Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia luôn được quan tâm và thực hiện là đăng lý và quản lý hộ tịch. Nhà nước công nhận quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân đồng thời bảo hộ quyền con người, có biện pháp quản lý dân cư khoa học, hiệu quả thiết thực trong xây dựng và hoạch định chính sách phát triển KTXH, QPAN của đất nước. Các sự kiện hộ tịch của con người tại hầu hết các nước từ khi sinh ra đến khi chết như khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, cải chính hộ tịch.. đều phải được quản lý chặt chẽ và đăng ký theo luật định
Ở nước ta, thực hiện pháp luật về hộ tịch được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư. Công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội. Do đó, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về hộ tịch tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thực hiện pháp luật về hộ tịch. Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, ngày 20/11/2014 thông qua Luật Hộ tịch. Ngày 01/01/2016 Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành là cơ sở pháp lý thực hiện pháp luật về hộ tịch.
Thời gian qua công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch đã có những bước pháp triển ổn định, đạt được những kết quả quan trọng. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục thực hiện pháp luật về hộ tịch đã từng bước được coi trọng. Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch ngày càng đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia đăng ký. Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch khẳng định quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân.
Cùng với những kết quả đã đạt được vẫn còn những hạn chế đó là: Việc quản lý hộ tịch còn thiếu khoa học, chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn, cán bộ công chức còn hạn chế về năng lực và trình độ; việc giáo dục, tuyên truyền thực hiện pháp luật về hộ tịch còn chưa sâu rộng. Điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả trong công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch.
Quận 7 là một quận thuộc thành phố Hồ Chí Minh đang trong giai đoạn phát triển với tỷ lệ tăng trưởng dân số cao nên công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế của quận. Vì vậy, nghiên cứu thực hiện pháp luật về hộ tịch nói chung cũng như thực tiễn tại quận 7 nói riêng nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận, thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch và đưa ra những giải pháp góp phần bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn quận 7 là việc cần thiết hiện nay. Đó cũng chính là lý do chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề cập đến hộ tịch và các chính sách thực hiện hộ tịch, trong thời gian qua: Bài “Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của công dân” tác giả Vũ Đình Tuấn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2005; Bài “Kỳ vọng về một nền nếp mới trong công tác hộ tịch” tác giả Phạm Trọng Cường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006; Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch trong giai đoạn hiện nay” Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9 năm 2006; Số chuyên đề về “Công chứng, Hộ tịch và Quốc tịch” phần 2 Hộ tịch và Quốc tịch, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007; Bài “Tư pháp Hà Nội không vì khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh” tác giả Đàm Thị Kim Hạnh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 3 năm 2008; Giáo trình “Quản lý Hành chính – Tư pháp” của Học viện hành chính, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật năm 2008 (dành cho đào tạo trung cấp hành chính); Chuyên đề “Quản lý Hành chính-Tư pháp” trong chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính của Học viện Hành chính; Bài báo “Hộ tịch và pháp luật về hộ tịch” tác giả Trần Duy Rô Nin, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/2008; Bài “Thực trạng đội ngũ công chức Tư pháp- Hộ tịch và yêu cầu chuẩn hóa” của tác giả Trần Thị Lệ Hoa, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề pháp luật Hộ tịch năm 2013; Bộ Tư pháp (2006) “Hướng dẫn nghiệp vụ Đăng ký và quản lý hộ tịch”, NXB Tư pháp, Hà Nội; Bộ Tư pháp (2007), “Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch”, NXB Tư pháp, Hà Nội; Sách chuyên khảo “Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch” của tác giả Phạm Trọng Cường, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007; Số chuyên đề “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007;
Bộ Tư pháp (2010) “Tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ Tư pháp xã, phường, thị trấn”, NXB Tư pháp; Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở tỉnh Hòa Bình – Thực trạng và giải pháp” của Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình, tác giả Trần Việt Hưng chủ nhiệm đề tài, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, 2010; Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”, tác giả Phạm Hồng Hoàn, Học viện Hành chính Quốc gia, 2010.
