Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng áp dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn Quảng Trị và Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống bạo lực gia đình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Thực trạng bạo lực gia đình
3.1.1. Tình hình bạo lực gia đình
Tình hình bạo lực gia đình trên cả nước: Trong những năm qua, bạo lực giữa các thành viên trong gia đình trên cả nước tăng lên và để lại những hậu quả nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu quốc gia đầu tiên về tỷ lệ và hậu quả của nạn bạo lực gia đình đối với phụ nữ Việt Nam của Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc được công bố ngày 25/11/2010 đã đưa ra hàng loạt con số bạo lực gia đình đáng báo động: “34% số phụ nữ có gia đình ở Việt Nam đang bị chồng bạo hành thể xác hoặc tình dục; 58% phụ nữ được phỏng vấn nói rằng họ từng là nạn nhân của ít nhất một trong ba hình thức bạo hành (thể xác; tinh thần; tình dục) trong gia đình; 5% phụ nữ có thai từng bị chồng đánh đập”[20], “89% vụ bạo hành để lại những hậu quả nghiêm trọng về sức khoẻ thể chất và tinh thần cho phụ nữ và trẻ em”[20]. Theo thống kê chưa đầy đủ của cục Cảnh sát hình sự, Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm bộ Công an, năm 2011 toàn quốc phát hiện 548 đối tượng xâm hại 1.397 trẻ em (tăng 25 vụ so với năm 2010). Trong đó, có 51 vụ sát hại trẻ em, 427 vụ hiếp dâm trẻ em; cố ý gây thương tích 128 vụ, xâm hại 140 em; 32 đối tượng mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt trẻ em… Đáng chú ý là các vụ án xâm hại tình dục trẻ em chiếm hơn 60% tổng số vụ xâm hại trẻ. Bên cạnh đó, hàng loạt các thông tin đưa trên báo chí về các vụ bạo lực gia đình với mức độ nghiêm trọng càng khẳng định thêm sự gia tăng của vấn đề bạo hành gia đình trên cả nước. Tuy nhiên, kết quả xử lý về vấn đề này còn hạn chế, chưa đạt kết quả như mong đợi, theo Thống kê của Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) thì 9 tháng đầu năm 2011 đã có 33.904 vụ bạo lực gia đình, trong đó số vụ với phụ nữ là 12.699 vụ, chỉ xử lý được 1.855 vụ.
- Tình hình bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị:
Góp phần không nhỏ để làm nên số liệu báo động của cả nước về tỷ lệ bạo lực gia đình đang xảy ra, Quảng Trị cũng đang đứng trước tình trạng báo động đỏ về vấn nạn bạo lực gia đình.
Qua kết quả khảo sát tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong năm 2008, đã có “17,72 % gia đình có các hành vi bạo lực về tinh thần, 24,85% gia đình có hành vi bạo lực về thể chất; chửi mắng, sỉ nhục vợ con chiếm 17,72%; thỉnh thoảng chửi mắng, giận dỗi trong vài ba ngày là 32,24% và các hình thức bạo lực khác, bình quân cứ 11 cặp vợ chồng vợ chồng ở nhóm tuổi 18-60 có 1 cặp có bạo lực” [41]. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Đầu năm 2010, kết quả đợt khảo sát tại 4 xã/4 huyện đặc trưng cho các vùng trung du, đồng bằng, miền núi và miền biển của tỉnh Quảng Trị: “ở miền núi bình quân 10 cặp vợ chồng có 01 cặp, đồng bằng 42 cặp có 01 cặp, trung du 44 cặp có 01 cặp, miền biển 60 cặp có 01 cặp có xung đột dẫn đến bạo lực, bình quân ở tất cả các địa bàn được khảo sát có khoảng 2% cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục. Thực trạng các vụ con, cháu ngược đãi ông bà, cha mẹ hoặc bố mẹ đối xử tàn tệ với con cái cũng là vấn đề đáng quan tâm” [41].
Bạo lực gia đình đang có xu hướng gia tăng trong tất cả các gia đình. Theo số liệu báo cáo chưa đầy đủ của 9 huyện, thị xã, thành phố (không có huyện đảo Cồn cỏ) trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đến cuối năm 2011 toàn tỉnh có 1.632 vụ bạo lực gia đình, nạn nhân là phụ nữ chiếm 79,04%, hành vi chủ yếu là đánh đập, ngược đãi.
Tình trạng ly hôn, ly thân có xu hướng gia tăng, năm sau cao hơn năm trước: năm 2006, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã xét xử 397 vụ ly hôn, trong đó có 268 vụ do đánh đập ngược đãi (chiếm 66%). Năm 2010 tại các địa phương trong tỉnh đã có 550 vụ án hôn nhân và gia đình, đến 30/12/2011 trên địa bàn tỉnh có 657 vụ, án hôn nhân cao nhất là Vĩnh Linh 167 vụ, TP Đông Hà 149 vụ (bình quân có 1,8 cặp kết hôn có 1 cặp ly hôn). Nguyên nhân do xung đột, mâu thuẫn vợ chồng chiếm 70%.
Bên cạnh những nạn nhân là phụ nữ thì một trong những đối tượng được xem dễ bị bạo hành là trẻ em. Theo báo cáo khảo sát thực tế một số địa phương trên địa bàn tỉnh của Ban Văn hóa, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị thì trong 3 năm 2008 đến 2010 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị “có 1.501 trẻ em bị tai nạn thương tích; 15 trẻ em bị bạo hành, ngược đãi; 172 trẻ em làm trái pháp luật và trên 41.000 trẻ em đang sống trong các gia đình hộ nghèo” [17]. Kết quả khảo sát cũng đánh giá: “tính đến nay (tháng 8/2011) có khoảng trên 50 vụ, có nhiều vụ gia đình không có đơn tố cáo vì sợ phức tạp thêm tình hình, đa số đối tượng là những người lớn tuổi có hành vi bạo lực hoặc xâm hại trẻ em” [17]
- Qua số liệu trên, tôi có một số nhận xét sau:
Một là, bạo lực gia đình trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói riêng ngày càng tăng.
Hai là, hành vi bạo lực gia đình ngày càng đa dạng, tinh vi thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tác động đến nhiều đối tượng khác nhau. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Ba là, số liệu mà các cơ quan chức năng thống kê được chỉ phản ánh được một phần nhỏ thực trạng bạo lực gia đình đang diễn ra, bởi bạo lực gia đình là một “tảng băng chìm” mà do những yếu tố tâm lý, tập quán,…nên nạn nhân bạo lực gia đình không dám yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp. Như Bà Hoàng Tú Anh – Giám đốc trung tâm sáng kiến sức khỏe & dân số (CCIHP) phát biểu tại buổi thảo luận “Phía sau những con số biết nói” do Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch, Đài truyền hình Việt Nam, Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) cùng Tổ chức Hòa bình và Phát triển Tây Ban Nha (PyD): “Nhìn nhận vào thực tế, tôi không hề thấy “sốc” khi những con số này được công bố. Nếu phụ nữ chúng ta dám nói hết thì con số về BLGĐ sẽ còn lớn hơn rất nhiều lần” [21].
Bốn là, thực tiễn xử lý hành vi bạo lực gia đình rất ít, trong đó có nhiều trường hợp do yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xử lý vụ việc (như ly hôn) nạn nhân mới khai nguyên nhân là do bạo lực gia đình, thông thường hành vi này thường giấu kín.
3.1.2. Kết quả đạt được trong phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã đạt được những kết quả đáng khích lệ:
Trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo: Toàn tỉnh đã ban hành 655 văn bản chỉ đạo, lãnh đạo có liên quan đến bạo lực gia đình, trong đó: 70 văn bản chỉ đạo của Đảng uỷ về phòng, chống BLGĐ, 47 văn bản chỉ đạo của Hội đồng nhân về phòng, chống BLGĐ, 103 văn bản chỉ đạo của UBND về phòng, chống BLGĐ, 59 văn bản chỉ đạo của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, 51 quyết định thành lập BCĐ về phòng, chống BLGĐ, 325 quyết định thành lập nhóm phòng, chống bạo lực gia đình.
Có thể thấy, công tác phòng, chống bạo lực gia đình được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện về cơ bản đã phát huy được vai trò, trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật.
Công tác truyền thông tại địa bàn nghiên cứu bước đầu đã phát huy hiệu quả khi khá nhiều người được hỏi biết về Luật phòng chống bạo lực gia đình. Các hình thức truyền thông phổ biến chủ yếu thông qua loa truyền thanh và lồng ghép vào một số chương trình truyền thông khác nhau tại địa bàn. Một số nơi đã có sáng tạo khi đưa các hình thức truyền thông hấp dẫn, thu hút người dân như truyền thông qua tiểu phẩm, qua các phiên tòa xét xử lưu động.
