Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài

Việc xác lập các giao dịch dân sự giữa các chủ thể là một hiện tượng tất yếu khách quan trong cuộc sống, là một đặc trưng cơ bản của xã hội loài người. Trình độ phát triển, tiến bộ xã hội ngày càng cao, các quyền dân chủ, tự do giành cho cá nhân ngày càng lớn, hoạt động của mỗi cá nhân ngày càng đa dạng, thì các giao dịch dân sự ngày càng phong phú và phức tạp. Việc đảm bảo cho các giao dịch dân sự đó diễn ra theo đúng ý chí của chủ thể xác lập, mang lại lợi ích mà chủ thể mong muốn và không ảnh hưởng đến sự ổn định, trật tự của xã hội có ý nghĩa hết sức to lớn. Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc giải quyết vấn đề trên càng trở nên cấp thiết.

Cách thức được lựa chọn là tạo ra những quy chuẩn, giới hạn của tự do ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự. Bởi ý chí chủ thể là yếu tố hình thành và có tính chất quyết định đến nội dung cũng như hiệu lực của giao dịch dân sự. Tuỳ từng trường hợp vi phạm điều kiện về ý chí của chủ thể mà pháp luật đặt ra các cách thức xử lý khác nhau như: bổ sung, giải thích, hoàn thiện và thực hiện giao dịch hoặc tuyên bố giao dịch dân sự bị vô hiệu khi có yêu cầu hay mặc nhiên phủ nhận sự tồn tại của giao dịch dân sự đó.

Thực tế hiện nay phát sinh rất nhiều tranh chấp về hợp đồng dân sự hay hành vi pháp lý đơn phương liên quan đến điều kiện về ý chí của chủ thể. Đặc biệt là các hợp đồng quan trọng như: chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở, hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm, mua bán hàng hoá hay trong vấn đề lập di chúc của người để lại di sản với những dấu hiệu của sự lừa dối, đe doạ, giả tạo, nhầm lẫn do thiếu hiểu biết và cẩu thả… Có tranh chấp đã được giải quyết song phải trải qua rất nhiều phiên toà với những phán quyết khác nhau, có tranh chấp trải qua nhiều thủ tục tại các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có được một phán quyết cuối cùng.

Nhằm nâng cao hiểu biết, giúp hạn chế khả năng tham gia vào các giao dịch dân sự vi phạm điều kiện về ý chí, giải quyết một cách chính xác các tranh chấp phát sinh. Nghiên cứu các quy định về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự là vô cùng cần thiết. Do đó, tôi chọn đề tài: “Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ. Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự là một nội dung rất rộng và phức tạp, vì vậy luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đến vấn đề sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Vấn đề sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự cũng đã được đề cập trong các bài viết nghiên cứu trao đổi và các công trình nghiên cứu bảo vệ khoa học.

Công trình của tác giả: Nguyễn Thị Nhàn, “Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự“, Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2008; Bùi Thị Thu Huyền, “Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí của chủ thể“, Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2010. Hai công trình này trực tiếp đề cập đến ý chí của chủ thể trong thời gian gần đây, song công trình của tác giả Bùi Thị Thu Huyền chỉ nghiên cứu trong phạm vi hợp đồng dân sự còn công trình của tác giả Nguyễn Thị Nhàn lại nghiên cứu theo từng giao đoạn xác lập và thực hiện giao dịch dân sự.

Bài viết đăng trên tạp chí của tác giả: Tiến sĩ Ngô Huy Cương “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay“, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 2008. Tiến sĩ Đỗ Văn Đại: “Nhầm lẫn trong chế định hợp đồng: những bất cập và hướng sửa đổi“, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp năm 2008; Lê Thị Bích Thọ: “Lừa dối trong giao kết hợp đồng“, Báo Thông tin pháp luật, năm 2008… Các bài viết này một số đi theo hướng hàn lâm, nghiên cứu theo học thuyết tự do ý chí, một số lại chỉ nghiên cứu một trường hợp vi phạm ý chí chủ thể cụ thể.

Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để làm sáng tỏ các quy định của pháp luật, những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện và mạnh dạn đề xuất một vài ý kiến hoàn thiện pháp luật.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Phân tích những vấn đề lý luận về giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể.
  • Phân tích các quy định pháp lý về các loại giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể, hậu quả pháp lý của việc vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể, tập trung vào các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể.
  • Phân tích thực tiễn việc áp dụng các quy định pháp luật giải quyết các tranh chấp, đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao khả năng áp dụng pháp luật xung quanh vấn đề vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả đã sử dụng và kết hợp một cách đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh để giải quyết nhiệm vụ đặt ra trong luận văn.