Các công trình khoa học nói trên đã đề cập từng khía cạnh của công tác quản lý và thực hiện pháp luật về hộ tịch. Hiện nay, chưa có công trình khoa học nào trực tiếp nghiên cứu về thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
3.1 Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở trình bày, phân tích cơ sở lý luận, thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch, nhằm đưa các khuyến nghị khoa học góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ đó xác định những vấn đề mà luận văn sẽ kế thừa cũng như những vấn đề luận văn cần tiếp tục nghiên cứu.
- Luận giải, làm rõ các vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về hộ tịch như: hộ tịch, đặc điểm, vai trò, chủ thể, nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế.
- Đưa ra được những quan điểm, yêu cầu và giải pháp bảo đảm tốt việc thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng trực tiếp nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn của thực hiện pháp luật về hộ tịch.
- Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7 từ năm 2015 đến năm 2019
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩ Mác – LêNin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước về chính sách hộ tịch nói chung và thực hiện pháp luật về hộ tịch tại Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: quy nạp, tổng hợp, phân tích, diễn dịch, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, so sánh…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung thực hiện pháp luật về hộ tịch; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch tại Quận 7. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để góp phần bảo đảm hiệu quả của thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn làm cơ sở để các cấp chính quyền địa phương ở thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu, vận dụng vào thực tế trong công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch; làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật. Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy đối với cán bộ, sinh viên trong các cơ sở đào tạo quản lý hành chính nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về hộ tịch và thực hiện pháp luật về hộ tịch
- Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ TỊCH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
1.1. Khái niệm hộ tịch; thực hiện pháp luật về hộ tịch
1.1.1 Khái niệm về hộ tịch
“Hộ tịch” khi xét từ góc độ ngôn ngữ học, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính, “hộ” là thành tố phụ (từ ghép gốc Hán). Từ “hộ” mang nhiều nghĩa khác nhau, có thể hiểu nghĩa trực tiếp là “nhà ở” hoặc “dân cư”, theo nghĩa rộng chính là “quản lý dân số, bao gồm những người cùng sinh sống”. “Tịch” được hiểu là “ sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc” hay chính là “sổ sách”. Tuy nhiên việc tổ hợp hai từ đơn này thành danh từ ghép “hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ dẫn đến có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch”.
Tác giả Nguyễn Văn Khôn đã nêu khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán – Việt từ điển xuất bản năm 1960 như sau: “Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [20, tr.404]. Cũng có quan điểm tương tự với tác giả Nguyễn Văn Khôn, tác giả Hoàng Thúc Trâm cũng nêu khải niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán – Việt tân từ điển xuất bản năm 1974 là: “Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [26, tr. 292]. Hay tác giả Nguyễn Lân cũng trình bày giải nghĩa từ “hộ tịch” trong cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt xuất bản năm 1989: “Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [21, tr.321].
Trong cuốn Giản yếu Hán – Việt từ điển xuất bản năm 1992, tác giả Đào Duy Anh trình bày cách hiểu của mình đối với từ ghép “hộ tịch” là: “Hộ tịch: quyển sổ của Chính Phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người” [1, tr.384]. Trong cuốn Từ điển Hán – Việt từ nguyên xuất bản năm 1999 của tác giả Bửu Kế, “hộ tịch” được hiểu là “Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường” [19, tr.814]. Có thể nhận thấy cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của các tác giả Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Bửu Kế, Nguyễn Lân, Hoàng Thúc Trâm tuy rằng khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều giải nghĩa “hộ tịch” có nét khá tương đồng: “hộ tịch” là quyển số chứa đựng các thông tin cơ bản của cá nhân như họ, tên, nghề nghiệp, quê quán. Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, một số từ điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn, chẳng hạn như: Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viên Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên xuất bản năm 1998, từ ghép “hộ tịch” được giải nghĩa là: “Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng kí cư dân trong địa phương mình theo từng hộ” [24, tr.442] Một cách hiểu khác về “hộ tịch” được tác giả Nguyễn Như Ý trình bày trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998 đó là: “Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [18, tr.835].
Đặc biệt tác giả Nguyễn Văn Đạm viết trong cuốn Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt do NXB văn hóa thông tin xuất bản năm 1999 giải thích “hộ tịch” theo một khía cạnh hoàn toàn khác so với các cách giải nghĩa trên: “Hộ tịch: là quyền cư trú, được công nhận bởi chính quyền của một người tại nơi mà mình ở thường xuyên, của những người thuộc cùng một hộ thường trú, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” [12, tr.385].
