Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Kiến nghị hoàn thiện quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Nhận định, đánh giá chung về quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật Việt Nam

3.1.1. Thực trạng quy định pháp luật của Việt Nam về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Trước khi được công nhận trong bộ luật dân sự, để có thể được áp dụng chung cho mọi loại hợp đồng, điều khoản điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cũng đã được quy định trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Đấu thầu, Luật Kinh doanh bảo hiểm… Đánh giá chung, những quy định này tương đối tiến bộ, cho phép các chủ thể được điều chỉnh nội dung của hợp đồng sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực hiện hợp đồng mới. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý cũng như thực tiễn thực thi, chúng vẫn thể hiện những điểm bất cập, không hợp lý, không đảm bảo công bằng đối với bên còn lại.

Khi soạn thảo bộ luật dân sự năm 2015, các nhà làm luật đã có sự nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo hơn về điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Có khá nhiều quan điểm trái chiều, theo đó, phản đối việc đưa quy định này vào bộ luật dân sự năm 2015, bởi lẽ họ cho rằng việc cho phép một bên được đưa ra yêu cầu đàm phán điều chỉnh lại hợp đồng khi việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn là không phù hợp với nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng. Khi các bên xác lập thỏa thuận, dù việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn, thậm chí một bên phải chịu bất lợi thì các bên vẫn phải thực hiện đúng hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng thì phải gánh chịu một hậu quả pháp lý theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nếu quy định khi việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn, một bên có quyền yêu cầu điều chỉnh, đàm phán lại hợp đồng thì sẽ làm giảm đi tính hiệu lực bắt buộc của hợp đồng, từ đó sẽ làm ảnh hưởng tới quyền lợi của bên còn lại. Cùng với đó, cũng khá nhiều quan điểm cho rằng hợp đồng mang bản chất là sự thống nhất ý chí. Do vậy, nếu Tòa án can thiệp vào sự thỏa thuận này khi chúng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội là vi phạm sự tự do ý chí. Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, nhận thấy quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là điều cần thiết để giải quyết những vấn đề mà các quy định hiện hành chưa thể “chạm tới”. Bởi lẽ:

Thứ nhất, quy định này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc trung thực, thiện chí thực hiện hợp đồng. Với cách quy định như hiện nay trong pháp luật Việt Nam, yêu cầu, điều kiện để các bên viện dẫn quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản hết sức khắt khe. Do vậy, việc áp dụng điều khoản này phải được xem là ngoại lệ của nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng và là nguyên tắc tự do ý chí. Quan điểm cho rằng việc áp dụng quy định này là vi phạm hai quy tắc trên là hoàn toàn không phù hợp.

Thứ hai, về cơ chế miễn trách nhiệm, pháp luật hiện nay chỉ quy định về điều khoản bất khoản kháng. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, sự thay đổi của hoàn cảnh đều có thể được coi là sự kiện bất khả kháng. Do vậy, nếu áp dụng điều khoản này sẽ không đảm bảo công bằng đối với bên còn lại. Và điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ lấp đầy “khoảng trống” mà quy định về bất khả kháng hiện nay chưa thể “chạm đến”.

Thứ ba, việc áp dụng điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ đảm bảo công bằng, lấy lại sự cân bằng vốn có của hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng đã có sự thay đổi quá lớn so với thời điểm các bên giao kết, giúp duy trì hiệu lực của hợp đồng.

Thứ tư, quan điểm về hợp đồng ngày nay đã dần thay đổi. Hợp đồng không chỉ đơn thuần là sự thỏa thuận của các bên tại thời điểm giao kết mà phải được xem là “một công cụ để phản ánh ý chí của các bên trong việc ứng xử đối với môi trường kinh doanh luôn đổi thay”. Và quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản chính là một trong những cách thức để các bên điều tiết, quản lý, phân chia rủi ro trong quá trình thực hiện những dự án kinh doanh dựa trên những thỏa thuận ban đầu.

Bởi những lẽ trên mà việc đưa điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản vào bộ luật dân sự năm 2015 là yêu cầu tất yếu, phù hợp với mặt thực tiễn và mặt lý luận.

Đánh giá chung về Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, quy định này tương đối hoàn thiện, tiến bộ. Quy định đã chỉ ra được các điều kiện (về mặt khách quan và chủ quan) để một hoàn cảnh được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, quy định về cơ chế thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo đó, đề cao sự thoả thuận của các bên, điều luật yêu cầu các bên phải đàm phán, thỏa thuận điều chỉnh hợp đồng với sự thiện chí ngay khi một bên đưa ra yêu cầu về hoàn cảnh thay đổi. Sự can thiệp của Tòa án là hạn chế. Tòa án chỉ được can thiệp khi các bên không thỏa thuận được về việc điều chỉnh hợp đồng và có yêu cầu Tòa án giải quyết. Về phương án giải quyết tranh chấp của Tòa án, điều luật cũng ưu tiên phương án chấm dứt hợp đồng để hạn chế sự “tùy tiện” của Tòa án khi can thiệp vào nội dung các bên đã thỏa thuận. Bên cạnh đó, nội dung quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản của bộ luật dân sự Việt Nam hiện nay cũng khá tương đồng với cách quy định của pháp luật thế giới, mà tiêu biểu là hai bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại PICC và PECL. Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tuy nhiên, Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 cũng tồn tại khá nhiều điểm bất cập, mâu thuẫn với chính các quy định khác của bộ luật dân sự và văn bản pháp luật khác, có nhiều nội dung chưa quy định cụ thể, có thể gây khó khăn khi áp dụng cho cá nhân, doanh nghiệp hay cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Những nội dung này đã được phân tích, làm rõ trong nội dung luận văn, tại mục này, có thể liệt kê một số điểm hạn chế như sau:

Thứ nhất, về điều kiện để một hoàn cảnh được công nhận là thay đổi cơ bản: quy định hiện nay không đề cập đến những hợp đồng mang tính đặc thù mà theo bản chất hoặc theo tập quán dẫn đến việc một bên không được yêu cầu sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng.

