm 1994, mức phí thu được từ kênh phân phối qua ngân hàng chiếm dưới 2% tổng phí trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Từ đó, sự xâm nhập của Bancassurance vào khu vực này đã đạt được sự phát triển đáng kể, mở ra một hệ thống phân phối đa dạng hơn trên thị trường vốn bị thống trị bởi lực lượng đại lý trong quá khứ. Đến cuối năm 2004, Bancassurance đã trở thành kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ số một, nắm giữ 48% tổng phí bảo hiểm của ngành.
Nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ của Bancassurane ở Malaysia là các cơ hội kinh doanh mới và đòn bẩy cạnh tranh mà chúng mang lại cho cả ngân hàng và nhà bảo hiểm, những người tìm kiếm công cụ để duy trì hoặc mở rộng thị phần của mình trong một môi trường kinh tế năng động. Bản chất dài hạn của bảo hiểm nhân thọ là nhằm tạo sự ổn định cho thu nhập, nhờ đó mở rộng viễn cảnh về khả năng sinh lợi và hoạt động ổn định cho các ngân hàng. Do sự cạnh tranh tăng lên và phải thực hiện chính sách giá cạnh tranh, ngày càng có thêm nhiều ngân hàng muốn bổ sung vào phần doanh thu chính của mình tiền hoa hồng và phí từ các cơ hội Bancassurance.
Các ngân hàng cũng thêm các sản phẩm bảo hiểm phụ vào sản phẩm truyền thống của họ để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Điều này cũng tăng khả năng giữ chân khách hàng khi cho phép các ngân hàng cung cấp các dịch vụ quản lý tài sản toàn diện được thiết kế theo “vòng đời” của khách hàng, cũng như cho phép họ tiếp cận các thị trường mới. Điểm hấp dẫn khác của Bancassurance đối với các ngân hàng là khả năng sử dụng có hiệu quả hơn dữ liệu khách hàng với qui mô và mạng lưới chi nhánh của mình để làm tăng thu nhập tương ứng với chi phí cơ sở hạ tầng thấp đi tương đối.
Đối với nhà bảo hiểm, Bancassurance đem đến cơ hội rõ rệt để mở rộng cơ sở dữ liệu khách hàng. Với sự thâm nhập của dịch vụ ngân hàng tới 98% dân số trong độ tuổi từ 18 đến 64, và gần 2300 chi nhánh ngân hàng trên khắp đất nước, khả năng khai thác cơ sở dữ liệu khách hàng của ngân hàng hứa hẹn một lợi thế thị trường rõ rệt cho các nhà bảo hiểm. Tiềm năng này được củng cố hơn nữa với thực tế là dưới 8% người Malaysia sử dụng các dịch vụ của ngân hàng có quan hệ với các ngân hàng có bán dịch vụ và sản phẩm bảo hiểm. Chất lượng và tổ chức thông tin khách hàng của các ngân hàng thông thường được đánh giá là cao cấp và năng động, và có thể giúp các nhà bảo hiểm phân đoạn thị trường một cách hiệu quả. Điều này lại cho phép các nhà bảo hiểm có thể thiết kế sản phẩm chuyên biệt cho từng thị trường mục tiêu cụ thể và đề ra các kế hoạch bán hàng tập trung hơn. Hiệu ứng tiếp theo sẽ là tỉ lệ giao dịch thành công cao hơn, chi phí phân phối đơn vị thấp hơn, năng suất tăng và cuối cùng, khả năng sinh lợi cao hơn.
3.3.2.2. Sản phẩm Bancassurance
Sản phẩm Bancassurance ở Malaysia thường được chia thành hai loại chính là sản phẩm liên quan đến tín dụng và sản phẩm không liên quan đến tín dụng.
Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm liên quan đến tín dụng chiếm tới 35% phí bảo hiểm nhân thọ thu được qua kênh phân phối Bancassurance vào năm 2007. Sản phẩm phổ biến nhất là bảo hiểm tín dụng tiêu dùng mua bởi những người vay liên quan đến các dịch vụ vay thế chấp, hỗ trợ mua xe và những thể thức cho vay khống mà ngân hàng cung cấp.