Do vậy, từ “hộ tịch” nghĩa của nó xét về khía cạnh xã hội còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Theo quan điểm của tác giả, tác giả đồng ý với cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của tác giả Nguyễn Như Ý trình bày trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998: “Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [18, tr.835].
Về khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của ĐH Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ VNCH, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau: Năm 1958 trong cuốn tài liệu chuyên khảo Hộ tịch chỉ nam, Tác giả Phan Văn Thiết trình bày quan niệm “hộ tịch” như sau:
“Hộ tịch – còn gọi là nhân thế bộ – là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử” [26, tr.7]. Các tác giả Vũ Văn Mẫu – Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật xuất bản năm 1968 như sau: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử” [22, tr.111].
Các tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về khái niệm nhưng đều chỉ ra những dấu hiệu đặc trưng của hộ tịch đó là: quan hệ gia đình của một người được ghi chép lại, quan hệ liên quan đến sự kiện của con người là sinh, tử và hôn nhân. Hộ tịch minh chứng cho nhân thân của mỗi cá nhân.
Ngày 10/10/1998 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký hộ tịch quy định tại Điều 1: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Trước khi có Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Bộ luật dân sự 1995 có riêng một mục quy định về hộ tịch. Bộ luật dân sự 1995 không đưa ra khái niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa về đăng ký hộ tịch tại điều 54 như sau:
- Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi tên, họ, quốc tịch, cải chính hộ tịch, xác định dân tộc và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
- Việc đăng ký hộ tịch là nghĩa vụ và quyền của mỗi người.
- Đăng ký hộ tịch theo trình tự và thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định.
Khái niệm về hộ tịch được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật đó là: Ngày 27/12/2005 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ra đời quy định tại Điều 1 , Luật Hộ tịch năm 2014 quy định tại Điều 2 Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra đời cho đến khi chết. Hiến pháp năm 2013 quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và quyền nhân thân của con người, cụ thể hóa quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định sự kiện hộ tịch.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch
1.1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về hộ tịch
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, định hướng nhằm thực hiện hóa nội dung các quy định pháp luật bằng hành vi hợp pháp của các chủ thể. Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp khi xem xét ở góc độ của pháp lý, là hành vi thực tế của các chủ thể trong cuộc sống phù hợp với các quy định của pháp luật. Do vậy, có thể hiểu: “Thực hiện pháp luật về hộ tịch là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện đăng ký quản lý hộ tịch đi vào cuộc sống nhằm phát huy cao độ quyền của công dân trong việc đăng ký các sự kiện hộ tịch như: khai sinh, khai tử, kết hôn, theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch bảo đảm các sự kiện hộ tịch được đăng ký kịp thời, đúng quy định của pháp luật, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình”.
1.1.2.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Thực hiện pháp luật về hộ tịch là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khi đăng ký quản lý hộ tịch và thực hiện quyền, nghĩa vụ của Công dân đối với hoạt động đăng ký hộ tịch, khác với thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực, các ngành luật khác ở các chủ thể, phạm vi, nội dung và các hình thức thực hiện. Biểu hiện:
Một là, chủ thể thực hiện pháp luật về hộ tịch trước hết là các cơ quan: Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao, các cơ quan đại diện, Lãnh sự quán của Việt Nam nước ngoài, UBND các cấp (xã, huyện, tỉnh), phòng Tư pháp, sở Tư pháp.
Hai là, thực hiện pháp luật về hộ tịch phạm vi diễn ra giữa các chủ thể trong đó một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền và một bên là công dân sinh sống tại một đơn vị hành chính.
Ba là, thực hiện pháp luật về hộ tịch đối với chế độ và trách nhiệm pháp lý của chủ thể mang tính chất quản lý hành chính, đồng thời mang tính chất tự tin.
Bốn là, thực hiện pháp luật về hộ tịch có nội dung rất rộng, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú.
