Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể và kiến nghị hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các giao dịch dân sự cũng ngày càng đa dạng và phát triển hơn. Kéo theo đó các tranh chấp dân sự từ các giao dịch cũng ngày càng phức tạp, nhất là những tranh chấp có liên quan đến việc vi phạm ý chí tự nguyện của các chủ thể. Pháp luật về vấn đề này sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, tuy đã tạo được cơ sở ban đầu cho các giao dịch dân sự, tuy nhiên chưa được thống nhất và hoàn thiện. Bên cạnh đó, phạm trù ý chí là một phạm trù tâm lý rất khó nắm bắt, nên việc giải quyết các tranh chấp dân sự trong giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí là rất khó khăn.

Các tranh chấp thường bắt nguồn từ những nhận thức của các chủ thể, từ những mưu lợi cá nhân. Mặt khác, chính sự hạn chế của pháp luật đã làm cho tranh chấp này ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Trong phạm vi luận văn, để phản ánh một phần của tình hình thực tế đang diễn ra hiện nay, luận văn phân tích một số loại vi phạm sự tự nguyện của chủ thể có tính chất phổ biến và thường dẫn đến tranh chấp. Qua đó, rút ra được những điểm còn hạn chế của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể.

3.1.1. Thực tiễn về giao dịch dân sự nhầm lẫn

Vấn đề nhầm lẫn trong xác lập giao dịch dân sự xảy ra khá nhiều trên thực tế, từ những giao dịch kinh doanh vàng khi nhập lệnh bán sai, kinh doanh chứng khoán với việc niêm yết nhầm giá, đến những hợp đồng mua bán tiêu dùng hàng ngày. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định pháp luật để giải quyết gặp không ít khó khăn. Bởi, nhầm lẫn không chỉ do lỗi vô ý của một bên mà còn có một phần thiếu cẩn trọng của người bị nhầm lẫn. Vụ “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và hợp đồng đặt cọc” giữa chị Tạ Thị Thu Hằng và gia đình anh Nguyễn Văn Lâm được Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử năm 2007 này một ví dụ.

  • Nội dung vụ việc:

Ngày 01/6/2004, Chị Hằng có ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 175m2 với giá 165.000.000 đồng của vợ chồng anh Lâm trú tại Phú Thịnh, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn. Trước đó chị đã đặt cọc tiền cho vợ chồng anh Lâm hai lần (lần 1 là 6.000.000 đồng thỏa thuận trong giấy nhận tiền 3 ngày sau giao tiếp 59.000.000 đồng còn 100.000.000 đồng khi hoàn tất thủ tục chị Hằng sẽ giao tiếp. Cuối hợp đồng thỏa thuận nếu bên mua không mua nữa thì mất tiền đặt, nếu bên bán phá vỡ hợp đồng thì phạt 10 lần số tiền đã giao. Lần 2 giao tiếp là 59.000.000 đồng và lập giấy thỏa thuận thời hạn để làm thủ tục chuyển nhượng là 45 ngày từ 01/6/2004 đến 15/7/2004). Sau đó chị mới biết được thông tin, miếng đất trên là do thôn, xã tự ý bán cho dân nhưng là đất nông nghiệp chứ chưa cho phép chuyển đổi sang đất thổ cư để ở. Gia đình anh Lâm đã không nói cho chị điều này. Mặt khác, anh Lâm cũng không làm được thủ tục để sang tên cho chị như đã cam kết, lỗi này vợ chồng anh Lâm phải chịu. Chị yêu cầu vợ chồng anh Lâm phải hoàn lại số tiền đặt cọc 65.000.000 đồng và phải chịu phạt cọc 60.000.000 đồng.

Vợ chồng anh Lâm cho rằng trước khi làm hợp đồng dân sự chị Hằng đã đến xem đất, xem giấy tờ đất và tự nguyện đặt cọc. Nay chị Hằng không mua nữa chị Hằng đòi tiền cọc 65.000.000 đồng, anh chị đồng ý trả dần. Không chấp nhận tiền phạt cọc.

Tại bản án số 27/2006/DSST ngày 7/12/2006 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn đã xử và quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/6/2004 vì lý do hợp đồng bị vô hiệu do nhầm lẫn. Buộc vợ chồng anh Lâm phải trả lại cho chị Hằng 65.000.000 đồng đặt cọc và 30.000.000 đồng tiền phạt cọc theo đúng hợp đồng ký lần 1. Tổng cộng 95.000.000 đồng. Hai bên kháng cáo, Chị Hằng yêu cầu nâng mức phạt cọc. Vợ chồng anh Lâm cho rằng mình không có lỗi trong việc chị Hằng nhầm lẫn nên không chịu phạt và xin trả 65.000.000 đồng thành nhiều lần.

Bản án dân sự phúc thẩm số 58/2007/ DSPT ngày 23/03/2007 xử và quyết định: Sửa bản án số 27/2006/ DSST ngày 07/12/2006 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hằng. Xác định hợp đồng dân sự ký ngày 01/6/2004 bị vô hiệu toàn bộ về hình thức và nội dung. Buộc vợ chồng anh Lâm phải có trách nhiệm trả lại chị Hằng số tiền 65.000.000 đồng.. Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

  • Quan điểm cá nhân: Án dân sự phúc thẩm đã khắc phục được sai sót của bản án dân sự sơ thẩm.

Thứ nhất, về đối tượng chuyển nhượng là mảnh đất nông nghiệp do Ủy ban nhân dân xã tự ý giao cho dân sử dụng. Theo Điều 37 Luật đất đai 2003 thì xã không có thẩm quyền giao đất, nên vợ chồng anh Lâm không phải là người có quyền sử dụng đất hợp pháp mảnh đất trên, vợ chồng anh Lâm không có quyền chuyển nhượng lại. Thứ hai, việc nhầm lẫn của chị Hằng một phần do lỗi của chị do bản thân không hiểu biết và thiếu cẩn trọng về giấy tờ đất, thẩm quyền giao đất, loại đất mà mình nhận chuyển nhượng. Hợp đồng vô hiệu là do lỗi của cả hai bên. Thứ ba, việc giao nhận 6.000.000 đồng và 59.000.000 đồng giữa hai bên bản chất không phải là hợp đồng đặt cọc mà chỉ là thực hiện thỏa thuận chuyển nhượng 175m2, Chị Hằng thực hiện việc giao tiền thành ba lần: giao trước lần 1 là 6.000.000 đồng, 3 ngày sau giao tiếp lần 2 là 59.000.000 đồng còn lại là thực hiện ở lần 3. Do vậy, không đặt ra sự phạt cọc ở đây. Thứ tư, hợp đồng chuyển nhượng đất trên cũng chưa thực hiện việc công chứng, chứng thực trước cơ quan có thẩm quyền là vi phạm điều kiện về hình thức.

