Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thừa kế thế vị theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 NGUYÊN TẮC VÀ ĐIỀU KIỆN HƯỞNG THỪA KẾ THẾ VỊ
2.1.1. Nguyên tắc hưởng thừa kế thế vị
Thừa kế thế vị là một phần của pháp luật thừa kế. Do vậy, thừa kế thế vị phải phù hợp với các nguyên tắc chung của pháp luật nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng. Theo đó, thừa kế thế vị tuân theo 4 nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Thừa kế thế vị không phát sinh từ di sản chia theo di chúc.
- Người thế vị phải là con cháu trực hệ của người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản.
- Người thừa kế thế vị phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
- Người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của họ được hưởng nếu còn sống.
2.1.1.1. Thừa kế thế vị không phát sinh trên cơ sở thừa kế theo di chúc
Nguyên tắc này có thể hiểu ngắn gọn là thừa kế thế vị chỉ đặt ra đối với phần di sản chia theo pháp luật mà không phát sinh đối với quan hệ thừa kế theo di chúc. Nói khác đi, con cháu của người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di chúc không được thế vị cha, mẹ mình để hưởng di sản thừa kế theo di chúc.
Nguyên tắc này được thể hiện rõ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 675 Bộ luật Dân sự năm 2018: “Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế” [27] thì thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật. Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện tại Điều 641 Bộ luật Dân sự năm 2018 với quy định:
Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng một thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật này [27]. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Như vậy, theo nguyên tắc này thì trong trường hợp người được thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì con cháu của người đó không được thế vị để hưởng di sản đó. Di sản đó sẽ được chia cho những người thừa kế khác thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di chúc. Điều này hoàn toàn hợp lý, phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật thừa kế là tôn trọng ý chí của người để lại di sản.
2.1.1.2. Người thừa kế phải là con cháu trực hệ của người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản
Đây là một nguyên tắc quan trọng bởi chỉ khi xác định được chính xác chủ thể thế vị thì mới đảm bảo được việc chia thừa kế thế vị chính xác và bảo đảm được đúng bản chất của thừa kế thế vị. Khái niệm “con” ở đây bao gồm cả con đẻ, con nuôi, con riêng, con trong giá thú hay con ngoài giá thú… Điều này được cụ thể hóa tại các Điều 678, Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định quyền thừa kế thế vị của con nuôi đối với cha mẹ nuôi và của con riêng đối với bố dượng, mẹ kế.
Mối quan hệ thừa kế thế vị trong pháp luật dân sự Việt Nam được xác định dựa trên quan hệ huyết thống, quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng. Nói cách khác, khái niệm “con” trong Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 để chỉ tất cả những người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất và con riêng của người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản nếu giữa họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng. Còn cách hiểu đối với khái niệm “cháu” tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 cũng tương tự cách hiểu này.
2.1.1.3. Người thừa kế thế vị phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
Đây là nguyên tắc quan trọng và cơ bản đối với pháp luật thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng. Sở dĩ như vậy vì thừa kế là sự chuyển dịch tài sản từ người chết sang cho người đang sống. Nếu người thừa kế không còn sống vào thời điểm mở thừa kế thì việc chuyển dịch tài sản sẽ mất đi tính chất và ý nghĩa của việc thừa kế.
Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2018: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” [27]. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Theo đó, có hai vấn đề cần được hiểu rõ khi tiếp cận nguyên tắc này. Đó là hiểu như thế nào về điều kiện người thừa kế thế vị “phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế” và “một thai nhi sẽ được thừa kế thế vị trong trường hợp nào?”
Quy định điều kiện người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế được coi là điều kiện cần, phản ánh năng lực chủ thể của người thừa kế. Tuy nhiên, một người còn sống vào thời điểm mở thừa kế không đồng nghĩa với việc người đó có đủ năng lực chủ thể thừa kế. Nói khác đi, đây chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ của người thừa kế theo pháp luật Việt Nam. Một người đang sống có thể không có năng lực chủ thể thừa kế trong một số trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật như nhau và năng lực pháp luật đó có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Khái niệm “chết” được nói đến ở đây bao gồm chết theo nghĩa sinh học và chết khi bị tuyên bố chết theo Điều 81 Bộ luật Dân sự năm 2018. Điều đáng lưu ý là nếu cá nhân thuộc diện những người không được quyền hưởng di sản do vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì dù còn sống cũng không được hưởng di sản thừa kế thế vị. Như vậy, sự sống sinh học của một cá nhân không phải là điều kiện cần và đủ cho năng lực thừa kế của chủ thể đó và việc một cá nhân mất năng lực chủ thể thừa kế chỉ xảy ra trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định và chỉ có hiệu lực trong mối quan hệ pháp luật thừa kế. Do vậy, khi tiếp cận nguyên tắc này cần xác định chính xác điều đó để tránh tình trạng chia thừa kế thế vị sai do xác định sai diện thừa kế.
Năng lực thừa kế càng khó xác định khi chủ thể đó là một thai nhi chưa được sinh ra. Vậy hiểu như thế nào cho đúng quy định của Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2018?
Theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì:
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự.
- Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như
- Năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết [27].
Như vậy, theo quy định này thì thai nhi (người chưa được sinh ra) thì không có năng lực pháp luật dân sự, nên không có năng lực thừa kế nói chung và năng lực thừa kế thế vị nói riêng. Tuy nhiên, nếu thai nhi đó được thành thai trước khi mở thừa kế, được sinh ra và còn sống (dù là sau thời điểm mở thừa kế) thì vẫn có quyền hưởng di sản. Nhưng xác định như thế nào là “sinh ra và còn sống” sau thời điểm mở thừa kế cũng không phải dễ dàng vì có rất nhiều trường hợp trẻ em sinh ra được một khoảng thời gian nhất định thì bị chết do nhiều lý do khác nhau. Về vấn đề này, hiện tại được xác định theo khoản 2 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2018 và Điều 23 Nghị định số 158/2018/NĐ-CP ngày 27/12/2018 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo đó, trẻ em sinh ra sẽ được đăng ký khai sinh nếu sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên. Việc đăng ký khai sinh là cơ sở pháp lý để xác định sự tồn tại của một trẻ sơ sinh đồng thời xác định trẻ em đó có thể có đủ năng lực thừa kế theo pháp luật. Do đó, theo những quy định trên thì có thể hiểu một người thành thai trước thời điểm mở thừa kế, sinh ra sau thời điểm mở thừa kế và sống được hơn 24 giờ sau khi sinh thì phải được khai sinh. Sau khi đứa trẻ đã được khai sinh thì sẽ được hưởng thừa kế thế vị, nếu sau đó đứa trẻ này bị chết vì lý do nào đó thì những người thừa kế của đứa trẻ này được hưởng thừa kế phần di sản của đứa trẻ này được hưởng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, hiện vấn đề này chưa có hướng dẫn cụ thể nên vẫn còn nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau. Trường hợp trẻ em sinh ra sau 24 giờ, đã được khai sinh nhưng chết ngay sau đó thì việc xác lập năng lực thừa kế trong trường hợp này có ý nghĩa thực tế hay không hay chỉ tạo ra rắc rối cho trong việc phân chia di sản thừa kế?…
2.1.1.4. Người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần di sản mà bố, mẹ họ được hưởng nếu còn sống
Nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản trong việc xác định di sản thừa kế thế vị. Theo đó người thừa kế thế vị là “cháu”, “chắt” không hưởng di sản với tư cách là người ở hàng thừa kế thứ 2 và thứ 3 của người để lại di sản. Người thừa kế trong trường hợp này chỉ được hưởng phần di sản đáng ra cha, mẹ họ được hưởng nếu còn sống, tức là được hưởng thừa kế cùng hàng với những người thừa kế cùng hàng của cha, mẹ họ. Điều này là hợp lý vì thừa kế thế vị là “thế chân” để hưởng di sản chứ không đồng nghĩa với thừa kế theo hàng.