5. Tính mới và những đóng góp của đề tài Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

  • Phân tích một cách có hệ thống cách khía cạnh của sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự. Phân tích và so sánh được các quy định về sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự của pháp luật Việt Nam hiện hành và trước đây; so sánh với pháp luật nước ngoài.
  • Đánh giá được các nguyên nhân dẫn đến việc xác lập giao dịch vi phạm sự tự nguyện về ý chí chủ thể, tình hình tranh chấp và áp dụng các quy định pháp luật xử lý tranh chấp liên quan đến giao dịch dân sự vi phạm các điều kiện về sự tự nguyện.
  • Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật.

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Lý luận chung về giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể.
  • Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể.
  • Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể và kiến nghị hoàn thiện.

Chương 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ

1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI GIAO DỊCH DÂN SỰ

1.1.1. Khái niệm giao dịch dân sự

Từ thời cổ đại đến nay giao dịch còn được gọi với các tên khác nhau như khế ước, giao ước, hiệp ước. Theo Từ điển tiếng Việt thì giao dịch là sự giao tiếp, tiếp xúc, giao kèo… giữa hai hay nhiều đối tác với nhau. Hiểu theo khía cạnh pháp lý thì giao dịch chính là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm hướng tới một mục đích làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định.

Ngày nay, vị trí và vai trò của giao dịch ngày càng được khẳng định trong các hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật của mỗi quốc gia lại có các cách tiếp cận khác nhau. Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp không đưa ra chế định giao dịch dân sự mà chỉ đưa ra chế định hợp đồng dân sự và chế định thừa kế. Bộ luật dân sự Nhật Bản đưa ra chế định hành vi pháp lý bao trùm lên chế định hợp đồng và chế định thừa kế theo di chúc. Hầu như pháp luật của các nước đều không quy định cụ thể về khái niệm giao dịch dân sự mà nó chỉ được đề cập đến dưới góc độ khoa học. Theo các nhà khoa học Nhật Bản thì: “Giao dịch dân sự là hành vi hợp pháp nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” [53, tr. 114]. Như vậy, các nhà khoa học Nhật Bản không nêu ra cụ thể các loại giao dịch mà nó là tất cả những hành vi tự nguyện của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự nhằm thu được một kết quả nhất định với điều kiện các hành vi này không trái pháp luật.

Theo pháp luật Việt Nam, trước khi có Bộ luật dân sự 1995 chúng ta chưa có quy định riêng về giao dịch dân sự mà chỉ được đề cập dưới góc độ là hợp đồng dân sự (Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991), hoặc ý chí đơn phương của chủ thể trong việc lập di chúc (Pháp lệnh thừa kế năm 1990). Bộ luật dân sự năm 1995 đã chính thức đề cập đến giao dịch dân sự với quy định cụ thể về khái niệm, điều kiện có hiệu lực của giao dịch, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu… Trong Bộ luật dân sự năm 2005, giao dịch dân sự được quy định trong chương VI, Phần thứ nhất của bộ luật, giao dịch dân sự là hợp đồng được quy định tại Mục 7 Phần 3, giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương được quy định qua các hợp đồng như hứa thưởng, thi có giải.

Theo đó, Điều 121 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” [35]. Giao dịch dân sự trước hết phải là hành vi do con người tiến hành một cách có ý thức và có mục đích. Để tham gia vào giao dịch dân sự cụ thể người đó phải có đủ tư cách chủ thể. Tức là phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đủ để đảm bảo họ ý thức được họ muốn gì, ý thức được hành vi họ đang tiến hành và chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nói cách khác, giao dịch dân sự là hành vi có ý chí của chủ thể. Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đa phương (hợp đồng) hoặc đơn phương, tức là một loại sự kiện pháp lý – sự kiện xảy ra trong thực tế mà pháp luật dự liệu, quy định là phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định. Tùy từng giao dịch dân sự cụ thể, hậu quả pháp lý đó là làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể. Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch.

  • Tóm lại, có thể rút ra một số đặc điểm của giao dịch dân sự như sau: Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Thứ nhất, giao dịch dân sự phải có ý chí và thể hiện được ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Khi tham gia vào giao dịch dân sự, các chủ thể đều mong muốn đạt được những mục đích nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt, tiêu dùng. Để đạt được mục đích đó, các chủ thể phải thể hiện được ý chí của mình. Khi xác lập giao dịch các bên phải thể hiện ý chí của mình ra bên ngoài và phải có sự thỏa thuận thống nhất những nội dung mà họ đã thể hiện. Nếu các bên không thỏa thuận được thì giao dịch cũng sẽ không được giao kết. Trường hợp giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương mà nội dung chính của giao dịch do một bên đưa ra, tuy bên kia không trực tiếp thỏa thuận nhưng về cơ bản họ phải đồng ý với tất cả nội dung, điều kiện do bên đã đưa ra và tự nguyện tham gia giao dịch.