Vì vậy, căn cứ Điều 122, Điều 127, Điều 131, Điều 134 Bộ luật dân sự 2005 phải kết luận hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện hình thức, do bị nhầm lẫn, và do chủ thể không có quyền chuyển nhượng. Hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

3.1.2. Thực tiễn về giao dịch dân sự lừa dối

Lý thuyết dường như đã quy định khá rõ về giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối. Có quy định định nghĩa, có quy định xử lý giao dịch dân sự xác lập do bị lừa dối. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử xác định sự lừa dối trong giao dịch dân sự lại không rõ ràng, nhất quán. Cùng một tranh chấp nhưng mỗi Tòa lại có mỗi nhận định, như vụ: bà Hồ Thị Thanh Ngoan kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm Prudential Việt Nam chi nhánh An Giang năm 2007.

  • Nội dung vụ kiện:

Theo nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh Ngoan: Ông Hồ Văn Đằng là cha của bà có ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số 70927726 với Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam, hợp đồng có hiệu lực từ ngày 15/11/2003. Trong quá trình đóng phí bảo hiểm ông Đằng có vi phạm nghĩa vụ nộp phí nhưng sau đó ông có yêu cầu khôi phục hợp đồng và được chấp nhận. Ngày 11/8/2006, ông bị bệnh chết, hợp đồng còn hiệu lực. Bà là người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm hợp pháp của ông Đằng, yêu cầu công ty trả cho bà tiền bảo hiểm là 30.000.000 đồng.

  • Theo đại diện bị đơn Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam:

Thừa nhận hợp đồng mua bảo hiểm gói số 70927726 nội dung gồm: 30.000.000 đồng cho sản phẩm chính “Phú tích lũy an khang” và 30.000.000 đồng cho sản phẩm bổ trợ “Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn”, hợp đồng có hiệu lực từ 15/11/2003 đến 15/11/2018, phí bảo hiểm đóng định kỳ 3 tháng là 560.900 đồng. Khi thực hiện, ông Đằng vi phạm về thời gian nộp phí, mỗi lần vi phạm ông đều có yêu cầu khôi phục hợp đồng và được chấp nhận. Cụ thể:

  • Ngày 15/8/2004 hợp đồng mất hiệu lực lần 1, ngày 26/10/2004 ông Đằng có đơn yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng, ngày 1/11/2004 Công ty chấp nhận khôi phụ hiệu lực hợp đồng bảo hiểm với ông Đằng.
  • Ngày 15/02/2005 hợp đồng mất hiệu lực lần 2, ngày 29/4/2005 ông Đằng có đơn yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng, ngày 06/05/2005 Công ty chấp nhận khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm với ông Đằng.
  • Ngày 15/5/2005 hợp đồng mất hiệu lực lần 3, ngày 23/7/2005 ông Đằng có đơn yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng, ngày 01/08/2005 Công ty chấp nhận khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm với ông Đằng.

Pháp luật quy định, khi yêu cầu khôi phục lại hợp đồng, người mua bảo hiểm phải khai báo lại tình trạng sức khỏe nhưng ông Đằng đã khai báo không trung thực trong lần 2. Đơn ngày 29/04/2005 ông cam kết: “Hiện người được bảo hiểm nhân thọ đang trong tình trạng sức khỏe tốt, không bị bất kỳ thứ bệnh tật cũng như thương tật gì khác so với thời điểm ký hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ”. Tuy nhiên, tại hồ sơ bệnh án bệnh viện Đa Khoa Nhật Tân ngày 18/3/2006, phần hỏi bệnh, ông Đằng thừa nhận: “Bệnh khởi phát 01 năm nay, khám bệnh ở thành phố, chuẩn đoán và điều trị xơ gan, suy thận, tai biến mạch máu não cũ”. Vậy, Công ty không trả lại số tiền đã nộp từ ngày đó, từ chối trả tiền bảo hiểm.

Bản án sơ thẩm số 10/2007/KDTM-ST ngày 10/03/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang: Áp dụng các điều từ 13 đến 18 và Điều 39 Luật kinh doanh bảo hiểm 2003; Điều 122 và các điều từ 127 đến 138, Điều 410 Bộ luật dân sự 2005, Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự 2004. Xử: công ty bảo hiểm Prudential Việt Nam phải trả bảo hiểm cho bà Ngoan 30.000.000 đồng.

Bản án phúc thẩm số 59/2007/KDTM-PT ngày 15/06/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang: Chấp nhận kháng cáo của Công ty bảo hiểm. Việc ông Hồ Văn Đằng đã không khai báo trung thực trong hợp đồng là có căn cứ. Do đó thỏa thuận khôi phục hiệu lực của hợp đồng vô hiệu, hợp đồng mất hiệu lực từ ngày 15/02/2005. Tại phiên tòa, các đương sự có thỏa thuận: Công ty bảo hiểm ngoài số tiền phí bảo hiểm 3.921.300 đồng sẽ hỗ trợ thêm cho bà Ngoan, tổng cộng tất cả sẽ trả cho bà Ngoan 15.000.000 đồng, Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận này. Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Quan điểm cá nhân: Không đồng tình với bản án phúc thẩm. Vụ án này, đương sự đã đi đến thỏa thuận hài lòng cả hai bên. Tuy nhiên nhận thấy các cấp xét xử có các kết luận khác nhau do đã xác định sai tính chất hành vi của ông Đằng trong thỏa thuận khôi phục hiệu lực hợp đồng. Vì vậy, Tòa cấp sơ thẩm đã coi thỏa thuận đó là hợp pháp, hợp đồng bảo hiểm tiếp tục có hiệu lực, bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bà Đằng. Tòa cấp phúc thẩm lại tuyên hợp đồng bảo hiểm không có hiệu lực, Công ty bảo hiểm Prudential không phải chi trả tiền bảo hiểm. Người viết không đồng tình với Tòa cấp phúc thẩm. Bởi:

Thứ nhất, thỏa thuận khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm lần 2 vi phạm điều kiện tự nguyện nhưng thỏa thuận khôi phục hiệu lực lần thứ 3 là hợp pháp.