Tuy nhiên, theo Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì “cháu”, “chắt” chỉ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của họ được hưởng nếu còn sống. Nhưng nếu trường hợp cha mẹ của những người này từ khi còn sống đã có hành vi vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 và là người không được quyền hưởng di sản thì “cháu”, “chắt” có được hưởng thừa kế thế vị hay không? trường hợp từ khi còn sống thi cha, mẹ của “cháu”, “chắt” đã có văn bản từ chối nhận di sản của người để lại di sản thì “cháu”, “chắt” có được hưởng thừa kế thế vị hay không? Do pháp luật chưa có quy định cụ thể về các trường hợp này nên hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về việc “cháu”, “chắt” có được hưởng hay không được hưởng thừa kế thế vị trong các trường hợp này.
2.1.2. Điều kiện hưởng thừa kế thế vị Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Thừa kế thế vị phải tuân theo các nguyên tắc chung của thừa kế, nhưng ngoài ra để được hưởng thừa kế thế vị thì người thừa kế còn phải thỏa mãn các điều kiện riêng theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018. Theo quy định này thì thừa kế thế vị chỉ đặt ra trong trường hợp một người chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp đó đều phát sinh thừa kế thế vị. Thừa kế thế vị chỉ thật sự phát sinh khi con, cháu của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản. Về nguyên tắc, những người có quyền thừa kế của nhau chết cùng một thời điểm thì không được thừa kế của nhau theo quy định tại Điều 641 Bộ luật Dân sự năm 2018. Tuy nhiên, Điều 677 lại là ngoại lệ của Điều 641, tức là trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu của người để lại di sản được hưởng thừa kế thế vị. Trường hợp chắt thừa kế thế vị cũng tương tự như vậy. Theo đó, điều kiện tiên quyết trước hết để thế vị là con của người để lại di sản phải chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng thừa kế thế vị. Tương tự, khi con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản, sau đó cháu của người để lại di sản lại chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng thừa kế thế vị. Nếu không có điều kiện này thì không có thừa kế thế vị. Điều này hoàn toàn hợp lý vì thừa kế thế vị là việc con thế vị bố, mẹ để nhận di sản thừa kế, nếu như bố, mẹ không chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì bố, mẹ vẫn nhận di sản thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản.
2.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT THỪA KẾ THẾ VỊ Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Nhận thức từ góc độ lý luận thì thừa kế thế vị là một quan hệ pháp luật. Do vậy thừa kế thế vị mang đầy đủ các đặc điểm của một quan hệ pháp luật nói chung. Nghiên cứu thừa kế thế vị dưới góc độ một quan hệ pháp luật dân sự sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về nó như: chủ thể, khách thể, nội dung… để từ đó thấy được nét riêng so với các quan hệ pháp luật khác với những vấn đề cần đáng quan tâm.
2.2.1. Chủ thể thừa kế thế vị
- Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định về thừa kế thế vị như sau:
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống, nếu cháu cũng đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống [27].
Theo đó, pháp luật quy định chủ thể thừa kế thế vị gồm hai đối tượng là cháu hoặc chắt của người để lại di sản. Tuy nhiên, vấn đề chủ thể thừa kế thế vị không đơn giản chỉ dừng lại ở đó mà đặt ra một số vấn đề đáng quan tâm khác khi tìm hiểu và nghiên cứu như: năng lực của các chủ thể đó được xác định như thế nào? Các chủ thể này có đồng nhất với những người thừa kế là “cháu”, “chắt” ở hàng thừa kế thứ 2 và thứ 3 của người để lại di sản hay không? Việc quy định về chủ thể hưởng thừa kế thế vị của pháp luật hiện nay đã thật sự phù hợp hay chưa và cần quy định như thế nào để phù hợp với thực tiễn cuộc sống?
Khi xét đến chủ thể của thừa kế thế vị thì hiển nhiên chủ thể đó phải là cá nhân chứ không thể là cơ quan, tổ chức. Điều này có nguyên nhân từ bản chất triết lý của thừa kế thế vị. Thừa kế thế vị là mối quan hệ thừa kế trong đó sự chuyển dịch tài sản từ người chết sang người sống được căn cứ trên các mối quan hệ huyết thống, quan hệ chăm sóc và quan hệ nuôi dưỡng. Các mối quan hệ đó không tồn tại giữa cá nhân người để lại di sản với cơ quan, tổ chức. Do vậy, không thể phát sinh quan hệ pháp luật thừa kế thế vị với cơ quan, tổ chức. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan niệm của người phương đông và tư duy pháp luật của các nhà làm luật là nhằm bảo vệ quyền lợi của người thân thích nhất của người chết, tránh trường hợp di sản của người chết được chuyển sang chủ thể khác không có mối quan hệ thân thích nào trong khi người thân thích lại không được hưởng di sản đó. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân đều được hưởng thừa kế theo Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018. Chỉ những cá nhân có đủ năng lực chủ thể thừa kế mới được thế vị để thừa kế. Theo đó, một cá nhân sẽ được thừa kế thế vị khi cá nhân đó là cháu, chắt trực hệ của người để lại di sản mà bố hoặc mẹ của họ đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản đó. Cá nhân đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế. Nói cách khác, một cá nhân sẽ được hưởng thừa kế thế vị khi đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc và điều kiện hưởng thừa kế thế vị đã nêu và phân tích ở mục I của chương này. Tuy vậy, việc xác định chủ thể thừa kế thế vị trong một số trường hợp vẫn rất khó khăn do có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau. Đó là việc xác định thừa kế thế vị trong các trường hợp: con sinh ra theo phương pháp khoa học; con riêng với bố dượng, mẹ kế; thừa kế thế vị khi có yếu tố con nuôi… Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Hiện nay việc sinh con theo phương pháp khoa học đã và đang ngày càng trở nên phổ biến. Nó bảo đảm tính khoa học, tính nhân văn sâu sắc khi đáp ứng yêu cầu làm cha, làm mẹ một cách chính đáng của công dân. Con sinh ra theo phương pháp khoa học là con được sinh ra do được thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm. Vấn đề đặt ra là thừa kế thế vị phát sinh trong trường hợp nào: giữa con sinh ra theo phương pháp khoa học với người cho tinh trùng hay giữa người con đó với người cha, người mẹ thực hiện biện pháp hỗ trợ sinh sản? Việc xác định cha, mẹ, con là một vấn đề khá phức tạp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Thông thường vấn đề này được xác định theo kết quả giám định gen. Tuy nhiên, trong trường hợp con sinh ra theo phương pháp khoa học thì việc xác định cha, mẹ, con lại dựa trên mối quan hệ hôn nhân của người mẹ sinh ra đứa trẻ. Sinh con theo phương pháp khoa học là nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của các cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân. Việc sinh con đó nếu là của cặp vợ chồng vô sinh thì được pháp luật mặc nhiên thừa nhận họ là cha mẹ của đứa trẻ được sinh ra vì việc sinh con trong trường hợp này cần phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng thì mới được thực hiện. Điều đó đồng nghĩa với việc con được sinh ra theo phương pháp khoa học có quan hệ với cha mẹ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như quan hệ của con đẻ với cha mẹ đẻ. Vì vậy, họ có quyền thừa kế của nhau, cháu sẽ được thừa kế thế vị của ông bà và chắt được hưởng thừa kế thế vị của các cụ nếu phù hợp với điều kiện được quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018.
Đối với mối quan hệ giữa người con sinh ra theo phương pháp khoa học với người cho tinh trùng thì không đặt ra vấn đề thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng. Sở dĩ như thế vì theo quy định của pháp luật, danh tính của người cho tinh trùng được bảo mật và không đặt ra vấn đề xác định cha con giữa người được sinh ra theo phương pháp khoa học với người cho tinh trùng. Điều này là phù hợp với quan niệm đạo đức và tập quán của người Việt Nam, phù hợp với thực tế cuộc sống. Việc bảo mật danh tính của người cho tinh trùng là cần thiết để bảo đảm hạnh phúc gia đình của người này.