1.1.2.3 Hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch
Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức các chủ thể tiến hành các hoạt động có mục đích để đưa các quy định của pháp luật đi vào thực tiễn của cuộc sống. Trong thực tế để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì phải ban hành các quy phạm pháp luật phù hợp với thực tế, là hành lang pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Thực hiện pháp luật bao gồm bốn hình thức: Hình thức thi hành pháp luật, hình thức tuân thủ pháp luật, hình thức sử dụng pháp luật và hình thức áp dụng pháp luật. Trong đó, thi hành pháp luật là hình thức các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý được pháp luật đòi hỏi thực hiện. Tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể thực hiện các hành vi hợp pháp theo yêu cầu của pháp luật. Sử dụng pháp luật là hình thức các chủ thể thực hiện quyền pháp lý của mình theo quy định của pháp luật. Áp dụng pháp luật là hình thức các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các quyết định cá biệt để giải quyết các sự kiện pháp lý cụ thể trong đời sống pháp lý.
Thực hiện pháp luật về hộ tịch được thực hiện các hình thức phù hợp với chủ thể tham gia thực hiện. Chủ thể là công dân sử dụng hình thức sử dụng pháp luật là chủ yếu, chủ thể là chính quyền hay các tổ chức chính trị cơ sở thì sử dụng hình thức là áp dụng pháp luật. Do đó, xem xét thực hiện pháp luật về hộ tịch trên cơ sở chính là thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch.
Tuân thủ pháp luật về hộ tịch: Là hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch, trong đó các chủ thể pháp luật tham gia pháp luật về hộ tịch (công dân và chính quyền, các tổ chức chính trị cơ sở) thực hiện các hành vi hợp pháp theo quy định của pháp luật hộ tịch Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Để đảm bảo công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện kịp thời, đầy đủ theo các quy định của pháp luật về hộ tịch, những yêu cầu chủ thể pháp luật phải luôn luôn tự kiềm chế mình một cách chủ động và tự giác trong mọi điều kiện, hoàn cảnh tình huống luật định mà bản thân mình đang gặp phải để không thực hiện những hành vi pháp luật ngăn cấm trong lĩnh vực hộ tịch.
Ví dụ: Luật Hộ tịch năm 2014 có quy định các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 12 như: Không được cung cấp những thông tin, tài liệu sai sự thật, cấm làm hoặc sử dụng các loại giấy tờ giả, các loại giấy tờ của người khác dùng để đăng ký hộ tịch, hay dùng các hành động như đe dọa, cưỡng ép làm cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch. Những hành động can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đăng ký hộ tịch; sửa làm thay đổi nội dung làm chúng sai sự thật để đăng ký hộ tịch; Các hình thức làm giả hay sửa chữa làm sai lệch nội dung trong giấy tờ hộ tịch hoặc thông tin trong cơ sở dữ liệu hộ tịch; các hành vi đưa hối lộ, mua chuộc, hứa hẹn việc đem lại lợi ích về vật chất hay tinh thần để được đăng ký hộ tịch; Động cơ vụ lợi trong việc đăng ký hộ tịch hoặc trốn tránh nghĩa vụ đăng ký hộ tịch nhằm mục đích trục lợi hay hưởng chế độ ưu đãi.
Công chức làm công tác hộ tịch không được gây khó khăn, phiền hà khi đăng ký, quản lý hộ tịch; không thể hiện thái độ hách dịch, sách nhiễu, trì hoãn, cửa quyền; nghiêm cấm việc nhận hối lộ. Không được thu lệ phí hộ tịch cao hơn mức quy định hoặc tự đặt ra các khoản thu khi đăng ký hộ tịch; không được cố ý kéo dài thời hạn giải quyết đăng ký hộ tịch trái quy định của pháp luật như cố ý tự đặt ra các loại thủ tục, giấy tờ ngoài quy định gây khó khăn trong quá trình đăng ký.
Các chủ thể không thực hiện các hành vi nêu trên đó chính là biểu hiện của việc nghiêm túc thực hiện pháp luật về Hộ tịch của chủ thể là người dân hoặc chủ thể được giao quyền thực hiện đăng ký hộ tịch được pháp luật quy định.
Thi hành chấp hành pháp luật về hộ tịch: Là một hình thức các chủ thể pháp luật tự thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình để thực hiện pháp luật về Hộ tịch, các chủ thể thực hiện bằng hành động tích cực của mình. Những quy định của pháp luật mang tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ của các chủ thể; ngoài ra còn có các quy định mang tính ngăn cấm nhằm hạn chế những hành vi gây ảnh hưởng tiêu cực trong quá trình quản lý, đăng ký hộ tịch. Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Về trách nhiệm đăng ký khai sinh Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: Kể từ ngày con sinh ra; cha, mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con trong thời hạn 60 ngày. Nếu trong trường hợp mẹ, cha không thể đăng ký khai sinh cho con thì bà hoặc ông, người thân thích khác, cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ phải có trách nhiệm đăng ký khai sinh.