Thứ hai, về yêu cầu đàm phán lại hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản: quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm đàm phán lại hợp đồng của bên được yêu cầu chưa cụ thể, rõ ràng. Quyền được sửa đổi hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba cũng không được đề cập, gây mâu thuẫn với quy định tại Điều 417 bộ luật dân sự 2015.

Thứ ba, về sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Điều luật dường như đã “bỏ quên” thẩm quyền của Trọng tài thương mại, điều này gây mâu thuẫn với quy định về thẩm quyền trọng tài trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Thứ tư, về phương thức giải quyết tranh chấp của Tòa án: Hiện nay, luật quy định Tòa án ưu tiên lựa chọn phương án chấm dứt hợp đồng trong trường hợp các bên có yêu cầu giải quyết tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi có ý nghĩa duy trì hiệu lực của hợp đồng, tạo điều kiện để các bên tìm được tiếng nói chung, giải quyết các mâu thuẫn mới phát sinh. Do vậy, cách quy định tại Điều 420 bộ luật dân sự về phương án giải quyết tranh chấp ưu tiên của Tòa án sẽ làm giảm đi tính ý nghĩa, vai trò của quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi.

Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là quy định mới mẻ, chưa được biết đến rộng rãi bởi người dân và doanh nghiệp, Tòa án cũng chưa thật sự có kinh nghiệm xét xử các vụ án có nội dung, tình tiết liên quan. Bởi vậy, thiết nghĩ cần phải đánh giá, nhìn nhận lại, khắc phục những điểm tồn tại này, sửa đổi những nội dung hiện đang gây mâu thuẫn với quy định khác, và có văn bản chi tiết quy định những nội dung chưa rõ ràng để điều luật này thật sự đi vào cuộc sống, thực hiện được đúng ý nghĩa của nó, đáp ứng được những mong mỏi của các nhà làm luật khi đưa vào dự thảo.

3.1.2. Thực tiễn thực thi quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong pháp luật Việt Nam Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Mặc dù cho đến khi bộ luật dân sự năm 2015 được ban hành và có hiệu lực thì quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi mới được ghi nhận một cách chính thức, có giá trị áp dụng chung cho mọi loại hợp đồng. Tuy nhiên, trước đó, Tòa án cũng như Trung tâm trọng tài Việt Nam đã phải giải quyết tương đối nhiều các vụ án có tính chất liên quan.

  • Nói về thực tiễn xét xử của Tòa án Việt Nam

Có thể kể đến vụ án liên quan đến việc thực hiện hợp đồng thi công nạo vét luồng lạch được ký kết giữa Tổng Công ty xây dựng đường thủy (Vinawaco – gọi là bên B) kiện đòi Công ty Liên doanh Xi măng Holcim Việt Nam (MSC – gọi là bên A) bồi thường gần 5,5 triệu USD, do Tòa Phúc thẩm – Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử ngày 17/01/2007. Năm 1995, bên A thuê bên B đào một luồng tàu và một vũng quay tàu tại dự án xây dựng Nhà máy xi măng Sao Mai ở Hòn Chông, Kiên Giang. Hai bên còn lập hai bản phụ lục, quy định rõ “trong khi thi công nếu thiết bị của DI (nhà thầu phụ của B) gặp phải sỏi đá và san hô/đất sét cứng gây thiệt hại máy móc, tăng phí tổn thì DI được trả thêm chi phí căn cứ vào kết luận giám định của Giám định viên độc lập”. Thực tế khi thực hiện hợp đồng, thì “hệ thống nạo vét luồng gặp sự trở ngại, hao mòn nặng cho máy móc và đường ống dẫn cũng như giảm năng suất thi công”. Theo B và DI, sự cố này thuộc trường hợp được nêu trong phụ lục nói trên, nên bên B đã phải thuê và mua sắm thêm các thiết bị mới, chuyên dụng hơn để tiếp tục thực hiện hợp đồng, nên đã làm phát sinh chi phí thêm so với cam kết ban đầu trong hợp đồng, với số tiền được bên B nêu ra là 2.866.650 USD. Văn kiện thỏa thuận tăng giá thành giữa B với nhà thầu phụ DI được đại diện của A xác nhận. Sau khi thực hiện xong hợp đồng, bên B yêu cầu bên A thanh toán chi phí phát sinh này, nhưng bên A từ chối. B khởi kiện A ra tòa, nhưng yêu cầu này của B đều đã bị cả tòa sơ thẩm và phúc thẩm bác bỏ. Lý do: cách thức chứng minh trở ngại khách quan của B là không có căn cứ và giá trị tăng thêm nếu có phải do bên B chịu, chứ bên A không có nghĩa vụ phải thanh toán thêm vì trong hợp đồng không cam kết, cũng như theo pháp luật thì bên A không phải chịu trách nhiệm về những chi phí này [6]. Vụ kiện đã kéo dài gần 10 năm và dừng lại sau 6 phiên tòa.