Trong đơn yêu cầu khôi phục hợp đồng lần 2, ông Đằng biết rõ tình trạng bệnh tật của bản thân, nhưng lại khai báo thông tin là vẫn khỏe mạnh như thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Hành vi này của ông mang tính chất lừa dối. Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm Prudential đã chấp nhận khôi phục hiệu lực hợp đồng trên cơ sở tin tưởng vào thông tin sai lệch đó. Vì vậy, cần xác định thỏa thuận trên là vô hiệu do lừa dối theo Điều 132 Bộ luật dân sự 2005. Do đó, từ thời điểm ngày 15/02/2005 đến ngày 01/8/2005 hợp đồng bảo hiểm mất hiệu lực.

Trong đơn yêu cầu khôi phục hợp đồng lần 3, ông Đằng đã khai báo hoàn toàn trung thực về tình trạng sức khỏe, bên bảo hiểm đã chấp nhận khôi phục hiệu lực hợp đồng (chứ không chấm dứt hoặc yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng bảo hiểm). Ở đây không hề có một sự nhận thức sai lầm gì, yếu tố lừa dối ở lần 2 đã được khắc phục. Nó thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tại Điều 128 Bộ luật dân sự 2005. Vì vậy, hiệu lực hợp đồng được khôi phục từ ngày 01/08/2005.

Thứ hai, ông Đằng chết vào thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm. Ông Đằng chết ngày 11/08/2006 (hơn 1 năm kể từ ngày hợp đồng được khôi phục hiệu lực lần thứ 3) là sự kiện bảo hiểm của gói bổ trợ “bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn”, không rơi vào các trường hợp không trả tiền bảo hiểm tại Điều 39 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Hợp đồng bảo hiểm có thời hạn đến ngày 15/11/ 2018. Cũng theo các bên đương sự, từ ngày 01/8/2005 không hề có một sự gián đoạn hiệu lực nào. Do đó, Công ty bảo hiểm cần phải thực hiện đúng cam kết về chi trả tiền bảo hiểm.

Như vậy, cần phải bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người thân của người đã xác lập hợp đồng bảo hiểm. Bà Ngoan có quyền nhận được 30.000.000 đồng.

3.1.3. Thực tiễn về giao dịch dân sự bị đe dọa Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Bản chất đe dọa là hành vi trái pháp luật được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, như sử dụng vũ khí hăm dọa, thuê đầu gấu dọa nạt, kéo đông người đến uy hiếp tinh thần,… khiến cho người bị đe dọa bị tê liệt ý chí hoặc sợ hãi mà phải thực hiện yêu cầu của người đe dọa. Vụ việc liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa nhiều khi không mang tính dân sự đơn thuần mà còn liên quan đến các dấu hiệu của án hình sự. Việc giải quyết phần tranh chấp trở lên “dài dòng” hơn.

  • Nội dung vụ tranh chấp căn nhà số 30 Ông Ích Khiêm, phường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình năm 2010

Anh Nguyễn Ngọc Long và vợ là Mai Lan Hương định bán căn nhà số 30 Ông Ích Khiêm, phường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Hưng và bà Đào Tuyết Hà với giá 4,1 tỷ. Ngày 29/10/2009 các bên ký hợp đồng đặt cọc 2,5 tỷ đồng, anh Long và chị Hương giao sổ đỏ cho ông Hưng. Sau đó, bên bán quyết định không bán nữa và xin bồi thường theo hợp đồng đặt cọc. Phía ông Hưng không chấp nhận và nhiều lần kéo người đến gây áp lực với chủ nhà.

Ngày 18/12/2009, ông Hưng kéo nhiều người đến buộc chị Hương ký vào hợp đồng mua bán với nội dung: “Nếu 2 ngày nữa ông Long không về thực hiện hợp đồng, bà Hương sẽ tự nguyện bàn giao toàn bộ ngôi nhà cho phía ông Hưng quản lý, sử dụng”. Sau 2 ngày, anh Long về và đề nghị hủy bỏ hợp đồng đặt cọc. Ông Hưng lập tức huy động người bê đồ đạc và chiếm giữ ngôi nhà. Chị Hương kể rằng: “Những người xăm trổ đầy mình, mở luôn hàng bún chả, sau đó là hàng nước tại cửa hàng nhà tôi. Hàng ngày họ đe dọa, chửi bới mẹ con tôi, chúng tôi sống như bị giam lỏng trên gác. Không chịu nổi, ngày 31/05/2010 tôi phải đưa con ra khỏi nhà mà không kịp mang theo tài sản gì”.

Vụ án được đưa lên Tòa án nhân dân quận Ba Đình. Bên chủ nhà tố ông Hưng bà Hà xâm phạm gia cư bất hợp pháp, Bên mua nhà kiện chủ nhà lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, đến nay vụ án vẫn giậm chân tại chỗ, do sự “đủng đỉnh” trong giải quyết vụ việc của Công an phường Điện Biên Phủ và Công an quận Ba Đình và phía Tòa án nhân dân quận Ba Đình. Bà Lê Thị Bích Thủy – thẩm phán Tòa án nhân dân quận Ba Đình cho biết: “Tòa án đã thụ lý vụ này. Tuy nhiên vụ án có dấu hiệu hình sự, Tòa yêu cầu bên Công an quận Ba Đình điều tra làm rõ dấu hiệu hình sự, nếu có phải giải quyết trước, dân sự giải quyết sau”. Trung tá Dương Đức Điện – điều tra viên Công an quận Ba Đình khẳng định: “Không có dấu hiệu xâm phạm chỗ ở của công dân, vì chị Hương đã đồng ý cho gia đình ông Hưng vào nhà theo biên bản ngày 18/12/2009”.