Việc thực hiện “Mô hình can thiệp phòng, chống bạo lực gia đình” đem lại những kết quả thiết thực, thực hiện thí điểm “Mô hình can thiệp phòng, chống bạo lực gia đình”, UBND xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng đã nhanh chóng thành lập ban chỉ đạo “Mô hình can thiệp phòng, chống bạo lực gia đình” của xã gồm 9 thành viên do đồng chí Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban; thành lập 5 CLB phòng, chống BLGĐ tại 5 đơn vị thuộc 2 thôn Đại An Khê và Thượng Xá (mỗi CLB có từ 20 đến 30 cặp vợ chồng) với 139 cặp vợ chồng đăng ký tham gia; thành lập 5 ban chủ nhiệm của 5 CLB gồm 15 người và 5 nhóm phòng, chống BLGĐ gồm 25 người tổ chức xây dựng quy chế hoạt động, ngăn chặn, hòa giải và xử lý kịp thời khi có BLGĐ xảy ra….
Qua 3 năm thực hiện “Mô hình can thiệp phòng, chống bạo lực gia đình”, số vụ BLGĐ tại xã Hải Thượng đã giảm đáng kể. Năm 2010, xảy ra 14 vụ BLGĐ và đã được tư vấn, giải quyết 14 vụ tại cơ sở, (trong đó có 1 vụ nạn nhân là người già, 12 vụ nạn nhận là phụ nữ và 1 vụ là trẻ em với các hình thức như bạo lực thân thể là 6 vụ, bạo lực tinh thần 6 vụ và bạo lực kinh tế là 2 vụ), giảm 8 vụ so với năm 2008. Đời sống tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt, tình làng nghĩa xóm ngày càng thắt chặt hơn. Toàn xã hiện có 1.362/1.436 hộ đạt tiêu chí gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 94,8 %.
- Qua số liệu kết quả áp dụng các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân (Phụ lục) tôi có một số nhận xét sau đây: Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Một là, hoạt động tư vấn, hòa giải, góp ý tại cộng đồng chiếm tỷ lệ cao, trong đó hòa giải vẫn được xem là hoạt động chính trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình (484/1.632 vụ bạo lực gia đình). Điều này bắt nguồn từ nỗi lo thành tích giữ gìn hạnh phúc gia đình ổn định và tỷ lệ ly hôn thấp đã dẫn đến thái độ thiếu quan tâm đến quyền lợi và trạng thái sức khỏe của người phụ nữ và trẻ em đang bị đối xử tệ bạc. Chính cách nhìn “truyền thống” này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến phương pháp giải quyết vấn đề bạo lực gia đình.
Hai là, các chỉ số về thực hiện biện pháp cấm tiếp xúc, số nạn nhân đưa đến cơ sở hỗ trợ, xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với người gây bạo lực để bảo vệ nạn nhân đều thể hiện ở con số 0 báo hiệu kết quả thực thi pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đang ở mức báo động. Trong khi đó, thực trạng những vụ việc nghiêm trọng vẫn đã và đang diễn ra và đang cần lắm những biện pháp này để ngăn chặn, hạn chế, tuy nhiên kết quả áp dụng chưa thể hiện được tính khả thi của luật. Điều này cũng đã thể hiện được phần nào sự lo ngại, băn khoăn của một số ý kiến trong quá trình xây dựng Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Chính vì vậy, việc tìm hiểu rõ nguyên nhân là một trong những yếu tố để nâng cao tính thực thi của quy định này.
Ba là, bên cạnh việc thực hiện những biện pháp phòng ngừa, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình thì việc xây dựng các cơ sở trợ giúp nạn nhân cũng đang gặp phải những khó khăn nhất định. Những địa chỉ tin cậy, nhà tạm lánh cho nạn nhân của bạo lực vẫn còn khá xa lạ tại các địa phương, mặc dù tỉnh đã cố gắng trong công tác phòng ngừa và đã thành lập 343 địa chỉ tin cậy, nhưng chỉ 75/1.632 trường hợp được đưa đến địa chỉ tin cậy. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Ngoài ra, mặc dù Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị đã có nhiều công văn chỉ đạo, hướng dẫn hướng dẫn tổ chức hoạt động của Mô hình về phòng, chống bạo lực gia đình, tuy nhiên ở cơ sở hoạt động này vẫn còn lúng túng. Công tác triển khai nhân rộng mô hình PCBLGĐ còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về kinh phí. Các câu lạc bộ PCBLGĐ hoạt động chất lượng chưa cao do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là các nhóm phòng, chống bạo lực gia đình vẫn đang tiếp tục duy trì sinh hoạt trong việc tham gia hòa giải khi có các vụ bạo lực gia đình xảy ra.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị thì cũng phải thừa nhận rằng công tác này vẫn còn một số tồn tại, hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình và công tác phòng, chống bạo lực gia đình trên toàn tỉnh.
Thứ nhất, công tác tuyên truyền, quán triệt Luật phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế, chưa tác động tích cực đến ý thức người dân đối với bạo lực gia đình. Luật đã quy định rõ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình và trách nhiệm của cá nhân, gia đình và cộng đồng trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Nhưng thực tế với những gì diễn ra trên địa bàn tỉnh Quảng Trị về nhận thức đối các quy định này thì vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đang còn phải đối mặt với những thách thử đáng kể.
Tôi đơn cử một số ý kiến thực tế như sau: Báo phapluatvn.vn ngày 19/07/2007 đưa tin về một số trường hợp phụ nữ ở vùng cao âm thầm sống chung với bạo lực, trong đó chia sẻ của chị Hồ Thị C. (ở xã Húc, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) “Tháng nào mình cũng phải đến trạm y tế với hàng chục vết thương. Khi bác sĩ hỏi, mình viện đủ mọi lý do để nói dối. Chưa bao giờ mình bảo là bị chồng đánh đập cả. Xấu chàng thì hổ ai”.
Cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình, nhưng chị Hồ Thị H. (29 tuổi, ở xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) lại phải cam chịu đòn roi của… mẹ chồng, đưa cánh tay chằng chịt “di chứng” của những trận đòn và lần bị tạt nước sôi vào người, chị chua xót bảo:“5 năm qua, em cảm giác như mình không còn là con người nữa. Nhưng, em chỉ biết chịu đựng chứ không thể tâm sự với ai”. Ý kiến một số chị em phụ nữ cho rằng: “Ở xã mình, nhiều người bị chửi rủa, đánh đập như cơm bữa. Ngay cả một cán bộ Hội Phụ nữ xã cũng bị chồng đánh thường xuyên. Không ai dám làm căng hoặc báo cho chính quyền vì biết chẳng thể thay đổi được gì, thậm chí còn bị đánh đập nhiều hơn”,“Chung quy lại chị em mình vẫn chịu cực, chịu khổ thôi. Cái kiếp nó thế. Tránh sao được”.
- Bên cạnh đó, một số ông chồng thậm chí còn thẳng thừng tuyên bố: “Thằng hàng xóm đánh vợ được, thì tao cũng đánh vợ được”. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Một cán bộ Sở Văn hóa, thể thao và du lịch cho biết chị đã chứng kiến nhiều trường hợp bị chồng đánh “thừa sống thiếu chết”, phải nhiều lần đi nằm viện nhưng khi các tổ chức, đoàn thể đến tìm hiểu thì người vợ tìm mọi cách che dấu thông tin, cho rằng tai nạn chỉ là do rủi ro ngoài ý muốn. Cũng có trường hợp khác, người vợ trong cơn giận dữ đã tố cáo hành vi BLGĐ của chồng nhưng khi cơ quan chức năng vào cuộc, cũng là lúc cơn giận đã nguôi lại đứng ra nhận lỗi về mình.
Một phụ nữ từng bị bạo hành kể lại: “Mới đây, chị hàng xóm bị chồng đánh, nghe chị ấy kêu van, mình định chạy sang thì chồng ngăn lại. Hôm ấy, không ai giúp chị ấy cả. Sáng hôm sau, thấy mặt chị ấy tím bầm, mắt sưng húp, mình đau lòng lắm. Nghĩ lại, cũng là con người, cũng bằng xương, bằng thịt, sao chồng chị ấy lại đánh đập vợ tàn nhẫn thế? Sao mình và mọi người lại không đủ can đảm để can ngăn?”.