Sản phẩm bảo hiểm không liên quan đến tín dụng còn phổ biến hơn nhiều trong các hợp đồng Bancassurance nhân thọ. Những sản phẩm này chiếm tới 80% các thương vụ Bancassurance mới trong năm 2007. Trong số này, đơn bảo hiểm trợ cấp ngắn hạn và sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư là hai sản phẩm thống trị, tạo thành 70% phí bảo hiểm của kênh phân phối qua ngân hàng. (Nguồn: [14]) Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Đây là những sản phẩm bảo hiểm đơn nộp phí một lần, hợp nhất lợi nhuận đáo hạn, được bảo đảm với khoản tiết kiệm thực tế và mức bảo hiểm thấp. Các sản phẩm thường được thiết kế để tối thiểu hóa trách nhiệm bảo lãnh và đơn giản hóa việc bán hàng cho các nhân viên ngân hàng.
Sản phẩm Bancassurance không liên quan đến tín dụng khác bao gồm đơn bảo hiểm giáo dục, bảo hiểm nhân thọ trọn đời và bảo hiểm y tế, nhưng ít phổ biến hơn vì những đặc tính phức tạp của chúng dẫn đến nhu cầu tư vấn của khách hàng tăng lên để hiểu được những sản phẩm này.
Trong lĩnh vực bảo hiểm nói chung, các sản phẩm Bancassurance trội hơn cả là sản phẩm cá nhân liên quan đến tín dụng, bao gồm bảo hiểm cháy nhà và bảo hiểm xe cơ giới. Thêm vào đó, các sản phẩm không liên quan đến tín dụng dưới dạng các đơn bảo hiểm tai nạn cá nhân cũng rất thích hợp với việc phân phối qua ngân hàng.
3.3.2.3. Mô hình kinh doanh
Mô hình nổi bật ở Malaysia là thỏa thuận hợp tác (referral arrangements), hợp đồng phân phối (distribution agreements) và dịch vụ liên kết (integrated services). Những đặc điểm chính của các mô hình này được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2. Mô hình kinh doanh Bancassurance ở Malaysia
Hiện nay, chiến lược Bancassurance ở Malaysia chủ yếu tập trung vào mô hình hợp đồng phân phối. Mô hình này chiếm tới 97% các thỏa thuận hợp tác Bancassurance (không kể thỏa thuận hợp tác) trên thị trường vào cuối tháng 1/2008. Cũng rất phổ biến dù không bằng mô hình trên là thỏa thuận hợp tác (Referral Arrangements). Theo luật, các ngân hàng phải sử dụng ít nhất 4 nhà bảo hiểm trong chuỗi hoạt động để giới thiệu và bán sản phẩm bảo hiểm liên quan đến tín dụng, nhằm bảo đảm quyền lựa chọn cho khách hàng.
Mô hình liên kết ít thông dụng hơn với chỉ một hợp đồng kiểu này được thực hiện gần đây. Tuy nhiên, hình thức hợp tác này ngày càng được các nhà cung cấp dịch vụ tài chính quan tâm khi 2 tổ chức tài chính đã xây dựng chiến lược Bancassurance theo mô hình này.
Mức độ xâm nhập, chuỗi sản phẩm và mô hình tổ chức bảo hiểm tại thị trường Malaysia đã cho thấy giai đoạn phát triển tương đối cao của Bancassurance. Đặc biệt hơn, tình hình hiện tại của Bancassurance với tư cách là một kênh phân phối các sản phẩm bảo hiểm, tỉ lệ cao của các sản phẩm không liên quan đến tín dụng, và số lượng tăng lên của các mối hợp tác liên kết đầy đủ là những gì có thể quan sát được trên thị trường. Mặc dù ngành bảo hiểm vẫn chưa đạt được mức độ phát triển tinh tế như ở Châu Âu, những yếu tố này sẽ là sự hỗ trợ rất tốt cho sự tăng trưởng của Bancassurance trong tương lai.
