Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về quản lý viên chức – Từ thực tiễn các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài luận văn

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang từng bước đổi mới, hoàn thiện, nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế. Đặc biệt là sau những thành tựu đạt được của 30 năm công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và khởi xướng; Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016 – 2021), hoạt động của Quốc hội, Chính phủ khóa XIV (2016 – 2021).

Quốc Hội đã thông qua nhiều văn bản luật điều chỉnh về cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 (ngày 13/11/2008), Luật Viên chức số 58/2010/QH12 (ngày 15/11/2010). Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quy định về công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên. Các cấp, các ngành đã tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về quản lý cán bộ, công chức, viên chức và đảng viên.

Có khoảng hơn 11 triệu cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam, đội ngũ này có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội. Hơn nữa, đất nước ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, yêu cầu xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đòi hỏi công tác quản lý phải được quan tâm một cách đúng mực. Một quốc gia muốn có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức mạnh, chuyên nghiệp thì không thể thiếu công tác quản lý khoa học, hiện đại và thống nhất. Đặc biệt là công tác quản lý đội ngũ viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, cần thiết phải có sự nghiên cứu về pháp luật quản lý viên chức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Các văn bản pháp luật về quản lý cán bộ, công chức, viên chức và công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức đã có nhiều đổi mới: công tác tuyển dụng được thực hiện thông qua kỳ thi, theo nguyên tắc cạnh tranh, khách quan, công khai; thi nâng ngạch; thi tuyển lãnh đạo; công tác đánh giá công chức, viên chức dựa trên kết quả công việc và gắn với thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu; thực hiện chế độ khen thưởng, kỷ luật và các quy định khác về quy trình trong công tác tổ chức cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức được coi trọng. Qua đó, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã từng bước được nâng cao, có phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp được thành lập trong giai đoạn chuyển tiếp pháp luật về quản lý viên chức từ Pháp lệnh cán bộ công chức sang Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

Vì lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật về quản lý viên chức – Từ thực tiễn các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp” làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Với tầm quan trọng của mình, nên cán bộ, công chức, viên chức và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là đề tài luôn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý và là đề tài được tổ chức nhiều tại các hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế. Các tạp chí chuyên ngành cũng có nhiều bài viết trao đổi về đề tài này. Tuy nhiên, về đối tượng là viên chức các công trình nghiên cứu, bài viết chỉ tập trung nghiên cứu về số lượng; chất lượng; hoạt động chuyên môn; những bất hợp lý trong pháp luật điều chỉnh về viên chức; các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức. Có thể kể ra các bài viết, công trình nghiên cứu như:

  • Nội dung cần có của Luật Viên chức qua bài viết: Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức, GS.TS. Phạm Hồng Thái;
  • Bàn luận một số nội dung về khái niệm viên chức, điều kiện, quy trình tuyển dụng viên chức, quyền và nghĩa vụ, đạo đức, văn hoá giao tiếp, những việc không được làm đối với viên chức: Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật Viên chức, Vũ Khoan – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ;
  • Khái niệm và phân loại viên chức, tính nghề nghiệp của viên chức, đạo đức nghề nghiệp của viên chức, thời giờ làm việc, tuổi tuyển dụng và tuổi nghỉ hưu của viên chức: Viên chức và những vấn đề cần chú ý khi xây dựng Luật Viên chức, Văn Tất Thu;
  • Yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ viên chức hiện nay, quan điểm và phương hướng đổi mới cơ chế quản lý viên chức: Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập, Trần Anh Tuấn;
  • Yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về viên chức: Pháp luật về viên chức và những đổi mới về phương thức, cơ chế quản lý viên chức, Ngô Tự Nam;
  • Các giải pháp thực hiện Luật Viên chức để nâng cao chất lượng phục vụ của đơn vị sự nghiệp: Thực hiện tốt Luật Viên chức để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao chất lượng phục vụ của khu vực sự nghiệp công lập, Trần Văn Tuấn;

Với mong muốn nghiên cứu sâu về những vấn đề liên quan tới pháp luật quản lý viên chức tại các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp, nhất là trong giai đoạn “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [8]. Hi vọng luận văn này sẽ có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu về pháp luật quản lý viên chức.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

  • Mục đích: Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Luận văn tập trung nghiên cứu và đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của pháp luật về quản lý viên chức tại các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp.

  • Nhiệm vụ:

Mục tiêu cụ thể

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về viên chức và quản lý viên chức.
  • Đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý viên chức ở các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp.
  • Đề xuất các giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý viên chức ở các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

  • Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận và thực tiễn pháp luật về quản lý viên chức ở các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp.

  • Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về quản lý viên chức làm việc tại các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

  • Trong luận văn, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ;
  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích, tổng hợp trong việc nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý viên chức, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập và tác động của cơ chế, pháp luật tới thực tiễn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn có những đóng góp sau:

  • Góp phần vào hệ thống hóa lý luận về đội ngũ viên chức và quản lý viên chức;
  • Góp phần vào đánh giá thực trạng quản lý viên chức ở các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp;
  • Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng quản lý viên chức ở các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn “Pháp luật về quản lý viên chức – Từ thực tiễn các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp”, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 03 chương:

  • Chương 1. Viên chức và quản lý viên chức
  • Chương 2. Thực trạng quản lý viên chức tại các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp hiện nay
  • Chương 3. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý viên chức tại các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp.

Chương 1 VIÊN CHỨC VÀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC

1.1. Viên chức

1.1.1. Khái niệm viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Pháp luật nước ta trong một thời gian dài đã không có sự phân biệt về cán bộ, công chức và viên chức. Chúng ta thường sử dụng cụm từ “cán bộ, công chức” để xác định trong trường hợp người này được bầu cử, phê chuẩn để đảm nhiệm chức vụ, chức danh trong bộ máy của Đảng, trong cơ quan nhà nước, trong tổ chức chính trị – xã hội theo nhiệm kỳ, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước là cán bộ; trong trường hợp được tuyển dụng, bổ nhiệm, giao giữ một chức vụ, chức danh gắn với trình độ đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, hoạt động thường xuyên trong bộ máy của Đảng, trong các cơ quan Nhà nước, trong tổ chức chính trị, xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước là công chức; nhưng họ được tuyển dụng hay giao giữ một công việc thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, của nhà nước, một phần từ nguồn thu của đơn vị sự nghiệp gọi là viên chức. Như vậy, có thể thấy pháp luật về viên chức ở nước ta là một bộ phận của pháp luật về cán bộ, công chức. Trong thời gian đó, ở nước ta không có sự phân biệt cán bộ, công chức, viên chức mà được nhập chung vào một nhóm gọi là “cán bộ, công chức, viên chức”.

Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 chưa quy định rõ thế nào là “cán bộ”, “công chức”, “viên chức”. Từ khi Luật Viên chức 2010 có hiệu lực (ngày 01/01/2012), Luật Cán bộ, công chức 2008 có hiệu lực (ngày 01/01/2010) đã quy định cụ thể thế nào là cán bộ, công chức và viên chức.

Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước đã đưa ra sự phân biệt giữa viên chức với cán bộ, công chức cùng được điều chỉnh trong Pháp lệnh cán bộ, công chức. Theo quy định của Nghị định này thì viên chức được hiểu là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Từ điển Tiếng Việt: “Viên chức là người làm việc trong một cơ quan của nhà nước hay trong một sở tư” [34, tr.1415].

  • Theo Từ điển Luật học:

Viên chức là người làm việc trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu từ đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật [33, tr.854].

Luật Viên chức 2010 đã đưa ra định nghĩa về viên chức như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [26].

Theo định nghĩa nêu trên, viên chức là công dân Việt Nam tức là người có quốc tịch Việt Nam; làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; có trình độ chuyên môn, năng lực phù hợp với vị trí việc làm.

Luật Viên chức cũng đã làm rõ khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức, xác định rõ các vấn đề chung nhất trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức: các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức; các nguyên tắc quản lý viên chức phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam và tính chất, đặc điểm lao động của viên chức.

Luật Viên chức đã làm rõ các khái niệm như vị trí việc làm, tuyển dụng, hợp đồng làm việc, đơn vị sự nghiệp công lập, quy tắc ứng xử,.. đặc biệt là “chức danh nghề nghiệp” của viên chức để phân biệt với “ngạch” của cán bộ, công chức.

“Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước; tổ chức chính trị; tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước” [26].

Đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Điều 9 Luật Viên chức 2010 được chia thành hai loại, là đơn vị sự nghiệp công được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp công chưa được giao quyền tự chủ. Như vậy, đơn vị sự nghiệp công lập có thể hoạt động như một doanh nghiệp, tự chịu trách nhiệm về dịch vụ do mình cung ứng nhưng không nhằm mục đích lợi nhuận. Với xu hướng xã hội hóa các dịch vụ công, các đơn vị sự nghiệp công lập có thể tự tìm kiếm nguồn tài chính để đầu tư cho sự phát triển của mình, bảo đảm cung ứng dịch vụ công ngày một tốt hơn. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Theo quy định của Luật Viên chức, vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp là căn cứ xác định chức vụ, trình độ, năng lực của viên chức. Để bảo đảm mọi chế độ, chính sách đối với viên chức phải căn cứ vào vị trí việc làm gắn với chức danh nghề nghiệp của viên chức.

Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập [26].

“Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ trong từng lĩnh vực ngành nghề hoạt động của viên chức” [26].

Trên thực tế, viên chức làm việc trong các lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho cộng đồng như y tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, thể dục, thể thao, giao thông công cộng, … đều có các chức danh nghề nghiệp như bác sĩ, giáo viên, giảng viên, vận động viên, đạo diễn …. Việc quy định vị trí làm việc gắn với chức danh nghề nghiệp theo quy định của Luật Viên chức đã thể hiện rõ đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức. Việc xác định ai ở vị trí làm việc nào, thuộc chức danh nghề nghiệp nào sẽ được thể hiện trong hợp đồng lao động. Việc sử dụng khái niệm “chức danh nghề nghiệp” thay cho khái niệm “ngạch” đã thể hiện sự khác nhau giữa viên chức và công chức trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp.

1.1.2. Đặc điểm của viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

  • Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức 2010, viên chức có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Là công dân Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Hiến pháp 2013 “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Viêt Nam” [25]. Người được xác định có quốc tịch Việt Nam (là công dân Việt Nam) theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam.

Được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Thông qua hoạt động tuyển dụng (thi tuyển hoặc xét tuyển), người trúng tuyển viên chức được đơn vị sự nghiệp công lập ký hợp đồng làm việc. Thời hạn, nội dung và hình thức của hợp đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật. Công việc hoặc nhiệm vụ được giao phù hợp với vị trí việc làm tuyển dụng, chức danh nghề nghiệp mà viên chức được bổ nhiệm.

Hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền thành lập nhằm cung cấp dịch vụ công và phục vụ quản lý nhà nước, nên hoạt động của đơn vị này phải theo quy định của nhà nước. Lương, các chế độ chính sách đối với viên chức phải được thực hiện theo quy định chung của nhà nước.

Với những đặc điểm nêu trên, Luật Viên chức 2010 đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp và tiền lương được hưởng từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.

1.1.3. Phân loại viên chức

Theo Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước thì viên chức được phân loại theo trình độ đào tạo, theo ngạch viên chức hoặc vị trí công tác, mỗi loại viên chức có các yêu cầu, tiêu chuẩn riêng. Điều 4 của Nghị định đã phân loại viên chức như sau:

Theo trình độ đào tạo, viên chức có các loại: Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

  • Viên chức loại A: yêu cầu chuẩn là trình độ giáo dục đại học trở lên thì được bổ nhiệm vào ngạch;
  • Viên chức loại B: yêu cầu chuẩn là trình độ giáo dục nghề nghiệp thì được bổ nhiệm vào ngạch;
  • Viên chức loại C: yêu cầu chuẩn là trình độ dưới giáo dục nghề nghiệp thì được bổ nhiệm vào ngạch.

Theo ngạch viên chức, viên chức có các ngạch sau:

  • Tương đương với ngạch chuyên viên cao cấp trở lên;
  • Tương đương ngạch chuyên viên chính;
  • Tương đương ngạch chuyên viên;
  • Tương đương ngạch cán sự;
  • Nhân viên.

Theo vị trí công tác, viên chức được phân thành hai loại là viên chức lãnh đạo và viên chức chuyên môn nghiệp vụ.

Theo quy định hiện hành, tại Điều 3 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Viên chức được phân loại như sau:

  • Theo vị trí việc làm, viên chức có 02 loại:

Viên chức quản lý là “người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý” [26]. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Viên chức không giữ chức vụ quản lý bao gồm những người chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau: Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I, II, III, IV.

Tùy vào từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của viên chức mà tiêu chuẩn của từng hạng chức danh nghề nghiệp sẽ khác nhau.

Ví dụ: Điều 4 Thông tư liên tịch số 21/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16 tháng 9 năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học công lập, đã quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp Giáo viên tiểu học hạng II gồm những nhiệm vụ phải thực hiện; tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên.

Tại điểm a, khoản 1, Điều 9 Thông tư cũng quy định: “Chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học hạng II được áp dụng hệ số lương viên chức loại A1 (từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98)” [9].

1.1.4. Hoạt động nghề nghiệp của viên chức

Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ, vì vậy, Luật Viên chức 2010 đã làm rõ hoạt động nghề nghiệp của viên chức như sau:

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan [26]. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Từ định nghĩa trên ta thấy, hoạt động nghề nghiệp của viên chức mang tính phục vụ, không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm cung cấp các nhu cầu cơ bản, thiết yếu cho người dân trong các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe, giáo dục, môi trường, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, lao động việc làm, an sinh xã hội, thông tin và truyền thông, … Hoạt động nghề nghiệp của viên chức có các đặc điểm sau:

Là hoạt động phục vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản, thiết yếu để duy trì và phát triển con người. Xã hội càng phát triển, những nhu cầu của con người ngày càng cao, nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo và cung cấp tốt các nhu cầu này để phục vụ người dân. Hoạt động nghề nghiệp của viên chức liên quan đến một số lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, vệ sinh môi trường, việc làm, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, an sinh xã hội, …

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức được thực hiện trong các lĩnh vực có tính chất chuyên môn sâu, theo các tiêu chuẩn nhất định. Mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp cung cấp một loại nhu cầu cơ bản, thiết yếu. Ví dụ: bệnh viện đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh; trường học đáp ứng nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao dân trí; viện nghiên cứu đáp ứng nhu cầu về nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, …

Là hoạt động vì cộng đồng, cung cấp cho người dân và cộng đồng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, vệ sinh môi trường, văn hóa, nghệ thuật, … Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Là hoạt động mang tính nghề nghiệp cao nên có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ. Để đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp, phù hợp với công việc hoặc nhiệm vụ được giao, viên chức phải trải qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng và được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp có tính năng khiếu như: văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao thì năng khiếu, tố chất và tài năng bẩm sinh là yếu tố cần thiết, văn bằng, chứng chỉ không phải là yêu cầu quan trọng. Còn một số ngành, lĩnh vực như nghiên cứu, đào tạo thì người có trình độ, có kinh nghiệm có thể cống hiến, sáng tạo và đòi hỏi phải có văn bằng, chứng chỉ.

Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của viên chức, tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp phải được đề cao vì “hoạt động nghề nghiệp của viên chức tác động đến sự phát triển của thể lực, trí lực và đời sống tinh thần. Ví dụ, trong ngành y tế có quy định về y đức; trong ngành giáo dục có quy định về đạo đức nhà giáo, …” [1].

Viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức cung cấp dịch vụ công và phục vụ quản lý nhà nước. Vì vậy, các quyền và nghĩa vụ của viên chức được pháp luật quy định. Do đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức là hoạt động mang tính chuyên môn nghiệp vụ, có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng riêng nên Luật Viên chức 2010 đã quy định các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp buộc viên chức phải tuân theo và chịu trách nhiệm trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp; các quyền và nghĩa vụ của viên chức được quy định theo hướng mở nhằm tạo điều kiện cho viên chức có thể phát huy tài năng, sức sáng tạo, khả năng cống hiến của mình và được hưởng các chế độ, chính sách đặc thù trong các lĩnh vực hoạt động đặc thù theo quy định của pháp luật. Ngoài các quyền được quy định chung như cán bộ, công chức (các quyền và các chế độ liên quan đến tiền lương, nghỉ ngơi được đảm bảo thực hiện theo quy định của pháp luật như chế độ xét nâng bậc lương, hưởng các phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp chức vụ, nghỉ lễ, tết, nghỉ phép, …), viên chức còn có các quyền như sau:

  • Quyền về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định (Điều 14). Với quy định này, viên chức có điều kiện phát huy tài năng, năng khiếu của mình, mặt khác còn tăng thêm kinh nghiệm làm việc, thu nhập, cải thiện cuộc sống.
  • Các quyền khác của viên chức (Điều 15), viên chức có đóng góp cho sự phát triển của đơn vị sự nghiệp, xã hội sẽ được khen thưởng, tôn vinh, được tạo điều kiện trong học tập, hưởng các chính sách ưu đãi về nhà ở, …

Cùng với việc quy định các quyền của viên chức, Luật Viên chức 2010 cũng đã quy định các nghĩa vụ của viên chức phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức. Các nghĩa vụ của viên chức gồm:

  • Nghĩa vụ chung của viên chức (Điều 16), cũng giống cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ công vụ hay tham gia nền công vụ cũng có nghĩa vụ phải thực hiện. Viên chức khi thực hiện nhiệm vụ hoặc công việc phải tuân thủ pháp luật, thực hiện nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; thực hiện các quy định về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong ngành, lĩnh vực hoạt động, … Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.
  • Trong hoạt động nghề nghiệp, viên chức cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 17) như là đảm bảo thời gian và chất lượng của công việc; sự phối hợp với đồng nghiệp trong việc thực hiện công việc, thái độ khi giao tiếp, làm việc với nhân dân; …
  • Ngoài các nghĩa vụ chung, viên chức quản lý còn phải thực hiện các nghĩa vụ theo đúng chức trách, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được giao; giữ gìn sự đoàn kết của đơn vị; … (Điều 18).
  • Là cán bộ, công chức hay là viên chức trong quá trình làm việc, thực hiện nhiệm vụ phải tuân thủ quy định của pháp luật, không được làm những việc mà pháp luật quy định không được làm. Điều 19 Luật Viên chức quy định những việc viên chức không được làm, nếu viên chức vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

1.2. Quản lý viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

1.2.1. Khái niệm quản lý

Nói đến quản lý là nói đến sự tác động có ý thức của con người lên một hệ thống nào đó nhằm đạt được mục đích nhất định. Quản lý xuất hiện khi có hoạt động lao động của con người. Trong quá trình lao động sản xuất, con người thấy cần thiết phải có sự quản lý để các hoạt động của con người có tổ chức hơn, chặt chẽ hơn, gắn kết với nhau hơn.

Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ những góc độ khác nhau và đưa ra định nghĩa riêng về quản lý, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.

  • Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) được coi là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, ông cho rằng quản lý là hoàn thành công việc và biết chính xác giá trị của công việc đó.
  • Theo Henrry Fayol (1841 – 1925), là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình, ông là người có ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận – hiện đại. Ông cho rằng quản lý là một tiến trình, nó bao gồm các khâu như lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát nhằm đạt được mục tiêu đề ra; và ông đã nêu ra 5 chức năng của quản lý là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, phối hợp và kiểm tra. Quản lý chính là thực hiện 5 chức năng trên.
  • Peter Ferdinand Drucker (1909 – 2005), ông được coi là cha đẻ của ngành Quản trị kinh doanh hiện đại: “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích” [19].
  • Theo điều khiển học, quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc để cho hệ thống hay quá trình ấy vận hành theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đặt ra. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.
  • Theo Mác, mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua điều khiển của con người. Ông viết:

Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [12, tr.480].

  • Mác đã coi “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [13, tr. 29 – 30].

Như vậy, ở đâu có sự hợp tác của nhiều người, ở đó cần có quản lý, bởi vì hoạt động chung của nhiều người đòi hỏi phải được liên kết lại dưới nhiều hình thức, có thể là tổ chức, nhóm, tổ, hội, đội, …

  • Lênin đã viết: “Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn” [35, tr.473].

Xét về góc độ ngôn ngữ, nghĩa của từ “quản lý” còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau:

  • Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [32, tr.15].
  • “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức” [32, tr.15].
  • Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [34, tr.1013].
  • Từ điển Luật học: “Quản lý là tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định” [33, tr.633].

Từ những quan niệm trên cho thấy, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, điều khiển, chỉ đạo hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết trong một tổ chức để gắn kết con người lại với nhau. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh của các cá nhân với nhau trong một tổ chức, có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức, xã hội. Quản lý tốt thì xã hội phát triển, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Quản lý là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý càng lớn, nội dung và phạm vi quản lý càng phong phú, phức tạp hơn.

1.2.2. Khái niệm quản lý nhà nước Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, bởi vì các hoạt động của xã hội đều do nhà nước quản lý. Quản lý nhà nước là tổng thể các thể chế, tổ chức bộ máy nhà nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nói đến quản lý nhà nước là nói đến quyền lực nhà nước.

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa [21, tr.407].

  • “Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước” [31, tr.11].
  • “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi” [33, tr.633].
  • “Quản lý nhà nước là tổ chức điều hành các hoạt động kinh tế – xã hội theo pháp luật” [34, tr.1013].

Như vậy, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

Quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động của bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp, từ việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đến việc chỉ đạo và đảm bảo cho văn bản đó được thực hiện trên thực tế, đến việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích của các đối tượng khi tham gia các hoạt động xã hội. “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [25].

1.2.3. Khái niệm quản lý viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Luật viên chức quy định các nội dung quản lý viên chức: Một trong các nguyên tắc được nhấn mạnh để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức là: “Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc” [26]. Đây là nguyên tắc đặt nền móng để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức theo chế độ việc làm, nhấn mạnh năng lực, tài năng bên cạnh phẩm chất và trình độ. Luật đề cao và gắn thẩm quyền với trách nhịêm người đứng đầu trong vấn đề xác định số lượng vị trí việc làm, số lựơng viên chức và quản lý viên chức để phát huy tính ṭư chủ, ṭư chịu trách nhịêm của đơn vị ṣư nghịêp công ḷâp, góp phần đẩy mạnh cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công. Thống nhất quản lý nhà nước về đội ngũ viên chức, đồng thời đẩy ṃanh phân công, phân cấp quản lý viên chức. Ưu tiên người có tài năng trong tuyển dụng viên chức. Vịêc tuyển dụng đựơc thực hịên thông qua các hình thức thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp giữa thi tuyển và xét tuyển, gắn với thẩm quyền của người đứng đầu đơn vị ṣư nghịêp công lập. Đặc biệt, người Vịêt Nam định cư ở nước ngoài nhưng chưa thôi quốc ṭich Vịêt Nam, nếu đủ các tiêu chuẩn, điều kịên do Chính phủ quy định cũng đựơc đăng ký dự tuyển vào viên chức.

Để bảo đảm tính thống nhất trong quản lý viên chức, Luật Viên chức quy định rất rõ ràng vấn đề này. Việc quản lý thực hiện theo quy định tại Chương IV của Luật Viên chức về quản lý viên chức: Chính phủ thống nhất quản lý – nghĩa là các quy định cụ thể về tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, … đối với những người được xác định là viên chức, đều được thống nhất quản lý và thực hiện theo các quy định của Chính phủ. Bộ Nội vụ, các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về viên chức theo sự phân công, phân cấp về quản lý viên chức.

Quản lý viên chức là quản lý nhà nước về viên chức, phân định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các cấp trong thực hiện quản lý nhà nước về viên chức (Điều 47 Luật Viên chức), bao gồm:

Thứ nhất, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về viên chức. Đây là nội dung nhằm bảo đảm về việc xây dựng thể chế quản lý nhà nước về viên chức, là công cụ để nhà nước quản lý về viên chức.

Thứ hai, xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức. Thực hiện theo dõi, thống kê, cung cấp thông tin về viên chức; xây dựng kế hoạch, quy hoạch về đội ngũ viên chức, đào tạo, bồi dưỡng viên chức; ban hành quy định danh mục, tiêu chuẩn và mã số chức danh nghề nghiệp viên chức; quản lý hồ sơ viên chức.

Thứ ba, nhằm đảm bảo ổn định và duy trì hoạt động lao động của viên chức, phải tiến hành công tác kiểm tra, thanh tra việc quản lý nhà nước về viên chức, báo cáo về đội ngũ viên chức.