Quan điểm cá nhân: Dường như cả bên Công an và bên Tòa án quận Ba Đình đã lúng túng trong việc áp dụng pháp luật để xử lý vụ việc này. Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Xét hợp đồng đặt cọc ngày 29/10/2009: Theo Điều 358 Bộ luật dân sự 2005, bản chất của việc đặt cọc là để “đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự… nếu bên nhận cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” [35]. Do vậy, hợp đồng này chưa hẳn là hợp đồng mua bán nhà, và nếu là hợp đồng mua bán nhà đã giao sổ đỏ cho ông Hưng mà chưa thủ tục sang tên thì hợp đồng cũng vô hiệu. Việc anh Long chị Hương có quyền không thực hiện việc mua bán và bồi thường theo hợp đồng đặt cọc.

Xét hợp đồng giao kết ngày 18/12/2009: Căn cứ vào Điều 127 và Điều 132 Bộ luật dân sự 2005, hợp đồng này là giao dịch dân sự. Khi chỉ có mình chị Hương ở nhà, ông Hưng đã kéo đông người đến buộc chị phải ký vào hợp đồng, chị hoàn toàn không thể làm theo ý mình, ngày 31/5/2010 chị cùng con đi khỏi nhà (chứ không dọn khỏi nhà) là do không chịu được sự chửi bới, đe dọa chứ không phải là sự chấp thuận hợp đồng. Mặt khác, hợp đồng này không có hiệu lực do chị Hương không phải là người có toàn quyền sở hữu, ngôi nhà là tài sản chung vợ chồng.

Do vậy, anh Long và chị Hương hoàn toàn có quyền không thực hiện việc bán nhà và chịu trách nhiệm bồi thường tiền cọc theo hợp đồng đặt cọc.

3.1.4. Thực tiễn về giao dịch dân sự giả tạo

Bộ luật dân sự 2005 tưởng như đã khắc phục và hoàn thiện các nhược điểm của Bộ luật dân sự 1995. Nhưng dường như các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo của Bộ luật dân sự 2005 cũng chưa rõ ràng khiến việc vận dụng pháp luật khó khăn. Thực tiễn tại Đồng Nai có vụ tranh chấp liên quan đến việc hợp đồng mua bán nhà ở có vô hiệu do giả tạo hay không, phát sinh từ năm 2006 kéo dài đến năm 2009, bị đẩy đến nhiều cơ quan khác nhau vẫn chưa được giải quyết.

  • Nội dung tranh chấp: Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Đầu năm 2006, ông Trương Quang Lượng (xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, Đồng Nai) có mua của ông K căn nhà với diện tích đất 400m2. Đây là căn nhà mà ông K mua lại của người chủ trước đó. Sau khi hoàn tất thủ tục, ông Lượng đã được Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú cấp sổ đỏ. Rắc rối phát sinh, nhà đất trên được người chủ trước đó cho thuê và nay người thuê không giao lại nhà cho ông. Người thuê nhà trình bày, người chủ đầu mượn của ông hơn 60.000.000 đồng và có viết giấy xác nhận nợ và cam kết nếu không trả được nợ sẽ bán nhà cho ông. Nay chủ nhà không tuân thủ cam kết, chưa trả được nợ lại bán nhà cho ông K và ông K tiếp tục chuyển nhượng. Do đó, ông không giao nhà cho ông Lượng.

Tháng 5-2006, ông K kiện người chủ đầu ra Tòa, yêu cầu người chủ đầu thực hiện nghĩa vụ của người bán, để ông K có thể giao nhà cho ông Lượng. Tòa án nhân dân huyện Tân Phú thụ lý vụ án. Tại tòa sơ thẩm, người chủ đầu nói hợp đồng mua bán với ông K là giả tạo, bản chất là ông chỉ gửi ông K giữ hộ giấy tờ nhà đất. Do đó, hợp đồng mua bán nhà đất là vô hiệu, ông K phải giao trả lại giấy tờ nhà đất. Ông K nói hợp đồng trên hợp pháp, có chữ ký của các bên, đã công chứng trước cơ quan có thẩm quyền. Vụ việc bị tạm đình chỉ giải quyết do Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú yêu cầu thanh tra việc chuyển nhượng nhà đất trên theo yêu cầu của người thuê nhà.

Tháng 1-2009, Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú trả lại hồ sợ vụ việc cho Tòa án nhân dân giải quyết. Nhưng việc xét xử vấn không được tiến hành do vụ việc được chuyển đến Công an huyện xem xét vì nghi ngờ có dấu hiệu tội phạm. Sau thời gian dài, bên Công an huyện kết luận không phạm tội hình sự, vụ việc được trả lại cho Tòa án. Tuy nhiên, đến ngày 21/5/2009 vụ án vẫn chưa có quyết định đưa ra xét xử.

Quan điểm cá nhân: Các cơ quan có thẩm quyền huyện Tân Phú đang né tránh vấn đề. Điều 129 Bộ luật dân sự 2005 chưa có sự rõ ràng khiến có nhiều cách hiểu khác nhau, việc áp dụng vào giải quyết vụ việc trên sẽ khác nhau:

Cách thứ nhất: Tuyên giao dịch dân sự giữa ông K và chủ đầu là vô hiệu do giả tạo; Ông K phải hoàn trả nhà đất và giấy tờ cho người chủ đầu, trả lại tiền cho ông Lượng. Người chủ đầu tiếp tục thực hiện cam kết với người thuê nhà.

Vì có thể hiểu Điều 129 Bộ luật dân sự 2005 quy định chỉ cần có dấu hiệu “nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba” là đã có thể tuyên hợp đồng vô hiệu do giả tạo. Trốn tránh là mục đích, không cần xét đến sự trốn tránh đó có xảy ra trên thực tế không. Người chủ đầu đã cam kết với người thuê là bán nhà là bán nhà cho người thuê nếu không trả được khoản nợ đã vay. Cam kết trên chưa bị văn bản nào bãi bỏ, và người chủ đầu phải có nghĩa vụ thực hiện việc bán nhà cho người thuê theo đúng nội dung đã thỏa thuận. Giao dịch dân sự xác lập giữa người chủ đầu này với ông K là để trốn tránh nghĩa vụ với người thuê nhà, giao dịch dân sự này vô hiệu do giả tạo. Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Cách hiểu này tương ứng với cách phân loại giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo gồm: Giao dịch dân sự xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác, và giao dịch dân sự xác lập một cách giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Đây là cách phân loại chưa chính xác như người viết đã phân tích ở phần trước.