3.3.2.4. Qui định của pháp luật Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Sự phát triển của Bancassurance nằm trong những nỗ lực phát triển một hệ thống tài chính hiệu quả hơn ở Malaysia, bằng cách cải thiện hệ thống cung cấp và phân phối các dịch vụ tài chính. Với quan điểm này, các qui tắc pháp luật điều chỉnh Bancassurance hướng tới mục tiêu là một kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm thay thế, hiệu quả về mặt chi phí để bổ trợ cho các sản phẩm ngân hàng trong việc đáp ứng các nhu cầu quản lý tài sản của khách hàng. Điều này tiếp đó lại được trông đợi sẽ đóng góp vào việc phân bổ tiền tiết kiệm của khu vực tài chính một cách đa dạng và có hiệu quả hơn.
Những qui định pháp luật cụ thể mà Ngân hàng tiến hành để thúc đẩy sự phát triển của Bancassurance bao gồm:
Giới thiệu cơ cấu linh hoạt hơn đối với việc phân chia hoa hồng từ bán bảo hiểm nhân thọ qua kênh phân phối Bancassurance trước đó vốn bị giới hạn không vượt quá 50% tổng phí bảo hiểm hàng năm tương ứng.
Theo bản hướng dẫn sửa đổi ngân hàng Negara ban hành vào tháng 12/2004, nhà bảo hiểm được phép cơ cấu mức phí hoa hồng dựa trên đàm phán với đối tác ngân hàng, chỉ phụ thuộc vào độ phân tán hoa hồng (commission spread) tối thiểu (sẽ giải thích dưới đây) và một giới hạn tổng tối đa trong điều khoản giá trị hiện tại để đảm bảo các sản phẩm bảo hiểm có khả năng cạnh tranh so với những sản phẩm thuộc loại tiết kiệm khác về mặt lợi nhuận cho khách hàng;
Yêu cầu nhà bảo hiểm chia hoa hồng một cách nghiêm túc qua một thời kì tối thiểu là 10 năm đối với các đơn bảo hiểm nhân thọ thu phí hàng năm. Yêu cầu này nhằm mục đích tránh phí hoa hồng bị tích tụ trong những năm đầu tiên của hợp đồng bảo hiểm và sau đó, khuyến khích các ngân hàng tiếp tục phục vụ khách hàng hiệu quả sau khi khóa sổ một hợp đồng mua bán;
Đối với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phát hành sau 15/12/2004 có yếu tố tiết kiệm, nhà bảo hiểm được yêu cầu hạ phí bảo hiểm hoặc nâng cao lợi ích của khách hàng đối với những sản phẩm tiết kiệm mà chi phí phân phối của nó được hạ thấp nhờ kênh phân phối Bancassurance;
Đối với những sản phẩm này, ngân hàng cũng được yêu cầu công bố phí mà khách hàng phải chịu để tạo điều kiện so sánh với các sản phẩm tiết kiệm và đầu tư thay thế. Việc công bố tiền hoa hồng nằm trong phí mà khách hàng trả, cũng như những phí khác không bao gồm trong phí bảo hiểm phải được thực hiện. Việc công bố này phải được thể hiện rõ ràng trong những công cụ marketing và bán hàng mà ngân hàng sử dụng, và phải được nhân viên ngân hàng giải thích cho khách hàng; và
Cùng với những yêu cầu nghiêm ngặt hơn về trình độ đối với các đại lý bảo hiểm năm 2004, và để đảm bảo những tiêu chuẩn nghề nghiệp và tiêu chuẩn thị trường đối với các trung gian bảo hiểm, nhân viên ngân hàng tham gia vào việc bán sản phẩm bảo hiểm cũng phải tuân thủ những yêu cầu tối tiểu về bằng cấp và không ngừng nâng cao năng lực làm việc, cũng như những chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với các đại lý bảo hiểm.
3.3.2.5. Tạo môi trường cho sự phát triển của Bancassurance
Ngân hàng quốc gia sẽ tiếp tục tạo môi trường hỗ trợ cho sự tăng trưởng và phát triển cao hơn của Bancassurance thông qua việc cân bằng giữa khuyến khích cạnh tranh, đổi mới và duy trì sự ổn định. Đặc biệt, Negara sẽ duy trì ở mức độ cần thiết các qui định liên quan tới Bancassurance nhằm củng cố niềm tin đối với hệ thống ngân hàng và bảo hiểm, bao gồm những qui định về bảo mật thông tin khách hàng cũng như quyền lựa chọn của người tiêu dùng về sản phẩm, nhà cung cấp dịch vụ và kênh phân phối.