1.3. Pháp luật về quản lý viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

1.3.1. Khái niệm pháp luật

Qua quá trình lao động, con người sáng tạo ra ngôn ngữ. Trong đời sống hàng ngày, con người giao tiếp với nhau sẽ hình thành thói quen, các thói quen dần hình thành các quy tắc, các chuẩn mực trong ứng xử của cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận và các thành viên trong cộng đồng phải tuân thủ, pháp luật được hình thành. Pháp luật là công cụ được nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của con người khi tham gia vào các quan hệ xã hội nhất định.

Nhà nước và pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó chặt chẽ và ràng buộc lẫn nhau. Nhà nước cần có pháp luật để thể hiện ý chí của mình, để tổ chức bộ máy và quản lý xã hội. Còn pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, được nhà nước bảo đảm thực hiện, tồn tại cùng với nhà nước thì pháp luật mới phát huy được vai trò của mình.

Montesquieu quan niệm: “Luật, theo nghĩa rộng nhất là những quan hệ tất yếu từ trong bản chất của sự vật. Với nghĩa này thì mọi vật đều có luật của nó. Thế giới thần linh, thế giới vật chất, những trí tuệ siêu việt, cho đến các loài vật và loài người đều có luật của mình” [23, tr.39].

Theo Heghen (1770 – 1831): “Pháp luật là ở chỗ tồn tại hiện có của ý chí tự do, do vậy pháp luật là tự do nói chung như ý niệm” [20, tr.35]. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Jean Jacques Rousseau (1712 – 1778): “chỉ có một đạo luật duy nhất đòi hỏi phải được sự đồng ý của tất cả mọi người, đó là công ước xã hội” [22, tr.51].

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội (của giai cấp thống trị trong các nhà nước bóc lột [33, tr.606].

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về pháp luật, nhưng tựu chung lại pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể.

Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước, nhà nước có thể trao quyền cho các tập thể, cá nhân tiến hành hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật.

1.3.2. Khái niệm pháp luật về quản lý viên chức

Quản lý nhà nước về viên chức là một trong những hoạt động quản lý của nhà nước, thông qua việc quản lý về viên chức, nhà nước nắm được tình hình biến động, chất lượng, số lượng của đội ngũ viên chức.

Pháp luật về quản lý viên chức là tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm hoạt động như: xây dựng vị trí việc làm, tuyển dụng, sử dụng, quản lý, quyền, nghĩa vụ của viên chức, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật viên chức, đào tạo bồi dưỡng, thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức, … trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Pháp luật về quản lý viên chức là lĩnh vực pháp luật có tính chất liên ngành được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Hiến pháp, luật, bộ luật, nghị định, … điều chỉnh nhiều nhóm hoạt động của viên chức, nhưng các nhóm hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng bổ trợ cho nhau, có khi đan xen lẫn nhau. Mỗi nhóm lại được quy định theo một trình tự nhất định nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc trong quản lý viên chức.

1.3.3. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Như đã đề cập ở trên, pháp luật về quản lý viên chức tuy được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau quy định về các hoạt động như: xây dựng vị trí việc làm, tuyển dụng, sử dụng, quản lý, quyền, nghĩa vụ của viên chức, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật viên chức, đào tạo bồi dưỡng, thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức, … trong đơn vị sự nghiệp công lập. Nhưng các nhóm hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng bổ trợ cho nhau, có khi đan xen lẫn nhau.

Hình thành đơn vị sự nghiệp công lập, đồng hành với việc xây dựng bộ máy nhân sự để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập, là việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ cung cấp dịch vụ công, quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và nhiều vấn đề khác liên quan đến hoạt động của viên chức, đơn vị sự nghiệp công lập.

Dựa vào các quan hệ được điều chỉnh bởi pháp luật về quản lý viên chức, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn của pháp luật có thể xác định nội dung của pháp luật về quản lý viên chức gồm những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, về xác lập dịch vụ công ở các lĩnh vực giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác.

Thứ hai, các quy định liên quan đến điều kiện, thẩm quyền tuyển dụng; nội dung, hình thức tuyển dụng; trình tự, thủ tục tuyển dụng để lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Thứ ba, liên quan đến quản lý, sử dụng viên chức là việc phân công nhiệm vụ, biệt phái, bổ nhiệm, miễn nhiệm viên chức; thay đổi chức danh nghề nghiệp viên chức, … Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Thứ tư, các quyền và nghĩa vụ của viên chức về hoạt động nghề nghiệp, chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách liên quan,….

Thứ năm, liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá viên chức với các nội dung liên quan đến đánh giá viên chức làm căn cứ tiếp tục bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức.

Thứ sáu, liên quan đến kỷ luật viên chức, viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu hình thức kỷ luật theo quy định của pháp luật, ngoài ra còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan.

Thứ bảy, liên quan đến việc khen thưởng viên chức, viên chức có công trạng, thành tích và cống hiến trong công tác, hoạt động nghề nghiệp thì được khen thưởng, tôn vinh theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và được xét nâng lương trước thời hạn, nâng lương vượt bậc theo quy định.

Thứ tám, liên quan đến hợp đồng làm việc của viên chức, tập sự viên chức gồm các quy định liên quan đến quá trình người được tuyển dụng vào viên chức làm quen với môi trường công tác và tập làm những công việc của vị trí việc làm gắn với chức danh nghề nghiệp sẽ được bổ nhiệm được quy định trong hợp đồng làm việc, …

1.4. Một số văn bản điều chỉnh pháp luật về quản lý viên chức hiện nay Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Như phần trên đã phân tích, pháp luật về quản lý viên chức là tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm hoạt động như: xây dựng vị trí việc làm, tuyển dụng, sử dụng, quản lý, quyền, nghĩa vụ của viên chức, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật viên chức, đào tạo bồi dưỡng, thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức, … trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Văn bản đầu tiên, có giá trị pháp lý tối cao là Hiến pháp, là cơ sở cho việc hình thành pháp luật về quản lý viên chức. Hiến pháp 2013 đã quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, quyền của công dân, … Đây được xem như là bộ quy tắc ứng xử, quy định tiêu chuẩn, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức “phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” [25].

Luật Viên chức được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 ngày 15/11/2010 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012. Luật gồm 11 chương, 62 điều “quy định về viên chức; quyền, nghĩa vụ của viên chức; tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” [25]. Luật Viên chức được coi là văn bản trực tiếp và quan trọng nhất liên quan đến mọi mặt của viên chức: xác định phạm vi điều chỉnh; các quyền, nghĩa vụ của viên chức; quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức, …

Nghị định của Chính phủ điều chỉnh các mặt cụ thể của hoạt động viên chức như: tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp, … Bộ Nội vụ là cơ quan trực thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về viên chức, ban hành các văn bản quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm, bậc lương, … Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý viên chức phải đảm bảo 4 nguyên tắc trong quản lý viên chức:

  1. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự thống nhất quản lý của Nhà nước.
  2. Bảo đảm quyền chủ động và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
  3. Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc.
  4. Thực hiện bình đẳng giới, các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với viên chức là người có tài năng, người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và các chính sách ưu đãi khác của Nhà nước đối với viên chức [26].

Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý viên chức gồm:

  • Luật Viên chức năm 2010;
  • Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức;
  • Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;
  • Thông tư 12/2012/TT-BNV ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức;
  • Thông tư 19/2014/TT-BNV ngày 04 tháng 12 năm 2014 của Bộ Nội vụ hướng dẫn công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức;
  • Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập; Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.
  • Thông tư số 11/2010/TTLT-BTP-BNV ngày 17 tháng 6 năm 2010 của Liên Bộ Tư pháp – Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, quản lý và sử dụng viên chức đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Tư pháp;
  • Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15 tháng 4 năm 2009 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo;
  • Thông tư số 22/2014/TT-BGDĐT ngày 09 tháng 7 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo trung cấp chuyên nghiệp;
  • Thông tư số 16/2010/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về chương trình khung trung cấp chuyên nghiệp;
  • Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức;
  • Thông tư 04/2015/TT-BNV ngày 31 tháng 8 năm 2015 của Bộ Nội vụ ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức;
  • Thông tư số 16/2012/TT-BNV ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ ban hành quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức;
  • Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị nghiệp công lập; Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.
  • Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 06 năm 2015 của Chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức;
  • Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế.