Thứ hai, sự thể hiện ý chí của các chủ thể trong giao dịch dân sự nhằm hướng tới một hậu quả pháp lý nhất định. Bởi vì không phải bất kì một hợp đồng dân sự hay hành vi pháp lý đơn phương nào cũng được coi là giao dịch dân sự. Chỉ được coi là giao dịch dân sự khi hành vi pháp lý đó phải nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự với chủ thể khác.

Thứ ba, mục đích của giao dịch dân sự là những lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Mục đích của giao dịch dân sự chính là hậu quả pháp lý sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì mục đích đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội.

Thứ tư, các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện. Sự tự nguyện là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình thiết lập giao dịch. Đây là sự phản ánh tính thống nhất giữa ý chí và thể hiện ý chí của các chủ thể. Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí cho nên sự tự nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí, giữa chúng phải có sự thống nhất với nhau. Nếu không có tự do ý chí và bày tỏ ý chí hoặc không có sự thống nhất giữa hai yếu tố này thì cũng không có sự tự nguyện. Giao dịch dân sự khi vi phạm sự tự nguyện có thể dẫn đến vô hiệu.

Từ những phân tích trên ta có thể kết luận: Giao dịch dân sự là sự thể hiện ý chí một cách tự nguyện của các chủ thể trong khuôn khổ của pháp luật để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự. Qua đó góp phần cho giao lưu dân sự phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội.

1.1.2. Phân loại giao dịch dân sự Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

1.1.2.1. Căn cứ vào sự thể hiện ý chí của chủ thể

Căn cứ vào ý chí của chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự được phân thành hai loại đó là: Hợp đồng dân sự và hành vi pháp lý đơn phương.

Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến và thông dụng nhất trong đời sống hàng ngày và chiếm một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Hợp đồng dân sự có thể diễn ra giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với pháp nhân, hay giữa các pháp nhân, tổ chức với nhau. Các bên tự do thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm đạt được mục đích nhất định về vật chất hoặc tinh thần nhưng không trái với pháp luật và đạo đức xã hội của quốc gia mà các chủ thể tham gia hợp đồng chịu sự điều chỉnh.

Thông thường hợp đồng dân sự có hai bên tham gia, trong đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong một mối quan hệ cụ thể như mua bán, cho thuê, nhưng cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia như hợp đồng hợp tác. Mỗi bên trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia như mua bán tài sản chung. Trong hợp đồng, ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí giữa các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng. Do vậy, hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Sự thỏa thuận vừa là nguyên tắc, vừa là đặc trưng của hợp đồng dân sự và được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quan hệ hợp đồng: từ giao kết đến thực hiện hoặc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự.

Sự tự do thỏa thuận giữa các chủ thể trong giao dịch dân sự thường là sự bàn bạc, đi đến thống nhất ý chí của các bên trong việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự nhất định. Việc thỏa thuận này không bị cản trở bởi bất cứ yếu tố nào, trừ trường hợp trái pháp luật và đạo đức xã hội. Ví dụ như khi các bên tham gia kí kết hợp đồng mua bán một chiếc xe máy thì chủ sở hữu và người mua xe có quyền tự do bàn bạc giá cả, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm giao xe…

Trên thực tế thì sự tự do thỏa thuận mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ. Bởi lẽ, sự thỏa thuận phải làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên mới hình thành hợp đồng. Ví dụ lời hứa của cha mẹ với con cái không làm phát sinh hậu quả pháp lý. Thậm chí trong một số trường hợp hành vi thỏa thuận giữa các bên có ý chí làm phát sinh hậu quả pháp lý nhưng sau đó nếu các bên không mong muốn tiếp tục thì hậu quả cũng không xảy ra. Đây là yếu tố quan trọng để xác định sự khác nhau giữa hợp đồng với các quan hệ xã hội khác. Sự thỏa thuận phải dựa trên cơ sở pháp luật cho phép, nếu trái với các quy định của pháp luật thì hợp đồng có thể bị vô hiệu, các bên giải quyết hậu quả theo quy định của pháp luật hoặc tự thỏa thuận. Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hành vi pháp lý đơn phương là sự tuyên bố ý chí công khai của một phía chủ thể, nên việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia. Ví dụ như hành vi lập di chúc của một chủ thể đối với tài sản hợp pháp của mình, người đố đã thể hiện ý chí cá nhân để định đoạt tài sản mà họ có, không phụ thuộc vào ý chí của bên nhận di sản. Như vậy, ý chí của người lập di chúc không phụ thuộc vào ý chí của người khác nhưng làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật thuộc giao dịch dân sự.