Vấn đề xác định chủ thể thừa kế thế vị càng khó khăn hơn khi liên quan đến con riêng và cha dượng, mẹ kế. Mặc dù vấn đề này đã được quy định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2018 nhưng chưa được cụ thể rõ ràng để có cách hiểu thống nhất. Theo Điều 679 thì: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này” [27]. Theo quy định này thì con riêng có quyền được hưởng thừa kế theo pháp luật và được hưởng thừa kế thế vị của bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì con riêng không thuộc hàng thừa kế nào trong ba hàng thừa kế theo pháp luật do hàng thừa kế thứ nhất chỉ quy định đối tượng “con” bao gồm có “con đẻ” và “con nuôi” của người chết chứ không có quy định về “con riêng của bố dượng, mẹ kế” và con riêng cung không thuộc hai hàng thừa kế còn lại. Do đó, khi tranh chấp thừa kế xảy ra thì “con riêng của bố dượng, mẹ kế” thuộc hàng thừa kế nào thì hiện tại chưa có quy định cụ thể và hướng dẫn về điều này, dẫn đến thực tế còn nhiều lúng túng về cách hiểu và áp dụng điều luật này. Ngoài ra, việc hiểu như thế nào là có “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con” giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế thì hiện tại chưa có hướng dẫn như thế nào thì được coi là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con và chỉ quy định về nghĩa vụ, quyền chăm sóc nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con; thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng bao lâu, mức độ cung cấp tài chính để nuôi dưỡng như thế nào thì được coi là có quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau trên thực tế? Do những vấn đề này chưa có hướng dẫn nên hiện tại các Tòa án vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau và cách áp dụng khác nhau. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Nói đến chủ thể thừa kế thế vị không thể không đề cập đến trường hợp có yếu tố con nuôi. Con nuôi là một chế định khá phức tạp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Đối với thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi càng trở nên phức tạp. Nói vậy bởi khi xác định chủ thể thừa kế trong trường hợp này là rất khó. Cái khó thứ nhất là ở chỗ xác định trong mối quan hệ với cha mẹ đẻ hay với cha mẹ nuôi thì người con nuôi được thừa kế thế vị? Cái khó thứ hai là khi người con nuôi chết trước hoặc chết cùng thời điểm với cha mẹ nuôi thì con của người con nuôi đó (con đẻ hoặc con nuôi) có được hưởng thừa kế thế vị hay không? Trên thực tế vấn đề này hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều, nhưng hiện tại cũng chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này nên thực tế vẫn còn cách hiểu và áp dụng khác nhau của các Tòa án dẫn đến đường lối xét xử còn chưa thống nhất.
Các chủ thể của thừa kế thế vị đã được xác định trong cả những trường hợp đặc biệt nói trên. Tuy vậy, cái khó khi tiếp cận vấn đề này là ở chỗ chủ thể thừa kế thế vị có đồng nhất với chủ thể thừa kế theo hàng hay không? Nói khác đi là cần phân biệt “cháu”, “chắt” được hưởng thừa kế thế vị khi nào và khi nào thì được hưởng thừa kế theo hàng thứ hai, hàng thứ ba của ông, bà, cụ. Điều 674 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự hàng thừa kế do pháp luật quy định” [27]. Theo nguyên tắc phân chia di sản theo trình tự hàng, người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng di sản trước tiên so với các hàng thừa kế sau. Thừa kế theo hàng là thừa kế theo trật tự hàng thừa kế gần hơn loại hàng thừa kế xa hơn. Thừa kế theo hàng mang tính chất tuyệt đối. Theo Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì cháu thuộc hàng thừa kế thứ hai và chắt thuộc hàng thừa kế thứ ba của người để lại di sản. Khoản 3 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định: “Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản” [27]. Do vậy, cháu chỉ được hưởng di sản thừa kế theo hàng thừa kế của ông, bà nếu không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất và chắt chỉ được hưởng thừa kế theo hàng thử ba của các cụ nếu không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai vì các lý do quy định tại khoản 3 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2018. Tuy nhiên, quy định về thừa kế thế vị là quy định khác biệt nên cháu, chắt hưởng thừa kế của ông, bà, các cụ với tư cách thừa kế thế vị không phụ thuộc vào việc hàng thừa kế trước còn hay không còn người thừa kế. Cháu, chắt hưởng thừa kế thế vị nếu như cha, mẹ của cháu, chắt đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản. Như vậy, khi thừa kế thế vị, cháu, chắt hưởng di sản với tư cách “thế chân” của cha, mẹ mình – một trong những người thừa kế ở hàng thừa kế trước mình. Do đó, trong trường hợp này cháu, chắt sẽ có tư cách hưởng di sản như những người đồng thừa kế cùng hàng thừa kế với cha mẹ của mình. Nói cách khác, thừa kế thế vị không phải là thừa kế theo hàng, nhưng căn cứ trên mối liên hệ giữa các hàng thừa kế để xác định mối quan hệ thừa kế thế vị. Việc phân biệt tư cách thừa kế của cháu, chắt trong hai trường hợp nói trên là cần thiết để đảm bảo quyền thừa kế của công dân, tránh gây nhầm lẫn, rắc rối khi phân chia di sản liên quan đến thừa kế theo hàng và thừa kế thế vị.
Việc quy định con, cháu có thể thế vị cha, mẹ hoặc ông, bà để nhận di sản từ ông, bà, hoặc các cụ là hợp đạo lý của người Việt Nam khi bảo đảm di sản của người chết được truyền lại cho những người thân thích nhất của mình. Bộ luật Dân sự năm 2018 chỉ quy định thừa kế thế vị đối với cháu, chắt mà không đặt ra vấn đề thừa kế thế vị đối với những đối tượng khác như: chút, chít… trong khi thực tiễn có thể xảy ra trường hợp mà chút, chít có thể được hưởng thừa kế thế vị (hiện tại những đối tượng này cũng chưa được quy định là những người thừa kế theo hàng). Do vậy, thiết nghĩ trong vấn đề chủ thể thừa kế thế vị cần có cái nhìn thực tiễn, khách quan và mở rộng hơn về chủ thể, tránh máy móc, gò bó để xác định chính xác và đầy đủ diện thừa kế thế vị, đảm bảo được lợi ích của công dân.
2.2.2. Di sản thừa kế thế vị Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác” [27]. Theo Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” [27]. Như vậy, di sản là toàn bộ vật, tiền, giấy tờ có giá thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đã chết, quyền về tài sản của người đó. Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung với người khác. Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợp pháp (tiền lương, tiền thưởng, tiền công lao động…); tài sản được tặng cho; tài sản được thừa kế; tư liệu sản xuất; tư liệu sinh hoạt riêng… Phần tài sản trong khối tài sản chung với người khác bao gồm cả sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng và sở hữu chung theo phần với người khác.
Di sản thừa kế thế vị cũng được xác định dựa trên các căn cứ quy định tại Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2018, nhưng di sản thừa kế thế vị có thể là toàn bộ hoặc chỉ là một phần di sản của người chết để lại phụ thuộc vào những người thừa kế cùng hàng với cha, mẹ của cháu hoặc chắt là một người hay nhiều người vì đây chỉ là phần di sản mà cha, mẹ của cháu hoặc chắt được hưởng nếu còn sống. Do vậy, khi tìm hiểu về di sản thừa kế thế vị thì vấn đề đặt ra là phần di sản mà cháu hoặc chắt được thế vị có gì khác so với phần di sản mà cháu, chắt được hưởng ở hàng thừa kế thứ 2, hàng thừa kế thứ 3?
Theo Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì cháu được thừa kế thế vị phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống và chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Phần di sản đó cháu hoặc chắt nhận không phải với tư cách của mình mà với tư cách của cha, mẹ mình. Còn khi cháu, chắt hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ 2, thứ 3 của ông, bà và các cụ thì hưởng thừa kế di sản với tư cách của chính mình được hưởng chứ không phải với tư cách “thế chân” của người khác. Cháu, chắt nhận di sản thừa kế thế vị của cha mẹ mình sẽ có tư cách như những đồng thừa kế cùng hàng thừa kế với cha, mẹ mình. Còn nếu cháu, chắt nhận di sản theo hàng thừa kế thì tư cách của họ không ngang bằng với tư cách của những đồng thừa kế khác cùng hàng thừa kế với cha, mẹ mình do thuộc hàng thừa kế sau.