Các văn bản quy phạm pháp luật bước đầu đã đáp ứng và tạo nền tảng pháp lý đẩy mạnh hoạt động quản lý nhà nước mang lại hiệu quả, tạo tiền đề cho sự phát triển của công tác đào tạo, bồi dưỡng ở các đơn vị sự nghiệp công lập, là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đội ngũ viên chức. Qua việc xem xét một cách khái quát các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức cho thấy pháp luật về quản lý viên chức có các đặc điểm sau:

  • Là lĩnh vực pháp luật liên ngành, được quy định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, ngoài việc được quy định trong Hiến pháp, Luật Viên chức và các nghị định về viên chức, ta còn thấy sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau như trong Bộ Luật lao động (hợp đồng làm việc, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, …), Luật bảo hiểm xã hội (quy định về việc đóng bảo hiểm, chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, …), Luật Hình sự, …
  • Luôn có sự thay đổi, có sự phân biệt giữa các nhóm viên chức.
  • Kịp thời xây dựng các quy định điều chỉnh phù hợp với hoạt động nghề nghiệp của viên chức: tiêu chuẩn vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp.
  • Công tác tổ chức đội ngũ viên chức có chất lượng, tính chuyên nghiệp cao, đảm bảo các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức và quản lý viên chức.

Theo quy định tại Điều 2, Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức nếu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này.

Theo đó, những người trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại khoản 1, khoản 4, khoản 5, Điều 11 Nghị định nêu trên là công chức. Vì vậy, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường trung cấp luật là công chức vì các trường trung cấp luật là đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc Bộ Tư pháp.

1.4.1. Những quy định về tuyển dụng viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Với ý nghĩa là lựa chọn người để làm việc, đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực của một tổ chức nên hoạt động tuyển dụng mang tính cạnh tranh cao, không chỉ có sự cạnh tranh giữa những người tham gia tuyển dụng mà còn có sự cạnh tranh giữa các tổ chức trong việc tuyển dụng người làm việc. Chất lượng nguồn nhân lực có tính chất quyết định đến hiệu quả hoạt động của một tổ chức. Vì vậy, các đơn vị tuyển dụng sẽ đưa ra các yêu cầu để lựa chọn được những người có trình độ chuyên môn, có năng lực làm việc, phẩm chất đạo đức phù hợp với vị trí việc làm.

Tuyển dụng là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý hoạt động có tính quyết định cho sự phát triển của mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị. Các đơn vị sự nghiệp công lập cũng vậy, việc tuyển dụng viên chức có tính quyết định cho sự phát triển của đơn vị. Việc tuyển dụng được những viên chức giỏi thì hoạt động của đơn vị sẽ đạt hiệu quả cao. Theo quy định của Luật Viên chức, việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế, thông qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển, theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh. Hình thức thi, nội dung thi phải phù hợp với ngành nghề, đảm bảo lựa chọn được những người có phẩm chất, có trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng. Luật cũng quy định hình thức tuyển dụng qua xét tuyển với các trường hợp đặc biệt.

Luật Viên chức 2010, đã đưa ra khái niệm về tuyển dụng viên chức như sau: “Tuyển dụng là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập” [26]. Để được làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập, người được tuyển dụng phải có phẩm chất đạo đức, có trình độ và năng lực để đảm nhiệm công việc.

Việc tuyển dụng viên chức phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện, hình thức, nội dung tuyển dụng nhằm đảm bảo các nguyên tắc trong tuyển dụng, phải thực sự xuất phát từ nhu cầu công việc, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp mà viên chức đảm nhận, quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Công việc mà viên chức đảm nhận phải phù hợp với vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp của đơn vị. Như vậy, giữa việc tuyển dụng viên chức và xây dựng vị trí việc làm có mối liên hệ với nhau, danh mục vị trí việc làm là bản mô tả công việc của mỗi vị trí chức danh với những nhiệm vụ cụ thể, chi tiết, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc, các ứng xử cần thiết cho yêu cầu vị trí việc làm đó. Xây dựng danh mục vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp làm cơ sở để tuyển dụng đúng người, đúng việc, đúng số lượng, đảm bảo cơ cấu hợp lý.

Ngoài các điều kiện theo quy định của pháp luật, người tham gia dự tuyển viên chức phải đáp ứng thêm những điều kiện mà đơn vị sự nghiệp công lập đặt ra. Các điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức được thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Viên chức và Điều 4 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức.

Thứ nhất, người được tuyển dụng phải có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam vì hoạt động nghề nghiệp của viên chức là thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập, phục vụ quản lý nhà nước. Điều kiện trên nhằm đảm bảo cho hoạt động quản lý của nhà nước: hộ khẩu thường trú, tạm trú, chứng minh nhân dân, giấy khai sinh,…

Thứ hai, người được tuyển dụng phải đạt một độ tuổi nhất định (từ 18 tuổi trở lên). Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực hoạt động tuổi dự tuyển có thể thấp hơn: văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, … Nhưng phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật. Quy định này nhằm đảm bảo khả năng thực hiện công việc và chịu trách nhiệm về hành vi của mình (trách nhiệm pháp lý). Quy định về độ tuổi dự tuyển để tạo mặt bằng chung, bảo đảm khả năng làm việc của viên chức.

Thứ ba, có nguyện vọng làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thể hiện qua đơn đăng ký dự tuyển, mẫu đơn đăng ký dự tuyển theo Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Thứ tư, phải có lý lịch rõ ràng, giúp đơn vị sự nghiệp công lập có thể biết được những thông tin cơ bản của người đăng ký dự tuyển như: gia đình, quá trình học tập, công tác, … Làm cơ sở cho việc quản lý viên chức. Lý lịch phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận trong thời hạn 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển.

Thứ năm, có trình độ chuyên môn, kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm. Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Mang tính nghề nghiệp cao nên có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ đối với người đăng ký dự tuyển viên chức. Thể hiện qua các văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề được các cơ sở giáo dục, đào tạo cấp hoặc năng khiếu, kỹ năng đặc biệt phù hợp với vị trí việc làm.

Thứ sáu, hoạt động nghề nghiệp của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp dịch vụ công và phục vụ quản lý nhà nước nên yêu cầu đối với người tham gia dự tuyển viên chức phải có đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện công việc, nhiệm vụ. Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, không có sức khỏe thì không thể lao động có hiệu quả, vì vậy thể lực có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động nghề nghiệp cũng như hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của viên chức sau này. Người đăng ký dự tuyển viên chức phải có giấy chứng nhận sức khỏe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng theo quy định tại Thông tư số 13/2007/TT-BYT ngày 21/11/2007 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn khám sức khỏe.

Thứ bảy, ngoài ra, đơn vị sự nghiệp công lập có thể đặt ra các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm nhưng không được trái với quy định của pháp luật như về ngoại hình, giọng nói, … Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Thứ tám, để được hưởng quyền lợi ưu tiên trong tuyển dụng viên chức theo quy định của pháp luật, người tham gia dự tuyển viên chức phải cung cấp giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên (nếu có) do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực.

Ngoài ra việc tuyển dụng viên chức phải được thực hiện theo một trình tự nhất định, theo quy định của pháp luật. Hiện nay, công tác tuyển dụng viên chức được thực hiện theo Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức.

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức liên quan đến sức khỏe, văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao, … Là những lĩnh vực luôn được xã hội quan tâm nên quá trình sàng lọc, lựa chọn người để làm việc là những người phải có phẩm chất, trình độ và năng lực. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để lựa chọn người làm việc là người đăng ký dự tuyển viên chức phải có trình độ chuyên môn phù hợp với vị trí việc làm, phải có tư cách đạo đức tốt, khả năng giải quyết công việc được giao.

Hiện nay, việc quản lý viên chức được thực hiện theo quy định của Luật Viên chức năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tuân theo trình tự nhất định. Việc tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng viên chức theo quy định của Luật Viên chức đã thể hiện tinh thần đổi mới theo hướng phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong công tác tuyển dụng; lập kế hoạch, chỉ tiêu, nội dung, hình thức thi tuyển, Nhà nước chỉ quy định tiêu chuẩn, điều kiện chung đối với từng ngành, lĩnh vực sự nghiệp.

Quy trình tuyển dụng viên chức được công khai ở đơn vị tuyển dụng, quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng chủ thể trong quá trình thực hiện tuyển dụng. Quy chế tuyển dụng được công khai, dân chủ, khách quan đánh giá người được tuyển dụng, tạo điều kiện cho người có trình độ, năng lực làm đúng ngành nghề đào tạo, đúng vị trí việc làm.