Thông thường hành vi pháp lý đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất (lập di chúc, từ chối hưởng di sản, hứa thưởng…). Có thể có nhiều chủ thể cùng tham gia và một bên của giao dịch (hai cá nhân, tổ chức cùng tuyên bố hứa thưởng, di chúc chung của vợ chồng…). Trong nhiều trường hợp, hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả khi có những người khác đáp ứng được những điều kiện nhất định do người xác lập giao dịch đưa ra. Những người này phải đáp ứng được các điều kiện nhất định đó mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lập giao dịch (hứa thưởng, thi có giải…). Hành vi pháp lý đơn phương là một giao dịch cho nên nội dung và hình thức phải phù hợp với các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

1.1.2.2. Căn cứ vào hình thức của giao dịch dân sự

Căn cứ vào hình thức thể hiện của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự được thể hiện dưới hình thức lời nói, giao dịch thể hiện dưới hình thức văn bản và giao dịch thể hiện dưới hình thức hành vi cụ thể.

Thông thường hình thức lời nói của giao dịch dân sự được áp dụng đối với các giao dịch có giá trị không lớn hoặc giữa các chủ thể có sự quen biết, tin cậy lẫn nhau hoặc với các giao dịch dân sự phát sinh hậu quả pháp lý sau khi thỏa thuận và các bên thực hiện nghĩa vụ ngay sau đó giao dịch chấm dứt.

Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức văn bản có thể do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện dưới hình thức văn bản thì các chủ thể tham gia phải tuân theo hình thức này. Ngoài ra giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản như: fax, telex… Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Giao dịch dân sự thể hiện bằng hành vi cụ thể: hình thức này cũng phổ biến trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi công nghệ ngày càng phát triển với sự tự động hóa được áp dụng ở nhiều nơi như: bán hàng qua máy tự động, rút tiền ở các máy ATM…

1.1.2.3. Giao dịch dân sự có điều kiện

Dựa vào thời điểm làm phát sinh, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, giao dịch dân sự được chia thành giao dịch có điều kiện làm phát sinh hiệu lực và giao dịch có điều kiện làm chấm dứt hiệu lực.

Trong khi thực hiện giao dịch dân sự, đôi khi các bên xác định là giao dịch dân sự đó chỉ phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực khi xảy ra một sự kiện nhất định. Các giao dịch đó được gọi là giao dịch dân sự có điều kiện và các sự kiện đó được gọi là điều kiện. Các điều kiện đó dự liệu khả năng có thể xảy ra nhưng không chắc chắn xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên, sự kiện được coi là điều kiện phải là sự kiện xảy ra một cách tự nhiên. Nếu một trong các chủ thể của giao dịch dân sự có hành vi ngăn cản không cho các điều kiện đó xảy ra hoặc hành vi thúc đẩy cho điều kiện đó nhanh chóng xảy ra để không thực hiện nghĩa vụ thì cũng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự.

Giao dịch dân sự có thể được xác lập với điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ. Trong trường hợp giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh, việc xảy ra điều kiện đó sẽ làm phát sinh hiệu lực của giao dịch. Ví dụ: A hứa thưởng cho B chiếc máy tính nếu B đỗ đại học. Trong trường hợp B đỗ đại học thì sẽ phát sinh hậu quả pháp lý là B sẽ được A thưởng cho chiếc máy tính (hợp đồng tặng cho có điều kiện). Nếu B không thi đỗ đại học thì hậu quả pháp lý sẽ không xảy ra.

Giao dịch có điều kiện hủy bỏ là giao dịch trong đó việc xảy ra điều kiện sẽ hủy bỏ hiệu lực của giao dịch. Ví dụ: Công ty A cam kết với sinh viên B sẽ cấp học bổng trong thời gian học tập, nếu điểm trung bình của các môn trong 1 học kỳ không đạt được 7,00 trở lên thì công ty A không cấp học bổng cho B nữa. Như vậy, nếu B không đạt được điểm trung bình của kì học từ 7,00 trở lên sẽ dẫn đến việc hủy bỏ việc cấp học bổng.

Trên nguyên tắc tự do xác lập và thực hiện giao dịch, các điều kiện của giao dịch thường do chủ thể của giao dịch lập ra. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có một số trường hợp ngoại lệ, pháp luật quy định một số yêu cầu bắt buộc mà nếu các chủ thể không tuân thủ thì sẽ làm cho giao dịch trở nên vô hiệu. Ví dụ như: Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế [35, Điều 635].

Pháp luật không cho phép thực hiện các giao dịch dân sự có điều kiện nếu điều kiện đó vi phạm pháp luật. Ví dụ như A hứa thưởng cho B nếu như B đánh trọng thương C, giao dịch này sẽ bị vô hiệu ngay từ khi giao kết.