3.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
3.3.3.1. Về mô hình kinh doanh Bancassurance
Tùy theo điều kiện nguồn lực của hai bên và trình độ phát triển của thị trường mà hai bên có thể xác định cho mình mô hình hợp tác phù hợp. Tuy nhiên, mô hình hợp tác không phải là yếu tố quan trọng nhất quyết định thành công của Bancassurance.
3.3.3.2. Về môi trường pháp lí
Yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của Bancassurance chính là các quy định pháp luật liên quan và pháp luật về thuế. Các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động Bancassurance thể hiện quan điểm của các nhà cầm quyền về mô hinh này, việc phát triển và những tác động của nó đến thị trường tài chính và nền kinh tế quốc gia. Nếu như các quy định này tạo điều kiện cho việc ngân hàng và các công ty bảo hiểm hợp tác, thâm nhập lẫn nhau thì rất thuận lợi cho Bancassurance phát triển. Đồng thời, các điều kiện thuận lợi về thuế cũng khuyến khích các khách hàng đầu tư vào việc mua các sản phẩm bảo hiểm như bảo hiểm hưu trí hoặc nhiều sản phẩm bảo hiểm khác. Chẳng hạn như tại Pháp, việc bán các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tại các ngân hàng ngày càng hiệu quả hơn nhờ vào sự dỡ bỏ các hàng rào thuế. Ngược lại, Bancassurance sẽ không thể phát triển tại một nước mà pháp luật có những hạn chế nhất định về mức độ và hình thức hợp tác của ngân hàng và các công ty bảo hiểm, hoặc pháp luật về thuế không khuyến khích việc mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ.
3.3.3.3. Về sản phẩm Bancassurance
Để hoạt động Bancassurance thành công cần phải có chiến lược sản phẩm phù hợp. Theo Allen J.Path Marajah, “mô hình kinh doanh hợp lý nhất là bắt đầu bằng các sản phẩm đơn giản. Việc áp dụng sách lược này sẽ giúp cập nhật thông tin khách hàng, phân đoạn cơ sở dữ liệu khách hàng để thực hiện marketing hiệu quả hơn và thu được lợi nhuận với việc đầu tư ít hơn và rủi ro thấp. Sau đó có thể mở rộng mô hình này với các sản phẩm khác”. Sản phẩm phải được lựa chọn một cách thật kỹ càng và phải có sự đồng thuận của cả hai bên: ngân hàng và công ty bảo hiểm. Theo Muguel Alferieff – Phó chủ tịch khu vực Châu Á của SCOR Vie, từ kinh nghiệm của Pháp, ở giai đoạn bắt đầu của Bancassurance, sản phẩm bảo hiểm nên có đặc điểm gần giống với hoạt động chính của ngân hàng, sau đó có thể được đa dạng hóa. Điều này “làm cho khách hàng và lực lượng bán hàng dễ dàng hiểu được sản phẩm. Việc bán sản phẩm với ít quyền lợi giúp ngân hàng có thể đưa ra mức phí thấp và có thể áp dụng quy trình đánh giá rủi ro và quy trình marketing đơn giản và chuyên biệt”. Điều này phù hợp với bước triển khai vì ngân hàng chưa có nhiều kinh nghiệm và điều kiện để thực hiện việc đánh giá rủi ro ở mức độ cao hơn. Đông thời, ngân hàng phải luôn lắng nghe được nhu cầu của khách hàng.
3.3.3.4. Về phân chia lợi nhuận và chi phí giữa ngân hàng và nhà bảo hiểm
Nhà bảo hiểm cần xác định mức phân chia hợp lí để không chỉ tạo động lực lợi nhuận cho các ngân hàng phân phối sản phẩm bảo hiểm mà còn ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng đối với những sản phẩm cung cấp và việc phân phối những sản phẩm này. Ngoài ra, ngân hàng và công ty bảo hiểm cần quy định rõ ai chịu trách nhiệm với từng khoản chi phí cụ thể nhằm tránh tình trạng chồng chéo và tiết kiệm chi phí phân phối. Khóa luận: Kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Khái quát về lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tại VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát chuyển bảo hiển nhân thọ tại VN