Thực tế cho thấy phần lớn người dân và cán bộ tại địa phương chưa hiểu đúng và rõ về luật phòng chống bạo lực gia đình. Trước tiên là họ chưa nhận thức được đây là hành vi vi phạm pháp luật cần phải được trừng trị, thứ hai người phụ nữ vẫn chưa nhận thức được một cách sâu sắc về các quyền năng cơ bản của mình; thứ ba là xã hội, cộng đồng vẫn chưa công nhận các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và vẫn xem đó là chuyện riêng của gia đình. Chính vì vậy, giải pháp im lặng, nín nhịn vẫn là giải pháp chính mà chị em lựa chọn để bảo toàn tính mạng, sức khỏe và hành phúc cho gia đình mình. Cộng đồng xã hội vẫn bàng quang, thờ ơ trước những hành động bạo lực gia đình đang xảy ra và ý thức được đó cũng là trách nhiệm của mình.
Thứ hai, các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình và bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình chưa phát huy được giá trị đích thực.
- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong thời gian qua: Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Một là, do định kiến xã hội: Nguyên nhân có một phần do trong một thời gian dài xã hội ta bị ảnh hưởng bởi tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, việc chồng dạy vợ là lẽ thường tình đã khiến nạn bạo hành gia đình mà phụ nữ là nạn nhân có cơ hội để hoành hành. Còn người vợ thường có tư tưởng “một điều nhịn chín điều lành”, cha mẹ thì cho rằng việc dạy dỗ con cái là chuyện đương nhiên của gia đình. Mọi người chưa nhìn nhận được nguyên nhân gốc rễ của bạo lực gia đình là do bất bình đẳng giới cũng như sự phố biến của vấn đề này.
Hai là, do nhận thức về phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế: Đối với nạn nhân bị bạo hành do không ý thức được quyền lợi của mình nên tiếp tục cam chịu, nhẫn nhục chịu đựng hoặc vì sĩ diện, mặc cảm sống phụ thuộc vào chồng hoặc vì nhu nhược. Vì bạo lực gia đình xảy ra đằng sau những cánh cửa khép kín, người trong cuộc thường cố che giấu nên thực trạng này càng nhức nhối. Sự im lặng chính là nguyên nhân khiến nạn bạo hành trở thành một căn bệnh lan từ mái nhà này sang tổ ấm khác. Đó chính là căn nguyên sâu xa dẫn đến tình trạng BLGĐ không được giải quyết triệt để và nỗi đau cứ âm ỉ trong nhiều ngôi nhà. Cũng do không được giải quyết triệt để, nên mầm mống của BLGĐ vẫn có nguy cơ tiếp diễn, công tác phòng, chống BLGĐ vì thế càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn.
Còn đối với đa số những ông chồng là người gây ra bạo lực gia đình, họ vẫn giữ tư tưởng gia trưởng, xem nhẹ vai trò và giá trị của người phụ nữ trong gia đình, thường thì họ không nhận thức được hành vi sai trái của mình nên cứ mặc nhiên vi phạm pháp luật.
Hơn nữa, trong ý thức của nhiều người vẫn coi chuyện vợ chồng cãi vã, xô xát là chuyện bình thường, không cần thiết phải can thiệp nếu chưa dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Hiện nay, ở chừng mực nào đó, xã hội vẫn coi bạo lực gia đình như một khía cạnh bình thường của đời sống vợ chồng, trong đó sự nín nhịn của người vợ có thể hạn chế được bạo lực gia đình. Mọi người coi bạo lực gia đình là vấn đề của từng gia đình, sự tham gia của người ngoài chỉ là cứu cánh cuối cùng, khi mức độ bạo lực được coi là nguy hiểm hoặc nạn nhân bạo lực không chịu đựng được phải lên tiếng.
Ba là, Công tác tuyên truyền, giáo dục chưa chú ý đúng mức, nội dung tuyên truyền chưa phong phú, chưa phù hợp với đặc thù của địa phương (đặc biệt tài liệu tuyên truyền cho đồng bào dân tộc ở 2 huyện ĐaKrông và Hướng Hóa. Hầu hết các địa phương chưa lồng ghép nội dung tuyên truyền về lĩnh vực gia đình vào các buổi họp với các ngành, đoàn thể khác nên các quy định của Luật chưa đi vào thực tế. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Bên cạnh đó, trong công tác truyền thông về Luật PCBLGĐ, phụ nữ vẫn đảm nhiệm vai trò chính và họ cũng là thành phần chủ yếu đón nhận những thông tin có liên quan. Hầu hết nam giới và những người gây bạo lực còn khá thờ ơ và thậm chí đứng ngoài cuộc trong việc tiếp thu thông tin và truyền thông tin tới những người xung quanh trong cộng đồng. Điều đó chưa tạo ra những tác động toàn diện trong phòng ngừa và xử lý BLGĐ.
Bốn là, các biện pháp phòng ngừa và bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình được Luật phòng, chống bạo lực gia đình dành hẳn một chương để quy định. Trong đó, biện pháp hòa giải, tư vấn được xác định là quan trọng trong công tác phòng ngừa, tuy nhiên qua thực tế, việc triển khai thực hiện vẫn bó buộc theo lối mòn khuyên giải người phụ nữ cần cam chịu và trở về nhà, nơi bạo lực vẫn rình rập. Hoạt động tư vấn chưa theo trình tự, người (nhóm người) tư vấn hoạt động kiêm nhiệm, không có chuyên môn và chủ yếu là tư vấn theo cảm tính nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, nội dung hoạt động phòng ngừa và bảo vệ nạn nhân. Gia đình, xã hội và các có quan có thẩm quyền chưa có thái độ đúng đắn đối với việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình.
Năm là, hoạt động phối hợp của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trên thực tế còn khá mờ nhạt và hiệu quả thấp khi xử lý các trường hợp BLGĐ cũng như hỗ trợ nạn nhân. Mọi công việc từ truyền thông đến giải quyết các trường hợp cụ thể, hỗ trợ nạn nhân vấn được giao phó cho ban hòa giải cấp cơ sở. Điều nghiêm trọng hơn là các ban ngành có liên quan chưa thực sự coi BLGĐ là vấn đề xã hội và chưa ý thức được tính nghiêm trọng của vấn đề trong mối quan hệ với các quyền của phụ nữ nên việc xử lý và phòng ngừa bạo lực còn chưa quyết liệt và mang tính cá nhân. Phần lớn các hoạt động của các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội còn mang tính phong trào, như tuyên truyền vận động, thông tin tới các thành viên về vấn đề bạo lực gia đình, còn những can thiệp trực tiếp đôi khi có các vụ bạo lực gia đình nghiêm trọng xảy ra, và không có nhiều nội dung tư vấn về vấn đề này. Điều này cũng giống như các nghiên cứu khác về bạo lực gia đình đã chỉ ra “chỉ can thiệp vào những trường hợp bạo lực trong gia đình rất nghiêm trọng, và họ thường chỉ can thiệp để chấm dứt ngay sự ngược đãi lúc đó và không tư vấn tiếp theo cho các cặp vợ chồng đó”
Sáu là, một số quy định của Luật phòng, chống bạo lực gia đình còn thiếu tính thực tế, chưa phù hợp với truyền thống văn hóa của người Việt Nam nên khó thực thi. Việc thực hiện các quy định trong luật còn phải viện dẫn đến các văn bản pháp luật khác nên gây khó khăn cho người dân khi tiếp thu và áp dụng.
3.1.3. Những vướng mắc trong phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Một là, công tác phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền trong phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế. Thực tiễn cho thấy các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền chưa hình thành được một mạng lưới hay một hệ thống trong việc phòng, chống bạo lực gia đình và chưa có một cơ chế thống nhất cho việc phối hợp của các cơ quan chức năng nên trong quá trình thực hiện còn lúng túng và chủ quan, không chủ động thực hiện.
Hai là, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình chưa hoàn thiện, một số quy định chưa thực sự đầy đủ, cụ thể như chưa có quy định thế nào là thành viên của gia đình dẫn đến những hạn chế trong quá trình áp dụng, xử lý hành vi bạo lực gia đình. Ví dụ trường hợp anh A cưới chị B năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn, hiện có hai con. Đến năm 2008, anh A đánh chị B bị thương nghiêm trọng. Như vậy, để áp dụng các hành vi vi phạm do bạo lực gia đình gây ra phải xác định trường hợp này là hành vi bạo lực gia đình giữa các thành viên trong gia đình (có chị B có phải là vợ của anh A không) hay là trường hợp “nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng” ?. Căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 thì chị B không phải là vợ của anh A. Căn cứ Khoản 2, Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 “ Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng” thì như thế nào?. Trong khi đó trường hợp “chung sống với nhau như vợ chồng” lại không có văn bản nào hướng dẫn cụ thể, nếu căn cứ vào Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì bao gồm những trường hợp:
- Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 không đăng ký kết hôn (công nhận vợ chồng). Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
- Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2003 (không đăng ký kết hôn), sau đó đăng ký kết hôn trong hai năm (công nhận vợ chồng).
- Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 nhưng không đăng ký kết hôn hoặc trong trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2000 trở đi thì có phải là thành viên trong gia đình không?
Việc quy định không thống nhất giữa Luật hôn nhân và gia đình và Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã gây nên những tranh cãi trong quá trình triển khai và áp dụng.
Ba là, thẩm quyền xử lý hành vi bạo lực gia đình chưa thống nhất, quy định rãi rác ở các văn bản pháp luật khác nhau. Có trường hợp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình thì được áp dụng theo Luật cán bộ, công chức với thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan, đơn vị…, trường hợp khác lại do Chủ tịch UBND các cấp, Công an, Tòa án,…theo Nghị định gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Cần có một quy định thống nhất về thẩm quyền xử lý hành vi bạo lực gia đình trong một văn bản pháp lý để thuận tiện cho người dân cũng như các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình áp dụng.
Bốn là, chủ thể bị bạo lực gia đình không phối hợp với các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp bị bạo lực gia đình gây ra, một số trường hợp điển hình như sau:
Vụ thứ nhất: Trưa ngày 16.3.2012, một vụ bạo hành gia đình đã xảy ra tại thôn An Lộng, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị khiến chị Lê Thị Tưởng (SN 1981) phải nhập viện trong tình trạng đa chấn thương rất nghiêm trọng với nhiều vết bầm tím , tụ máu, phù nề trên cơ thể . Điều đáng nói là, sau khi uống rượu say về, ông Bùi Xuân Toàn (SN 1974) – chồng chị Tưởng lôi chị vào phòng khóa chặt phòng lại rồi dùng ghế, ống nước đánh đập đến khi chị gục xuống đất mới chịu thôi.
Vụ thứ hai: Vào lúc 6 giờ 30 ngày 21.3.2012, tại thôn Ba công , xã Hướng Linh, huyện Hướng Hóa đã xảy ra một vụ án mạng làm người phụ nữ đang thai tháng thứ 6 tử vong ngay tại chỗ. Nguyên nhân do vợ chồng có mâu thuẫn nên anh Diệp Minh Hải (SN 1980) đã cầm que tre rượt đuổi theo vợ là chị Nguyễn Thị Minh (SN 1982) rồi đánh nhiều phát vào đầu và chân làm chị Minh chết ngay tại chỗ. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Vụ thứ ba: Đây là vụ bạo lực gia đình được xem là điển hình, vụ việc diễn ra suốt gần 15 năm liền, nạn nhân là bà Võ Thị Thủy 50 tuổi (trú tại thôn Phương Lang, xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị). Theo lời kể của bà Thủy thì gần 15 năm nay bà bị đánh đập dã man. “Ông ấy luôn kiếm cớ ghen tuông, đòi hỏi những điều vô lý mà tôi không chịu đáp ứng… rồi đánh”. Đứa con trai lớn của bà Thủy phải nghỉ học khi đang học lớp 6 để ở nhà trông mẹ, giúp mẹ vì mẹ bị đánh quá thường xuyên. Đến khi tức nước vỡ bờ, không chịu đựng nổi nữa thì bà Thủy mới chịu gửi đơn lên Công an tỉnh Quảng Trị nhờ can thiệp. Cuối tháng 2.2012, Công an tỉnh Quảng Trị cũng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối tượng này về hành vi bạo lực gia đình.
Không ít phụ nữ ở tỉnh Quảng Trị đang ngày ngày âm thầm sống chung với bạo lực gia đình và không dám lên tiếng. Không chỉ bị chửi rủa, đánh đập, một số chị em còn đối mặt với bạo lực tình dục. Nhiều người bị buộc phải quan hệ hoặc mang thai trong khi tình trạng sức khỏe không đảm bảo. Tại xã Húc (huyện Hướng Hóa), trước đây từng xảy ra một vụ án kinh thiên, động địa. Người chồng sau khi uống rượu say về, ép vợ quan hệ tình dục nhưng không được, đã dùng rựa chém chết vợ. Kết cục đau lòng là người vợ qua đời, ông chồng vào tù để lại một đàn con nheo nhóc, không nơi nương tựa.
Chính sự nín nhịn, không dám lên tiếng của nạn nhân bị bạo lực gia đình đã góp phần làm tăng thêm những con số đáng báo động về vấn nạn bạo lực gia đình. Nếu các chủ thể này lên tiếng từ lúc các hành vi bạo lực mới phát sinh thì có lẽ không có kết cục đau lòng xảy ra. Biết bao gia đình vẫn biết là vậy, nhưng rồi vẫn im lặng, vẫn nhẫn nhục, chịu đựng và trong quá trình xử lý các tổ chức xã hội, cơ quan có thẩm quyền cũng biết rõ tình hình nhưng không thể giải quyết được gì khi nạn nhân không lên tiếng, không yêu cầu được bảo vệ. Chính vì vậy đã gây nên những hạn chế, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc bạo lực gia đình.
3.2. Những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
3.2.1. Giải pháp chung
- Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Mặc dù trong những năm vừa qua, Việt Nam đã ban hành một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện và đầy đủ làm cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng chống BLGĐ. Tuy nhiên, qua hoạt động rà soát của các cơ quan chức năng và thực tiễn thực hiện pháp luật cho thấy rằng vẫn còn những bất cập, mâu thuẫn và thiếu những quy định cần thiết để hoạt động phòng, chống BLGĐ đạt hiệu quả. Về vấn đề này, Ủy ban các vấn đề xã hội, Quốc hội khóa XII đã nhận định: “Một trong các nguyên nhân dẫn tới khoảng cách giới còn tồn tại trong thực tế là do sự thiếu đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về bình đẳng giới mà chưa được rà soát, bổ sung, sửa đổi kịp thời; một số văn bản pháp luật mới được xây dựng, ban hành chưa tuân thủ quy trình lồng ghép giới, nhất là chưa đánh giá đầy đủ dự báo tác động của văn bản đến nam và nữ” [51]. Để khắc phục những hạn chế này, theo tôi cần thiết phải tiến hành đồng bộ các hoạt động sau:
- Một là, làm rõ một số khái niệm quan trọng trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình nhằm thống nhất với các luật khác.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (Khoản 2, Điều 1) và bổ sung “Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng” (Khoản 2, Điều 2).
Tuy nhiên, Luật lại không giải thích khái niệm “thành viên gia đình”, nên gây khó hiểu trong quá trình áp dụng pháp luật. Hiện nay, đa số mọi người vẫn dựa vào khái niệm gia đình của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” (Điều 8); từ đó cho rằng: thành viên gia đình là những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng. Sự suy luận này tưởng như rất logic nhưng lại không hề có căn cứ gì, bởi Luật Hôn nhân và gia đình và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình là hai luật độc lập, có vị trí ngang bằng nhau trong hệ thống pháp luật, nên không thể tùy tiện áp dụng khái niệm của luật này để giải thích quy định của luật khác. Như vậy, hiện nay đối tượng điều chỉnh của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa được quy định một cách rõ ràng, có thể gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, và do đó việc áp dụng các quy định này để bạo vệ nạn nhân trở nên khó khăn hơn. Xuất phát từ thực tiễn là nhận thức của người dân về bạo lực gia đình là chưa cao, để đảm bảo những quy định của pháp luật thực sự đơn giản, dễ hiểu và dễ áp dụng, theo tôi cần quy định cụ thể, rõ ràng về đối tượng điều chỉnh của Luật này.
Các văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam chưa định nghĩa rõ một số hình thức bạo lực như quấy rối, cưỡng bức tình dục, hành hạ người khác… hoặc có đề cập trong Luật Phòng chống BLGĐ nhưng chỉ nêu các biện pháp phạt tiền và “phạt hành chính”. Do đó, để truy tố tội danh này, các cơ quan tiến hành tố tụng phải vận dụng một số điều khoản khác của Bộ luật Hình sự. Ví dụ như Tội hành hạ người khác được quy định tại Điều 110 Bộ luật hình sự năm 1999: “1. Người nào đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm: a. Đối với người già, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người tàn tật; Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
- b.Đối với nhiều người”.