Trên cơ sở quy định của Luật Viên chức năm 2010 và các quy định của chính phủ, Bộ Nội vụ về tuyển dụng viên chức, các Bộ, ngành đều có văn bản cụ thể hóa quy định về phân cấp tuyển dụng phù hợp với đặc điểm, tình hình của cơ quan, đơn vị mình. Trong quá trình tổ chức tuyển dụng viên chức, các đơn vị đều xây dựng kế hoạch cụ thể, bảo đảm nguyên tắc, quy trình tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định. Việc tổ chức thi tuyển, xét tuyển viên chức đã từng bước đi vào nề nếp.

Việc phân cấp thẩm quyền tuyển dụng viên chức đã gắn với thẩm quyền sử dụng, trao quyền nhiều hơn cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức tuyển dụng viên chức gắn với vị trí việc làm và cơ cấu chức danh nghề nghiệp của viên chức ở các cơ quan, đơn vị.

Có thể nhận thấy các quy định về tuyển dụng viên chức ở nước ta đã có những thay đổi rất lớn từ việc quy định hình thức xét tuyển là phổ biến chuyển sang quy định hình thức thi tuyển là phổ biến, đã có sự phân biệt giữa tuyển dụng công chức với viên chức. Tuy nhiên, các quy định hiện hành về tuyển dụng vẫn chưa tạo được sự thu hút rộng rãi sự tham gia của công dân vào tuyển dụng; tính cạnh tranh, khách quan, công bằng trong tuyển dụng chưa cao. Bên cạnh đó việc tổ chức thực hiện trên thực tế còn chưa nghiêm, còn có hiện tượng tiêu cực trong quá trình thi tuyển, tạo ra một tâm lý cho xã hội thi tuyển viên chức chỉ là hình thức. Vì vậy, để tuyển dụng những người thật sự có tâm, có tài cho đội ngũ viên chức, cần phải thực hiện các quy định hiện hành về thi tuyển viên chức một cách công bằng, nghiêm minh. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Nếu như việc tuyển dụng công chức căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế thì với viên chức có sự khác biệt rõ nét. Đó là căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Trong tuyển dụng, viên chức có thể được thực hiện theo hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển. Song đối với công chức cơ bản là thực hiện theo hình thức thi tuyển. Tuổi tuyển dụng viên chức quy định chung là phải đủ 18 tuổi trở lên. Song đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật. Việc tuyển dụng, sử dụng và cơ chế quản lý viên chức theo chế độ việc làm, nhấn mạnh năng lực, tài năng bên cạnh phẩm chất, trình độ. Luật quy định về chế định hợp đồng làm việc gồm các quy định về các loại hợp đồng làm việc, nội dung và hình thức hợp đồng làm việc, chế độ tập sự và việc thay đổi nội dung, ký kết tiếp, tạm hoãn chấm dứt hợp đồng làm việc…

1.4.2. Những quy định về sử dụng và quản lý viên chức

Luật Viên chức đã trao quyền, tạo thế chủ động cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong việc thực hiện các nội dung quản lý viên chức như xây dựng vị trí việc làm; tuyển dụng viên chức; ký hợp đồng làm việc; bổ nhiệm, thay đổi chức danh nghề nghiệp; thay đổi vị trí việc làm, biệt phái, chấm dứt hợp đồng làm việc, giải quyết chế độ thôi việc; bổ nhiệm, miễn nhiệm viên chức quản lý, sắp xếp, bố trí và sử dụng viên chức theo nhu cầu công việc; thực hiện việc đánh giá, khen thưởng, kỷ luật viên chức; thực hiện chế độ tiền lương, các chính sách đãi ngộ, … (khoản 1 Điều 48).

Một trong các nguyên tắc được nhấn mạnh để thực hiện cơ chế quản lý viên chức là: “Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc” [26]. Đây là nguyên tắc làm nền móng để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức theo chế độ hợp đồng làm việc, nhấn mạnh năng lực, tài năng bên cạnh phẩm chất và trình độ chuyên môn của viên chức. Luật đề cao trách nhịêm của người đứng đầu trong xác định số lựơng vị trí vịêc làm, số lựơng viên chức và quản lý viên chức để phát huy tính ṭư chủ, ṭư chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập. Thống nhất quản lý nhà nước về đội ngũ viên chức, đồng thời đẩy ṃanh phân công, phân cấp quản lý viên chức. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Các nội dung quản lý viên chức có sự đổi mới:

  • Việc xây dựng vị trí việc làm phải gắn với chức danh nghề nghiệp mà viên chức đảm nhiệm, phù hơp với lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp.
  • Nội dung đánh giá viên chức gắn với kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết, quy định về đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của viên chức, các nghĩa vụ mà viên chức phải thực hiện, …
  • Nội dung liên quan đến hợp đồng làm vịêc như: phân loại hợp đồng làm việc; vịêc áp dụng hợp đồng làm vịêc, nội dung của hợp đồng làm vịêc; chế độ thử vịêc, ký kết hợp đồng làm việc, ký kết tiếp, tạm hoãn và chấm dứt hợp đồng làm vịêc; giải quyết khi có tranh chấp về hợp đồng làm việc đều được quy định.
  • Việc thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức được thực hiện thông qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển tùy thuộc vào từng lĩnh vực ngành, nghề cụ thể nhưng phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật (Khoản 2 Điều 31 Luật Viên chức).

Biệt phái, bổ nhiệm, miễn nhiệm viên chức là việc thay đổi vị trí làm việc phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và năng lực của viên chức. Biệt phái là việc viên chức được cử đi làm việc tại một đơn vị khác theo yêu cầu nhiệm vụ trong một thời hạn nhất định (không quá ba năm), nhưng các chế độ về tiền lương và quyền lợi khác của viên chức vẫn được đảm bảo. Ngoài ra, viên chức được biệt phái đến vùng, miền có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định. Đây là một hình thức rèn luyện, bồi dưỡng rất cần thiết để nâng cao kinh nghiệm và kỹ năng làm việc của đội ngũ viên chức. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với viên chức quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

Đánh giá viên chức là khâu quan trọng trong quá trình quản lý viên chức, kết quả đánh giá viên chức là căn cứ để thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức. Kết quả đánh giá đúng sẽ giúp động viên, khuyến khích viên chức nổ lực học tập, phát huy tối đa khả năng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.

Các quy định về đánh giá viên chức thời gian qua đã có những đổi mới trong Luật Viên chức và nghị định về đánh giá và phân loại viên chức của Chính phủ. Việc đánh giá viên chức đã chuyển từ cách thức tự kiểm điểm, bình bầu sang đánh giá trên các nội dung được thể hiện trong hợp đồng làm việc của viên chức, các quy định về ứng xử, đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực làm việc của viên chức. Viên chức tự đánh giá kết quả công tác, tu dưỡng, rèn luyện của mình với các nội dung đánh giá viên chức được quy định tại Điều 41 của Luật Viên chức. Ngoài các nội dung đánh giá chung, viên chức quản lý phải tự đánh giá về năng lực quản lý, điều hành; kết quả hoạt động của đơn vị do mình phụ trách.

Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ quy định về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, việc đánh giá viên chức chú trọng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Nghị định quy định về nguyên tắc, căn cứ, nội dung, trình tự, thủ tục, tiêu chí, thẩm quyền đánh giá và phân loại viên chức. Theo trình tự, thủ tục, cá nhân viên chức tự đánh giá phân loại mức độ hoàn thành công việc, chỉ ra ưu và nhược điểm của bản thân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Tập thể đơn vị nơi viên chức làm việc sẽ họp và nêu ý kiến, đánh giá, phân loại viên chức, lãnh đạo quản lý trực tiếp viên chức phải đưa ra nhận xét về viên chức. Trong phạm vi đơn vị, ý kiến của tập thể đơn vị và lãnh đạo trực tiếp quản lý viên chức sẽ phản ánh thực tế kết quả đánh giá viên chức. Trên cơ sở tham khảo mức độ tự đánh giá, phân loại của viên chức, nhận xét, kết quả đánh giá, phân loại viên chức của tập thể đơn vị nơi viên chức làm việc, thủ trưởng đơn vị đưa ra kết quả quyết định đánh giá, phân loại đối với viên chức. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Các tiêu chí đánh giá viên chức đã mang tính định lượng nhiều, chủ yếu đánh giá về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, mức độ thành thạo, kỹ năng xử lý công việc của viên chức như kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, thực hiện các quy định liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử, các nghĩa vụ mà viên chức phải thực hiện, … Như vậy, việc đánh giá viên chức đã kết hợp giữa hình thức tự đánh giá của viên chức và các góp ý của tập thể đơn vị và ý kiến của thủ trưởng đơn vị để phân loại viên chức. Các góp ý của tập thể phải nêu rõ ưu, nhược điểm của người được đánh giá. Mỗi mức độ hoàn thành nhiệm vụ của viên chức có các tiêu chí riêng, viên chức được đánh giá, phân loại theo một trong 4 mức sau: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ và không hoàn thành nhiệm vụ.