Trong thời hạn quy định Công chức tư pháp – hộ tịch có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn; thực hiện đăng ký khai sinh lưu động trong trường hợp cần thiết.
- Về trách nhiệm đăng ký khai tử Luật Hộ tịch năm 2014 được quy định tại Điều 33
Trong thời hạn quy định Công chức tư pháp – hộ tịch có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc khai tử cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai tử thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký khi tử.
Các chủ thể ở trong các trường hợp quy định đã nêu trên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời nộp phí theo quy định của pháp luật. Như vậy, bằng hành động tích cực trong khi thực hiện các nghĩa vụ – của mình các chủ thể đã tích cực thực hiện các quy phạm pháp luật về Hộ tịch.
Sử dụng pháp luật về hộ tịch: là hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch, trong đó các chủ thể sử dụng các quyền về đăng ký, quản lý hộ tịch để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Ví dụ: Khi có hành vi vi phạm pháp luật về hộ tịch, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, pháp luật cho phép các chủ thể có quyền khiếu nại hay tố cáo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật hộ tịch nhưng họ có thể không thực hiện các quyền này nếu họ cảm thấy không cần thiết.
1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
1.2.1 Ban hành văn bản quy định
Thực hiện pháp luật về hộ tịch trên cơ sở các căn cứ pháp lý được quy định tại Luật Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và gia đình… Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 47/SL thể hiện các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ luật giản yếu được áp dụng ở Nam kỳ, dân luật Bắc Kỳ, Hoàng Việt được áp dụng ở Trung kỳ.
Nghị định số 764TTg ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Ban Điều lệ hộ tịch. Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số: 04/CP ngày 16/01/1961 kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới. Theo quy định tại bản điều lệ này Bộ Nội vụ là cơ quan được Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ tổ chức quản lý hộ tịch, Ủy ban hành chính xã, thị trấn, thị xã, khu phố phụ trách đăng ký hộ tịch. Ngày 20/11/1987 ra đời Nghị định số 219 HĐBT quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về hộ tịch được chuyển giao từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các cấp.
Đến năm 2005 việc đăng ký quản lý hộ tịch được thực hiện theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, nghị định 06/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về hộ tịch, chứng thực, hôn nhân và gia đình. Nghị định số 06/2012 NĐ-CP đã sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 158/2005/NĐ-CP theo hướng đơn giản hơn các thủ tục khi đăng ký hộ tịch, quy định cụ thể các giấy tờ cần thiết đối với từng sự kiện hộ tịch, bổ sung quy định đối với hồ sơ đăng ký hộ tịch, bổ sung xin – cấp bản sao từ sổ gốc gửi qua hệ thống bản chính. Đồng thời Nghị định 06/2012/NĐ-CP, đã rút ngắn thời hạn giải quyết một số thủ tục về hộ tịch.
Ngày 20/11/2014, Quốc Hội ban hành Luật Hộ tịch và bắt đầu có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2016. Luật hộ tịch chính thức có hiệu lực đã trở thành bước tiến lớn trong công tác đăng ký hộ tịch.
1.2.2 Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
1.2.2.1 Thực hiện pháp luật về đăng ký hộ tịch
Theo Khoản 2, Điều 2 Luật Hộ tịch: Việc xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân trách nhiệm thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân thể hiện chức năng nhiệm vụ về quản lý dân cư.
Từ nội dung quy định trên có thể hiểu đăng ký hộ tịch là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các cơ quan hành pháp,) thực hiện việc lưu và ghi các sự kiện hộ tịch liên quan đến công dân. Do đó, sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết chính là hộ tịch. Sự kiện liên quan đến nhân thân của công dân được ghi nhận gồm: khai sinh, khai tử, ly hôn, kết hôn, việc hủy hôn, nhận nuôi con nuôi, ly thân tư pháp,….
- Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định nội dung đăng ký hộ tịch:
Một là, xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch như kết hôn, khai sinh, nhận cha mẹ nuôi, nhận con nuôi, giám hộ, cải chính, thay đổi hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch, khai tử…
Hai là, ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Ba là, ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện như khai sinh, ly hôn, kết hôn, hủy hôn, giám hộ, nhận con nuôi, nhận cha mẹ cho, thay đổi hộ tịch; khai tử… Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Bốn là, xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.
Cơ quan đăng ký hộ tịch căn cứ vào các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ghi vào sổ hộ tịch, điều này khác với việc xác nhận. Hành vi này không làm phát sinh hiệu lực pháp lý mà chỉ là thủ tục hành chính để xác nhận phạm vi hiệu lực pháp lý của các sự kiện hộ tịch bởi vì bản thân các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng đã đem lại hiệu lực pháp lý của việc đó.
- Đăng ký hộ tịch phải đảm bảo các nguyên tắc được quy định tại Điều 5 Luật Hộ tịch 2014:
Mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký kịp thời, đầy đủ, khách quan, trung thực, và chính xác; đối với trường hợp điều kiện đăng ký hộ tịch không được quy định trong văn bản QPPL thì người đứng đầu cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối bằng văn bản và nêu rõ lý do. Điều đó thể hiện pháp luật về hộ tịch tôn trọng và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân.
- Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của Luật Hộ tịch.
Việc đang ký hộ tịch được quy định đang ký tại nơi tạm trú, thường trú hoặc nơi đang sinh sống. Trong trường hợp cá nhân không đăng ký tại nơi thường trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Cơ quan đại diện nơi đã đăng ký hộ tịch cho cá nhân phải có trách nhiệm thông báo việc đăng ký hộ tịch đến UBND cấp xã nơi cá nhân thường trú.
- Sổ hộ tịch phải được cập nhật đầy đủ, kịp thời vào cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử khi phát sinh sự kiện hộ tịch.
- Nội dung khai sinh, khai tử, ly hôn, kết hôn, cải chính, bổ sung, thay đổi hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính của cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch là thông tin đầu vào của cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
- Phải bảo đảm minh bạch, công khai về thủ tục đăng ký hộ tịch.
Đăng ký hộ tịch là lĩnh vực quan trọng của quản lý nhà nước về hộ tịch, liên quan đến các quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Do đó, cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký hộ tịch phải đăng ký cho công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam, công dân nước ngoài thường trú tại Việt Nam.
Thủ tục đăng ký hộ tịch phải được công khai, minh bạch đến mọi người dân, việc kê khai và nộp các hồ sơ, giấy tờ phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Cơ quan đăng ký hộ tịch phải có trách nhiệm ghi vào sổ hộ tịch và cập nhật vào cở sở dữ liệu hộ tịch điện tử đầy đủ các nội dung đăng ký hộ tịch cá nhân, việc thực hiện có thể tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc tại nơi sinh sống. Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Cá nhân có yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch có thể trực tiếp nộp hồ sơ gửi hồ sơ qua hệ thông bưu chính và khi điều kiện cho phép có thể gửi qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến
Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch trong nước bao gồm: Đăng ký khai sinh; kết hôn, nhận cha, mẹ, con giám hộ (bao gồm: thay đổi, cải chính hộ tịch; đăng ký chấm dứt, thay đổi giám hộ cho người chưa đủ 14 tuổi, bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo quyết định, bản án của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Xác định lại giới tính; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn, công nhận giám hộ; Tuyên bố người mất tích, huỷ tuyên bố người mất tích hay đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, xác nhận hoặc ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác và đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới); Đăng ký khai tử.
Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đăng ký các sự kiện pháp lý về hộ tịch có yếu tố nước ngoài và việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú trong nước từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc.
Như vậy, có thể thấy đăng ký hộ tịch là việc người có quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận các sự kiện hộ tịch phát sinh trên thực tế theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định hoặc ghi vào sổ hộ tịch các việc có liên quan đến hộ tịch nhằm đảm bảo các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cá nhân có liên quan.