2.2.3. Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế thế vị
Cháu, chắt khi thừa kế thế vị cũng có những mối quan hệ nhất định về quyền và nghĩa vụ đối với người để lại di sản như những người thừa kế trong pháp luật thừa kế nói chung. Cháu, chắt có quyền thừa kế, quyền nhận di sản hay từ chối nhận di sản thừa kế, có quyền khởi kiện liên quan đến thừa kế thế vị…
Điều 636 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” [27]. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Theo quy định tại Điều 245 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì “Người thừa kế có quyền xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này” [27]. Phần thứ tư của Bộ luật Dân sự năm 2018 bao gồm các quy định về thừa kế, nên theo quy định này khi thừa kế thế vị thì cháu, chắt được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế theo các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2018 về thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng. Tuy nhiên, quyền sở hữu của cháu, chắt trong trường hợp này chỉ xác lập đối với phần di sản mà cháu chắt được thừa kế thế vị, tức là phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt được hưởng nếu còn sống.
Cũng trong phạm vi di sản được hưởng đó, cháu, chắt có trách nhiệm phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại theo quy định tại Điều 637 Bộ luật Dân sự năm 2018:
- Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế.
- Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân [27].
Theo quy định này thì người thừa kế thế vị có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Như vậy, thừa kế thế vị là trường hợp thừa kế tương đối khác biệt với các trường hợp thừa kế khác, nhưng về cơ bản các chủ thể thừa kế thế vị có các quyền và nghĩa vụ tương tự như những người thừa kế khác. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra khi tìm hiểu về quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi thừa kế thế vị là nếu một cá nhân vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì con của người đó có được hưởng thừa kế thế vị nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 hay không. Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2018 ghi nhận tất cả mọi công dân đều có quyền thừa kế, nhưng có một số trường hợp cá biệt công dân sẽ không được thừa kế. Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định:
Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép, hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản [27].
Theo quy định này thì những người thuộc các đối tượng trên đương nhiên không được hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu những người này chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì con của những người này có được thừa kế thế vị theo Điều 677 hay không thì hiện tại pháp luật chưa có quy định về vấn đề này. Chính vì vậy, hiện nay có nhiều quan điểm trái chiều xung quanh vấn đề này, đặc biệt là hai quan điểm dưới đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trong trường hợp này cháu không được thừa kế thế vị. Bởi vì thừa kế thế vị chỉ phát sinh trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng đã chết trước hoặc chết cùng với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Cơ sở thừa kế thế vị của cháu, chắt là dựa vào quyền thừa kế theo pháp luật của bố hoặc mẹ của người cháu, chắt này nếu còn sống được hưởng. Vì vậy, những người này không thể được hưởng thừa kế thế vị của ông, bà nếu cha hoặc mẹ của họ khi còn sống không có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật của ông bà do đã bị tước quyền hưởng thừa kế.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Trong trường hợp này cháu vẫn có quyền hưởng di sản thừa kế của ông bà với tư cách thừa kế thế vị cha hoặc mẹ của mình khi cha hoặc mẹ của mình chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với ông, bà và nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được thừa kế thế vị di sản thừa kế, trừ khi chính người con, cháu ấy cũng bị tước quyền thừa kế. Quan điểm này cho rằng thừa kế thế vị là để bảo vệ trực tiếp quyền lợi của cháu, chắt và tránh trường hợp di sản được truyền cho người khác không phải người thân thích nhất. Một người vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì không ảnh hưởng gì đến tư cách của con, cháu của người vi phạm đó vì bản thân những người con, cháu này không vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 và họ cũng không bị Tòa án tước quyền thừa kế hay bị người để lại di sản truất quyền thừa kế. Do vậy quyền lợi của con, cháu của người vi phạm trong trường hợp này cần được bảo vệ và họ vẫn phải được hưởng thừa kế thế vị. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Như vậy, có thể thấy cả hai quan điểm trên cùng nêu ra được các căn cứ để chứng minh, bảo vệ quan điểm của mình. Tuy nhiên, xuất phát từ cơ sở lý luận đã phân tích và thực tế cuộc sống thấy rằng trong hai quan điểm trên thì quan điểm thứ hai là có cơ sở và tích cực hơn, phù hợp với bản chất cũng như triết lý về thừa kế thế vị hơn do thừa kế thế vị luôn lấy lợi ích của cháu, chắt làm mục tiêu để hướng tới. Khi bố, mẹ của cháu, chắt vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 thì cháu, chắt không có lỗi và cũng không bắt buộc phải chịu trách nhiệm về hành vi của bố, mẹ mình. Thực tế có nhiều trường hợp con, cháu của người vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 không hề mong muốn cha, mẹ mình có những hành vi đó nhưng lại không ngăn cản được hành vi này vì nhiều lý do. Ngoài ra, đối chiếu với pháp luật một số nước trên thế giới cũng đã có những quy định cho phép cháu, chắt hưởng di sản thừa kế thế vị của ông, bà hoặc các cụ kể cả trong trường hợp cha mẹ của họ không được hưởng thừa kế. Điều 727 Bộ luật Dân sự của nước Pháp quy định những người không xứng đáng được hưởng di sản thừa kế thì bị pháp luật truất quyền thừa kế. Điều 730 của Bộ luật này quy định các con của người thừa kế không xứng đáng thừa kế sẽ không bị truất quyền thừa kế do lỗi của người cha. Điều 1606 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan cũng quy định những trường hợp bị loại trừ khỏi việc thừa kế vì không xứng đáng và Điều 1607 của Bộ luật này quy định: “Hiệu lực của việc loại trừ khỏi việc thừa kế là mang tính cá nhân. Những con cháu của người thừa kế bị loại trừ vẫn được thừa kế như thể người thừa kế đó đã chết…” [4, tr. 457]. Do vậy, với những phân tích trên thì trong trường hợp này quyền lợi của cháu, chắt cần được bảo vệ và điều này cũng phù hợp với thực tiễn cuộc sống, pháp luật nhiều nước trên thế giới.
Như vậy, xét một cách khách quan thì việc quy định quyền thừa kế thế vị của cháu, chắt trong trường hợp cha, mẹ của cháu, chắt bị truất quyền thừa kế là hoàn toàn có cơ sở và hợp logic. Tuy nhiên, để có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật cần thì cần thiết phải có quy định hướng dẫn chi tiết khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 theo hướng đã phân tích trên.
2.3 CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC HƯỞNG VÀ LOẠI TRỪ THỪA KẾ THẾ VỊ Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
2.3.1. Các trường hợp được hưởng thừa kế thế vị
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2018 thì quan hệ thừa kế thế vị phát sinh dựa trên các mối quan hệ là quan hệ huyết thống và quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, một người để được hưởng thừa kế thế vị của người khác thì phải có quan hệ huyết thống hay quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng với người đó.
2.3.1.1. Thừa kế thế vị theo quan hệ huyết thống
- Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định:
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống, nếu cháu cũng đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống [27].
Theo quy định này thì chủ thể thừa kế thế vị chỉ gồm hai đối tượng là cháu hoặc chắt của người để lại di sản.
- Thừa kế thế vị của cháu
Theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 nêu trên thì cháu chỉ được hưởng phần di sản mà cha đẻ hoặc mẹ đẻ của cháu được hưởng nếu còn sống nếu thuộc trường hợp:
- Cha đẻ hay mẹ đẻ của người cháu chết trước ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của người đó.
- Cha đẻ hay mẹ đẻ của người cháu chết cùng một thời điểm với ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của người đó.
Theo quy định này thì chỉ khi cha đẻ hay mẹ đẻ của người cháu chết trước hay chết cùng thời điểm với ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của người đó thì cháu mới được hưởng thừa kế thế vị di sản của ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại phần di sản mà cha đẻ hoặc mẹ đẻ của người cháu được hưởng nếu còn sống. Còn nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ của người cháu chết sau ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của người cháu thì người cháu sẽ không được hưởng thừa kế thế vị; khi đó di sản của ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của người cháu sẽ được giải quyết theo các quy định pháp luật về thừa kế. Người cháu chỉ có thể được hưởng thừa kế di sản theo di chúc của ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại nếu có di chúc hoặc được thừa kế theo pháp luật theo hàng thừa kế nếu hàng thừa kế trước mình không còn ai.