Dù tính chất hoạt động nghề nghiệp của viên chức khác cán bộ, công chức, nhưng các tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức cũng tương đối giống với viên chức. Kết quả đánh giá, phân loại cán bộ cũng khác với viên chức, trong 4 mức phân loại đánh giá, cán bộ, công chức có mức phân loại khác viên chức là “hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực” [17].

Tuy có nhiều đổi mới trong việc đánh giá viên chức, nhưng thực tế công tác đánh giá viên chức hiện nay còn chưa phản ánh thực chất phẩm chất và năng lực của viên chức. Về mặt khách quan ta thấy, các căn cứ và nội dung đánh giá viên chức còn chung chung, chưa cụ thể hóa cho từng hoạt động nghề nghiệp của viên chức; công tác đánh giá còn mang tính nội bộ, khép kín, thiếu sự đánh giá độc lập, không có cá nhân hay tổ chức đánh giá chuyên trách. Mặt chủ quan cho thấy, kết quả đánh giá viên chức còn có sự liên quan đến trách nhiệm của người đứng đầu, phản ánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ và thành tích của cả tập thể đơn vị, bộ máy. Do vậy, trong quá trình thực hiện đánh giá viên chức vẫn mang tính “dĩ hòa vi quý”. Mặt khác, đa số cá nhân viên chức đều tự đánh giá mình hoàn thành tốt nhiệm vụ hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Vì vậy, kết quả đánh giá, phân loại viên chức chưa bảo đảm khách quan, công bằng, chính xác, còn nể nang, thiên vị, hình thức; chưa thật sự làm rõ ưu khuyết điểm, tồn tại, hạn chế của viên chức; chưa tạo cơ sở tin cậy cho việc lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của đơn vị.

Vì những lý do nêu trên, để đảm bảo được mục đích của công tác đánh giá và phân loại viên chức cần phải có quy định cụ thể, công bằng, khách quan và có sự tách bạch rõ ràng giữa nhiệm vụ của người đứng đầu cơ quan đơn vị với kết quả đánh giá của từng viên chức, giữa kết quả đánh giá cá nhân viên chức với kết quả hoạt động và thành tích của tập thể cơ quan, đơn vị để tránh tình trạng vì thành tích của tập thể, trách nhiệm của người đứng đầu mà “cào bằng” với từng cá nhân viên chức trong tổ chức. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Thực tế, hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức thời gian qua đã có những bước tiến quan trọng cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp, tạo cơ sở pháp lý để nhà nước quản lý viên chức, điều tiết hoạt động cung cấp dịch vụ công, duy trì và phát triển đội ngũ viên chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, các quy định về quản lý viên chức có một số hạn chế sau:

Thứ nhất, quy định về biên chế còn mang tính bao cấp, nặng tính xin – cho, chưa tạo được sự chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp trong quản lý, phát triển nguồn nhân lực.

Thứ hai, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức còn nặng về thâm niên công tác, bằng cấp, thiếu tính cạnh tranh, chưa chú trọng đến năng lực, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ và điều kiện, tiêu chuẩn vị trí việc làm của viên chức.

Thứ ba, quy định về đánh giá viên chức thiếu tính định lượng, nặng về định tính, cách thức đánh giá chủ quan, thiếu sự tham gia của người dân vào đánh giá viên chức; kết quả đánh giá viên chức chưa thật sự là căn cứ để sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật viên chức.

Thứ tư, các quy định về điều động, thuyên chuyển, biệt phái chưa được quy định cụ thể.

1.4.3. Những quy định về quyền và nghĩa vụ của viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Các quyền và nghĩa vụ của viên chức cũng có những nội dung quy định chung giống như cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, do tính chất, đặc điểm hoạt động lao động của viên chức là hoạt động mang tính chuyên môn nghiệp vụ, nên Luật Viên chức đã quy định các quyền của viên chức theo hướng mở hơn so với cán bộ, công chức, tạo điều kiện để viên chức có thể phát huy được tài năng, sức sáng tạo, khả năng cống hiến trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay. Đó là các quyền về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định (Điều 14 Luật Viên chức). Bên cạnh đó, Luật Viên chức cũng đã hoàn thiện hệ thống các nghĩa vụ của viên chức (bao gồm cả những việc viên chức không được làm) phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức.

Quyền và nghĩa vụ của viên chức là một trong những nội dung rất quan trọng của pháp luật về viên chức, đặt nền tảng cho mối quan hệ giữa nhà nước và viên chức trong quá trình cung cấp các dịch vụ công. Những quy định về quyền và nghĩa vụ của viên chức là thước đo điều chỉnh hành vi của viên chức. Viên chức vừa là công dân, vừa là người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Quyền, nghĩa vụ của viên chức bao gồm:

Thứ nhất, những quyền, nghĩa vụ như mọi công dân, bởi vì trước khi là viên chức, họ là công dân Việt Nam, nên đương nhiên có những quyền và nghĩa vụ như công dân: được pháp luật bảo vệ, sống trong môi trường trong lành, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, kết hôn, ly hôn, tự do ngôn luận, tự do đi lại, … Các quyền về con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp 2013, gồm 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) và các văn bản luật khác có liên quan như Luật quốc tịch, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bảo hiểm y tế, Luật vệ sinh an toàn thực phẩm, …

Thứ hai, những quyền, nghĩa vụ dành riêng cho viên chức, với tư cách là chủ thể cung cấp các dịch vụ công. Những quyền cơ bản của viên chức khi tham gia vào hoạt động nghề nghiệp (được hưởng các quyền lợi về vật chất và tinh thần) luôn được pháp luật bảo vệ; được đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ; được đảm bảo các điều kiện để làm việc: máy móc, trang thiết bị, tài liệu, ..; được biết các thông tin liên quan đến công việc, cơ quan, đơn vị nơi viên chức làm việc; được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật: tiền lương, nâng bậc lương, hưởng các phụ cấp, chính sách ưu đãi, nghỉ lễ, nghỉ phép, nghỉ tết, … Ngoài ra, viên chức phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ (bổn phận của viên chức phải thực hiện hoặc không thực hiện) theo quy định của pháp luật, của đơn vị nơi viên chức làm việc; thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của viên chức; …

Quyền và nghĩa vụ là hai mặt của một vấn đề tạo nên địa vị pháp lý của viên chức trong mối quan hệ mà pháp luật về viên chức điều chỉnh. Tuy nhiên, trên cơ sở những đặc điểm mang tính đặc thù của đội ngũ viên chức và hoạt động nghề nghiệp của viên chức cần có những quy định về quyền và nghĩa vụ phù hợp, những quy định về quyền, nghĩa vụ của viên chức hiện nay còn có những hạn chế sau: Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Các quy định về nghĩa vụ viên chức mang nặng định tính, khó xác định, đánh giá được trên thực tế; mang tính chính trị hơn là tính pháp lý, nên việc xử lý kỷ luật đối với viên chức vi phạm khó xác định, việc đánh giá tính chất, mức độ vi phạm không được rõ ràng, dẫn đến việc xử lý kỷ luật trong nhiều trường hợp không chính xác.

Chưa có quy định về quyền của viên chức quản lý, quy định về nghĩa vụ của nhóm viên chức quản lý không có sự khác biệt so với nghĩa vụ của viên chức, cũng là thực hiện các nghĩa vụ theo quy định như là thực hiện nhiệm vụ được phân công phụ trách, thực hiện các quy định về đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử, các nghĩa vụ khác giống viên chức.

1.4.4. Những quy định về khen thưởng, kỷ luật viên chức

Khen thưởng, kỷ luật là các biện pháp của nhà nước tác động vào hoạt động của viên chức tạo nên một nhóm các quy định mang tính chuyên biệt, có vai trò quan trọng trong việc khích lệ tinh thần phấn đấu của viên chức, cũng như răn đe họ không thực hiện hành vi sai trái, nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Nhóm quy định này quy định về nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện khen thưởng, các hình thức kỷ luật đối với viên chức.