Ngoài ra, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia giao dịch cũng như đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên, pháp luật cũng quy định:

Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu có sự tác động của một bên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra [35, Điều 125].

1.2 ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

1.2.1. Điều kiện về chủ thể

Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự 2005 thì: “người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” [35, Điều 122]. Khái niệm “người” được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các chủ thể tham gia giao dịch dân sự như: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.

1.2.1.1. Đối với chủ thể là cá nhân

Cá nhân được coi là chủ thể phổ biến của các giao dịch dân sự. Có thể nói cá nhân tham gia hầu hết tất cả các giao dịch dân sự, kể cả với các giao dịch dân sự trong đó chủ thể là pháp nhân hay các tổ chức khác, thì cá nhân vẫn tham gia với tư cách người đại diện.

Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Vì vậy, giao dịch dân sự do cá nhân xác lập chỉ có hiệu lực nếu phù hợp với năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự.

Căn cứ vào khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cũng như khả năng thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá nhân, pháp luật nước ta quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân từ Điều 17 đến Điều 23 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

  • Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được quyền xác lập mọi giao dịch dân sự, trừ trường hợp họ bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi [35, Điều 22], tuyên bố hạn chế năng lực hành vi [35, Điều 23].
  • Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày [35, Điều 20].
  • Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được xác lập các giao dịch trong phạm vi tài sản riêng mà họ có, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác [35, Điều 20] (ví dụ: lập di chúc phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý).
  • Những người chưa đủ 6 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự không được phép xác lập mọi giao dịch dân sự. Các giao dịch dân sự của những người này đều do người đại diện theo pháp luật thực hiện.

1.2.1.2. Đối với các chủ thể khác

Các chủ thể khác của giao dịch dân sự đó là: Pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình.

  • Pháp nhân chỉ tham gia các giao dịch phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân trong phạm vi điều lệ hoạt động của pháp nhân đó [35, Điều 86]. Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.
  • Hộ gia đình chỉ tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất, đến hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác theo quy định của pháp luật [35, Điều 106].
  • Tổ hợp tác chỉ tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ hợp tác được xác định trong hợp đồng [35, Điều 111].

Với tính chất là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự được tạo nên bởi sự liên kết của nhiều cá nhân đơn lẻ, độc lập nên khi xác lập hoặc thực hiện một giao dịch dân sự, chủ thể đó nhất thiết phải thông qua vai trò của người đại diện của mình.

Hành vi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác chỉ được coi là hành vi của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nến những hành vi này được tiến hành phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của chủ thể đó hoặc được ghi nhận trong quyết định thành lập pháp nhân hay trong bản điều lệ của pháp nhân.

Hành vi pháp lý do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện thì về nguyên tắc nó sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện. Nó chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện nếu được người đó đồng ý.

Hành vi pháp lý do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, nó sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối. Tuy nhiên, trong trường hợp không được sự đồng ý của người được đại diện thì người đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện.

1.2.2. Điều kiện về nội dung, mục đích Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” [35, Điều 122].

Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản mà một hoặc các bên xác lập giao dịch đó đưa ra hoặc thỏa thuận với nhau. Các điều khoản này xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể tham gia vào giao dịch đó, đồng thời cũng có thể xác định trách nhiệm dân sự của các chủ thể trong trường hợp các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết.

Mục đích của giao dịch dân sự là nhu cầu hay những lợi ích về mặt vật chất hay tinh thần mà các chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia vào một giao dịch dân sự. Không thể có giao dịch dân sự mào mà người tham gia xác lập, thực hiện nó không có mục đích nhất định. Mục đích này sẽ đạt được khi nó được thể hiện thông qua các điều khoản của giao dịch và các bên thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết khi xác lập giao dịch.

Ngoài ra, không phải lúc nào mục đích của các bên tham gia giao dịch cũng được thể hiện rõ ràng chính xác thông qua nội dung của hợp đồng. Trong trường hợp đó cần phải làm sáng tỏ mục đích của giao dịch và cần phân biệt mục đích với động cơ của giao dịch dân sự. Động cơ được hiểu là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy những suy nghĩ, hành động. Động cơ xác lập giao dịch là nguyên nhân thúc đẩy các bên tham gia xác lập giao dịch, nó không phải là yếu tố bắt buộc của giao dịch dân sự như mục đích. Vì vậy, nếu không làm rõ được mục đích của giao dịch hoặc mục đích không đạt được thì giao dịch đó coi như vô hiệu, sẽ không làm phát sinh bất cứ quyền và nghĩa vụ nào, vì mục đích của giao dịch dân sự là yếu tố bắt buộc để giao dịch có hiệu lực pháp lý.