1.2.2.2 Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch
Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch là một trong những hình thức, thể loại của quản lý nhà nước trên các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để quản lý xã hội. Để điều chỉnh mọi hành vi của con người trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Nhà nước sử dụng công cụ của mình đó là pháp luật được thể hiện trên các văn bản quy phạm pháp luật thông qua hệ thống cơ quan công quyền thực thi pháp luật từ trung ương đến địa phương. Các cơ quan thực thi pháp luật từ trung ương đến địa phương thông qua các phương pháp, cách thức tác động mang tính quyền lực nhà nước để điều chỉnh các lĩnh vực, hành vi con người diễn ra trong đời sống xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân, hướng tới nâng cao đời sống xã hội theo hướng tích cực hơn.
Trong khoa học quản lý, quản lý nhà nước thường được hiểu theo nghĩa hẹp. Thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch là hoạt động của các cơ quan hành chính các cấp và các cơ quan quản lý chuyên môn về hộ tịch cấp tỉnh, cấp huyện trong việc xây dựng ban hành các văn bản quản lý về hộ tịch, và dựa trên cơ sở pháp luật để tổ chức quản lý hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch như quy định rõ quyền cũng như trách nhiệm nhân thân của cá nhân, của cơ quan có thẩm quyền trong đăng ký và quản lý hộ tịch, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch. Như vậy, thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch cần được hiểu đầy đủ là:
Một là, do các cơ quan hành chính nhà nước được giao quyền (Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, UBND các cấp, các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp) thực hiện các chính sách, pháp luật về hộ tịch theo mục tiêu định hướng của nhà nước.
Hai là, thực hiện chức năng quản lý dân cư của nhà nước trên cơ sở kiểm soát các sự kiện nhân thân của cá nhân và phục vụ cho các hoạt động quản lý thuộc các lĩnh vực khác quốc phòng, an ninh, y tế, giáo dục, dân số, kế hoạch hóa gia đình…
Ba là, mục tiêu thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch hướng đến đối tượng quản lý là con người với các sự kiện xác định tình trạng nhân thân có mối liên hệ kể từ khi sinh ra đến lúc chết. Trong trường hợp có sự thay đổi một số thông tin cho phép, thì sự thay đổi đó phải được sự quy định trong luật và phải được cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền xem xét quyết định.
Bốn là, phạm vi thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch bao gồm cá nhân có quốc tịch Việt Nam và công dân có yếu tố nước ngoài liên quan đến hộ tịch Việt Nam
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
1.3.1 Ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là hệ thống các quan niệm, quan điểm, tư tưởng thịnh hành trong xã hội về pháp luật: là tình cảm, thái độ, sự đánh giá của con người đối với pháp luật và hành vi pháp luật với chủ thể.
Ý thức phân loại được cấu thành bởi hai bộ phận là: hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Mỗi bộ phận cấu thành có ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện pháp luật, cụ thể như sau:
Hệ tư tưởng pháp luật là toàn bộ những quen điểm, tư tưởng, học thuyết, – trường phái lí luận về pháp luật. Nếu hệ tư tưởng pháp lý khoa học, phản ánh sâu sắc, đúng đắn các mối quan hệ vật chất và các quy luật phát triển khách quan của xã hội thì sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện pháp luật được đúng đắn, tạo hành lang pháp lý để hiểu đúng và bổ sung thêm kiến thức pháp luật. Nếu hệ tư tưởng pháp lý phản khoa học, phản ánh sai lầm, xuyên tạc và thiếu tính khách quan có quan hệ vật chất, các quy luật phát triển của xã hội sẽ dẫn đến chủ thể thực hiện pháp luật hiện sai lệch về kiến thức pháp học thực hiện sai các quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Tâm lí pháp luật là tổng thể những tình cảm, thói quen, thái độ đối với pháp luật của các chủ thể dưới ảnh hưởng và sự điều chỉnh của pháp luật. Tâm lý pháp luật của mỗi chủ thể là khác nhau và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch. Nếu chủ thể nhận thức được sự cần thiết của pháp luật về hộ tịch, tin tưởng ” vào sự công bằng, công lý, lợi ích của việc điều chỉnh pháp luật về hộ tịch họ sẽ – tự giác thực hiện pháp luật. Ngược lại, chủ thể miễn cưỡng chấp hành thì hiệu quả của việc thực hiện pháp luật sẽ không cao. Trong thực tế có những chủ thể do thiếu hiểu biết về pháp luật, không tôn trọng, bất chấp pháp luật nên dẫn đến vi phạm pháp luật.