Khen thưởng là một trong những biện pháp quan trọng thể hiện sự đánh giá cao đối với công trạng, kết quả thực hiện nhiệm vụ của viên chức để động viên, khuyến khích viên chức phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; mặt khác ghi nhận, tôn vinh những công lao, thành tích, đóng góp của viên chức đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Viên chức có thành tích và cống hiến, ngoài việc được khen thưởng theo quy định của pháp luật về khen thưởng, đựơc xét nâng lương trước thời hạn, năng lương vựơt bậc theo quy định (Điều 51 Luật Viên chức).

Cùng với việc khen thưởng, viên chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nếu vi phạm các quy định của pháp luật tùy theo tính chất và mức độ vi phạm phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm đó. Ngoài 4 hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, cách chức và buộc thôi việc, Viên chức bị kỷ luật còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan về l̃inh vực ngành, nghề hoạt động của viên chức. Ví dụ: bác sĩ bị kỷ luật, sẽ bị cấm hành nghề trong một thời gian nhất định.

Trong các hình thức kỷ luật đối với viên chức (khiển trách; cảnh cáo; cách chức và buộc thôi việc) hình thức kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý. Không có hình thức hạ bậc lương, giáng chức giống như công chức.

Luật Viên chức năm 2010 quy định về các hình thức kỷ luật đối với viên chức; thời hạn, thời hiệu xử lý kỷ luật; trách nhiệm của viên chức trong việc bồi thường thiệt hại trong các đơn vị sự nghiệp công lập và áp dụng đối với từng vị trí mà viên chức đảm nhiệm. Các hình thức kỷ luật được áp dụng còn ảnh hưởng đến chế độ khác liên quan đến nâng lương, vị trí việc làm của viên chức, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm viên chức, …

1.4.5. Những quy định về đào tạo, bồi dưỡng viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Đào tạo, bồi dưỡng là một khâu quan trọng trong công tác quản lý viên chức nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập. Sau khi Luật Viên chức được ban hành và có hiệu lực, các văn bản liên quan đến tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng viên chức đã được ban hành khá đầy đủ, kịp thời như: Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư số 19/2014/TT-BNV ngày 04/12/2014 của Bộ Nội vụ quy định, hướng dẫn công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức.

Nhìn chung, các văn bản đã quy định khá rõ mục tiêu, nguyên tắc và chế độ Đào tạo, bồi dưỡng viên chức, chế độ đào tạo bồi dưỡng đối với viên chức quy hoạch lãnh đạo, quản lý; nội dung, chương trình, hình thức, thời gian, chứng chỉ đào tạo bồi dưỡng; phân công, phân cấp tổ chức và quản lý đào tạo bồi dưỡng viên chức; đánh giá chất lượng Đào tạo, bồi dưỡng, chính sách, chế độ đối với viên chức khi tham gia Đào tạo, bồi dưỡng; điều kiện và quyền lợi, trách nhiệm của viên chức được cử đi Đào tạo, bồi dưỡng, kinh phí đào tạo bồi dưỡng. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Nội dung các văn bản đã thể hiện rõ tinh thần đổi mới toàn diện trên các mặt về chế độ Đào tạo, bồi dưỡng viên chức, tăng cường phân công, phân cấp cho các đơn vị trong việc tổ chức và quản lý Đào tạo, bồi dưỡng, đồng thời bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan quản lý đơn vị sử dụng viên chức trong hoạt động Đào tạo, bồi dưỡng; đổi mới hình thức và nội dung các chương trình Đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kỹ năng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho viên chức, tạo lập cơ sở pháp lý để kiểm soát chất lượng Đào tạo, bồi dưỡng viên chức. Với việc đổi mới này, các đơn vị sự nghiệp công lập cần tạo môi trường làm việc, phải xem bồi dưỡng, huấn luyện viên chức là một phần trách nhiệm của đơn vị.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào nhu cầu thực tế của đơn vị và nhu cầu của viên chức bảo đảm quyền của viên chức “được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ” [25], cần tiến hành rà soát, đánh giá đúng hạn chế, vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các chương trình, nội dung Đào tạo, bồi dưỡng viên chức, từ đó đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.

Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức và Thông tư số 19/2014/TT-BNV ngày 04/12/2014 của Bộ Nội vụ quy định, hướng dẫn công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức đã quy định về hình thức, nội dung, chương trình đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng viên chức, quy định điều kiện chọn, cử viên chức đi Đào tạo, bồi dưỡng. Tuy nhiên, chưa ban hành văn bản hướng quy định cụ thể các hình thức khen thưởng, xử lý vi phạm đối với viên chức được Đào tạo, bồi dưỡng; có sự phân biệt giữa các nhóm viên chức; viên chức lãnh đạo, quản lý; viên chức làm việc ở bộ phận hành chính, tổng hợp, tài chính, quản trị ở các đơn vị sự nghiệp công lập; bảo đảm quyền được Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của viên chức gắn với nghĩa vụ của viên chức bằng các chế tài xử lý hành chính và tài chính.

1.5. Đánh giá chung về pháp luật quản lý viên chức Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức nhằm nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ viên chức

1.5.1. Những kết quả đạt được

Hoạt động xây dựng pháp luật về quản lý viên chức được chú trọng và đạt được những thành tựu to lớn, tính toàn diện và phạm vi điều chỉnh của pháp luật đã được mở rộng rất nhiều so với trước (trước đó hoạt động quản lý viên chức được điều chỉnh bởi Pháp lệnh Cán bộ, công chức). Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức được xây dựng và ban hành tương đối đồng bộ, đưa công tác quản lý viên chức vào nề nếp.

Nội dung của pháp luật đã phản ánh được những nhu cầu cơ bản, khách quan của hoạt động viên chức theo đúng quan điểm, định hướng mà Đảng đã đề ra góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

1.5.2. Những hạn chế, bất cập

Mặc dù có những bước phát triển về chất lượng và đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động quản lý nhà nước về viên chức, nhưng nhìn chung, pháp luật về quản lý viên chức ở nước ta hiện nay cũng còn nhiều điểm hạn chế:

Thứ nhất, pháp luật còn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, phân tán, chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và thiếu định hướng dài hạn cho việc phát triển đội ngũ viên chức. Một số văn bản quy phạm pháp luật về viên chức quy định chung chung, thiếu cụ thể nên việc triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

Thứ hai, các quy định pháp luật chưa phân biệt và làm rõ những đặc thù của đội ngũ viên chức so với đội ngũ những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước. Do đó chưa tạo ra cơ chế quản lý, sử dụng thực sự phù hợp, hiệu quả.

Thứ ba, các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng viên chức chưa được thể hiện trong các văn bản pháp luật riêng, có giá trị pháp lý cao, có tính khái quát, điều chỉnh ở tầm vĩ mô, có tính chất định hướng, ổn định, lâu dài và bảo đảm thực hiện cao mà chủ yếu được ban hành dưới dạng nghị định, thông tư.

Thứ tư, các quy định của pháp luật liên quan đến cơ chế, chính sách về viên chức chưa cụ thể, chưa có sự đổi mới kịp thời với quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường, với quá trình trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Một số tiêu chuẩn về chức danh nghề nghiêp viên chức chưa phù hợp với đặc điểm lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của viên chức gây khó khăn cho công tác đánh giá và quản lý viên chức.

Cho đến thời điểm hiện nay, ngoài một số luật chuyên ngành có điều chỉnh các nội dung liên quan đến hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức ở một số ngành cụ thể văn bản có giá trị pháp lý cao nhất quy định về quản lý, sử dụng viên chức là Luật Viên chức. Tuy nhiên, văn bản này cũng chỉ quy định những vấn đề, mang tính khái quát về quản lý, sử dụng viên chức nói chung; còn những nội dung cụ thể về viên chức được điều chỉnh trong các nghị định của Chính phủ hoặc thông tư của các bộ, ngành. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tính minh bạch, thống nhất của pháp luật về viên chức ở nước ta.

Tiểu kết chương 1: Với sự ra đời của Luật Viên chức năm 2010 và các văn bản liên quan là cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý viên chức, đặc biệt là trong giai đoạn tăng cường tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập như hiện nay. Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý viên chức tại trường Trung cấp Luật

One thought on “Luận văn: Pháp luật quản lý viên chức tại trường trung cấp Luật

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý viên chức tại trường Trung cấp Luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464