Bên cạnh đó, Luật hình sự Việt Nam không có tội danh cụ thể nào gọi là cưỡng bức, quấy rối tình dục mà chỉ điều chỉnh một số hành vi như người đã thành niên có hành vi quấy rối tình dục đối với trẻ em thì có thể bị xử lý về tội “Dâm ô đối với trẻ em” quy định tại Điều 116 Bộ luật Hình sự. Hay quấy rối tình dục tại nơi công cộng có thể bị xử lý về tội “Làm nhục người khác” quy định tại Điều 121 Bộ luật Hình sự. Trên thực tế, tình trạng cưỡng bức, quấy rối tình dục diễn ra rất nhiều (kể cả giữa vợ và chồng), tuy nhiên do không có định nghĩa rõ ràng khiến việc xác định hành vi vi phạm thuộc loại này mang tính hình sự hay dân sự, cũng như việc áp dụng các tội danh khác ngoài tội bạo hành về thân thể hoặc bạo hành nghiêm trọng về tinh thần trong một vài trường hợp là rất khó khăn…. Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định hành vi vi phạm pháp luật và việc áp dụng các tội danh của các cơ quan chức năng, theo tôi cần có quy định về các khái niệm này.
Hai là, hoàn thiện một số quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
- Quy định về biện pháp cấm tiếp xúc
Việc quy định về việc cấm tiếp xúc trong một thời gian giữa nạn nhân và người có hành vi bạo lực là cần thiết để đảm bảo sự an toàn cho nạn nhân, để hai bên có thời gian cân nhắc về hành động của mình và cũng là để giáo dục người có hành vi bạo hành về tội lỗi của họ. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này yêu cầu có sự đồng ý của nạn nhân hoặc người giám hộ (thường là một thành viên khác trong gia đình), điều này có phần chưa khả thi. Bởi vì bản chất của những mối quan hệ trong gia đình là gắn bó thân thiết và bền chặt, nếu một người có ý từ bỏ, sống ra ngoài thì mối liên hệ giữa các thành viên thường bị cho rằng sẽ trở nên lỏng lẻo và khó chấp nhận. Hơn nữa, với những nạn nhân bị bạo lực là phụ nữ và trẻ em, do họ bị phụ thuộc nhiều vào người chồng, người cha, đặc biệt là người phụ nữ lại rất gắn bó với con cái, nên dù bị đối xử tàn nhẫn nhưng họ vẫn có thể nín nhịn, tiếp tục sống chung với người có hành vi bạo lực. Do đó, việc quy định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc phải có sự đồng ý của nạn nhân mặc dù rất thỏa đáng khi để nạn nhân tự cân nhắc, quyết định theo tình cảm và ý thức của họ, nhưng mặt khác cũng là chưa thể bảo vệ họ tránh những hành vi bạo lực nguy hiểm có thể xảy ra sau này.
Ngoài ra, quy định về một trong những điều kiện áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc chưa thật hợp lý: Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc, nơi ở này bao gồm nhà của người thân, bạn bè, địa chỉ tin cậy hoặc nơi ở khác mà nạn nhân bạo lực gia đình tự nguyện chuyển đến ở. Rõ ràng nạn nhân của bạo lực gia đình tiếp tục phải chịu thiệt thòi: họ bị làm tổn thương, và để tránh những tổn thương này họ bị buộc phải rời khỏi nhà của mình. Như vậy, những người khác nhìn vào có thể cho rằng đó là “hình phạt” cho những người không cam chịu mà lên tiếng đòi công bằng cho mình. Trong khi đó, kẻ có hành vi bạo hành lại đương nhiên được ở nhà của mình, việc nạn nhân không ở đó thậm chí có thể là mong muốn của những người này, nên họ có thể hoàn toàn không quan tâm.
Mặt khác, biện pháp cấm tiếp xúc được quy định trong 4 điều của Luật mới chỉ dừng lại ở mức độ hưởng ứng, chưa có vụ nào thực thi và nhiều cán bộ tỏ ra xa lạ với biện pháp này vì “hầu hết đã hòa giải” hoặc “nạn nhân không có đơn” hay “ li hôn là hết rồi”. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Do đó, khi áp dụng biện pháp này, theo tôi trong một số trường hợp không cần đến sự yêu cầu hay cho phép của nạn nhân (trường hợp hành vi bạo lực gây tổn hại hết sức nghiêm trọng tới sức khỏe, danh dự của nạn nhân; hành vi lặp lại nhiều lần; người có hành vi đã được giáo dục mà tiếp tục vi phạm…). Đồng thời nếu thực hiện cấm tiếp xúc thì người thực hiện hành vi có thể phải rời khỏi nơi cư trú (nếu nạn nhân không tìm được nơi ở khác thích hợp) và đảm bảo quyền trông nom, chăm sóc gia đình, con cái của nạn nhân. Trong trường hợp nạn nhân bị lệ thuộc hoàn toàn vào kinh tế thì khi cách ly có thể xem xét việc yêu cầu cấp dưỡng cho nạn nhân như quy định của một số nước và không trái với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Quy định về căn cứ để xử lý hình sự người có hành vi bạo lực gia đình Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định cơ sở pháp lý để xử lý hình sự các hành vi BLGĐ gây thương tích cho người khác là tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên và tỷ lệ này chỉ có thể xác định trên cơ sở kết luận của giám định pháp.
Mặt khác, luật lại quy định chỉ sau khi có quyết định khởi tố vụ án thì các cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền trưng cầu giám định pháp y. Hệ quả là các cơ quan tiến hành tố tụng khi nhận được thông tin về BLGĐ không thuộc trường hợp nghiêm trọng gây thương tích nặng cho nạn nhân (thực tế rất phổ biến) thường không khởi tố vụ án. Phần nạn nhân thì lúng túng với đòi hỏi phải có chứng cứ về tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên khi thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Đây là một bất cập ảnh hưởng đến việc thực hiện biện pháp xử lý hình sự người có hành vi BLGĐ ngay cả khi người phụ nữ đã quyết định thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự (theo yêu cầu của người bị hại).
Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự Việt Nam đã có nhiều quy định bảo vệ người chưa thành niên, trong đó các quy định về các tội phạm xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh dự và nhân phẩm của con người đều quy định phạm tội đối với trẻ em là “tình tiết tăng nặng” định khung và kẻ phạm tội phải chịu mức chế tài nghiêm khắc hơn đã có tác dụng trừng trị và ngăn ngừa đáng kể. Tuy nhiên, hiện nay chưa có các quy định pháp luật bắt buộc những người phát hiện, nghi ngờ trẻ em bị bạo lực, xâm hại phải khai báo, trừ phi các hành vi đó có yếu tố hình sự, chưa quy định về việc bảo vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng hay thủ phạm; quy trình, trách nhiệm thẩm quyền đánh giá nguy cơ và quản lý trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, cũng như những tiêu chuẩn cụ thể về đánh giá mức độ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em của các hành vi bạo lực, xâm hại để từ đó có kế hoạch và hạn chế tối đa những tổn hại có thể gây ra cho trẻ em… Vì vậy, cần có quy định bổ sung tình tiết “phạm tội đối với những người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi”, người chưa thành niên không có điều kiện và khả năng bảo vệ mình, “nhiều người giao cấu với một người”… là tình tiết tăng nặng định khung đối với những tội phạm xâm hại tính mạng, sức khỏe, các tội phạm về tình dục đối với trẻ em… Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Theo tôi cần sửa đổi các quy định của pháp luật hình sự theo hướng bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình, cần có quy định đơn giản hơn đối với việc xác định cơ sở pháp lý để xử lý hình sự các hành vi BLGĐ tạo điều kiện cho nạn nhân BLGĐ dễ dàng đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời có các quy định hữu hiệu để bảo vệ trẻ em trước các hành vi bạo lực và xâm hại, ngăn chặn tối đa những vụ án bạo lực gia đình đối với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.
- Quy định về hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình
Nghị định 110 đã đưa ra những chế tài cần thiết đối với người thực hiện hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, quy định về hình thức phạt tiền của Nghị định này còn chưa thực sự hợp lý, tính răn đe chưa cao.
Báo Afamily ngày 10/12/2009 có bài viết “Bi hài chuyện “cải tà” những ông chồng bạo lực phản ánh trường hợp xử lý vi phạm bạo lực gia đình. Bị chính quyền lập biên bản vì tội đánh vợ quá dã man, người chồng được đưa đi cải tạo, nhưng chính vợ là người phải theo “hầu” chồng. Tiền thăm nuôi trong “trại” cũng mất gần chục triệu. Nạn nhân tâm sự: “Đánh mình đến thâm tím mặt mày, ông ấy bị phạt đi cải tạo. Thế nhưng mình lại phải cất công đi thăm nuôi, y hệt như ông ấy đi tù. Đến khi ông ấy bảo biết lỗi, giục mình chạy tiền để bớt tháng, mình cũng phải chạy mấy triệu xin cho chồng về trước hạn 2 tháng”. Câu chuyện nghe có vẻ ngược đời như trên không phải là hiếm gặp. Là nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình, nhưng nhiều khi chính người vợ lại chịu khổ hơn khi tố cáo chồng, chồng bị phạt nhưng chị em lại là người nộp tiền. Vì vậy, cũng vì sợ phải nộp phạt mà nhiều người vợ không dám đứng lên tố cáo chồng. Bên cạnh đó, mức xử phạt những hành vi vi phạm về bạo lực gia đình vẫn còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe.