- Thừa kế thế vị của chắt Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Cũng theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2018 nêu trên thì chắt chỉ được hưởng phần di sản mà cha đẻ hoặc mẹ đẻ của chắt được hưởng nếu còn sống khi thuộc các trường hợp:
- Ông nội, bà nội hay ông ngoại, bà ngoại của chắt chết trước cụ nội, cụ ngoại của chắt; cha đẻ hay mẹ đẻ của chắt chết sau ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của chắt nhưng lại chết trước cụ nội, cụ ngoại của chắt.
- Ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của chắt chết trước cụ nội, cụ ngoại của chắt; cha đẻ hay mẹ đẻ của chắt chết sau ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của chắt nhưng lại chết cùng thời điểm với cụ nội, cụ ngoại của chắt.
Theo quy định này thì chắt chỉ được thừa kế thế vị khi ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của chắt chết trước cụ nội, cụ ngoại của chắt; cha đẻ hay mẹ đẻ của chắt chết sau ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại của chắt, nhưng lại chết trước hay chết cùng thời điểm với cụ nội, cụ ngoại của chắt.
Như vậy, cháu, chắt chỉ được thừa kế thế vị khi thuộc trường hợp pháp luật đã quy định nêu trên. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, ngoài hai chủ thể được thừa kế thế vị là cháu, chắt theo quy định pháp luật thì đã phát sinh trường hợp thừa kế thế vị đến cả chút, chít…, nhưng khi giải quyết vấn đề này thì do pháp luật không có quy định nên Tòa án cũng không thể bảo vệ quyền lợi cho những người này được, dẫn đến quyền lợi của họ không được bảo đảm.
2.3.1.2. Thừa kế thế vị theo quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng
Ngoài trường hợp thừa kế thế vị theo quan hệ huyết thống theo Điều 677 thì Bộ luật Dân sự năm 2018 còn quy định về trường hợp thừa kế thế vị theo quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng tại Điều 678 quy định về quan hệ thừa kế thế vị giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và Điều 679 quy định về quan hệ thừa kế thế vị giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế.
- Thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi
Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định về quan hệ thừa kế thế vị giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này” [27].
Theo Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định về người thừa kế theo pháp luật thì:
Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
- Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản [27].
Như vậy, theo các quy định này thì con nuôi là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của cha mẹ nuôi, ngoài việc được hưởng thừa kế thế vị của cha đẻ, mẹ đẻ thì còn được hưởng thừa kế thế vị của cha nuôi, mẹ nuôi. Người đang làm con nuôi hưởng thừa kế thế vị của cha mẹ đẻ mình căn cứ vào quan hệ huyết thống giữa họ. Con nuôi hưởng thừa kế thế vị của cha nuôi, mẹ nuôi lại căn cứ vào quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa họ. Điều này hoàn toàn hợp lý, hợp tình bởi việc nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ, con giữa các bên, các bên có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu thương lẫn nhau như quan hệ ruột thịt không chỉ trên thực tế mà còn được ghi nhận về mặt pháp lý thông qua các quy định về nuôi con nuôi tại Hiến pháp, Luật nuôi con nuôi, các văn bản luật và dưới luật khác.
Tuy nhiên, các quy định nói trên vẫn còn rất chung chung, dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau, bởi lẽ căn cứ xác định mối quan hệ thừa kế thế vị là quan hệ huyết thống hoặc quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng. Về mặt pháp lý thì quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ đẻ của người nhận nuôi không có mối quan hệ huyết thống cũng như quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng. Khi một người nhận nuôi con nuôi thì giữa họ và người con nuôi đó phát sinh quan hệ cha, mẹ, con; còn đối với các thành viên trong gia đình của người nhận nuôi con nuôi thì không đương nhiên phát sinh mối quan hệ pháp lý nào. Theo quy định tại điểm đ, mục 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 (gọi tắt là Nghị quyết số 02/HĐTP) hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế năm 1990 thì: “Con nuôi không đương nhiên trở thành cháu của cha mẹ người nuôi dưỡng và cũng không đương nhiên trở thành anh, chị, em của con đẻ của người nuôi” [34]. Do vậy, giữa con nuôi và cha mẹ đẻ của người nhận nuôi không có quan hệ thừa kế thế vị. Nếu trong trường hợp cha mẹ đẻ của người nhận nuôi muốn để lại di sản cho người con nuôi của con mình thì chỉ có thể để lại di sản theo di chúc.
Khi con nuôi chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với cha nuôi, mẹ nuôi thì con của người con nuôi đó có được hưởng thừa kế thế vị hay không? Theo quy định tại điểm b, mục 5 Nghị quyết số 02/HĐTP nêu trên thì:
Trong trường hợp con nuôi chết trước cha nuôi mẹ nuôi thì con của người con nuôi (tức cháu của cha nuôi, mẹ nuôi) được hưởng phần di sản mà đáng lẽ cha (hoặc mẹ) của cháu được hưởng nếu cha (hoặc mẹ) của cháu còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Nếu con của người con nuôi cũng chết trước người để lại di sản thì cháu của người con nuôi đó (tức chắt của cha nuôi,mẹ nuôi) được hưởng phần di sản mà đáng lẽ cha hoặc mẹ của chắt nếu còn sống được hưởng [34].
Hiện nay nghị quyết này đã hết hiệu lực pháp luật, nhưng hướng dẫn này vẫn được kết hợp với Điều 677 của Bộ luật Dân sự năm 2018 để giải thích cho Điều 678 của bộ luật này. Tuy nhiên, theo hướng dẫn này khái niệm “con” của người con nuôi chưa được xác định rõ ràng nên có thể hiểu bao gồm cả con nuôi và con đẻ dẫn đến nhiều quan niệm, ý kiến trái chiều nhau.
Xuất phát từ góc độ lý luận cũng như thực tiễn, dễ thấy rằng con đẻ của người con nuôi có quyền hưởng thừa kế thế vị. Khi một người nhận con nuôi đồng nghĩa với việc quan hệ cha, mẹ, con giữa họ và người con nuôi được xác lập. Giữa người con nuôi và cha nuôi mẹ nuôi có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha đẻ, mẹ đẻ với con ruột. Mối quan hệ đó không chỉ là quan hệ thực tế mà còn được ghi nhận bằng căn cứ pháp lý nhất định. Pháp luật quy định giữa người nhận con nuôi và người con nuôi được hưởng thừa kế nói chung và thừa kế thế vị của nhau nói riêng. Do đó, con đẻ của người con nuôi cũng được coi như cháu của người nhận nuôi cha mẹ mình. Nói khác đi thì giữa con đẻ của người con nuôi và người nhận nuôi con nuôi có mối quan hệ pháp lý như ông bà với cháu ruột. Mối quan hệ này tuy không được quy định cụ thể nhưng được hiểu gián tiếp qua mối quan hệ như cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ giữa người nhận nuôi và người con nuôi đã được pháp luật xác lập. Chính vì vậy giữa con đẻ của người con nuôi và người nhận nuôi con nuôi có quyền hưởng thừa kế của nhau. Con đẻ của người con nuôi có quyền thế vị cha, mẹ của mình để thừa kế di sản thừa kế của người nhận nuôi cha, mẹ mình. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa con nuôi của người con nuôi với người nhận nuôi con nuôi thì khác hẳn nên vấn đề thừa kế thế vị trong trường hợp này cần được xem xét. Con nuôi của người con nuôi chỉ có mối quan hệ với người nhận nuôi mình nên chỉ có thể thừa kế di sản của người này. Con nuôi của người con nuôi không có bất kỳ mối quan hệ pháp lý nào với các thành viên còn lại trong gia đình của người nhận nuôi mình. Điều này được quy định khá rõ trong Nghị quyết số 02/HĐTP: “Con nuôi không đương nhiên trở thành cháu của cha mẹ người nuôi dưỡng” [34]. Theo đó, con nuôi không có quan hệ pháp lý bắt buộc nào đối với người nhận nuôi của cha nuôi, mẹ nuôi mình dù mối quan hệ giữa cha nuôi, mẹ nuôi mình với người nhận nuôi họ được pháp luật thừa nhận như cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ. Quan hệ giữa người con nuôi với cha nuôi, mẹ nuôi mình và quan hệ giữa cha nuôi, mẹ nuôi mình với người nhận nuôi cha mẹ nuôi mình là hai mối quan hệ độc lập nhau cả về mặt pháp lý cũng như thực tiễn. Người con nuôi không có nghĩa vụ coi người nhận nuôi cha nuôi, mẹ nuôi của mình là ông bà và ngược lại. Giữa họ không có quan hệ huyết thống hay quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, với những phân tích trên thì giữa con nuôi của người con nuôi với cha nuôi, mẹ nuôi của người con nuôi không thể có quan hệ thừa kế thế vị. Nhưng theo quy định pháp luật hiện hành đã phân tích ở trên thì khái niệm “con” của người con nuôi chưa được xác định rõ ràng nên có thể hiểu bao gồm cả con nuôi và con đẻ nên dẫn đến nhiều quan điểm và cách áp dụng khác nhau. Nếu thực tế giữa họ có mối quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng và muốn để lại di sản cho nhau thì có thể thực hiện bằng việc định đoạt trong di chúc. Điều này sẽ phù hợp hơn với lý luận cũng như thực tiễn cuộc sống, đảm bảo được bản chất cũng như triết lý về thừa kế thế vị trong pháp luật Việt Nam.