Khi tham gia các giao dịch dân sự thì mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội [35, Điều 128]. Theo đó, điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định (ví dụ như các giao dịch nhằm thực hiện hành vi phạm tội như giết người, gây thương tích…). Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hộ, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Tóm lại, một giao dịch dân sự muốn được coi là có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch dân sự đó phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

1.2.3. Điều kiện về ý chí Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Đây là điều kiện được xây dựng dựa trên cơ sở nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận”, một trong những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự được ghi nhận tại Điều 4 Bộ luật dân sự 2005.

Bản chất của giao dịch dân sự là hành vi có ý chí nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ mà các bên mong muốn đạt được. Do vậy, có thể nói bản chất của giao dịch dân sự là sự tự nguyện xác lập giao dịch, thể hiện qua sự thống nhất giữa ý chí và tuyên bố ý chí của chủ thể mà không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một tác động nào từ bên ngoài. Ý chí tự nguyện của chủ thể là tiền đề quan trọng để hình thành giao dịch. Nhưng giao dịch chỉ hợp pháp khi được pháp luật công nhận mới phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự trên thực tế. Vì vậy, quy định của Bộ luật dân sự 2005 đã coi yếu tố tự nguyện là một trong bốn điều kiện cơ bản không thể thiếu được trong giao dịch dân sự có hiệu lực: “người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện” [35, Điều 122].

Để xác định một chủ thể tham gia giao dịch có hoàn toàn tự nguyện hay không thì điều kiện cần là người đó được pháp luật cho phép tham gia giao dịch và điều kiện đủ là hành vi tham gia giao dịch của các chủ thể phải là thể hiện ý chí đích thực của mình.

Sự tự nguyện của các bên trong giao dịch dân sự được thể hiện ở việc các bên tham gia giao dịch có quyền tự do ý chí và bày tỏ ý chí. Khi chủ thể xác lập giao dịch dân sự thì yêu cầu đầu tiên của pháp luật là các chủ thể đó phải tự do và tự nguyện. Chỉ có tự do ý chí và không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào thì chủ thể mới đích thực được thỏa thuận. Trong giao dịch dân sự, tự do ý chí có nghĩa là chủ thể tham gia giao dịch có quyền:

  • Quyền tự do ý chí về việc thỏa thuận kí kết hợp đồng với ai, với nội dung gì và có nghĩa vụ ràng buộc với các chủ thể tham gia.
  • Quyền tự do thỏa thuận các nội dung giao dịch dân sự theo ý muốn của các chủ thể như: thời gian, địa điểm thực hiện, phương thức thực hiện, điều kiện thực hiện giao dịch…
  • Quyền tự do lựa chọn hình thức giao dịch như: bằng văn bản, lời nói, hành vi, trừ trường hợp pháp luật bắt buộc một số giao dịch phải tuân theo một hình thức nhất định. Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Các bên phải được biểu lộ ý chí một cách thoải mái và trung thực theo đúng ý chí và mong muốn của mình, nghĩa là phải có sự thống nhất giữa ý chí bên trong và biểu lộ ra bên ngoài, không bị áp đặt bởi bất cứ một lý do nào khác như bị khống chế, bị đe dọa, bị lừa dối… Nếu trong trường hợp ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch bị áp đặt, cấm đoán bởi sự tác động của người khác hoặc ngoại cảnh để dẫn đến chủ thể tham gia giao dịch không thực sự thể hiện được ý chí của mình trong giao dịch dân sự thì họ hoàn toàn có quyền không chấp nhận giao dịch đó, tự mình hoặc yêu cầu tòa án tuyên bố vô hiệu.

Pháp luật dân sự Việt Nam dựa trên nguyên nhân cơ bản dẫn đến giao dịch dân sự vi phạm yếu tố tự nguyện, tức là không có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí như sau:

Chủ thể tham gia giao dịch cố tình không thể hiện đúng ý chí thực của mình nhằm trốn tránh pháp luật hoặc vì một lý do khác. Ví dụ trong trường hợp các bên xác lập giao dịch bán nhà nhưng khi làm thủ tục sang tên trước bạ thì đã thỏa thuận với nhau ghi giá bán trong hợp đồng thấp hơn với giá thực tế để giảm thuế trước bạ. Đây là trường hợp giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo. Trong giao dịch này, các bên tham gia xác lập giao dịch đã thông đồng với nhau thể hiện ý chí ra ngoài không đúng với ý chí của mình nhằm mục đích trốn thuế.