Một trong những lý do khiến cho vụ việc này bị kéo dài là tại thời điểm đó, pháp luật không có những quy định về việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Nếu xem xét vụ việc dưới góc độ của Điều 420, bộ luật dân sự năm 2015 thì trong trường hợp này, việc “hệ thống nạo vét luồng gặp sự trở ngại, hao mòn nặng cho máy móc và đường ống dẫn cũng như giảm năng suất thi công” phải xem xét đây có phải là hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không, từ đó, Tòa án có thể lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp là điều chỉnh hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng để bảo đảm cân bằng quyền và lợi ích giữa các bên.

  • Nói về thực tiễn xét xử của Trọng tài thương mại Việt Nam Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Trong cuốn “Giải quyết tranh chấp hợp đồng những điều cần biết” của Trung tâm Trọng tài thương mại Quốc tế Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh niên có nêu tổng hợp một số vụ án mà Trọng tài thương mại Việt Nam đã giải quyết, trong đó có vụ kiện với tình tiết như sau: Công ty A (nguyên đơn) ký hợp đồng xây dựng với Công ty B (bị đơn). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Nhà nước có điều chỉnh lương tối thiểu và phía nguyên đơn yêu cầu điều chỉnh lại hợp đồng bằng việc điều chỉnh chi phí nhân công, chi phí thi công (phần nhân công). Yêu cầu điều chỉnh lại hợp đồng đã được Hội đồng trọng tài chấp nhận [13].

Về nguyên tắc, mọi cam kết, hợp đồng có hiệu lực pháp luật, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội đều phải được các bên tôn trọng thực hiện đúng và đủ. Trong vụ việc trên, Hội đồng Trọng tài xác định “Hợp đồng và giá hợp đồng được ký vào thời điểm chi phí nhân công, máy móc thi công (phần nhân công đã được tính với mức lương tối thiểu vùng là 880.000 đồng/tháng. … Trong thời gian thực hiện hợp đồng, Nhà nước đã có sự thay đổi chính sách, chế độ tiền lương thông qua việc Chính phủ đã ban hành hai Nghị định 108/2010/NĐ-CP và nghị định 70/2011/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng mới đối với người lao động áp dụng tại địa bàn Dự án là 1.200.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/09/2011 và 2.000.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/10/2011 đến ngày 31/12/2012 nên giá hợp đồng cần phải được điều chỉnh”. Cuối cùng, Hội đồng trọng tài đã quyết định “buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn giá trị điều chỉnh phần chi phí nhân công, chi phí máy thi công (phần nhân công) cho khối lượng công việc đã được nghiệm thu thanh toán từ 01/01/2011 đến ngày 30/06/2012 theo hợp đồng là 9.710.429 đồng”.

Để giải quyết vụ án này, Hội đồng Trọng tài điều chỉnh lại hợp đồng xuất phát từ việc nhà nước thay đổi chính sách tiền lương, chế độ tiền lương dựa trên các cơ sở sau:

Một là, thỏa thuận của các bên trong hợp đồng như Điều 8 của Hợp đồng với nội dung “trường hợp có sự thay đổi thiết kế, chính sách chế độ của Nhà nước và được cấp có chính quyền phê duyệt, giá trị hợp đồng sẽ được điều chỉnh tương ứng” và “điều chỉnh do Nhà nước có sự thay đổi chính sách, chế độ: thay đổi tiền lương, thay đổi giá nguyên vật liệu do nhà nước quản lý giá hoặc thay đổi chế độ chính sách mới làm thay đổi mặt bằng giá đầu tư xây dựng công trình”.

Hai là, theo Điểm b Khoản 1 Điều 109 của Luật xây dựng năm 2003 thì “Hợp đồng trong hoạt động xây dựng chỉ được điều chỉnh khi được người quyết định đầu tư cho phép trong các trường hợp sau đây: khi Nhà nước thay đổi các chính sách có liên quan”. Điểm a Khoản 1 Điều 57 Luật đấu thầu năm 2005 cũng quy định “việc điều chỉnh hợp đồng chỉ áp dụng đối với hình thức hợp đồng theo đơn giá, hình thức hợp đồng theo thời gian và được thực hiện theo quy định sau đây: Trường hợp Nhà nước thay đổi chính sách về thuế, tiền lương ảnh hưởng trực tiếp đến giá hợp đồng thì được điều chỉnh theo các chính sách này kể từ thời điểm chính sách này có hiệu lực.

Như vậy, tại thời điểm này, Hội đồng Trọng tài đã vận dụng quy định về việc điều chỉnh hợp đồng được quy định trong Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và thỏa thuận ban đầu giữa hai bên. Như đã bình luận tại tiểu mục 2.1, quy định về điều chỉnh giá của hợp đồng khi chính sách thuế, tiền lương của Nhà nước có sự thay đổi tại Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, mang “hình dáng” của quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Mặc dù cách quy định tại Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu còn nhiều điểm chưa hợp lý nhưng cũng phần nào cũng đã hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, bảo đảm quyền lợi của các bên.

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật Việt Nam Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

3.2.1. Cần phải đề cao nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng khi áp dụng điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

Theo quy định tại Điều 420, khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản thì một bên có quyền đề nghị sửa đổi hợp đồng trong thời hạn hợp lý. Nếu các bên không thể thỏa thuận được thì có thể đề nghị Tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Tuy nhiên, hợp đồng khi đã có hiệu lực, cần phải được thực hiện đúng, cho dù trong quá trình thực hiện các bên có gặp những khó khăn, bất lợi. Điều khoản quy định về việc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi chỉ được áp dụng như một ngoại lệ của nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng.

Tại PICC, trước khi đưa ra định nghĩa về hoàn cảnh thay đổi cơ bản, và quyền yêu cầu đàm phán của một bên khi xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản, Điều 6.2.1 PICC đã nêu ra nguyên tắc “trong trường hợp việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn hơn so với một bên thì bên này vẫn có nghĩa vụ phải thực hiện đúng những nghĩa vụ của mình”, điều này chỉ được thay đổi nếu như xảy ra sự kiện bất ngờ làm thay đổi sự cân bằng cơ bản của hợp đồng. Như vậy, PICC đã thể hiện đúng tính chất của điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, khi quy định rõ ràng rằng khi hợp đồng có hiệu lực, các bên vẫn phải nỗ lực hết sức để thực hiện những thỏa thuận đã đề ra, cho dù điều đó trở nên bất lợi đối với mình. bộ luật dân sự Việt Nam cũng có nguyên tắc thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình,

trong đó có các nghĩa vụ do mình thỏa thuận xác lập trong hợp đồng. Tuy nhiên, bộ luật dân sự Việt Nam nhấn mạnh nguyên tắc thiện chí, nhưng tinh thần, sức sống của nguyên tắc này chưa mạnh mẽ, chưa có nhiều quy định cụ thể trong Bộ luật thể hiện nguyên tắc này [5]. Bởi vậy, thiết nghĩ cần phải học hỏi cách quy định tại PICC, quy định rõ ràng việc đàm phán, chấm dứt hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ chỉ là ngoại lệ của nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng.

3.2.2. Về điều kiện để công nhận hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Các điều kiện để một hoàn cảnh thực hiện hợp đồng được xem là thay đổi cơ bản khi đáp ứng được các điều kiện được quy định tại Khoản 1 Điều 420. Các điều kiện đó bao gồm các điều kiện khách quan (thời gian, nguyên nhân xảy ra hoàn cảnh, tính chất lường trước của hoàn cảnh, mức độ tác động của hoàn cảnh đối với mỗi bên), các điều kiện chủ quan (sự nỗ lực của bên bị tác động trong việc ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích). Nhìn chung những dấu hiệu, điều kiện được đưa ra tại bộ luật dân sự đã khá tương thích với quy định của pháp luật các nước trên thế giới, trong đó có hai bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại thông dụng và phổ biến là PICC và PECL.

Tuy nhiên, bộ luật dân sự năm 2015 không đưa ra, cũng không đề cập đến những hợp đồng mang tính đặc thù mà theo bản chất hoặc theo tập quán dẫn đến việc một bên không được yêu cầu sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng. Ví dụ, với hợp đồng mua bán theo kỳ hạn, bên bán cam kết giao và bên mua cam kết nhận hàng hóa tại một thời điểm trong tương lai. Đây là loại hợp đồng mang tính rủi ro cao, khi giao kết hợp đồng các bên buộc phải tính toán kỹ các yếu tố tác động của thị trường. Do vậy khi thị trường có biến động mạnh thì các bên có được viện dẫn điều khoản về hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản không?

Bên cạnh đó, bộ luật dân sự cũng không đề cập đến trường hợp rủi ro từ hoàn cảnh thay đổi là một trong những rủi ro mà bên bất lợi buộc phải gánh chịu, như ví dụ về công ty chuyên kinh doanh bảo hiểm rủi ro vận chuyển được nêu tại điều 6.2.2 PICC và đã được trích dẫn tại đoạn cuối mục 2.2.1.4 Luận văn này.

Bởi vậy, để đảm bảo công bằng cho các bên, cần phải có văn bản hướng dẫn về nội dung này. Theo đó, cần quy định đối với những hợp đồng mang tính đặc thù, trong đó các bên phải có trách nhiệm nghiên cứu, tính toán kỹ các yếu tố tác động thị trường hoặc trường hợp các bên đã thỏa thuận giá cả hoặc các quyền, nghĩa vụ khác, trong đó dự trù một phần rủi ro có thể xảy ra thì khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi, rủi ro xảy đến dù lớn hơn mức độ rủi ro đã được tính toán trước, bên chịu bất lợi cũng không được viện dẫn hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi để điều chỉnh hợp đồng.

3.2.3. Về yêu cầu đàm phán lại hợp đồng của một bên

  • Thứ nhất, về quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng của bên chịu tác động bởi hoàn cảnh thay đổi

Theo quy định hiện hành, bên chịu tác động bất lợi của hoàn cảnh thay đổi có quyền đưa ra yêu cầu đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Trên nguyên tắc thiện chí, để giảm thiểu thiệt hại, bên bị bất lợi phải có trách nhiệm đưa ra yêu cầu ngay khi nhận thấy hoàn cảnh thay đổi, có thể gây thiệt hại nghiêm trọng với mình. Vậy, trường hợp bên này cố ý chây ỳ trong việc thực hiện hợp đồng cũng như trong việc thực hiện quyền yêu cầu đàm phán thì có phải chịu hậu quả pháp lý nào không?

Để nâng cao ý thức thiện chí thực hiện hợp đồng của bên bị bất lợi, tránh thiệt hại cho bên còn lại của hợp đồng, đề xuất rằng yêu cầu đàm phán lại chỉ có hiệu lực nếu được gửi trong một thời hạn hợp lý để tránh các trường hợp lạm dụng. Nếu quá thời hạn hợp lý mà không có thông báo về yêu cầu đàm phán lại, thì có thể ngầm hiểu rằng bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã từ bỏ quyền của mình, không mong muốn đàm phán lại và sẵn sàng chấp nhận thiệt hại do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Cách diễn giải này cũng phù hợp với thực tiễn diễn giải và áp dụng thời hạn hợp lý để hưởng một quyền nào đó (như quyền phản đối) trong bộ luật dân sự Việt Nam. Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

  • Thứ hai, về nghĩa vụ tham gia đàm phán lại hợp đồng của bên được đề nghị

Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên bị bất lợi phải đối mặt với nguy cơ phải chịu thiệt hại nghiêm trọng. Ngược lại, bên còn lại của hợp đồng sẽ có khả năng được hưởng một khoản lợi ích vô cùng lớn đến từ việc thực hiện đúng những thỏa thuận đã đề ra, và sẽ không dễ dàng để bên được hưởng lợi tham gia đàm phán lại hợp đồng để giảm khoản lợi mà mình có thể được hưởng. Bởi vậy, giả thiết bên được hưởng lợi tìm cách trì hoãn tham gia đàm phán lại hợp đồng là hoàn toàn có thể xảy ra trên thực tế. Bởi các lẽ đó việc đưa ra một chế tài, buộc bên được hưởng lợi phải thiện chí tham gia đàm phán lại hợp đồng là một yêu cầu cần thiết. Thiết nghĩ cần phải quy định bên được hưởng lợi có trách nhiệm trả lời đề nghị sửa đổi hợp đồng của bên bị bất lợi trong một thời hạn hợp lý. Trong trường hợp bên được hưởng lợi thờ ơ, chây ì, có những hành vi gây khó khăn cho việc đàm phán, từ đó khiến bên đề nghị phải chịu thiệt hại từ việc thực hiện hợp đồng trong hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì sẽ phải bồi thường thiệt hại đó.

  • Thứ ba, việc sửa đổi hợp đồng đối với những hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba

Theo quy định tại Điều 417 thì “khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý”.

Theo quy định này thì trường hợp hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản, cho dù các bên trong hợp đồng đã thống nhất sửa đổi hợp đồng nhưng người thứ ba – người được hưởng lợi ích từ hợp đồng không đồng ý thì hợp đồng cũng không được điều chỉnh. Quy định này là nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba nhưng điều này là không hợp lý và không công bằng đối với các bên tham gia giao kết. Bởi khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì những thỏa thuận mà các bên đã thống nhất trong hợp đồng không còn phù hợp và phản ánh đúng ý chí của các bên. Việc buộc họ phải thi hành những thỏa thuận không đúng với ý chí của mình là vi phạm nguyên tắc tự do ý chí hợp đồng. Trong khi đó, người thứ ba, dù được hưởng lợi ích từ hợp đồng, cũng không phải là một bên trong hợp đồng. Tuy nhiên lại là người có quyền quyết định đến việc có đồng ý sửa đổi hợp đồng hay không khi bản thân các nội dung của hợp đồng đã không còn hợp lý và có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho một bên tham gia giao kết.

Bởi vậy, để đảm bảo công bằng cho các bên tham gia giao kết, cần bổ sung quy định tại Điều 417 bộ luật dân sự. Theo đó, có thể điều chỉnh theo hướng: buộc người thứ ba được hưởng lợi ích từ hợp đồng cũng phải tham gia quá trình đàm phán sửa đổi lại hợp đồng một cách trung thực, thiện chí hoặc quy định các bên có quyền sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản mặc dù người thứ ba được hưởng lợi ích từ hợp đồng không đồng ý, tuy nhiên việc chỉnh sửa hợp đồng vẫn phải đảm bảo những lợi ích hợp lý của người thứ ba.

3.2.4. Về sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền đến việc các bên thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

  • Thứ nhất, cần bổ sung thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài.

Như đã phân tích, có vẻ bộ luật dân sự năm 2015 đã “quên mất” thẩm quyền của Trọng tài trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại. So với cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài nhanh chóng hơn, thủ tục đơn giản hơn, bảo đảm hơn bí mật kinh doanh và với cách thức lựa chọn Trọng tài viên tham gia hội đồng Trọng tài sẽ phần nào đảm bảo tính khách quan trong xét xử hơn. Do vậy, cần phải khuyến khích, mở rộng thẩm quyền xét xử của Trọng tài.

Bên cạnh đó, việc quy định Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử tranh chấp phát sinh liên quan đến việc sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản có thể dẫn đến bất cập nếu trong hợp đồng, các bên đã có điều khoản thỏa thuận Trọng tài.

Bởi vậy, cần phải quy định: Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết.

  • Thứ hai, về căn cứ để Tòa án cân nhắc lựa chọn phương án giải quyết vụ việc

Căn cứ để Tòa án quyết định sẽ sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng theo yêu cầu của các bên là so sánh giữa thiệt hại gây ra do việc chấm dứt hợp đồng và chi phí để thực hiện hợp đồng nếu sửa đổi. Tuy nhiên các thiệt hại, chi phí ở đây bao gồm những thiệt hại, chi phí gì, gây ra cho bên nào… lại chưa có quy định làm rõ.

Thiết nghĩ, thiệt hại, chi phí ở đây phải là tổng hợp thiệt hại, chi phí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, chứ không thể chỉ tính đến thiệt hại của một bên bị ảnh hưởng tiêu cực của hoàn cảnh thay đổi. Thiệt hại xảy ra, ngoài những thiệt hại vật chất, phải tính toán cả những thiệt hại tinh thần như hình ảnh, uy tín kinh doanh, chiến lược kinh doanh của chủ thể tham gia hợp đồng…, bởi lẽ những thiệt hại này đôi khi còn lớn hơn và được các chủ thể kinh doanh quan tâm hơn cả những thiệt hại vật chất trực tiếp… Các chi phí phải bao gồm chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển, chi phí nhân công, hay các chi phí sản xuất, đưa sản phẩm vào lưu thông phù hợp với chính sách mới của nhà nước…

Hiện nay, Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 quy định khá chung chung. Điều này sẽ gây khó khăn, lúng túng cho Thẩm phán trong quá trình áp dụng pháp luật. Bởi không phải Thẩm phán nào cũng có năng lực để đánh giá và so sánh những yếu tố đó. Do vậy, cần phải có văn bản hướng dẫn về các thiệt hại, chi phí được sử dụng làm căn cứ để Tòa án lựa chọn phương án giải quyết vụ việc. Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

  • Thứ ba, về phương án chấm dứt hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản

Như đã nói, nếu Tòa án ưu tiên áp dụng phương án chấm dứt hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ khiến điều khoản này mang ý nghĩa không khác gì lắm so với điều khoản bất khả kháng. Bởi vậy, khi nhận được yêu cầu của các đương sự, Tòa án cần phải áp dụng mọi biện pháp để các bên đàm phán, thương thảo lại hợp đồng, ưu tiên phương án sửa đổi, duy trì hiệu lực của hợp đồng nhằm thiết lập lại sự cân bằng vốn có của hợp đồng. Chỉ khi nào các bên không thể đàm phán lại thì mới tính tới việc giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ hợp đồng, nhưng giải pháp này phải thật hạn chế và phải được xem là “giải pháp cuối cùng”.

  • Về nội dung này, có thể tham khảo một vụ việc được xét xử một cách linh động, sáng tạo tại Tòa án Pháp năm 1976:

Bên mua và bên bán có ký kết hợp đồng mua bán dầu nhiên liệu trong khoảng 10 năm. Trong hợp đồng giữa hai bên có nội dung thỏa thuận rằng:

Trong trường hợp giá dầu có sự biến động tăng hoặc giảm 6 francs/tấn so với giá cả đã được xác lập ban đầu, các bên sẽ cùng nhau bàn luận để đánh giá về sự thay đổi đó và xác định mức độ ảnh hưởng của biến động đối với hợp đồng. Nếu các bên không thống nhất được, bên mua có quyền chấm dứt hợp đồng trong trường hợp giá tăng và bên bán có quyền chấm dứt hợp đồng trong trường hợp giá giảm. Bên cạnh đó, các bên cũng ấn định giá sàn và giá trần của nhiên liệu trong hợp đồng.

Do ảnh hưởng của chiến tranh A Rập – Isareal diễn ra từ ngày 6 đến ngày 26/101973, giá dầu thô tăng mạnh khiến cho chi phí sản xuất nhiên liệu bỗng vượt qua cả giá bán, giá sàn giao dịch thực tế lớn hơn giá trần mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Bên mua và bên bán đã cùng họp lại để thỏa thuận điều chỉnh hợp đồng, tuy nhiên không đạt được sự đồng thuận. Các bên đưa ra tranh chấp đến Tòa án. Vụ việc được Tòa sơ thẩm thương mại Paris giải quyết, theo đó Tòa án từ chối đưa ra bất kỳ sự sửa đổi hợp đồng nào. Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Vụ việc được tiếp tục giải quyết tại Tòa án phúc thẩm Paris. Theo đó, nhằm hỗ trợ và bảo vệ tối đa quyền lợi chính đáng của các bên, Tòa án phúc thẩm Paris đã chỉ định một quan sát viên để trợ giúp các bên đạt được một thỏa thuận khác. Nếu các bên không thống nhất được nội dung điều chỉnh hợp đồng trong vòng 6 tháng, các bên sẽ quay trở lại Tòa án để yêu cầu sửa đổi nội dung hợp đồng. Chỉ khi đó Tòa án mới cân nhắc và xác định xem cách thức điều chỉnh như thế nào là hợp lý, và trong trường hợp yêu cầu sửa đổi làm thay đổi bản chất đã được xác lập, Tòa án sẽ can thiệp vào việc sửa đổi hợp đồng.

Trong vụ việc này, Tòa án đã cố gắng, nỗ lực hết sức để duy trì hiệu lực của hợp đồng, tìm hiểu những vướng mắc, khó khăn mà các bên gặp phải khi hoàn cảnh thay đổi. Từ đó mới quyết định điều chỉnh như thế nào là hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh và cân bằng được lợi ích của các bên.

3.2.5. Về sự bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật

Trước khi bộ luật dân sự năm 2015 ra đời, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã được quy định một cách cơ bản trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác như Luật Đấu thầu, Luật Kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, như đã phân tích tại Tiểu mục 2.1 nói trên, các quy định này còn chưa hợp lý, chưa đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các bên tham gia giao kết, cũng chưa phù hợp với nguyên tắc các thực hiện hợp đồng.

Bên cạnh đó, bộ luật dân sự với là “luật gốc” của hệ thống luật tư, nên để pháp luật được đồng bộ, thống nhất, đòi hỏi các văn bản luật chuyên ngành cũng phải có những quy định tương thích. bộ luật dân sự năm 2015 ra đời, quy định về việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã được ghi nhận một cách chính thức, có nhiều điểm tiến bộ, đáp ứng được cơ bản những yêu cầu thực tiễn. Do vậy, thiết nghĩ cần phải rà soát lại các văn bản pháp luật chuyên ngành, phát hiện những quy định không phù hợp liên quan đến việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, để từ đó có phương án sửa đổi, tránh tình trạng pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn cho quá trình áp dụng và thực thi.

  • Đối với quy định về điều chỉnh hợp đồng trong Luật Đấu thầu năm 2013, cần nghiên cứu hoàn thiện theo hướng sau đây:

Một là bỏ quy định tại Khoản 1, Điều 67 Luật Đấu thầu, theo đó cho phép các bên điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp có sự kiện thay đổi lớn, tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện hợp đồng, việc các bên có thỏa thuận hay không không phải là điều kiện để các bên điều chỉnh hợp đồng.

Hai là cần phải xem xét việc điều chỉnh hợp đồng có thể được áp dụng đối với mọi loại hợp đồng đấu thầu, trong đó bao gồm cả hợp đồng trọn gói.

Đối với quy định về điều chỉnh phí khi có sự thay đổi về rủi ro được bảo hiểm tại Điều 20 Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2000, cần phải sửa đổi và có hướng dẫn cụ thể nhằm hạn chế sự tùy ý điều chỉnh hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng. Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

3.2.6. Cần nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp và cơ quan xét xử khi áp dụng điều khoản về việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

  • Về phía người dân, doanh nghiệp

Tại bài nghiên cứu “Điều khoản hardship trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” của Trần Thanh Tâm, Nguyễn Minh Hiển trong Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 70 (02/2015, trang 50), nhóm tác giả đã nghiên cứu và tiến hành tham khảo ý kiến chuyên gia và khảo sát 29 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh về nhận thức và áp dụng quy định về điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản (mà bài nghiên cứu mô tả bằng thuật ngữ hardship). Kết quả nghiên cứu và khảo sát cho thấy tại thời điểm khảo sát “chỉ có 3/29 doanh nghiệp (10.34%) đã biết đến điều khoản này. Toàn bộ những doanh nghiệp này hiện tại không sử dụng điều khoản hardship với những lý do như: mẫu hợp đồng không có sẵn điều khoản này; cách hiểu không đồng bộ, dễ gây tranh cãi; mối quan hệ làm ăn lâu năm không muốn gây phiền phức trong quá trình soạn thảo hợp đồng; lo ngại đối tác sẽ lạm dụng” [10]. Tại thời điểm nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu trên, điều khoản về hardship – thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản chưa được công nhận trong bộ luật dân sự, mà mới chỉ được ghi nhận trong một số văn bản luật chuyên ngành (Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Đấu thầu. Do vậy, mức độ nhận thức của người dân cũng như doanh nghiệp chưa cao. Đến nay, điều khoản này đã được ghi nhận trong bộ luật dân sự năm 2015, tuy nhiên, đây là một điều khoản mới, vẫn còn tương đối lạ lẫm đối với các doanh nghiệp. Trong khi đó, với thói quen sử dụng các hợp đồng theo mẫu sẵn có, ít doanh nghiệp có khả năng chi trả, có bộ phận pháp lý hay nhờ đến sự hỗ trợ của các công ty tư vấn luật khi soạn thảo hợp đồng, các doanh nghiệp lại càng ít có khả năng biết đến hay biết cách áp dụng điều khoản về hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản.

Bởi vậy, cần có biện pháp tuyên truyền, phổ biến đến người dân, và đặc biệt là đến doanh nghiệp về ý nghĩa, nội dung của điều khoản này.

  • Về phía cơ quan có thẩm quyền xét xử Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Như đã phân tích, điều luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi hiện nay còn quá nhiều nội dung để mở, để Tòa án, Thẩm phán có thể chủ động áp dụng trong từng trường hợp cụ thể, như về xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, xác định “thời điểm xác định” để chấm dứt hợp đồng, xác định các thiệt hại do chấm dứt hợp đồng, các chi phí nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng… Sẽ rất khó để pháp luật có thể định lượng hay có hướng dẫn cụ thể cho các nội dung trên. Do vậy, để quy định này thật sự mang lại hiệu quả, bảo vệ sự công bằng của các bên trong hợp đồng, đòi hỏi Thẩm phán phải có trình độ hiểu biết nhất định.

Thẩm phán không chỉ là người hiểu luật, mà phải am hiểu về kinh tế, thị trường, về xã hội… để từ đó đưa ra được những phán quyết hợp tình, hợp lý. Bởi vậy, ngành Tòa án cần phải có phương án, kế hoạch nâng cao nghiệp vụ xét xử cho thẩm phán.

Bên cạnh đó, để hạn chế tối đa sai sót trong phương án sửa đổi hợp đồng, Tòa án nên hướng dẫn, hỗ trợ để các bên tự thỏa thuận, thống nhất phương án sửa đổi, nếu các bên không thỏa thuận được thì Tòa án mới quyết định phương án sửa đổi cụ thể. Cách làm này cũng thể hiện việc tôn trọng quyền tự do sửa đổi hợp đồng của các bên. Khi xây dựng phương án sửa đổi hợp đồng, Tòa án cần căn cứ vào tình hình thực tế, mức độ thay đổi hoàn cảnh, đảm bảo sự cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Có thể nói Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã khá tương đồng với pháp luật của các nước trên thế giới. Tuy nhiên, quy định này hiện nay vẫn còn nhiều điểm khá chung chung, và bất cập, mâu thuẫn các quy định khác như về điều kiện được công nhận là hoàn cảnh thay đổi, về yêu cầu đàm phán lại hợp đồng hay về sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền khi tranh chấp phát sinh.

Bởi vậy, thiết nghĩ cần phải có văn bản hướng dẫn thi hành, theo đó giải thích, làm rõ những nội dung chưa được quy định cụ thể tại Điều luật. Đây là quy định khá mới, và tiến bộ, phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới. Bởi vậy phải có các biện pháp để nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp về điều khoản này, nâng cao kỹ năng xét xử của Tòa án khi áp dụng quy định này.

KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều có những nhu cầu về vật chất, tinh thần khác nhau, nhưng bản thân họ không thể tự đáp ứng được tất cả những nhu cầu đó. Có thể nói, hợp đồng chính là “cánh tay kết nối” các chủ thể, là phương tiện để họ trao đổi, hợp tác, chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi, từ đó đạt được những mục đích của mình. Tuy nhiên, việc thỏa thuận, thiết lập lên hợp đồng mới chỉ là hình thức pháp lý của sự trao đổi ấy. Mục đích của mỗi bên có đạt được hay không lại phụ thuộc vào quá trình thực hiện hợp đồng. Tương ứng với mỗi loại đồng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, và cách thức thực hiện là khác nhau, nhưng việc thực hiện hợp đồng luôn phải tuân theo năm nguyên tắc cơ bản: (1) Các bên tham gia hợp đồng đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử; (2) Thực hiện hợp đồng phải thiện chí, trung thực; (3) Thực hiện đúng hợp đồng; (4) Việc thực hiện hợp đồng không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, công cộng, quyền và lợi ích của các cá nhân khác; (5) Các bên tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện đúng hợp đồng.

Nếu như việc giao kết hợp đồng mang tính thời điểm thì thực hiện hợp đồng lại là một quá trình. Quá trình này có thể phải chịu nhiều yếu tố tác động khác nhau khiến hoàn cảnh thực hiện hợp đồng bị thay đổi cơ bản so với thời điểm các bên ký kết, những thỏa thuận ban đầu trở nên không còn phù hợp. Trong trường hợp này, các bên buộc phải có cơ chế thực hiện hợp đồng để bảo đảm cổng bằng giữa các bên. Và quy định về “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” là giải pháp khắc phục.

Quy định về việc sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản không phải là cho đến giờ mới xuất hiện trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trước đó, đã có những quy định mang bóng dáng của điều khoản này như quy định về điều chỉnh hợp đồng trong Luật Đấu thầu, quy định thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo hiểm… Tuy nhiên, các quy định trên chỉ áp dụng được cho hợp đồng chuyên biệt mà không thể áp dụng cho các hợp đồng khác. Đồng thời các quy định này không công nhận Tòa án hay cơ quan thứ ba có quyền can thiệp vào nội dung và hiệu lực của hợp đồng nếu nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Đến bộ luật dân sự năm 2015, lần đầu tiên quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được ghi nhận, có thể áp dụng chung cho mọi loại hợp đồng, và công nhận Tòa án có thẩm quyền sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng trong trường hợp các bên không thể tự thỏa thuận được và có yêu cầu. Khi được đưa vào dự thảo, quy định này không nhận được sự đồng tình tuyệt đối từ phía các nhà bình luận, nghiên cứu, cũng như từ phía người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, suy cho cùng, quy định này là hợp lý và cần thiết. Bởi lẽ một mặt việc quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh cơ bản với các nội dung như trên là phù hợp với xu hướng pháp luật hợp đồng của thế giới, mặt khác quy định này còn có ý nghĩa trong việc duy trì hiệu lực của hợp đồng, bảo đảm cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

BLDS năm 2015 đã dành riêng một điều để quy định về việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Hoàn cảnh thực hiện hợp đồng được coi là thay đổi cơ bản khi đáp ứng được đủ các điều kiện sau: a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng; b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh; c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng để đảm bảo công bằng giữa các bên. Trường hợp các bên không thể đàm phán lại hợp đồng thì một bên có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi hợp đồng. Trong quá trình đàm phán hay Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình.

Đánh giá chung, quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về thực hiện đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã tương đối hợp lý, có sự tiếp thu, học hỏi từ các quy định của các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, hiện nay, Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 vẫn còn nhiều nội dung chưa hợp lý và khá chung chung, chưa thật sự thống nhất với nội dung khác trong bộ luật dân sự cũng như trong các văn bản pháp luật khác. Trong khi đó, đây là quy định khá mới, chưa được biết đến một cách rộng rãi bởi người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, mặc dù trên thực tế, trước khi quy định này được ban hành, Tòa án Việt Nam đã có giải quyết một số vụ án về trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, nhưng nhìn chung bản thân các Tòa án cũng chưa thật sự có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến điều khoản này.

Bởi vậy, để giải quyết mâu thuẫn trong nội tại quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp và Tòa án thuận lợi trong việc thực hiện, áp dụng pháp luật, cần phải chỉnh sửa Điều 420 bộ luật dân sự cho phù hợp, và ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung này. Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

One thought on “Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464