- Thừa kế thế vị của con riêng với bố dượng, mẹ kế
Điều 679 Bộ luật Dân sự năm quy định về quan hệ thừa kế thế vị giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này” [27].
Theo quy định này thì con riêng và bố dượng, mẹ kế không được hưởng di sản thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng trừ khi giữa họ có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng như cha con, mẹ con. Quan hệ giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế được pháp luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Bố dượng mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình” và “Con riêng có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc bố dượng, mẹ kế cùng chung sống với mình” [24]. Quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu thương giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng của vợ, chồng được thể hiện ở những mối quan hệ như: Không có sự phân biệt đối xử giữa con riêng của vợ hay của chồng với các con chung của họ. Bố dượng, mẹ kế coi con riêng của vợ, của chồng như con ruột của mình và không dừng lại ở mặt hình thức mà thể hiện trên thực tế nghĩa vụ đó. Về phía người con riêng của vợ, của chồng cũng phải thể hiện trên thực tế nghĩa vụ của người con với bố dượng, mẹ kế như chính cha mẹ ruột của mình. Như vậy, để con riêng và bố dượng, mẹ kế được thừa kế theo pháp luật của nhau nói chung hay con riêng muốn được thừa kế thế vị của bố dượng, mẹ kế nói riêng thì cả hai bên phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con. Tuy nhiên, quy định nói trên cũng chưa cụ thể để xác định như thế nào là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau trên thực tế. Điều này dẫn đến có nhiều quan điểm đưa ra như: Thời gian chăm sóc nuôi dưỡng nhau bao lâu thì được coi là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau trên thực tế? Không sống chung nhưng chu cấp đầy đủ kinh tế thì có được gọi là chăm sóc nuôi dưỡng không?… Do vậy mà ở mỗi trường hợp nhất định và với những quan điểm nhất định mà chủ thể thừa kế thế vị giữa con riêng với cha dượng, mẹ kế là khác nhau.
2.3.2. Các trường hợp loại trừ thừa kế thế vị Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
2.3.2.1. Trường hợp vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018
Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định: Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép, hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản [27].
Theo quy định này thì những người thuộc các đối tượng trên đương nhiên không được hưởng di sản thừa kế. Về bản chất đây là những người mà đáng lẽ họ được hưởng di sản nhưng vì họ có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản. Vì vậy, họ không phải là người thừa kế của người để lại di sản.
- Về các trường hợp cụ thể:
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó (điểm a, khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018).
Theo quy định này một người có một trong những hành vi nêu trên sẽ không được quyền hưởng di sản khi bị kết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, nếu người thừa kế có một trong những hành vi nêu trên nhưng không bị Tòa án kết án về hành vi đó thì họ vẫn được hưởng di sản. Tuy nhiên, cần làm rõ quy định của điều luật về các hành vi nêu trên để từ đó xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản trong những trường hợp cụ thể nào:
Một là, hành vi “cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe người để lại di sản”. Theo quy định này, có thể hiểu một người khi thực hiện hành vi nêu trên với lỗi cố ý mà bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên họ sẽ không có quyền hưởng di sản, nhưng nếu họ thực hiện hành vi nêu trên với lỗi vô ý thì dù họ có bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật đi chăng nữa thì họ cũng không bị tước quyền hưởng di sản. Hay nói cách khác, họ không thuộc sự điều chỉnh của điều luật. Yếu tố lỗi trong hành vi này mang tính quyết định đến việc người đó có được hưởng hay không được hưởng di sản.
Hai là, hành vi “ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó“. Có thể hiểu việc ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của người để lại di sản là những hành vi đối xử trái pháp luật, thiếu đạo đức, thường được thực hiện thông qua một số hành động như chửi mắng, nhục mạ, đánh đập, thiếu sự chăm lo về mặt vật chất, xúc phạm đến danh dự… đối với người để lại di sản, làm cho người để lại di sản đau đớn về mặt tinh thần, thể xác. Tuy nhiên, các hành vi nêu trên ở mức độ nào mới được coi là nghiêm trọng, điều này chưa có văn bản nào quy định cụ thể. Nhưng nếu người nào có hành vi nêu trên thì tuy theo mức độ của hành vi đó thì họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh tương xứng và Tòa án sẽ xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi này khi xét xử vụ án. Đương nhiên, nếu người thừa kế có hành vi nêu trên sẽ không có quyền hưởng di sản.
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản (điểm b, khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018). Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Nuôi dưỡng được hiểu là sự chăm lo về mặt vật chất giữa người này đối với người kia. Nghĩa vụ nuôi dưỡng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình giữa vợ chồng, cha mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, ông bà nội, ông bà ngoại với cháu. Như vậy, người thừa kế bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng khi luật Hôn nhân và gia đình quy định họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng đã không thực hiện nghĩa vụ đó. Những người được xác định là có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản đã được nêu ở trên sẽ không có quyền hưởng di sản nếu sự vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng bị coi là nghiêm trọng.
Trong trường hợp này, căn cứ duy nhất để người thừa kế không được quyền hưởng di sản là sự vi phạm nghiêm trọng của họ về nghĩa vụ nuôi dưỡng cho dù hành vi đó không bị kết án bằng một bản án của Tòa án. Để xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi này, đến nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể. Nhưng xét trên góc độ thực tế thì đối với những trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng có khả năng nuôi dưỡng người để lại di sản, mặc dù biết nghĩa vụ phải thực hiện, nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng làm cho người để lại di sản lâm vào tình trạng đói rách, khổ sở, nguy hiểm đến tính mạng… thì cần coi những người này đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng và không được quyền hưởng di sản của người họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Còn đối với trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng mặc dù biết nghĩa vụ phải thực hiện việc nuôi dưỡng người để lại di sản, nhưng lại không có khả năng để thực hiện thì cũng không nên coi những trường hợp này là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng.
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng (điểm c, khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018).
Theo quy định này thì người thừa kế trong trường hợp này ngoài việc thực hiện hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác với động cơ, mục đích để hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có quyền hưởng thì sẽ bị tước quyền hưởng di sản. Trường hợp người thừa kế bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhưng không nhằm mục đích hưởng di sản của người thừa kế đó thì cũng không bị tước quyền hưởng di sản. Nếu người thừa kế chỉ bị kết án về hành vi vô ý làm chết người thừa kế khác thì cũng không bị tước quyền thừa kế của người để lại di sản. Vì vậy, việc giải quyết về thừa kế trong trường hợp này cần căn cứ vào bản án hình sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã xác định rõ về động cơ của người phạm tội để quyết định người có hành vi này có quyền hưởng di sản hay không.