Cách thứ hai: Tuyên giao dịch dân sự giữa ông K và người chủ đầu có hiệu lực pháp luật. Các giao dịch chuyển nhượng nhà đất sau đó hợp pháp. Người thuê nhà có quyền yêu cầu người chủ đầu trả nợ và bồi thường thiệt hại do vi phạm cam kết.

Vì có thể hiểu Điều 129 Bộ luật dân sự 2005 theo hướng phải có cả dấu hiệu che giấu sự thật và trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Người chủ đầu nêu ra hợp đồng được che giấu là hợp đồng gửi giữ nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh, thiếu dấu hiệu che giấu sự thật. Vì vậy giao dịch dân sự không bị vô hiệu.

Mặt khác, không thể nói tại thời điểm xác lập giao dịch, người chủ nhà có ý định trốn tránh nghĩa vụ với người thuê nhà. Nếu khoản nợ trên chưa đến hạn hoặc khoản nợ trên quá hạn người thuê vẫn chưa có yêu cầu trả nợ thì kết luận trên là phi logic. Hoặc người chủ nhà muốn bán nhà để trả nợ cho người thuê, nhưng sau đó chưa thực hiện được việc trả nợ. Cam kết là sẽ bán nhà nếu không trả được nợ, chứ không phải là hợp đồng cầm cố hay thế chấp nhà, đất bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Người chủ nhà vẫn hoàn toàn có quyền định đoạt, chuyển nhượng cho người khác. Người thuê nhà đã bất cẩn khi cho vay không có đảm bảo.

Người viết lựa chọn giải quyết theo cách thứ hai. Tình huống này cũng là một bài học kinh nghiệm quý về việc thiếu hiểu biết pháp luật của các chủ thể khi tham gia các giao dịch.

3.1.5. Thực tiễn về giao dịch dân sự do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Thực tế, nhiều người phạm tội thực hiện hành vi tội phạm nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trong tình trạng say rượu đã được đem ra xét xử. Nhưng hiếm thấy tranh chấp về giao dịch dân sự đem ra giải quyết tại Tòa án. Qua nghiên cứu, người viết thấy có một số điểm cần bàn luận về việc áp dụng quy định giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi trong Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái. Tiến sĩ Đỗ Văn Đại đánh giá đây là bản án nhận được nhiều quan tâm của các học giả [9]. Tranh chấp trước ngày Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực nhưng Tòa án đã sử dụng Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết. Xin chỉ tập trung phân tích việc áp dụng các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do chủ thể xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi.

  • Tóm tắt nội dung của vụ việc qua nhận định Hội đồng xét xử:

Nguồn gốc diện tích 288m2 ông Cường và bà Bính (vợ ông Cường) đã chuyển nhượng cho anh Thăng (con riêng của bà Bính) là một phần trong tổng diện tích đất do bà Lợi – mẹ đẻ ông Cường đẻ lại di sản sau khi chết. Tại thời điểm 01/2004 do việc giải quyết chia thừa kế chưa được đặt ra nên ông Cường chỉ là người chiếm hữu sử dụng di sản thừa kế theo khoản 2 Điều 638 Bộ luật dân sự 2005, ông Cường là người sử dụng nhưng không có quyền định đoạt diện tích trên.

Ngày 20/01/2004 ông Cường và bà Bính ký giấy chuyển nhượng cho anh Thăng diện tích đất trên. Việc ông Cường và bà Bính tự ý bán một phần di sản chưa được sự đồng ý của những người cùng hàng thừa kế là vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 639 Bộ luật dân sự 2005. Đến ngày 17/05/2005 Bản án chia thừa kế số 02/DSST đã căn cứ vào các quy định về thừa kế theo pháp luật chia cho ông Cường được sử dụng trị giá phần tài sản là giá trị quyền sử dụng 288m2 đã bán cho anh Thăng. Đây là tài sản riêng của ông Cường nên việc bà Bính cùng có ý kiến định đoạt khối tài sản này là trái quy định pháp luật về quyền sở hữu. Ngày 13/06/ 2005, Tòa án huyện xử bà Bính ly hôn với ông Cường. Sau đó anh Hưng (con riêng ông Cường) đón ông về nuôi dưỡng và phát hiện ông có biểu hiện của người bị tâm thần, đã yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng dân sự vô hiệu. Theo đề nghị của anh Hưng, Tòa án nhân dân huyện đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần với ông Cường.

Biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005 kết luận: Ông Cường bị mắc bệnh “loạn thần do sử dụng rượu”. Thời điểm mắc bệnh trước ngày 01/01/2004 với biểu hiện là hoàn toàn mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình. Trên cơ sở kết luận giám định, ông Cường được coi là người hoàn toàn mất năng lực trách nhiệm và năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004. Khi đó, mọi giao dịch dân sự của ông Cường bà Bính phải tham gia với tư cách người giám hộ để đại diện cho ông Cường. Tuy nhiên hợp đồng trên, bà Bính tham gia với tư cách như một chủ thể sở hữu tài sản với chính con riêng của bà. Việc này vi phạm Điều 58, Điều 62 Bộ luật dân sự 2005. Ngày 10/08/2005 anh Hưng đăng ký giám hộ cho ông Cường tại Ủy ban nhân dân xã, do đó tính đến thời điểm này ông Cường mới có người giám hộ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 161 Bộ luật dân sự thì thời hiệu khởi kiện được tính từ thời điểm ông Cường có người giám hộ.

Anh Thăng đã ký hợp đồng với ông Cường là người mất năng lực hành vi dân sự. Bà Bính là người không có quyền định đoạt, xử lý tài sản là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng. Vì vậy, hợp đồng là vô hiệu theo Điều 133 Bộ luật dân sự 2005. Anh Thăng trả lại 288m2 đất thổ cư cho ông Cường mà anh Hưng là người đại diện.

Tại phần Quyết định, đã nêu ra các quy định pháp lý áp dụng giải quyết gồm: Về mặt thủ tục tố tụng: Căn cứ vào các điều 127, 131, 171, 179, 180, 195 Bộ luật tố tụng dân sự 2004. Về mặt nội dung: Căn cứ vào các điều 58, 62, 133, Khoản 2 Điều 137, Khoản 2 Điều 161, Khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự 2005.