Chủ thể tham gia giao dịch không bày tỏ được ý chí thực của mình là do bị tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài. Khác với nguyên nhân trên, hành vi vi phạm sự tự nguyện xuất phát từ chính sự mong muốn của các chủ thể tham gia xác lập giao dịch. Trong trường hợp này, chủ thể tham gia không thể bày tỏ được ý chí của mình là do ngoại cảnh tác động (lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn). Cụ thể trong trường hợp đe dọa, chủ thể bị đe dọa bắt buộc phải xác lập theo ý chí của bên đe dọa vì lo ngại cho vật chất, thể chất và tinh thần của mình hoặc cha, mẹ, vợ chồng, con mình.

Như vậy, sự tự nguyện về ý chí trong giao dịch dân sự chính là sự thống nhất giữa tự do ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể khi tham gia vào một giao dịch dân sự nhất định.

1.2.4. Điều kiện về hình thức

Hình thức của giao dịch dân sự là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định của chủ thể tham gia giao dân sự. Thông qua hình thức biểu hiện này bên đối tác và người thứ ba biết được nội dung của giao dịch đã xác lập. Hiện nay, giao dịch dân sự có thể được thể hiện dưới dạng lời nói, hành vi hoặc văn bản.

Thông thường, pháp luật của các nước trên thế giới quy định giao dịch dân sự phải tuân thủ quy định về hình thức theo các khuynh hướng sau: Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Khuynh hướng thứ nhất là: đòi hỏi một số giao dịch phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu vi phạm hình thức thì giao dịch sẽ bị vô hiệu (như pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức, Thái Lan…). Trong pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức, những đòi hỏi đầu tiên đưa ra là khi giao kết, giao dịch phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều kiện về hình thức, nếu không tuân thủ những quy định này thì giao dịch đó sẽ bị vô hiệu tuyệt đối. Pháp luật của Thái Lan lại quy định: “Một hành vi pháp lý không theo đúng hình thức quy định của pháp luật thì vô hiệu” [2, Điều 115].

Khuynh hướng thứ hai là: không coi hình thức là điều kiện xác định hiệu lực của bất kỳ một giao dịch nào. Trong bộ luật dân sự nước Cộng hòa Pháp không có một điều khoản nào quy định khi hợp đồng không tuân thủ các quy định về hình thức sẽ dẫn tới vô hiệu. Theo Bộ luật dân sự của Nhật Bản thì nguyên tắc tự do giao dịch dân sự thừa nhận cả việc tự do lựa chọn về hình thức giao kết: “Mặc dù nhà nước yêu cầu tuân thủ hình thức đặc biệt thì giao dịch pháp lý vẫn hoàn toàn có đặc điểm không theo một hình thức bắt buộc nào” [53, tr. 118].

Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định” [35, Điều 122]. Có thể thấy, các nhà lập pháp của nước ta đi theo khuynh hướng thứ nhất. Tuy nhiên, quy định này còn có những hạn chế nhất định. Bởi lẽ:

Hình thức giao dịch thực chất chỉ là cách thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch dân sự ra bên ngoài, cũng là cơ sở để tạo nên chứng cứ khi có tranh chấp và góp phần bảo đảm an toàn trong giao lưu dân sự. Tuy nhiên, quy định giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức thì vô hiệu tuyệt đối sẽ tạo nên một khoảng cách nhất định giữa sự thống nhất ý chí thực và hiệu lực của giao dịch. Bên cạnh đó, nếu các chủ thể tham gia giao dịch không tuân thủ quy định về hình thức sẽ dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu là không phù hợp với tình hình thực tế, như việc quy định hình thức của giao dịch mua bán bất động sản. Hiện nay, việc thực hiện những quy định về hình thức đối với hợp đồng mua bán, chuyển nhượng nhà, đất rất khó khăn, phức tạp. Mặt khác, có trường hợp lại xuất phát từ yếu tố chủ quan của các bên, chẳng hạn khi mua bán nhà hai bên hoàn toàn tự nguyện nhưng khi làm thủ tục thì giá nhà có biến động; vì muốn bảo vệ lợi ích của mình nên một bên yêu cầu hủy hợp đồng… Khi xảy ra tranh chấp này mà tất cả các trường hợp Tòa án đều tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không công bằng.

1.3 KHÁI NIỆM GIAO DỊCH DÂN SỰ VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình, con người phải biểu hiện ý chí để vượt qua những khó khăn, trở ngại. Ý chí từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.

Theo các nhà tâm lý học thì: “Ý chí là mặt năng động của ý thức biểu hiện ở năng lực thực hiện hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn” [47, tr. 121].

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì ý chí là phẩm chất tâm lý đặc trưng của người một thuộc tính tâm lý của nhân cách, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.

Trong giao dịch dân sự, ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của mỗi chủ thể mà nội dung của nó là được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản thân chủ thể tham gia giao dịch. Ý chí của các bên tham gia giao dịch dân sự giữ một vai trò quan trọng trong cuộc sống bởi các giao dịch dân sự diễn ra hàng ngày, hàng giờ để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của con người. Ý chí được biểu hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ý chí của họ khi tham gia giao dịch dân sự cụ thể. Tuy nhiên ý chí phải được thể hiện dưới hình thức phù hợp với các quy định của pháp luật và phải có sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí giữa các bên tham gia giao dịch. Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự là yếu tố cơ bản với mục đích thỏa mãn một nhu cầu thiết yếu nào đó của bản thân chủ thể. Muốn đạt được những mục đích đó chủ thể tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự để điều khiển ý chí và lý trí của mình.

Ý chí của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ dân sự nói riêng phải phù hợp với ý chí của nhà nước được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật. Bởi vậy, trong các giao dịch dân sự “ý chí của các chủ thể và ý chí của nhà nước kết hợp lại, ý chí của cá nhân phụ thuộc vào ý chí của nhà nước” [22].

Giao dịch dân sự là hành vi mang ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Các bên tham gia giao dịch tự đặt mình vào cam kết, có cam kết đặt ra theo ý chí của một bên, có cam kết thể hiện ý chí của hai hay nhiều bên. Tuy nhiên, khi xác lập và thự hiện giao dịch dân sự các chủ thể tham gia giao dịch phải tự nguyện. Sự tự nguyện có thể hiểu một cách đơn giản là sự lựa chọn và hành động tự do trong ý thức, bắt nguồn từ những tác nhân được xem xét dựa trên lý trí để đạt đến một mục đích nào đó. Theo cách này, tự nguyện chính là việc chủ thể điều khiển được chính bản thân trong những hành động và quyết định của chính mình.

Trong các giao dịch dân sự, sự tự nguyện được hiểu là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể. Tự do ý chí và bày tỏ ý chí là hai mặt của sự tự nguyện. Khi tham gia giao dịch thì sự tự do ý chí và bày tỏ ý chí phải thống nhất với nhau như hai mặt của một vấn đề. Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

Tự do ý chí thể hiện ra bên ngoài là việc tự do lựa chọn phương thức để đạt được mục đích đặt ra theo ý chí của người cam kết. Tự do ý chí và thể hiện ý chí là ý muốn và sự lựa chọn phương thức để đạt được ý muốn trong điều kiện có thể của người tham gia giao dịch. Ý chí đó nếu chưa được bộc lộ ra bên ngoài thì vẫn là ý tưởng chủ quan của chủ thể, nó mới chỉ là động lực bên trong thúc đẩy các chủ thể có tham gia giao dịch hay không. Để biến ý tưởng chủ quan đó thành hiện thực thì các chủ thể phải hành động, tức là ý chí của họ phải được thể hiện ra bên ngoài và người khác có thể thấy được nội dung của ý chí đó.

Tất cả các giao dịch dân sự đều có một đặc điểm chung là sự thống nhất giữa tự do ý chí và sự bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Giao dịch dân sự là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Ý chí của chủ thể tham gia giao dịch là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi nhu cầu nhất định của bản thân họ. Ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác biết được mục đích, động cơ và nội dung cụ thể của giao dịch dân sự. Bởi vậy, giao dịch dân sự không thể thiếu sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch. Điều này không chỉ đúng với các giao dịch dân sự có chủ thể là cá nhân mà còn đúng với các chủ thể khác như pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình. Bởi vì khi xác lập giao dịch dân sự các chủ thể này đều thông qua người đại diện. Người đại diện xác lập giao dịch phải thể hiện được ý chí của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trong phạm vi thẩm quyền đại diện.

Theo Từ điển tiếng Việt thì vi phạm tức là làm trái quy định. Ở đây, có thể hiểu vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể là không có sự thống nhất giữa tự do ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự. Sự vi phạm này có thể do lỗi vô ý hoặc cố ý của các bên tham gia giao dịch.

Pháp luật dân sự nước ta quy định, một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện. Vì vậy, hành vi vi phạm sự tự nguyện về ý chí sẽ có thể dẫn đến giao dịch dân sự bị vô hiệu. Vi phạm sự tự nguyện về ý chí là sự không thống nhất giữa ý chí thực và biểu hiện của ý chí (bày tỏ ý chí) ra bên ngoài của các chủ thể. Sự không thống nhất đó có thể do yếu tố bên ngoài tác động hoặc do yếu tố chủ quan bên trong của con người.

Như vậy, giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí là giao dịch dân sự mà ý chí của các chủ thể trong giao dịch đó không có sự thống nhất giữa ý chí bên trong và bày tỏ ý chí ra bên ngoài của một hoặc các bên tham gia giao dịch. Sự vi phạm đó có thể dẫn đến hậu quả pháp lý là làm vô hiệu giao dịch dân sự. Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự

One thought on “Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật”

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464