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản (điểm d, khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018).
Quy định này liệt kê các hành vi có sự tác động đến ý chí của người lập di chúc (người để lại di sản). Tuy nhiên, đối với việc thực hiện các hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc sẽ làm cho di chúc không có hiệu lực và phát sinh việc thừa kế theo pháp luật. Đối với hai hành vi còn lại là sửa chữa di chúc, hủy di chúc sẽ làm phát sinh một vụ kiện tranh chấp về thừa kế theo di chúc.
Đối với hành vi lừa dối người để lại di sản trong việc lập di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Đây là hành vi cung cấp thông tin sai sự thật làm cho người để lại di sản tin vào thông tin đó mà lập một di chúc trái với ý nguyện đích thực của mình. Hệ quả của việc “lừa dối” là làm cho di chúc không có hiệu lực, nhưng nếu hành vi trên được thực hiện bởi người thừa kế theo luật thì Tòa án sẽ tuyên bố tước bỏ quyền thừa kế của người đó, còn nếu hành vi trên được thực hiện bởi người thừa kế được chỉ định trong di chúc thì Tòa án sẽ tuyên bố di chúc vô hiệu và di sản được chia cho những người thừa kế theo pháp luật. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Hành vi trên được thực hiện với mục đích nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì người thực hiện hành vi lừa dối sẽ không được quyền hưởng di sản. Do vậy, nếu người thừa kế có thực hiện hành vi lừa dối nhưng không nhằm mục đích để mình được hưởng thì có bị tước quyền hưởng di sản hay không? Theo quy định trên thì người thừa kế trong trường hợp này không bị tước quyền hưởng di sản. Tuy nhiên, cần phải xác định rằng chỉ cần có hành vi lừa dối người để lại di sản trong việc lập di chúc đã làm cho di chúc không hợp pháp, thì dù có hay không có động cơ hưởng di sản thì người đó cũng phải tước quyền hưởng di sản.
Đối với hành vi cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc. Đây là hành vi có tác động trực tiếp đến ý chí của người để lại di sản trong việc định đoạt tài sản trong di chúc. Hành vi này có thể được thực hiện bởi người thừa kế theo pháp luật hoặc người thừa kế sẽ được chỉ định trong di chúc, dù được thực hiện bởi ai thì hành vi này là hành vi trái pháp luật và người thực hiện hành vi sẽ phải bị tước quyền hưởng di sản.
Đối với hành vi giả mạo di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản, được hiểu là người đó đã mạo danh người để lại di sản trong việc lập di chúc theo ý chí của mình nhằm thay thế di chúc đã có hoặc để cho những người khác tưởng lầm rằng có di chúc. Với hành vi này, người thực hiện đã cố ý định đoạt tài sản hoàn toàn trái với ý chí của người để lại di sản. Do đó, người thực hiện bất kể là ai, người thừa kế theo pháp luật hoặc là người khác đều phải bị tước quyền hưởng di sản.
Đối với hành vi sửa chữa di chúc là hành vi của một người trong việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung của di chúc mà người để lại di sản đã lập.
Người thực hiện hành vi này mặc dù đã được người để lại di sản định đoạt tài sản cho mình nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi này, thông thường là nhằm mục đích có lợi cho mình trong việc hưởng di sản. Hành vi này đã xâm phạm đến ý chí tự do, tự nguyện, tự định đoạt tài sản của người lập di chúc, đồng thời xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của những người thừa kế khác. Vì thế, người thực hiện hành vi này sẽ bị tước quyền hưởng di sản.
Đối với hành vi hủy di chúc là hành vi của một người đã tiêu hủy di chúc của người để lại di sản làm cho di chúc đó không còn tồn tại. Thông thường, người thực hiện hành vi này là người thừa kế theo pháp luật, nhưng theo di chúc đã lập của người để lại di sản thì họ không được hưởng di sản hoặc được hưởng ít hơn so với di sản được hưởng nếu được chia theo pháp luật. Vì vậy, người thực hiện hành vi này với mục đích tiêu huỷ di chúc, làm luật di chúc không còn tồn tại trên thực tế và việc thừa kế đương nhiên được giải quyết theo pháp luật và họ sẽ được hưởng di sản. Người thực hiện hành vi này sẽ không được quyền hưởng di sản. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Như vậy, tương tự đối với người hưởng thừa kế thế vị, khi người này vi phạm các quy định này thì đương nhiên không được hưởng di sản thừa kế, nên khi cha hoặc mẹ của những người này chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì trường hợp này sẽ không phát sinh thừa kế thế vị do người thừa kế thế vị thuộc trường hợp không được hưởng di sản. Tuy nhiên, trường hợp cha mẹ của người được thế vị vi phạm các quy định này thì khi những người này chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì con của những người này có được hưởng thừa kế thế vị theo Điều 677 hay không? Do hiện tại pháp luật chưa có quy định và hướng dẫn về vấn đề này nên hiện có nhiều cách hiểu và quan điểm về việc con của những người này có được hưởng thừa kế thế vị hay không.
Theo khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định: “Những người quy định tại khoản 1 Điều 643 vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc” [27]. Như vậy, pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mọi công dân nói chung và quyền thừa kế của người thừa kế nói riêng, nhưng những hành vi được coi là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội cần được lên án và người thực hiện hành vi trái pháp luật sẽ bị hạn chế quyền lợi của mình. Đồng thời, pháp luật luôn tôn trọng ý chí của người có quyền, cho phép người để lại di sản có quyền quyết định cho người thừa kế hưởng hoặc không được hưởng di sản mặc dù đã biết người đó đã thực hiện hành vi trái pháp luật trong một số trường hợp trên.
2.3.2.2. Trường hợp người thừa kế thế vị từ chối nhận di sản
Pháp luật quy định công dân có quyền thừa kế, trong đó có quyền được nhận di sản hoặc từ chối nhận di sản do người khác để lại.
Điều 642 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định về việc từ chối nhận di sản như sau:
- Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.
- Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế [27]. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Theo quy định này thì từ chối nhận di sản là quyền của người thừa kế, nhưng người thừa kế chỉ được thực hiện quyền này trong một thời hạn nhất định, đồng thời phải đảm bảo về trình tự, thủ tục do luật định và không được từ chối trong trường hợp có mục đích nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
Việc từ chối nhận di sản sẽ làm phát sinh các hậu quả pháp lý liên quan đến phần di sản mà người thừa kế từ chối. Phần di sản mà người thừa kế đã từ chối sẽ được chia đều cho những người thừa kế khác. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp đều dễ dàng xác định được việc từ chối nhận di sản của người thừa kế là không nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Do đó, pháp luật cần quy định thêm về những trường hợp nếu người thừa kế đã từ chối nhận di sản nhưng có căn cứ xác định rằng người thừa kế đó phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản đã đến hạn của mình thì việc từ chối nhận di sản đó sẽ bị huỷ bỏ và phần di sản mà người thừa kế đã từ chối vẫn phải được coi là của họ và sẽ được dùng để thanh toán các khoản nợ mà họ phải thực hiện đối với người khác.
Theo quy định trên thì hình thức từ chối nhận di sản phải bằng văn bản và người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản biết. Quy định này dẫn đến có nhiều cách làm khác nhau khi thực hiện việc từ chối nhận di sản. Người thừa kế sau khi đã thể hiện ý chí “từ chối nhận di sản” của mình trong văn bản thì họ có thể báo cho các đối tượng trên bằng miệng hoặc bằng văn bản biết về việc họ đã từ chối. Do đó, để văn bản từ chối di sản có giá trị về mặt pháp lý, cần thiết quy định bổ sung về văn bản từ chối nhận di sản phải được chứng nhận hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời văn bản đó phải được lập thành nhiều bản có giá trị như nhau và người đã từ chối nhận di sản phải gửi văn bản đó cho những người được xác định theo khoản 2 Điều 642 Bộ luật Dân sự năm 2018.