Quan điểm cá nhân về phán quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn: Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn đã sai lầm và mâu thuẫn khi nhận định hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình theo Điều 133 Bộ luật dân sự 2005. Cụ thể như sau: Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Ông Cường không phải là người có năng lực hành vi dân sự: Biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005 kết luận: Ông Cường bị mắc bệnh “loạn thần do sử dụng rượu”. Thời điểm mắc bệnh là trước ngày 01/01/2004 với biểu hiện của bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển hành vi. Trên cơ sở kết luận giám định Tòa án cho rằng: “Ông Cường được coi là người mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004”. Cách đánh giá trên của Tòa án là hợp lý, phù hợp với Điều 22 Bộ luật dân sự 2005: “Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”.

Ý chí của ông Cường tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự: Hợp đồng được thiết lập ngày 20/01/2004. Giấy xác nhận giám định là ngày 15/12/2005.

Nội dung giám định kết luận ông Cường mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm và năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004. Điều đó có nghĩa Tòa án tuyên ông Cường mất năng lực hành vi dân sự là sau khi giao dịch dân sự được xác lập nhưng thực chất ông Cường đã lâm vào tình trạng đó trước khi xác lập giao dịch dân sự. Ý chí của ông Cường tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự phải dựa vào thực tế chứ không thể dựa vào thời điểm Tòa án tuyên. Nếu dựa vào thời điểm Tòa án tuyên thì chỉ những giao dịch của ông Cường sau ngày xét xử mà không thông qua đại diện mới có thể bị vô hiệu, những giao dịch trước đó hoàn toàn có hiệu lực, điều đó không đảm bảo được quyền lợi cho người mất năng lực hành vi. Tòa án tuyên bố “Ông Cường mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004” là hợp lý nhưng đã thiếu sót khi không làm rõ được tại thời điểm hợp đồng xác lập ông Cường đã thoát ra khỏi tình trạng đó chưa? Liệu thời điểm xác lập giao dịch ông Cường có phục hồi hoàn toàn khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình không? Nếu ông Cường đã phục hồi hoàn toàn khả năng nhận thức và làm chủ hành vi tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự thì có thể coi ông Cường là người có năng lực hành vi dân sự để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp lý hay không? (Vì việc ông Cường không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng 288m2 đất trên sau đó đã được khắc phục bởi bản án chia thừa kế số 02/DSST).

Như vậy, kết luận của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn là chưa chính xác. Phải tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng là giao dịch dân sự vô hiệu do người mất năng lực hành vi dân sự xác lập và thực hiện theo Điều 130 Bộ luật dân sự 2005 chứ không thể áp dụng Điều 133 Bộ luật dân sự 2005.Việc áp dụng các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi còn nhiều vướng mắc. Cần phải nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, đồng thời xem xét chỉnh sửa, hướng dẫn áp dụng các quy định hiện hành theo hướng rõ ràng hơn.

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VẤN ĐỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Chế định giao dịch dân sự đã có những tác động tích cực đến đời sống xã hội hiện nay. Các quy định này đã tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự một cách tự nguyện trong khuôn khổ pháp luật. Đồng thời, nó là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp xảy ra liên quan đến giao dịch dân sự, bảo đảm cho việc kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền và góp phần ổn định quan hệ sở hữu tài sản. Với những quy định về sự tự nguyện về ý chí của các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự đã có nhiều bước tiến mới so với pháp luật trước đó. Tuy nhiên, với sự đòi hỏi ngày một cao của xã hội, những quy định đó cũng đã bộc lộ rất nhiều hạn chế như đã phân tích. Qua đó cần có những sửa đổi nhanh chóng và phù hợp để đáp ứng nhu cầu của xã hội.

3.2.1. Các quy định chung về sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự

  • Nguyên tắc tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận.

Trước đây trong Bộ luật dân sự 1995, nguyên tắc “tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác” là nguyên tắc đặt lên hàng đầu [31, Điều 2]. Hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình chuyển từ kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đề cao tự do ý chí, thúc đẩy tự do kinh doanh; Nguyên tắc đầu tiên trong Bộ luật dân sự 2005 là nguyên tắc “tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận” [35, Điều 4]. Đây là nguyên tắc đặc trưng, cơ bản và bao trùm toàn bộ quan hệ pháp luật dân sự. Nội dung của nguyên tắc này khẳng định quyền tự do ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự, vạch ra giới hạn của sự tự do ý chí đó là “cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”. Thiết nghĩ, giới hạn này cần phải sửa đổi.

Theo Điều 128 Bộ luật dân sự 2005, điều cấm của pháp luật là “những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” [35]. Trong khi đó, quy phạm mệnh lệnh bao gồm quy phạm cấm đoán (chủ thể phải kiềm chế không được thực hiện những hành vi nhất định) và quy phạm bắt buộc (chủ thể buộc phải thực hiện những hành vi nhất định). Như vậy, giới hạn của sự tự do ý chí theo Điều 4 Bộ luật dân sự 2005 mới chỉ là những hành vi pháp luật quy định chủ thể không được làm chứ chưa đề cập đến việc chủ thể không thực hiện việc pháp luật buộc phải làm. Căn cứ theo tinh thần này thì việc bên mua bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ thông tin quy định tại Điều 573 Bộ luật dân sự 2005 sẽ không làm hợp đồng vô hiệu. Tư tưởng này đi ngược lại tinh thần thi hành pháp luật của công dân.

Mặt khác, Điều 389 Bộ luật dân sự 2005 quy định “tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội” [35, Điều 389]. Điều 652 có nội dung: “Nội dung di chúc không trái pháp luật…” [35, Điều 652]. Trái pháp luật đơn thuần chỉ là xử sự khác với yêu cầu của pháp luật nhưng có thể không vi phạm pháp luật nếu chủ thể đó không có lỗi. Thiết nghĩ, cần khắc phục điều này, thống nhất sử dụng thuật ngữ “không vi phạm pháp luật” trong các Điều 4, Điều 122, Điều 389, điều 652 Bộ luật dân sự 2005. Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

  • Vấn đề ý chí của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi.

Luật hiện hành cho phép người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng đủ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập giao dịch dân sự mà không đòi hỏi có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ (Điều 20 Bộ luật dân sự 2005). Như vậy, chủ thể này được coi là người có ý chí độc lập, có thể tự mình bày tỏ ý chí, xác lập giao dịch dân sự và chịu trách nhiệm về hành vi của mình như một người có năng lực hành vi đầy đủ chỉ khi có tài sản. Vấn đề đặt ra nếu tài sản không còn, kể cả do nguyên nhân khách quan, thì việc tự mình bày tỏ ý chí và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình cũng chấm dứt? Bộ luật dân sự 2005 đã chưa quy định rõ điều này. Nên chăng tham khảo Bộ luật dân sự Đức, quy định rõ những giao dịch dân sự cần sự đồng ý của cha mẹ, hoặc những trường hợp giao dịch dân sự không cần sự đồng ý của cha mẹ nhưng cha mẹ vẫn phải cùng chịu trách nhiệm giám sát.

  • Vấn đề ý chí phải thể hiện dưới bằng văn bản có công chứng, chứng thực.

Một số giao dịch dân sự ý chí của chủ thể phải được thể hiện dưới hình thức văn bản có công chứng, chứng thực, vi phạm điều kiện về hình thức giao dịch dân sự đó sẽ bị vô hiệu theo Điều 134 Bộ luật dân sự 2005. Xử lý như vậy quá nghiêng về hình thức thể hiện ý chí chứ chưa quan tâm đến ý chí đích thực của các bên. Thực tiễn, không ít hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đã được hai bên xác lập và thực hiện; Sau đó do giá cả biến động nhà đất tăng giá người bán có ý định hủy bỏ hợp đồng mà viện ra lý do hợp đồng vô hiệu về hình thức để trục lợi. Yêu cầu hoàn thiện hình thức của giao dịch theo phán quyết của Tòa là không thể khả thi khi mà một bên không muốn điều đó. Tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì bên mua bị thiệt, đồng thời phủ nhận ý chí mua bán có thực do hai bên tự nguyện xác lập trước đó.

Người viết cho rằng, pháp luật cần có quy định theo hướng chú trọng đến ý chí của chủ thể. Cụ thể sửa đổi Điều 134 Bộ luật dân sự 2005 theo hướng công nhận hiệu lực giao dịch dân sự vi phạm điều kiện về hình thức nếu đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần. Đồng thời xây dựng chế tài phạt hành chính đối với chủ thể không thực hiện quy định pháp luật về hình thức giao dịch.

  • Vấn đề ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự không đầy đủ.

Dấu hiệu không đầy đủ được thể hiện ở việc nội dung giao dịch dân sự xác lập không đề cập hết các khía cạnh mà pháp luật yêu cầu đối với loại giao dịch đó. Trước đây Bộ luật dân sự 1995 có quy định hướng giải quyết: thiếu điều khoản cơ bản thì coi như chưa xác lập giao dịch, thiếu điều khoản không cơ bản thì bổ sung theo tập quán tại nơi xác lập giao dịch. Hiện nay Bộ luật dân sự 2005 không có sự phân biệt đó nữa, cũng không có quy định chung cho giao dịch dân sự mà chỉ quy định về bổ sung khi hợp đồng dân sự thiếu một số điều khoản tại Khoản 5 Điều 409 Bộ luật dân sự 2005. Thiết nghĩ đây là điểm bất hợp lý của Bộ luật dân sự 2005. Tôi cho rằng Bộ luật dân sự 2005 cần có thêm điều luật quy định giao dịch dân sự thiếu điều khoản cơ bản thì coi như chưa xác lập giao dịch dân sự đó, việc bổ sung điều khoản cơ bản còn thiếu được coi như xác lập giao dịch dân sự mới.

3.2.2. Quy định cụ thể về những trường hợp vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

  • Về giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn.

Nhầm lẫn là một trong những quy định còn nhiều thiếu sót và hạn chế trong số các quy định về sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự, dẫn đến khó khăn khi áp dụng trên thực tế. Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng sau:

Bộ luật dân sự 2005 không đưa ra khái niệm nhầm lẫn, vì thế dẫn đến sự áp dụng tùy tiện, không thống nhất của các Tòa án khi xác định yếu tố nhầm lẫn trong giao dịch dân sự. Vì vậy, cần thiết phải có khái niệm về vấn đề này. Có thể hiểu một cách đơn giản nhất đó là: Nhầm lẫn là nhận thức chủ quan của chủ thể về một sự việc mà nhận thức đó không đúng với thực tế của sự việc đó.

Ngoài ra, Bộ luật dân sự 2005 đã quy định thiếu nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn, gây khó khăn cho nhiều trường hợp giải quyết tranh chấp giao dịch dân sự nhầm lẫn. Mặt khác, quy định về nhầm lẫn như hiện nay làm cho người ta dễ hiểu rằng các nhà làm luật chỉ dụng ý áp dụng nó với hợp đồng dân sự. Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng loại bỏ yếu tố lỗi khi quy định về sự nhầm lẫn. Theo đề xuất của người viết, Điều 131 Bộ luật dân sự 2005 có thể được sửa đổi như sau: “Giao dịch dân sự được xác định có sự nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó…”. Điều đó cũng có nghĩa là sẽ bỏ đoạn 2 của Điều 131 Bộ luật dân sự 2005: “Trong trường hợp một bên do có lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”.

Trên thực tế hiện nay, các giao dịch nhầm lẫn về chủ thể xảy ra không ít, các tòa án đều xác định là có nhầm lẫn khi xác lập giao dịch, tuy nhiên lại lúng túng khi xác định căn cứ pháp luật để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, bởi pháp luật nước ta chỉ công nhận nhầm lẫn về nội dung. Chính vì vậy, nên chăng chúng ta nên đưa nhầm lẫn về chủ thể cũng là đối tượng của sự nhầm lẫn trong giao dịch dân sự bằng cách bổ sung vào điều luật một quy định: “Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn về chủ thể thì các bên có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu”.

  • Về giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Đe dọa theo Điều 132 Bộ luật dân sự 2005 thì người bị đe dọa phải thực hiện giao dịch dân sự để tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình. Trường hợp người bị đe dọa vì sợ hãi nguy cơ thiệt hại tính mạng của em gái mà xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự đó sẽ vẫn có hiệu lực pháp lý. Điều này không đảm bảo sự tự nguyện trong xác lập giao dịch dân sự đồng thời khó được chấp nhận trên thực tế.

Tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bất kỳ ai cũng đều rất quan trọng và cần được bảo vệ. Thực tế, chủ thể xác lập giao dịch dân sự dù không có quan hệ thân thích với một người nhưng do lo sợ thiệt hại có thể xảy ra với người đó mà đã tham gia giao dịch trái với mong muốn; người đó có thể là một người đáng kính, một người bạn, một người em nhỏ mới gặp,… đang có nguy cơ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm, tài sản. Chủ thể nếu không xác lập giao dịch để loại bỏ nguy cơ thiệt hại của những người đó sẽ đi ngược lại truyền thống đạo đức của dân tộc, hoặc nếu đối tượng của sự thiệt hại là tính mạng người khác có thể sẽ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng theo Điều 102 Bộ luật hình sự 1999? Do đó, nên quy định: “Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người khác“.

Người viết cũng kiến nghị xem xét làm rõ vấn đề đe dọa và cưỡng ép trong giao dịch dân sự. Nếu coi đe dọa, cưỡng ép là hai hành vi khác nhau của chủ thể, có giao dịch dân sư vô hiệu do bị đe dọa thì cũng cần quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do bị cưỡng ép. Vậy mới đảm bảo tính nhất quán giữa các Điều 4, Điều 132 và Điều 652 Bộ luật dân sự 2005.

  • Về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.

Điều 129 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác. Trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu” [35, Điều 129]. Quy định này chưa rõ ràng, dễ gây hiểu nhầm giao dịch dân sự có dấu hiệu “nhằm che giấu một giao dịch khác” hoặc dấu hiệu “nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba” là hai trường hợp hình thành giao dịch giả tạo. Hoặc có thể hiểu sai đi theo hướng “xác lập giao dịch giả tạo nhưng không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó không vô hiệu”.

Thiết nghĩ, dấu hiệu cần và đủ của giao dịch dân sự giả tạo là để che giấu một giao dịch khác. Việc che giấu đó có thể là để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba hoặc nhằm mục đích khác (chẳng hạn không muốn mang tiếng thiên vị giữa các con, cha mẹ làm hợp đồng mua bán để che giấu việc tặng cho nhà với con trai), dù là mục đích nào thì giao dịch giả tạo cũng luôn bị vô hiệu. Do vậy Điều 129 chỉ nên quy định rằng: “Khi các bên xác lập giao dịch một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của bộ luật này“. Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

  • Về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí.

Điều 136 Bộ luật dân sự 2005 đã nâng thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, do chủ thể xác lập khi không nhận thức và điều khiển được hành vi là hai năm kể từ ngày xác lập giao dịch so với Bộ luật dân sự 1995 chỉ quy định là một năm. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm cho rằng thời hiệu hai năm là quá ngắn. Quy định như vậy chẳng khác nào khuyến khích kẻ thực hiện hành vi lừa dối thực hiện việc lừa dối thật tinh vi để người lừa dối không tài nào phát hiện trong vòng hai năm; Hoặc tiến hành hành vi đe dọa trong khoảng thời gian hai năm sau khi hợp đồng được xác lập để người bị đe dọa không thể thực hiện quyền lợi của mình.

Người viết đề nghị giữ nguyên thời hiệu “hai năm” mà chỉ thay đổi mốc tính thời hiệu là “kể từ ngày bên bị nhầm lẫn, lừa dối biết hoặc phải biết về sự nhầm lẫn hay lừa dối đó; bên đe dọa chấm dứt hành vi đe dọa; người xác lập giao dịch vào thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi thoát khỏi tình trạng đó“. Với mốc tính thời hiệu như vậy, khi các bên đã biết và phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm, khoảng thời gian hai năm là vừa đủ để chủ thể cân nhắc và tiến hành việc khởi kiện nếu cần. Hai năm cũng không phải là quá dài đến mức ngăn cản quá trình lưu thông tài sản, hàng hóa trong xã hội vì hiệu lực của hợp đồng.

KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Nhận thấy rằng giao dịch dân sự là phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc chuyển dịch tài sản và cung ứng dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các thành viên trong xã hội. Tất cả các loại giao dịch dân sự đều có một đặc điểm chung là sự thống nhất ý chí của chủ thể. Vậy sự tự nguyện về ý chí của chủ thể có vai trò cực kỳ quan trọng đối với giao dịch dân sự.

Sự tự nguyện về ý chí của chủ thể là yếu tố hạt nhân không thể thiếu để hình thành giao dịch dân sự, từ đó làm căn cứ phát sinh các nghĩa vụ dân sự. Do đó, giao dịch dân sự cần phải đảm bảo được sự tự do và ngay thẳng của ý chí chủ thể. Pháp luật hiện hành có đề ra “nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận”, “nguyên tắc thiện chí, trung thực” là những nguyên tắc cơ bản, hàng đầu trong việc xác lập và thực hiện giao dịch dân sự. Các nguyên tắc này cho phép loại bỏ những trường hợp không đảm bảo sự tự do, ngay thẳng của ý chí. Chủ thể của giao dịch dân sự phải chín chắn trong suy nghĩ và ở trạng thái minh mẫn. Các trường hợp xác lập một cách giả tạo, xác lập do nhầm lẫn, lừa dối, do bị đe dọa sẽ làm cho giao dịch dân sự vô hiệu. Đồng thời, để đảm bảo sự phát triển ổn định, lành mạnh của kinh tế xã hội; sự tự nguyện về ý chí của chủ thể cần phải được thể hiện một cách đầy đủ, rõ ràng, minh thị dưới một hình thức hợp lý phù hợp với quy định của pháp luật, tôn trọng các nguyên tắc cơ bản khác của Bộ luật dân sự.

Thực tế gần đây, các tranh chấp dân sự có nội dung yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đúng cam kết liên quan đến điều kiện về sự tự nguyện về ý chí của chủ thể ngày càng tăng. Nguyên nhân của tình trạng này, một phần là do sự sôi động của đời sống dân sự, do lỗi của bản thân các chủ thể giao kết; một phần là do các quy định pháp luật chưa vạch ra được hành lang an toàn, đúng hướng ngay từ đầu cho các chủ thể. Mặt khác, khi tranh chấp phát sinh chính các quy định pháp luật khó hiểu này khiến đương sự cùng cơ quan có thẩm quyền rơi vào tình trạng lúng túng trong việc giải quyết tranh chấp. Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự là vô cùng quan trọng để đảm bảo lợi ích chính đáng của các bên nâng cao đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng. Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật

One thought on “Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự”

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464