Câu chuyện nêu trên là một điển hình cho sự bất cập của quy định về hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Ngoài ra, xét cho cùng đối với việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực bạo lực gia đình thì người vi phạm và người bị vi phạm cùng có chung lợi ích, do đều là thành viên trong gia đình. Khi người vi phạm bị xử lý bằng hình thức phạt tiền thì khoản tiền đóng phạt, nếu có, cũng là của gia đình. Ví dụ: Chồng hoặc vợ có hành vi vi phạm đến lợi ích của nhau thì sẽ phải nộp tiền phạt, nhưng khoản tiền họ nộp cũng là tài sản chung của vợ chồng. Có khi, người thường xuyên có hành vi vi phạm lại chính là người không tạo ra thu nhập cho gia đình. Vì thế, việc đóng phạt đối với họ không hề có tác dụng trong việc ngăn chặn tái phạm. Họ càng vi phạm, càng phải đóng phạt nhiều, thì kinh tế gia đình theo đó mà giảm sút và những người khác trong gia đình tiếp tục bị thiệt thòi quyền lợi.
Do đó, rất nhiều trường hợp nạn nhân phải đi nộp phạt thay người có hành vi vi phạm, và như vậy thì không thể giáo dục người vi phạm mà chỉ làm nạn nhân không muốn tố cáo lần sau. Tương tự, với trường hợp con chưa thành niên từ 16 tới 18 tuổi bị xử phạt vì hành vi bạo lực với bố mẹ, nếu họ không có tiền nộp phạt thì nạn nhân – bố mẹ họ phải nộp phạt thay.
Xuất phát từ những bất cập nêu trên, tôi cho rằng có thể bỏ chế tài phạt tiền, thay vào đó là chế tài lao động công ích trong xử lý vi phạm hành chính trong phòng, chống bạo lực gia đình và quy định bổ sung người bạo hành phải được giáo dục về các kiến thức về luật bạo hành, cũng như có sự hỗ trợ về mặt tâm lý. Biện pháp này có tính khả thi cao hơn vì nó có ý nghĩa giáo dục tích cực với người có hành vi bạo lực, đồng thời không ảnh hưởng tới quyền lợi của nạn nhân. Hơn thế nữa, biện pháp này còn có giáo dục tích cực đối với những cá nhân khác: họ không muốn phải chịu hình thức xử phạt công khai, có nhiều người biết tới như vậy, nên sẽ cố gắng tránh bằng cách không thực hiện hành vi vi phạm.
- Một số quy định có liên quan Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình là một trong những hành vì bị cấm theo quy định tại Điều 8, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Những hành vi này của cơ quan, người có thẩm quyền chính là một trong những nguyên nhân khiến tình trạng bạo lực gia đình không được cải thiện: người có hành vi bạo lực không bị xử lý càng hung hăng, cho là mình đúng; nạn nhân càng sợ sệt, không dám phản ứng; những người xung quanh thấy thế càng có lý do để thờ ơ, không quan tâm, thậm chí có thể cho rằng mình cũng có thể làm như vậy.
Ảnh hưởng của hành vi này là rất nghiêm trọng và nguy hiểm. Tuy nhiên, khi xem xét Nghị định 110 thì không thấy bất cứ một hình thức xử phạt nào cho những hành vi này, dù tất cả những hành vi bị cấm khác đều bị xử lý theo những mức độ khác nhau. Điều này là hoàn toàn vô lý và cần phải được sửa đổi. Do đó, tôi cho rằng cần phải quy định chặt chẽ hơn trách nhiệm của các cơ quan tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình: hành vi vi phạm cần phải bị xử lý; nhưng sự thờ ơ, thiếu quan tâm, vô trách nhiệm cũng cần có những chế tài thích đáng.
Bên cạnh đó, đã số Luật chống bạo lực gia đình của các nước trên thế giới đều lựa chọn cách quy định trực tiếp về các nội dung cần thiết ngay trong Luật, đặc biệt là quy định về chế tài, còn Luật phòng, chống bạo lực gia đình của nước ta lại viện dẫn đến các quy định trong các luật khác có liên quan hoặc các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành dẫn nên trong quá trình áp dụng phải mở rộng tới các văn bản pháp luật khác có liên quan. Điều đó thực sự làm người dân khó tiếp cận và hiểu được các chế tài sẽ bị áp dụng đối với người gây ra bạo lực, do đó tính răn đe và khả năng ngăn chặn hành vi bạo lực không cao.
Theo tôi cần sửa đổi, bổ sung một cách có hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình, trong đó chú trọng việc sửa đổi Luật phòng, chống bạo lực gia đình theo hướng quy định một cách trực tiếp các nội dung cần thiết ngay trong luật. Có như vậy, việc thực thi mới đem lại hiệu quả cao người, người áp dụng không phải lúng túng khi muốn tìm kiếm những nội dung liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình.
Thứ hai, tăng cường công tác phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền trong việc phòng, chống bạo lực gia đình, trong đó Sở Văn hóa, thể thao và du lịch các địa phương phải chủ động đưa ra các giải pháp thực hiện có hệ thống triển khai đến các đơn vị, địa phương trong toàn tỉnh; tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố có văn bản giao cho các cơ quan, địa phương từng nhiệm vụ cụ thể, phối hợp với nhau một cách liên thông, thống nhất, kết quả giao Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tiến hành sơ kết, tổng kết thường xuyên và báo cáo về UBND tỉnh, thành phố để phòng, chống bạo lực gia đình một cách có hiệu quả.
Thứ ba, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị – xã hội đang có vai trò quan trọng trong hoạt động phòng chống bạo lực gia đình. Các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội và cộng đồng giải quyết tốt hoạt động về phòng, chống BLGĐ, tham gia tích cực vào các hoạt động liên quan tới phòng chống BLGĐ bằng hình thức tuyên truyền, hòa giải, tư vấn thuyết phục,… Cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị – xã hội là những người gần dân nhất, dễ thuyết phục chủ thể bạo lực gia đình nhất. Thực tế ở Việt Nam đã xuất hiện những “Trung tâm hòa giải”; “Ban hòa giải”, “Tổ hòa giải” do các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội và cộng đồng (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân; Hội Cựu Chiến binh; Hội Người cao tuổi; Ban Mặt trận khu dân cư…) đứng ra tổ chức. Chính vì vậy, việc phát huy tốt vai trò của họ sẽ góp phần không nhỏ vào công cuộc phòng, chống bạo lực gia đình.
Thứ tư, ý thức của chủ thể bạo lực gia đình là điều kiện tiên quyết trong quá trình phát sinh hay hạn chế bạo lực gia đình. Trong điều kiện các định kiến về giới, phong tục tập quán đang còn đè nặng lên tâm lý người dân thì vấn đề tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức của người dân về phòng, chống bạo lực gia đình là vấn đề quan trọng cần được quan tâm đúng mức. Cần nâng cao số lượng, chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình một cách hiệu quả góp phần thiết thực vào việc hạn chế bạo lực gia đình xảy ra.
3.2.2. Giải pháp cụ thể áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Trong quản lý và điều hành đất nước, pháp luật là một trong những công cụ hữu hiệu bậc nhất của nhà nước. Đó là những quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành và được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế. Pháp luật đã được các nhà làm luật dày công nghiên cứu, xây dựng và ban hành, tuy nhiên, để nhân dân hiểu, tôn trọng thực hiện pháp luật lại là một con đường dài, nhất là ở những nước mà trình độ dân trí chưa cao như chúng ta. Đặc biệt, ở tỉnh Quảng Trị, mặt bằng dân trí thấp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, những tư tưởng phong kiến lạc hậu vẫn đang cắm rễ vào tâm thức của nhiều người dân: quan niệm gia trưởng, trọng nam khinh nữ … đang là những thách thức trong quá trình thực thi Luật phòng chống bạo lực gia đình.