Ý thức pháp luật là “hình thái ý thức xã hội, gồm những khái niệm, quan điểm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người biểu hiện ở thái độ, sự đánh giá của họ đối với pháp luật hiện hành, pháp chế, trật tự pháp luật, về tính không công bằng, hay công bằng, không đúng đắn hay đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, về hành vi vi phạm pháp luật, hành vi hợp pháp, của cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế” [13, tr382]. Đây là yếu tố có tác động ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về hộ tịch, được nhìn nhận từ ý thức chủ động, tự giác đăng ký hộ tịch của người dân và chủ thể có thẩm quyền đăng ký.
Như vậy, để thực hiện pháp luật hiệu quả thì việc nâng cao ý thức pháp luật của chủ thể là điều vô cùng quan trọng.
1.3.2 Chất lượng của văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch
Để pháp luật triển khai có hiệu quả trong thực tiễn thì các quy phạm pháp luật phải phù hợp với thực tế xã hội. Hiện nay hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý về hộ tịch đã cơ bản đáp ứng được với tình hình thực tiễn của xã hội. Pháp luật về hộ tịch là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về hộ tịch; bảo đảm minh bạch, công khai về thẩm quyền, thủ tục, trình tự, thời gian giải quyết đăng ký hộ tịch; tạo điều kiện thuận lợi cho công dân khi đăng ký hộ tịch; bảo đảm sự thống nhất trong việc thực hiện các văn bản về hộ tịch; quy định cụ thể quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Bên cạnh những mặt đạt được đó, pháp luật quản lý về hộ tịch ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập như: các quy định về quản lý hộ tịch còn tản mát trong nhiều văn bản khác nhau, gây khó khăn khi áp dụng để giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch của công dân. Cơ chế điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch vẫn mang tính bị động, giải quyết sự vụ, nhiều tình huống phát sinh trên thực tế chưa có quy phạm điều chỉnh, Bộ Tư pháp phải hướng dẫn các địa phương bằng công văn hướng dẫn nghiệp vụ.
Vì vậy, để pháp luật quản lý về hộ tịch được thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn thì văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch cần phải có chất lượng cao thể hiện ở tính thống nhất, đồng bộ trong nội dung của văn bản; phải phù hợp với thực tiễn, không chồng chéo, mâu thuẫn, phải có tính khả thi và đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về hộ tịch.
1.3.3 Công tác tổ chức bộ máy và công chức thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch.
Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước có tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch thể hiện qua các chính sách mà Nhà nước ban hành để có thể đăng ký đầy đủ, kịp thời, chính xác các sự kiện hộ tịch phát sinh. Công tác phổ biến, giáo dục, tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về hộ tịch cũng như trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch của các cơ quan tổ chức nhà nước khi xử lý phải kịp thời, nghiêm minh đối với mọi vi phạm pháp luật quản lý về hộ tịch chính là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch.
1.3.4 Kinh phí và cơ sở vật chất. Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về hộ tịch nói riêng đòi hỏi những điều kiện về cơ sở vật chất và kinh phí nhất định phục vụ triển khai tổ chức thực hiện từ khâu tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến các hoạt động phục vụ việc triển khai thực hiện pháp luật, kiểm tra, xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện. Để hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch nhất thiết phải đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất tương xứng với vai trò của nó trong công tác quản lý xã hội.
- Tiểu kết chương 1
Chương 1 luận văn đã làm rõ khái niệm được những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về hộ tịch; Khái niệm pháp luật về hộ tịch và thực hiện pháp luật về hộ tịch; làm rõ đặc điểm, hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch. Đặc biệt đã luận giải rõ nội dung cần giải quyết của thực hiện pháp luật về hộ tịch; xác định rõ vấn đề cốt lõi của đăng ký hộ tịch và quản lý hộ tịch, các văn bản hướng dẫn triển khai trong thực tế Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở phân tích có căn cứ khoa học những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về hộ tịch chương 1 đã đánh giá những yếu tố tác động đến chất lượng, hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch; những vấn đề cần bảo đảm để thực hiện tốt pháp luật về hộ tịch triển khai hoạt động trong thực tiễn, những vấn đề cần bổ sung hoàn thiện. Đây là cơ sở, căn cứ khoa học để đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh