Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nền kinh tế đất nước đang ngày một phát triển, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang gặt hái được nhiều thành tựu to lớn. Khi nền kinh tế hội nhập phát triển mạnh mẽ thì việc đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là phần tất yếu gắn với sự phát triền kinh tế mạnh mẽ đó. Việc thu hút các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ cấp thiết, trong đó Khu công nghiệp, khu chế xuất đã có những đóng góp tích cực, có vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế – xã hội của mỗi địa phương, giải quyết việc làm, góp phần hiện đại hóa kết cầu hạ tầng, nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế các địa phương và cả nước đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, thương mại gắn với bảo đảm an ninh.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và lãnh đạo tổ chức nhiều chủ trương, chính sách góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu phát triển công nghiệp đất nước. Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2030 là “Xây dựng được một số cụm liên kết ngành công nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp trong nước có quy mô lớn, đa quốc gia, có năng lực cạnh tranh quốc tế” và “Bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp với chiến lược tổng thể phát triển công nghiệp, giữa chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp với chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế khác để hình thành các vùng công nghiệp, cụm liên kết ngành công nghiệp, Khu công nghiệp, các mạng sản xuất, chuỗi giá trị công nghiệp, trong đó cụm liên kết ngành công nghiệp là trọng tâm”. Cùng với việc quy hoạch phát triển các Khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất, nhà nước còn quan tâm, quy hoạch đầu tư phát triển các Khu công nghiệp, góp phần thu hút nhà đầu tư, thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp, nâng sức cạnh tranh, giá tri gia tăng của công nghiệp và dần khẳng định vị thế nước ta trong bản đồ địa kinh tế của khu vực và thế giới.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy để doanh nghiệp có thể triển khai thực hiện dự án đầu tư, việc tiếp cận đất đai là một trong những khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp khi thực hiện, cơ chế chính sách, thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc, chưa tháo gỡ kịp thời, nhất là trên lĩnh vực thuê đất, hợp đồng sử dụng đất, bồi thường giải phóng mặt bằng; các Khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay mới chỉ là thu hút, tập trung các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể ở địa phương, ổn định cơ sở hạ tầng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và khắc phục ô nhiễm môi trường, ít có sự liên hệ hỗ trợ cho nhau trong chuỗi giá trị.

Nhằm góp phần giải quyết những bất cập trong cơ chế chính sách, nhất là trên lĩnh vực giao đất, cho thuê đất đối với doanh nghiệp thực hiện dự án, đề tài: “Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

Đề tài “Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam” vẫn còn đang là một đề tài mới bởi nhiều vướng mắc trong tiếp cận đất đai của doanh nghiệp không chỉ gói gọn trong quy phạm pháp luật liên quan Luật đất đai, Luật doanh nghiệp mà còn cả Luật xây dựng, Luật đầu tư. Đây là một vấn đề mới nổi cộm và đang nhận được nhiều quan tâm của các chuyên gia, các nhà lập pháp và xã hội. Khá nhiều bài viết, bài nghiên cứu, phân tích, đánh giá các vấn đề có liên quan ở các mức độ và phạm vi khác nhau. Tuy nhiên, các bài viết, bài nghiên cứu này hoặc chỉ mới phân tích, đánh giá riêng rẽ một vài khía cạnh của quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp trong đó có bao gồm việc giao đất, cho thuê đất đối với doanh nghiệp; hoặc chỉ mới dừng lại mang tính tổng hợp, nêu lên vấn đề.

Đáng chú ý có Luận văn Thạc sỹ Luật học của các giả Nguyễn Doãn Cương (2003): “Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Xuân Trọng (2014): “Quy định mới về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành”. Đây là một đề tài khá phổ biến và đã, đang là vấn đề nhức nhối của từng đối tượng được sử dụng đất. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp nói riêng và với các chủ thể được sử dụng đất trong Khu công nghiệp nói chung cần một cơ chế đặc biết hơn mà phạm vi luận văn của tác giả chưa đề cập tới.

Luận văn Thạc sỹ Quản lý kinh tế của các giả Bùi Thi Hương Giang (2016): “Quản lý nhà nước đối với các Cụm Công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Đại học kinh tế – Đại học Quốc Gia Hà Nội. Đề tài đã xây dựng khái quát được các tiêu chí đánh gia hiệu lực QLNN với các CCN dựa trên việc hệ thống hóa các lý luận về QLNN đối với các CCN. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại ở việc hệ thống hóa các lý luận, và thực trạng trên địa bản tỉnh Nghệ An chứ chưa khái quát được phạm vi rộng hơn là Khu công nghiệp và chỉ đi sâu vào vấn đề quản lý nhà nước đối với các Cụm công nghiệp.

Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2012): “Pháp luật về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất đối với doanh nghiệp ở Việt Nam”, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội nhưng tác giả mới dừng lại ở việc khái quát được các vấn đề pháp lý liên quan đến chủ đề “giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất đối với doanh nghiệp”; chưa nêu được rõ từng góc cạnh của việc giao đất, cho thuê đất đối với doanh nghiệp, nhất là việc giao đất, cho thuê đất đối với doanh nghiệp thực hiện dự án đầu; và hơn hết đó là nhiều nội dung tác giả đưa ra đã không còn phù hợp với thời điểm hiện tại trong bối cảnh có nhiều thay đổi về chính sách, quy định pháp luật và bản thân cơ cấu, tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp.

Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Lê Ngọc Đoàn (2016): “Pháp luật về giao đất tại Việt Nam”, Trường đại học Luật – Đại học Huế, tác giả cũng đã khái quát được lý luận chung về pháp luật về giao đất, nhưng mới chỉ trên khía cạnh giao đất nói chung, chưa có nhiều phần liên hệ thực tế và việc thi hành pháp luật tại các cơ quan công quyền.

Luận án Tiến sĩ kiến trúc của tác giả Nguyễn Xuân Hinh (2003): “Quy hoạch xây dựng và phát triển khu công nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các Khu công nghiệp Việt Nam và đề xuất giải pháp quy hoạch xây dựng nhằm phát triển các khu công nghiệp của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần Ngọc Hưng (2004): “Giải pháp hoàn thiện và phát triển Khu công nghiệp ở Việt Nam” đã đưa ra một loạt các giải pháp hoàn thiện và phát triển các Khu công nghiệp ở Việt Nam, trong đó các Khu công nghiệp quy mô nhỏ, các Cụm công nghiệp, Khu công nghiệp và khu chế xuất. Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

  • Ngoài ra còn có tài liệu trong các hội nghị, hội thảo chuyên đề về các Khu công nghiệp như:

Trần Duy Đông (2015): “Một số vấn đề về chính sách phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế theo Luật Đầu tư 2014 và định hướng chính sách đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035” đăng trên Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam, số tháng 7/2015 đã khái quát chính sách pháp luật hiện hành về Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế; những ưu điểm và hạn chế trong quá trình xây dựng và phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế; từ đó đề xuất định hướng phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Đây là một tài liệu mang tính nghiên cứu cao và là một nguồn tư liệu tham khảo quan trọng để phát triển nghiên cứu sâu hơn trong đề tài luận văn này.

Hội thảo Pháp luật và thực tiễn về tiếp cận đất đai của doanh nghiệp Việt Nam được tổ chức bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Bộ tư pháp ngày 27/06/2018 đã lấy ý kiến về những bất cập, chồng chéo, vướng mắc giữa các quy định của pháp luật liên quan đến việc tiếp cận đất đai của người dân và doanh nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư, sản xuất kinh doanh và các ý kiến góp ý của các tổ chức như Tổng Hội Xây dựng Việt Nam; tập đoàn Công nghiệp viễn thông quân đội Viettel; tập đoàn điện lực Việt Nam; tập đoàn viễn thông bưu chính Việt Nam – VNPT. Đây là một tài liệu hay, các bài tham luận mang tính khái quát cao, là một nguồn tham khảo quan trọng để luận văn được hoàn thiện một cách sâu nhất có thể.

Tọa đàm khoa học chủ đề “Những vấn đề pháp lý về quyền sử dụng đất và bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” do bộ môn Luật Kinh doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, diễn ra ngày 16/11/2019 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.

3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về Quyền sử dụng đất trong Khu công nghiệp; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về pháp luật quyền sử dụng đất trong Khu công nghiệp từ đó chỉ ra những tồn tại, bất cập và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:

  • Hệ thống hóa nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam;
  • Đánh giá được thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam, chỉ ra những tồn tại, bất cập của pháp luật về quản lý nhà nước, cơ chế chính sách trong vấn đề quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam;
  • Đề xuất được những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, tiến tới Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong phạm vi đề tài luận văn Thạc sĩ là các quan hệ pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam; hệ thống các văn bản, quy định pháp luật về quyền sử dụng đất Khu công nghiệp và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền sử dụng đất Khu công nghiệp.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn Thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung đi sâu tìm hiểu các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam kể từ thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay.

5. Phương pháp nghiên cứu

Theo định nghĩa được đưa ra trong từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học – Viện khoa học xã hội Việt Nam thì: “phương pháp là cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên, đời sống xã hội”, qua đó, dưới dạng nhận thức chung nhất, phương pháp được hiểu là phương thức giúp tìm hiểu sự vật, hiện tượng và quá trình. Trong bản Luận văn Thạc sĩ này, tác giả sử dụng những phương pháp sau:

Phương pháp luận trong thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu Chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quy luật, nguyên tắc, phạm trù, khái niệm của triết học duy vật biện chứng và triết học duy vật lịch sử.

  • Như vậy, khi áp dụng phương pháp luận vào nghiên cứu vấn đề “Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp” đòi hỏi:

Thứ nhất, vấn đề quyền sử dụng đất phải ở trong sự phát triển của nhà nước và pháp luật trong từng thời kỳ lịch sử. Vì thế khi nghiên cứu vấn đề pháp lý về quyền sử dụng đất trong Khu công nghiệp cần gắn với các điều kiện cụ thể, tức là phải cân nhắc tất cả những đặc điểm và điều kiện đặc thù của sự tồn tại, phát triển của thực tiễn trong giai đoạn phát triển của nhà nước, của các quan hệ xã hội … Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

Thứ hai, vấn đề quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố quy định chúng. Pháp luật quy định về quyền sử dụng đất Khu công nghiệp phải được xem xét trong mối quan hệ với cơ sở kinh tế – yếu tố quyết định nó, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay thì càng phải chú ý tới mối quan hệ không thể tách rời giữa sự phát triển của doanh nghiệp và sự phát triển của nền kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp được sử dụng để nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chủ yếu của pháp luật về quyền sử dụng đất Khu công nghiệp (Chương 1), đồng thời để đánh giá được thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp ở Việt Nam, chỉ ra những tồn tại, bất cập của pháp luật về quản lý nhà nước, cơ chế chính sách trong vấn đề quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp ở Việt Nam (Chương 2) và đề xuất được những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở Việt Nam góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, tiền tới Công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam (Chương 3).

Phương pháp nghiên cứu khảo sát thực tế được sử dụng để đánh giá thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp ở Việt Nam và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp ở Việt Nam.

6. Tính mới và những đóng góp của đề tài

Là một công trình nghiên cứu khoa học về pháp luật quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp ở Việt Nam, luận văn đóng góp được một số kết quả nghiên cứu mới cơ bản như sau:

  • Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất khu công nghiệp và pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp là một quyền tài sản mang tính đặc thù trong pháp luật về quyền sử dụng đất;
  • Luận văn đã phân tích rõ vai trò của pháp luật về quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp trong việc điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa cơ quan nhà nước với chủ thể sử dụng đất và giữa những chủ thể sử dụng đất với nhau trong các khu công nghiệp ở Việt Nam;
  • Trên cơ sở nghiên cứu quá trình phát triển của pháp luật về quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp ở Việt Nam và thực tiễn thi hàng, luận văn đã chỉ ra những mặt tích cực, những hạn chế, làm rõ thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp ở Việt Nam. Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.
  • Luận văn đã phân tích rõ định hướng hoàn thiện pháp luật, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp ở Việt Nam;

7. Cấu trúc luận văn

Để người đọc có cách nhìn tổng quan nhất, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương bao gồm:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp và pháp luật về quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp ở Việt Nam;
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp và thực tiễn thi hành tại Việt Nam;
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp và nâng cao hiệu quả thi hành tại Việt Nam.

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1.1. Một số vấn đề lý luận về khu công nghiệp và quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp

1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp

Đất khu công nghiệp được định nghĩa là: Đất làm mặt bằng để xây dựng các công trình sản xuất hàng công nghiệp, công trình dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, kể cả các công trình hạ tầng thuộc phạm vi khu công nghiệp được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [12, Phụ lục số 01 – Giải thích cách xác định loại đất, loại đối tượng sử dụng đất, loại đối tượng quản lý đất].

Như vậy, Quyền sử dụng đất trong Khu công nghiệp là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, xây dựng các công trình sản xuất hàng công nghiệp, các công trình phục vụ cho sản xuất hàng công nghiệp và công trình hạ tầng thuộc phạm vi khu công nghiệp.

Quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp được hình thành dựa trên cơ sở hành vi chuyển quyền của chủ sở hữu đất đai được thể hiện tại quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc phát sinh dựa trên quyết định thu hồi đất hoặc từ các giao dịch nhận chuyển quyền sử dụng đất. Việc thực hiện các giao dịch quyền sử dụng đất phải tuân thủ các điều kiện, thủ tục do pháp luật quy định.

1.1.2. Nội dung quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp

Ngoài các quyền chung của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai, Chủ thể sử dụng đất trong Khu công nghiệp được nhà nước giao đất, cho thuê đất để xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và/hoặc đầu tư vào sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp có những quyền sau:

1.1.3. Đặc điểm quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

Từ định nghĩa nêu tại mục 1.1.1.1, có thể xác định quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp có những đặc điểm sau:

  • Thứ nhất, đất khu công nghiệp chủ yếu là đất sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh

Đất khu công nghiệp được sử dụng để làm mặt bằng xây dựng các công trình sản xuất hàng công nghiệp, các công trình phục vụ cho sản xuất hàng công nghiệp và công trình hạ tầng (kể cả trụ sở, văn phòng đại diện, sân kho và nhà kho của Nhà đầu tư dự án trong khu công nghiệp) thuộc phạm vi khu công nghiệp. Cơ sở vật chất kỹ thuật được xây dựng phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, không phục vụ cho mục đích sinh sống của dân cư, kể cả những người làm việc trong khu công nghiệp.

  • Thứ hai, chủ thể sử dụng đất khu công nghiệp là các chủ thể kinh doanh

Chủ thể sử dụng đất trong khu công nghiệp là các Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Khu công nghiệp có những quy định bắt buộc tuân thủ đối với các chủ thể như doanh nghiệp, công ty thường trú… trong khu công nghiệp.

  • Thứ ba, đất khu công nghiệp được xác định ranh giới rõ ràng, phù hợp với quy hoạch

Khu công nghiệp nhằm mục đích sản xuất kinh doanh hàng công nghiệp, được tách riêng khỏi khu dân cư được quy hoạch thành một khu có những quy định cụ thể về xây dựng các tòa nhà, nhà máy, cũng như các dịch vụ: công trình công ích, viễn thông, cảnh quan, hệ thống giao thông,…

Việc quy hoạch khu công nghiệp phải đảm bảo tổng thể và quy hoạch chi tiết, đảm bảo các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn về kỹ thuật và môi trường như Bộ tiêu chuẩn về khí thải và tiếng ồn, Bộ tiêu chuẩn về cấp nước sinh hoạt và nước thải, Bộ quy chuẩn về giới hạn ô nhiễm trong đất và chất thải nguy hại…để đảm bảo an toàn, tránh các tác động tiêu cực đến sức khỏe, bảo vệ môi trường một cách tối đa.

Thứ tư, quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp có quy chế, phương hướng riêng, khác với các loại đất sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh khác

Việc tập trung khu vực công nghiệp cũng giúp nhà nước quản lý dễ dàng hơn, đưa ra được các chính sách phù hợp nhằm thu hút nhà đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường hiệu quả.

1.2. Một số vấn đề lý luận pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp

1.2.1.1. Khái niệm pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp

Pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp là một hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp sinh trong các hoạt động của các chủ thể tham gia xây dựng, kinh doanh, đầu tư, sản xuất trong quy hoạch khu công nghiệp liên quan đến quản lý, sử dụng đất. Pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp là một phần của pháp luật đất đai, quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp, có mối liên chặt chẽ với pháp luật về đầu tư, pháp luật thương mại, pháp luật quy hoạch, luật môi trường, quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hình sự, quan hệ pháp luật hành chính và quan hệ quốc tế đặt trong một ranh giới xác định là khu công nghiệp, phản ánh được sự phát triển của nền kinh tế, xã hội.

Có thể định nghĩa khái niệm Pháp luật về quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp như sau: Pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp là tổng hợp những quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các cá nhân, tổ chức có quyền, nghĩa vụ trong sử dụng đất khu công nghiệp và giữa các cá nhân, tổ chức có quyền, nghĩa vụ trong sử dụng đất khu công nghiệp với nhau.

1.2.1.2 Đặc điểm của pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp

  • Pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp là một bộ phận không thể tách rời của pháp luật đất đai

Chủ thể của quyền sử dụng đất trong Khu công nghiệp chính là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai bao gồm: Nhà nước, Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp. Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

Khách thể của quan hệ pháp luật về giao đất là toàn bộ khu đất xác định, có ranh giới rõ ràng, được sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, xây dựng các công trình sản xuất hàng công nghiệp, các công trình phục vụ khu công nghiệp mà qua đó Nhà nước đã thiết lập các chế độ pháp lý nhất định.

Nội dung quan hệ pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp chính là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể quan hệ pháp luật đất đai, nhưng chủ thể ở đây có thể nhìn nhận một cách cụ thể hơn đó chính là Nhà nước và người được giao đất. Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu về đất đai nên quyền và nghĩa vụ của Nhà nước rất đặc trưng, trước hết vì Nhà nước là đại diện chủ sở hữu nên Nhà nước có đầy đủ ba quyền năng đó là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.

Khác với Nhà nước, chủ thể được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án khu công nghiệp ngoài những quyền chung của người sử dụng đất thì quyền và nghĩa vụ pháp lý của người được Nhà nước giao, cho thuê đất đất sẽ được phân chia theo từng loại chủ thể như: tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; Tổ chức được nhà nước cho thuê đất; hộ gia đình, cá nhân; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam…

  • Pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp có mối liên chặt chẽ với pháp luật về đầu tư, pháp luật thương mại, pháp luật quy hoạch, luật môi trường

Việc sử dụng đất xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Khi quy hoạch, thành lập khu công nghiệp, khu chế xuất phải đồng thời lập quy hoạch, xây dựng khu nhà ở, công trình công cộng nằm ngoài khu công nghiệp phục vụ đời sống người lao động làm việc trong khu công nghiệp đảm bảo bảo vệ môi trường.

Các chủ thể sử dụng đất trong khu công nghiệp là các chủ thể kinh doanh đầu tư dự án vào khu công nghiệp để sản xuất kinh doanh, vì vậy, pháp luật về quyền sử dụng đất gắn bó chặt chẽ với pháp luật thương mại và pháp luật Đầu tư.

  • Pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp gắn liền với sự phát triển của kinh tế – xã hội

Khu công nghiệp được hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế đất nước, xuất phát từ chủ trương đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc xây dựng một mô hình mang tính đột phá trong thu hút đầu tư, tăng trưởng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Khu công nghiệp huy động được lượng vốn đầu tư lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt, khu công nghiệp, khu chế xuất có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Việc phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất cũng đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động; góp phần tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái.

1.2.2. Nội dung của pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

  • Chủ thể sử dụng đất khu công nghiệp

Chủ thể sử dụng đất trong khu công nghiệp được chia ra bao gồm:

  • Chủ thể được đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp; và
  • Chủ thể được nhà nước giao đất, cho thuê đất, được chủ đầu tư cho thuê lại quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư
  • Chủ thể được đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp

Để được đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, chủ đầu tư cần đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực kinh nghiệm, năng lực tài chính để thực hiện dự án xây dựng nhà xưởng, kho bãi, văn phòng để cho doanh nghiệp thuê hoặc bán và kinh doanh các dịch vụ công cộng, tiện ích khác trong khu công nghiệp, có khả năng vận động, tiếp nhận dự án đầu tư vào Khu công nghiệp trên cơ sở quy hoạch chi tiết và ngành nghề sản xuất đã được phê duyệt.

Việc đầu tư xây dựng hạ tầng để cho thuê lại hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật chung; Chủ đầu tư được xác định giá cho thuê hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật chung, giá cho thuê hoặc bán nhà xưởng, kho bãi, văn phòng và giá các loại dịch vụ công cộng, tiện ích khác.

Trường hợp khu công nghiệp do Ban Quản lý khu công nghiệp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật thì việc quyết định cho thuê lại hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá cho thuê lại hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá cho thuê hoặc bán nhà xưởng, kho bãi, văn phòng và giá các loại dịch vụ công cộng, tiện ích khác phải do đơn vị có chức năng thẩm định giá thẩm định giá trị, báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định.

  • Chủ thể được nhà nước giao đất, cho thuê đất, được chủ đầu tư cho thuê lại quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

Chủ thể được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, được chủ đầu tư cho thuê lại quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư là các Nhà đầu tư thứ phát bao gồm các Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình đầu tư, kinh doanh trong Khu công nghiệp. Nhà đầu tư thứ phát có quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh, trừ trường hợp đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực cấm đầu tư theo quy định của pháp luật.

Nhà đầu tư thứ phát được thuê hoặc mua nhà xưởng, văn phòng, kho bãi xây sẵn trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế để phục vụ sản xuất, kinh doanh; sử dụng có trả tiền các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các công trình dịch vụ, bao gồm hệ thống đường giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, xử lý nước thải, xử lý chất thải và các công trình dịch vụ, tiện ích công cộng khác trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế; và được chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất, thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế để xây dựng nhà xưởng, văn phòng và các công trình khác phục vụ sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về kinh doanh bất động sản.

  • Quản lý nhà nước về đất Khu công nghiệp

Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu đã xác định; đó là hoạt động được thực hiện bởi toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.

Với khái niệm đó, chúng ta hiểu rằng: QLNN đối với Khu công nghiệp là hoạt động tổ chức và điều hành cơ quan hành chính nhà nước đối với hoạt động phát triển các Khu công nghiệp; là chức năng đặc thù của cơ quan hành chính nhà nước về kinh tế, thực hiện quyền lực nhà nước tác động đối với quá trình hình thành và phát triển Khu công nghiệp trên một phạm vi lãnh thổ nhất định của quốc gia, thông qua công tác quy hoạch, kế hoạch; ban hành và thực thi chính sách pháp luật có liên quan Khu công nghiệp; đồng thời thanh tra, kiểm tra, giám sát và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và phát triển Khu công nghiệp… nhằm đạt được mục tiêu đã xác định cho sự phát triển Khu công nghiệp đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và mang lại lợi ích cho phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và địa phương nói riêng.

  • Giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật trong sử dụng đất khu công nghiệp

Tranh chấp, vi phạm pháp luật trong sử dụng đất Khu công nghiệp những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của Chủ đầu tư với Nhà đầu tư thứ phát, của Nhà đầu tư thứ phát với nhau hoặc của Chủ đầu tư, nhà đầu tư thứ phát và một bên thứ ba trong sử dụng đất Khu công nghiệp. Giải quyết tranh chấp, vi phạm trong sử dụng đất Khu công nghiệp là một phần không thể tách rời của xử lý giải quyết tranh chấp, vi phạm đất đai nói chung và do Luật Đất đai điều chỉnh.

Việc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua các hình thức sau:

  • Tự hòa giải Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.
  • Hòa giải tại cơ sở: thì tranh chấp đất đai được hòa giải ở cơ sở do Hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp.
  • Giải quyết tại Tòa Án

1.2.3. Vai trò của pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp

Hệ thống pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp là công cụ hữu hiệu nhất bởi nó là phương tiện không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và vấn đề sử dụng đất trong khu công nghiệp nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức kinh doanh, tạo tiền đề cho việc kết hợp và học tập được những thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ, về tổ chức và quản lý doanh nghiệp, đồng thời tranh thủ được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triển.

Thứ nhất, Pháp luật là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung mà con người buộc phải tuân thủ khi có hành vi tác động đến quyền sử dụng đất, ghi nhận mối quan hệ về đất đai, là cơ sở để nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp của chủ thể sử dụng đất với bên thứ ba.

Thứ hai, pháp luật quy định các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính… để buộc các chủ thể quản lý và sử dụng đất trong khu công nghiệp và các chủ thể có liên quan phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình liên quan đến quyền sử dụng đất khu công nghiệp. Trong trường hợp chủ thể không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý liên quan đến quyền sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ có những biện pháp cưỡng chế. Nội dung, hình thức, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật.

Thứ ba, pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng đất trong khu công nghiệp. Các cơ quan, nhà nước có quyền yêu cầu các tổ chức cá nhận tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp. Thực hiện quản lý đất đai của nhà nước, là căn cứ để xây dựng các quyết định cụ thể về đăng ký, theo dõi biến động, kiểm soát các giao dịch về đất đai cũng như yêu cầu nộp các nghĩa vụ tài chính, yêu cầu xử lý vi phạm…của chủ thể sử dụng đất trong khu công nghiệp, tạo tiền đề hình thành thị trường bất động sản công khai, lành mạnh tránh thao túng hay đầu cơ trái phép bất động sản. Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

Thứ tư, pháp luật quy định cơ chế, trình tự, thủ tục xử lý các vi phạm pháp luật, giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp. Việc giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về quyền sử dụng đất nói chung và quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp nói riêng là một thủ tục đòi hỏi người xử lý, giải quyết tranh chấp phải tuân thủ nghiêm trình tự, thủ tục mới hiệu quả.

Thứ năm, pháp luật là công cụ để bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp. Những nội dung về quy hoạch khu công nghiệp được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý. Trình tự, thẩm quyền, hình thức thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp phải được quy định chặt chẽ trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về quyền sử dụng đất khu công nghiệp muốn có hiệu quả phải đi đôi với các ưu đãi cho các cá nhân, tổ chức kinh doanh trong khu công nghiệp thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, tạo động lực để đảm bảo các chủ thể sẽ thực hiện nghiêm chỉnh.

1.2.4. Các yếu tố chi phối pháp luật về quyền sử dụng đất trong Khu công nghiệp

  • Những đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong thu hút đầu tư, thúc đẩy các hoạt động đầu tư

Trong xã hội mặc dù Nhà nước là cơ quan quản lý nhưng việc đề ra các chủ trương, đường lối và quyết định vấn đề nhân sự cao cấp trong bộ máy của các cơ quan nhà nước lại phụ thuộc khá nhiều vào chế độ chính trị và vai trò của đảng cầm quyền. Ở các quốc gia phát triển, cơ chế đảng cầm quyền gắn liền với cơ chế tổ chức vận hành quyền lực nhà nước. Đảng cầm quyền mặc dù không trực tiếp ra quyết định về quản lý nhà nước nhưng thông qua việc thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực của đảng cầm quyền chi phối quyền lực nhà nước [26]. Chính ý chí và sự quyết tâm của đảng cầm quyền sẽ được các cơ quan quyền lực nhà nước thể chế hoá thành pháp luật về đất đai, đưa ngành công nghiệp trở thành ngành phát triển mạnh mẽ, kêu gọi được Nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời, tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về Khu công nghiệp khi được ban hành. Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

Cơ chế quản lý kinh tế là hệ thống các chính sách, pháp luật của Nhà nước quy định về quản lý và điều hành nền kinh tế. Cơ chế quản lý kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt nhiều quan hệ xã hội trong đó có vấn đề sử dụng đất trong Khu công nghiệp. Lịch sử đã chứng minh rằng, để phát triển kinh tế thì cần phải có những cơ chế quản lý kinh tế phù hợp và năng động. Trong thế kỷ XX, nhiều quốc gia trên thế giới đã chọn lựa cơ chế thị trường trong phát triển kinh tế. Cơ chế thị trường là động lực của sự phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia nhưng bản thân nó cũng nảy sinh những mặt trái đó là xu hướng tối đa hoá lợi nhuận bằng mọi giá, nên đã làm cho sự phát triển thiếu bền vững [42]. Cũng do cơ chế thị trường nên dẫn đến nhiều chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục trong xã hội bị đảo lộn, xâm hại, do sức ép của việc kiếm tiền và xuất hiện tâm lý mọi việc đều có thể mua bán hoặc trao đổi bằng lợi ích vật chất, phi vật chất khác, điều này đã tác động không nhỏ làm cho các môi trường cạnh tranh không lành mạnh trở nên ngày càng trầm trọng hơn.

Ở nước ta, cơ chế thị trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước. Đây là môi trường để những quan hệ kinh tế vận động, phát triển một cách linh hoạt theo phương thức tự do cạnh tranh trong kinh doanh nên đã phát huy được năng lực, thế mạnh của các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế, và cơ chế thị trường cũng làm cho các nguồn lực trong xã hội được huy động một cách tối đa, với sự tham gia rất tích cực của các chủ thể trong nền kinh tế và tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội theo nhu cầu của thị trường.

  • Sự phát triển kinh tế – xã hội và hoạt động đầu tư

Sự phát phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia ảnh hưởng, tác động rất lớn đến đến việc hình thành, xây dựng các quy định của pháp luật, trong đó có pháp luật về quyền sử dụng đất trong Khu công nghiệp. Những nơi có trình độ kinh tế – xã hội phát triển, các tổ chức, cá nhân sẽ có ý thức hơn về việc xây dựng văn hóa kinh doanh, văn hóa giải quyết tranh chấp và sẽ cần có pháp luật để suy trì và phát triển các giá trị văn hóa đó, đồng thời cũng sẽ có điều kiện dành nhiều nguồn lực hơn cho việc xây dựng pháp luật. Việc đầu tư các nguồn lực cũng đặt ra yêu cầu phải tăng cường công tác quản lý, thực hiện các biện pháp tổ chức, điều hành cơ sở linh hoạt, thúc đẩy sự hòa hợp giữa mọi người trong tổ chức, nâng cao hiệu suất, chất lượng hoạt động của các cơ quan hành chính góp phần đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội và của nhân dân.

Nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường đã tác động, đưa ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Phát triển kinh tế thị trường luôn đặt vấn đề hiệu quả lên hàng đầu, đòi hỏi các cơ quan hành chính phải không ngừng cải tiến lề lối làm việc, đội ngũ công chức, viên chức phải có năng lực, trình độ, có trách nhiệm với công việc, tận tụy và phục vụ tốt nhu cầu của nhân dân với tư cách là những khách hàng của nền hành chính. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng có những mặt trái, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu quả sẽ không theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của thế giới; nhiều quy định thiếu thực tế lại chậm đổi mới, dẫn đến một số văn bản ra đời không theo kịp yêu cầu của cuộc sống…

  • Hợp tác quốc tế về phát triển công nghiệp Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển sản xuất công nghiệp do có vị trí chiến lược nằm giữa Trung Quốc và Singapore với 3.260 km đường bờ biển, dễ dàng tiếp cận Biển Đông của Việt Nam, một trong những tuyến vận chuyển hàng hải trọng yếu trên thế giới. Khoảng 40% hàng hóa vận chuyển từ Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương đi qua Biển Đông trước khi đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ. Nhờ vị thế địa lý thuận lợi, Việt Nam là điểm trung chuyển hàng hóa nhập khẩu từ các nước châu Á và hàng xuất khẩu sang Mỹ và EU qua khu vực. Với lợi thế chiến lược này, Việt Nam có tiềm năng to lớn để phát triển các Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhờ việc tận dụng lợi thế từ nhiều cảng biển nước sâu, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất nhập khẩu hàng hóa và ngành công nghiệp logistics phát triển nhanh [38, tr.17]

Trong các nước Đông Nam Á, những năm gần đây Việt Nam và Indonesia đã và đang là một trong những điểm đến được đa số các Nhà đầu tư lựa chọn, khi mà Trung Quốc dường như không còn được các tập đoàn lớn lựa chọn để đặt cơ sở sản xuất, gia công hàng hóa. Đặc biệt là cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đã dẫn đến việc Mỹ áp thuế hàng trăm tỷ USD lên hàng loạt mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Cùng với đó là chi phí lao động cũng như giá thuê đất công nghiệp đang tăng cao do Trung Quốc thực hiện chiến lược nâng cao giá trị trong chuỗi cung ứng đối với hàng tiêu dùng trong nước, dịch vụ và hàng hóa xuất khẩu là một trong các nguyên nhân chính khiến các Nhà đầu tư dịch chuyển chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á để tìm kiếm những địa điểm đầu tư tiết kiệm chi phí hơn. Việt Nam đang nổi lên như một lựa chọn thay thế trong nỗ lực cắt giảm các chi phí, chẳng hạn như chi phí lao động, chi phí đào tạo và thuế suất ưu đãi.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

Nhằm phát triển kinh tế tập trung, ổn định, giảm chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, thu hút nguồn lao động lập trung, tạo ra các đột phá về công nghệ thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển, thay vì việc đầu tư công nghiệp một lẻ tẻ, các Nhà đầu tư đã kết nối lại, xây dựng một vùng đất biến các vùng đất không có khả năng sản xuất nông nghiệp thành khu trung tâm công nghiệp, đô thị, từ đó mở rộng diện tích của đô thị.

Vai trò của Khu công nghiệp rất quan trọng, với lợi thế của nó về việc phát triển khu công nghệ, khu chế xuất sẽ góp phần to lớn phát triển kinh tế địa phương. Đầu tư nước ngoài vào Khu công nghiệp là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho nguồn vốn phát triển kinh tế, thu hút công nghệ, góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế heo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở rộng đầu tư quốc tế.

Việc tập trung Khu công nghiệp cũng giúp nhà nước quản lý dễ dàng hơn, đưa ra được các chính sách phù hợp nhằm thu hút nhà đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường hiệu quả. Mặc dù pháp luật Khu công nghiệp đẽ ngày càng hoàn thiện về mặt quy định của pháp luật và dường như đã bảo vệ được quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ sử dụng đất trong Khu công nghiệp nhưng thực tế việc thi hành vẫn còn nhiều bất cập. Chương 2 sau đây sẽ làm rõ hơn về vấn đề này. Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất trong KCN

One thought on “Luận văn: Quyền sử dụng đất trong các Khu công nghiệp ở VN”

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về quyền sử dụng đất trong KCN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464