Do đó, để Luật phòng chống bạo lực gia đình thực sự đi vào cuộc sống trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, tôi đề xuất một số giải pháp sau:
- Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương, đơn vị đối với vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình
Kinh nghiệm cho thấy, ở đâu có sự quan tâm, lãnh đạo kịp thời của các cấp ủy Đảng, chính quyền thì ở đó mọi vấn đề sẽ được giải quyết thấu đáo, triệt để. Công tác phòng chống bạo lực gia đình cũng nằm trong quy luật chung đó. Có thể nói, từ trước đến nay, bạo lực gia đình vẫn được coi như là chuyện riêng của mỗi cá nhân, mỗi gia đình. Mặc dù pháp luật Hình sự, Luật hôn nhân và gia đình, Bộ Luật dân sự… cũng có những quy định liên quan, tuy nhiên rất khó thực thi và còn dừng ở ngưỡng cửa mà chưa vào được bên trong gia đình. Hiện này chúng ta đã có Luật phòng, chống bạo lực gia đình, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, chính quyền, đoàn thể, là cơ sở pháp lý để các cấp ủy đảng chính quyền phát huy và thực hiện vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của mình.
Bên cạnh đó, các ngành hữu quan như Hội liên hiệp phụ nữ, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch… cần xây dựng quy chế phối hợp, đào tạo bồi dưỡng những cán bộ có đủ năng lực để đảm trách công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Việc phòng chống bạo lực gia đình là trách nhiệm chung của mọi gia đình và toàn xã hội, do đó cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung của chính quyền và sự phối hợp chặt chẽ của các đoàn thể nhân dân. Phải đưa nội dung Phòng chống bạo lực gia đình vào chương trình, kế hoạch công tác. Hàng năm, các cấp uỷ, chính quyền cơ sở thực hiện tốt việc nắm tình hình các vụ bạo lực gia đình để ngăn chặn kịp thời, không để xảy ra các vụ án nghiêm trọng. Chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động của công tác hoà giải từ cơ sở, để góp phần ngăn chặn giải quyết tốt các mâu thuẫn, xung đột trong gia đình.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Phổ biến, giáo dục pháp luật là cầu nối giữa pháp luật và nhân dân. Đây là khâu đầu tiên của quá trình thực hiện pháp luật. Pháp luật có được thực thi trên thực tế hay không phụ thuộc phần lớn vào sự nhận thức của người dân có được đầy đủ, toàn diện. Từ sự nhận thức đầy đủ, ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân sẽ được nâng cao. Một số nghiên cứu cho biết, BLGĐ chủ yếu là bạo lực trên cơ sở giới tức là bạo lực liên quan tới phụ nữ trong đó nam giới thường là thủ phạm và phụ nữ là nạn nhân của bạo lực. Như vậy, có thể nói bạo lực gia đình là hình thức nghiêm trọng của bất bình đẳng giới trong gia đình. Do vậy, việc tăng cường tuyên truyền về bình đẳng giới trong gia đình có thể làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử đối với phụ nữ và trẻ em gái theo nguyên tắc bình đẳng giới. Bằng cách đó, bạo lực gia đình được phòng, chống một cách căn bản và triệt để.
Pháp luật quy định để có căn cứ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thì bản thân những người bị xâm phạm phải đứng lên tố cáo những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm đó. Để có thể xử lý các hành vi bạo lực đối với phụ nữ thì cũng cần có các chứng cứ cụ thể về những hành vi bạo lực đó. Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất ít phụ nữ bị ngược đãi, xâm hại trong gia đình dám đứng ra tố cáo hành vi đó trước pháp luật và nhờ pháp luật can thiệp và bạo lực trong gia đình với những hành vi ngược đãi, hành hạ về tinh thần, tình dục không dễ dàng gì để chỉ ra các chứng cứ. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền phải làm sao đạt được mục đích là tạo nên sức mạnh cho nạn nhân bị bạo lực gia đình tự mình đứng lên tố cáo những hành vi bạo lực gia đình.
- Để làm tốt công tác này, trong công tác phổ biến, giáo dục cần chú trọng các nội dung sau:
Bám sát nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu của Luật phòng, chống bạo lực gia đình trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Về nguyên tắc phòng chống bạo lực gia đình: kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã dành chương II “Phòng ngừa bạo lực gia đình” nhằm mục đích tránh những hậu quả, thiệt hại có thể xảy ra khi có hành vi bạo lực gia đình. Mục 1, chương II đã nêu lên mục đích, yêu cầu, nội dung về thông tin tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể:
Thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm mục đích thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, góp phần tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình và nâng cao nhận thức về truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam. Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền phải đảm bảo chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết thực; phù hợp với từng đối tượng, trình độ, lứa tuổi, giới tính, truyền thống, văn hoá, bản sắc dân tộc, tôn giáo; không làm ảnh hưởng đến bình đẳng giới, danh dự, nhân phẩm, uy tín của nạn nhân bạo lực gia đình và các thành viên khác trong gia đình.
Nội dung thông tin, tuyên truyền tập trung vào: chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới, quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình; truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt nam; tác hại của bạo lực gia đình; biện pháp, mô hình, kinh nghiệm trong phòng, chống bạo lực gia đình; kiến thức về hôn nhân và gia đình; kỹ năng ứng xử, xây dựng gia đình văn hoá và các nội dung khác có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình. Việc thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện thông qua các hình thức: thực hiện trực tiếp; thông qua phương tiện thông tin đại chúng; lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn hoá quần chúng khác.
Đối mới các nội dung và hình thức tuyên truyền cho phù hợp với từng đối tượng: cần sử dụng các phương tiện nghe, nhìn, pa nô, áp phích, tờ rơi, bộ tranh, báo, đài, truyền hình, giúp mọi người hiểu rõ các hình thức, đặc điểm, tính chất của BLGĐ, các nguyên nhân, điều kiện và cơ chế BLGĐ, các hậu quả của BLGĐ và các biện pháp phòng chống BLGĐ. Riêng các tờ rơi tuyên truyền cần đảm bảo phát đến tận tay người dân. Tuyên truyền bằng cách lồng ghép nội dung vào các cuộc họp, sinh hoạt ở địa phương. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Tổ chức các cuộc nói chuyện, tọa đàm, tạo ra diễn đàn trao đổi có sự tham gia của phụ nữ, trẻ em và nam giới nhằm tuyên truyền về tình hình và các biện pháp phòng chống BLGĐ. Huy động sự tham gia tích cực của nam giới trong phòng chống bạo lực gia đình. Nam giới không thể đứng ngoài cuộc vì đây chính là đối tượng có thể làm thay đổi vấn đề bạo lực gia đình bằng cách thông qua các buổi họp cộng đồng, thông qua tuyên truyền trong dòng họ vì chính trong các sinh hoạt của dòng họ thu hút rất đông sự tham gia của các nam giới. Trong các buổi họp dòng họ này cần xác định và tuyên truyền cho người có tầm ảnh hưởng trong dòng họ trước, sau đó từ những người này mới tiến hành tuyên truyền thay đổi suy nghĩ của những người đàn ông khác trong dòng họ.
Chú trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tác động và hậu quả của BLGĐ lên cuộc sống và phát triển của trẻ em trong gia đình có bạo lực. Chứng kiến những cảnh BLGĐ diễn ra trong gia đình sẽ tác động lớn đến tâm sinh lý và phát triển của trẻ em. Cần có chương trình đặc biệt về nâng cao nhận thức về vấn đề bạo hành trong gia đình cho phụ nữ và trẻ em gái để giúp cho phụ nữ và các em gái có kiến thức cần thiết khi đối mặt với bạo hành gia đình (tìm đến ai và ở đâu để trình báo khi bị bạo hành). Cần tập trung cho việc giáo dục trẻ em ngay từ đầu vì đây mới chính là phương án mang tính lâu dài. Những chương trình nâng cao nhận thức này phải được thiết kế phù hợp với trình độ, ngôn ngữ và cả truyền thống, tập quán của nhóm dân cư.
- Lấy gia đình làm hạt nhân, nâng cao ý thức tự giác của mỗi thành viên trong gia đình
Như chúng ta đã biết, nếp sống, cách giáo dục của gia đình ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách, tâm hồn mỗi con người. Nếu sống trong gia đình có bạo hành thì những thành viên sẽ dần ý thức một cách sai lầm rằng: bạo lực là cách giải quyết các vấn đề trong gia đình (và cả ngoài xã hội). Do đó, trong phổ biến giáo dục Luật phòng, chống bạo lực gia đình, phải lấy gia đình là hạt nhân tuyên truyền, làm cho mọi thành viên phải ý thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong mối quan hệ gia đình, trách nhiệm của bản thân để xây dựng, gìn giữ tổ ấm gia đình, tránh tình trạng bạo lực xảy ra.