Ngoài ra, việc từ chối nhận di sản cũng chỉ được thực hiện trong thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế, nên chỉ trong thời hạn này thì người thừa kế mới có quyền từ chối nhận di sản. Tuy nhiên, trên thực tế thì thời hạn này chỉ phù hợp với trường hợp thừa kế theo pháp luật, còn đối với trường hợp thừa kế theo di chúc thì thời hạn này không phù hợp do người được hưởng thừa kế theo di chúc không phải lúc nào cũng là người giữ di chúc, nên họ chỉ có thể được biết việc mình được hưởng di sản theo di chúc khi di chúc được công bố. Tuy nhiên, Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2018 quy định về việc công bố di chúc cũng không quy định thời hạn phải công bố di chúc là bao lâu kể từ thời điểm mở thừa kế, nên sẽ có trường hợp người giữ di chúc cố tình không công bố di chúc trong thời hạn này khi việc công bố di chúc không có lợi cho họ, nên thời hạn này cần được xác định kể từ khi công bố di chúc để đảm bảo quyền của người thừa kế. Do đó, trước tiên pháp luật cần quy định rõ thời hạn phải công bố di chúc nếu người để lại di sản có di chúc, sau đó quy định về thời hạn từ chối nhận di sản được thực hiện trong thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế nếu người để lại di sản không có di chúc, còn nếu có di chúc thì thời hạn này được tính từ ngày công bố di chúc. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Thực tế, người thừa kế có quyền từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản hoặc chỉ từ chối quyền hưởng di sản theo di chúc mà không từ chối quyền hưởng di sản thừa kế được chia theo pháp luật và ngược lại. Pháp luật cũng không quy định về trường hợp người đã từ chối nhận di sản có quyền hủy bỏ việc từ chối nhận di sản nếu di sản chưa được chia hay không? Nếu ngay từ khi còn sống mà con của người để lại di sản đã có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của cha mẹ thì khi người con này chết trước cha mẹ mình thì cháu, chắt của người đó có được thế vị cha, mẹ mình để hưởng thừa kế thế di sản của ông bà hoặc các cụ không? Do đó, để phù hợp với các quy định pháp luật về ý chí tự do, tự nguyện của các chủ thể khi xác lập các quan hệ dân sự, đồng thời dự liệu được các trường hợp có thể xảy ra trong thực tiễn, cần bổ sung thêm quy định: trong thời hạn từ chối nhận di sản và khi di sản chưa được chia, người thừa kế đã từ chối nhận di sản có quyền hủy bỏ việc từ chối đó; nếu con của người để lại di sản khi còn sống đã từ chối nhận di sản của bố, mẹ thì cháu, chắt không được hưởng thừa kế thế vị.
Như vậy, tương tự đối với trường hợp của người thừa kế thế vị, việc người thừa kế thế vị từ chối nhận di sản thừa kế cũng phải đảm bảo về trình tự, thủ tục do luật định và không được từ chối trong trường hợp có mục đích nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Khi đã đảm bảo các quy định này thì việc từ chối nhận di sản được chấp nhận và vấn đề thừa kế thế vị sẽ được loại trừ.
2.3.2.3. Trường hợp người thừa kế thế vị bị truất quyền hưởng di sản
Pháp luật bảo vệ quyền sở hữu của công dân, trao cho họ quyền định đoạt sản của mình cho người khác trước khi chết, đồng thời cũng trao cho họ quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật của mình thông qua việc lập di chúc. Do vậy, truất quyền hưởng di sản là một trong những quyền năng của người lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết và việc truất quyền hưởng di sản của người thừa kế được thể hiện thông qua di chúc.
Người để lại di sản có thể định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản của mình thông qua di chúc và người được chỉ định hưởng di sản theo di chúc có thể là bất kỳ ai. Tuy nhiên, người để lại di sản cũng có quyền truất quyền hưởng di sản của người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của mình bằng việc ghi rõ tên người đó trong di chúc. Như vậy, khi một người lập di chúc ghi rõ tên người thừa kế không được hưởng di sản thì người đó bị coi là người bị truất quyền hưởng di sản. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định thế nào là truất quyền hưởng di sản, nên để đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế và việc áp dụng quy định pháp luật về vấn đề này được thống nhất, có hiệu quả nhất thì việc truất quyền hưởng di sản của người thừa kế cần phải được quy định rõ ràng, xác định rõ thế nào là người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản theo di chúc và người thừa kế không được hưởng di sản theo di chúc. Cụ thể:
Về người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản theo di chúc: Đây là người thừa kế theo pháp luật bị người lập di chúc ghi rõ trong di chúc về việc truất quyền hưởng di sản của họ. Tuy nhiên, người thừa kế có bị mất tư cách của người thừa kế theo pháp luật toàn bộ hay một phần lại phụ thuộc vào hiệu lực của di chúc. Nếu di chúc bị vô hiệu toàn bộ thì việc truất quyền hưởng di sản của người thừa kế không phát sinh, nên tư cách người thừa kế theo pháp luật của người bị truất quyền hưởng di sản không bị ảnh hưởng. Còn nếu trường hợp di chúc có hiệu lực toàn bộ hoặc chỉ có hiệu lực một phần thì những phần vô hiệu của di chúc không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của việc truất quyền hưởng di sản, tư cách người thừa kế theo pháp luật của người thừa kế sẽ bị mất do bị truất quyền. Nếu có phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực sẽ được chia theo pháp luật, nhưng người thừa kế theo pháp luật đã bị truất quyền hưởng di sản thì không được hưởng di sản.
Về người thừa kế không được hưởng di sản theo di chúc: Đây là người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc không được người lập di chúc chỉ định là người được hưởng di sản trong di chúc hoặc người lập di chúc đã định đoạt hết tài sản của mình cho người thừa kế khác. Như vậy, mặc dù người lập di chúc không truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật này trong di chúc và tư cách người thừa kế theo pháp luật của những người này cũng không bị mất, nhưng những người này cũng không được hưởng di sản vì di sản đã được định đoạt cho người khác. Do đó, chỉ trường hợp có một phần di sản được chia theo theo pháp luật thì những người này mới được hưởng di sản theo quy định.
Việc thống nhất vấn đề trên sẽ giúp cho việc áp dụng quy định về việc truất quyền hưởng di sản được chính xác và thống nhất, nhưng cần thiết phải có quy định cụ thể về việc truất quyền hưởng di sản để xác định rõ những người bị truất quyền hưởng di sản là những người đã bị người lập di chúc ghi rõ tên trong di chúc không được hưởng di sản.
Như vậy, nếu người không có quyền hưởng di sản là những người do pháp luật quy định và dự liệu thì người bị truất quyền hưởng di sản là người không được hưởng di sản do ý chí của người để lại di sản quyết định thông qua việc lập di chúc, ghi rõ tên người không được hưởng di sản trong di chúc. Pháp luật luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của người để lại di sản nên việc người để lại di sản truất quyền hưởng di sản của một người nào đó sẽ được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của một số người, đặc biệt là cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động thì Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2018 đã quy định về những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau: Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con đã thành niên mà không có khả năng lao động [27].
Theo quy định này thì những người này sẽ được hưởng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật và được gọi là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Quy định này vừa đảm bảo bổn phận, trách nhiệm của người để lại di sản, vừa phù hợp với đạo đức, truyền thống gia đình Việt Nam.
Tương tự như vậy, đối với người thừa kế thế vị bị truất quyền hưởng di sản, nếu những người này đã bị người lập di chúc ghi rõ tên trong di chúc thì những người này bị coi là người bị truất quyền hưởng di sản. Tùy thuộc vào di chúc có hiệu lực toàn bộ hay hiệu lực một phần, di chúc có bị vô hiệu hay không mà người thừa kế thế vị có thể được hưởng hay không được hưởng thừa kế thế vị, trừ trường hợp quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2018 nêu trên. Luận văn: Thực trạng Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện Thừa kế thế vị theo quy định của Dân sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thừa kế thế vị theo quy định của bộ luật dân sự