Bên cạnh đó, cần tác động trực tiếp vào nhận thức của từng cá nhân về phòng, chống bạo lực gia đình. Điều đó có nghĩ là phải đánh bật những tư tưởng phong kiến cổ hủ, lạc hậu và những nhận thức sai lầm trong nhân dân (tư tưởng trọng nam khinh nữ, phụ nữ phải biết “vâng lời” chồng, giữ gìn gia phong bằng cách im lặng với những hành vi bạo lực vì sợ mất thể diện, sợ con cái lên án…). Đồng thời cần làm rõ cho người dân hiểu như thế nào là “hành vi bạo lực gia đình”, tác hại của nó ra sao, sẽ bị xử lý như thế nào và cần làm gì để phòng chống bạo lực gia đình. Mục tiêu cuối cùng là để nâng cao nhận thức, từ đó thay đổi thái độ và hành vi của từng cá nhân và cả cộng đồng: những nạn nhân của bạo lực gia đình có ý thức tự giác, tự mình tố cáo, có thái độ phản kháng và tìm đến sự bảo vệ quyền lợi cho bản thân (Mặc dù đã có Luật nhưng trong một số trường hợp, các cơ quan chức năng chỉ có thể hỗ trợ nạn nhân khi nạn nhân yêu cầu hoặc phải có sự đồng ý của nạn nhân); người có hành vi bạo lực gia đình phải biết dừng lại và thực hiện nghĩa vụ với nạn nhân, ngoài ra còn phải chấp hành sự xử lý nghiêm minh của pháp luật; cộng đồng không thờ ơ và không coi bạo lực gia đình là chuyện riêng bên trong ngưỡng cửa của mỗi gia đình theo tư tưởng “đèn nhà ai nhà nấy rạng”. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
- Phổ biến Luật phòng, chống bạo lực gia đình phải được thực hiện một cách đồng bộ, lồng ghép với những nội dung khác có liên quan.
Bạo lực gia đình được thế giới xem là vấn đề có tính toàn cầu. Ở Việt Nam, đây cũng là vấn đề phức tạp, cần có sự chung tay góp sức của các cấp, các ngành, các đoàn thể, các tổ chức và không thể giải quyết trong một sớm một chiều.
Cần lồng ghép tuyên truyền Luật phòng, chống bạo lực gia đình cùng với các văn bản luật liên quan, đặc biệt như: Luật bình đẳng giới, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh người cao tuổi. Như vậy mới cung cấp cho nhân dân một tổng quan đầy đủ về vấn đề phòng chống bạo lực gia đình, đồng thời cũng tận dụng những nguồn lực sẵn có để phục vụ công tác tuyên truyền.
Đây là một giải pháp quan trọng nhằm cụ thể hoá các chỉ tiêu, mục tiêu về phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình, tránh việc tuyên truyền chung chung không gắn với chỉ đạo cụ thể, trách nhiệm quản lý của Lãnh đạo các ngành, các cấp. Việc thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động, ổn định đời sống gia đình, sẽ góp phần hạn chế bạo lực gia đình do nguyên nhân từ kinh tế khó khăn. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở”, trọng tâm là phong trào xây dựng gia đình văn hoá, được bổ sung tiêu chí “Không có bạo lực trong gia đình” vào tiêu chuẩn xét duyệt công nhận danh hiệu gia đình văn hoá hàng năm.
- Việc tuyên truyền không được khoét sâu vào nỗi đau của nạn nhân hoặc làm cho mâu thuẫn gia đình trở nên sâu sắc.
Trên thực tế, đôi khi người tuyên truyền do thiếu kỹ năng và vốn sống nên vô tình đã biến công tác tuyên truyền thành “phản tuyên truyền”. (Ví dụ thời gian qua chúng ta tuyên truyền về HIV/AIDS đã làm cho người dân hiểu lầm, đánh đồng vấn đề này với ma tuý, mại dâm và dẫn đến tình trạng coi HIV là tệ nạn). Đối với tuyên truyền về Luật phòng, chống bạo lực gia đình thì yêu cầu này phải được coi trọng. Nạn nhân của bạo lực gia đình phần lớn có tâm lý mặc cảm, e ngại (thậm chí lo sợ) người khác biết tình trạng của mình. Do đó, tránh trường hợp tuyên truyền làm họ càng mang nặng mặc cảm này, hoặc thiếu tế nhị gây đổ vỡ cho các gia đình. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Thứ ba, tích cực thực hiện các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình; Nghiên cứu xây dựng những mô hình điểm phòng, chống bạo lực gia đình tại cơ sở.
Qua thực tế đã chứng minh, việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình ở địa bàn tỉnh Quảng Trị đang còn những hạn chế nhất định và chưa phát huy được giá trị đích thực của nó. Vì vậy, để ngăn chặn một cách có hiệu quả bạo lực gia đình đang diễn ra, cần tích cực thực hiện các biện pháp này. Gia đình, cộng đồng và các cơ quan chức năng cần nâng cao nhận thức về trách nhiệm của mình đối với việc thực hiện các biện pháp này, phải xóa bỏ quan niệm quan niệm sai lầm “chuyện chồng đánh vợ chỉ là một chuyện bình thường trong lúc nóng giận” mà phải xem đó là một vấn nạn chung của toàn xã hội. Trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và các cơ quan chức năng là phải tích cực và khiêm khắc trong việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn và bảo vệ nạn nhân như: phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình, buộc chấm dứt hành vi bạo lực, cấp cứu nạn nhân, biện pháp cấm tiếp xúc…nhằn ngăn chặn và hạn chế bạo lực nghiêm trọng có thể xảy ra, bảo vệ quyền lợi cho nạn nhân bạo lực gia đình
Việc xây dựng những mô hình điểm phòng, chống bạo lực gia đình tại cơ sở là vấn đề rất mới. Mặc dù trên địa bàn đã tiến hành thực hiện thí điểm một số mô hình và đã đem lại kết quả thiết thực. Tuy nhiên, do đặc thù của địa bàn với các địa phương có các điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau, vì vậy trong quá trình triển khai thực hiện còn gặp một số khó khăn, lúng túng. Vì vậy, cần nghiên cứu, rút kinh nghiệm từ những mô hình của các tỉnh bạn để xây dựng mô hình thí điểm thích hợp với tình hình địa phương mình. Kinh nghiệm thành lập và tổ chức hoạt động các câu lạc bộ là nơi vui chơi, giải trí của các gia đình ở Hà Nội cho thấy, việc xây dựng các câu lạc bộ, lồng ghép các hoạt động giải trí với tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về công tác gia đình đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: sau 30 tháng triển khai (từ tháng 8/2008 đến 31/12/2010), tình hình BLGĐ đã giảm mạnh. Nếu năm 2008, tại 64 xã triển khai mô hình xảy ra 1.071 vụ BLGĐ thì đến năm 2010 số vụ bạo lực gia đình chỉ còn 238 vụ, giảm 77,8%. Đặc biệt, tại các địa bàn triển khai mô hình trong giai đoạn này không có vụ việc nghiêm trọng xảy ra. Nếu được triển khai mô hình này ở các địa phương trên địa bàn tỉnh, tính thực thi pháp luật đối với các quy định về thực hiện mô hình phòng, chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị sẽ đạt được những kết quả khả quan hơn.
Phát huy chức năng, nhiệm vụ của “Đội dân phòng cơ động nữ” được thành lập ở phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Trị nên thành lập các đội như thế này nhằm phát hiện, ngăn chặn một cách sớm nhất những hành vi bạo lực gia đình có thể xảy ra. Theo quy định của UBND phường Khuê Mỹ, Đội dân phòng cơ động nữ này có nhiệm vụ tuần tra, canh gác, nhằm phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm an ninh trật tự, bảo vệ địa bàn dân cư và triển khai nhiều hoạt động khác liên quan đến việc giữ gìn an ninh trật tự, hòa giải trong dân cư, tham gia công tác phòng chống cháy nổ, phòng chống thiên tai. Tuy nhiên, để phát huy một cách tối đa nhiệm vụ của mình, cần bổ sung thêm nhiệm vụ “phát hiện, ngăn chặn bạo lực gia đình cho” Đội dân phòng cơ động này. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Bên cạnh việc xây dựng mạng lưới chuyên trách ngăn chặn bạo lực gia đình, để hoàn thiện cơ chế xã hội phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, cần mở rộng và đẩy mạnh hoạt động của các cơ sở tư vấn và hỗ trợ về phòng, chống bạo lực gia đình đồng thời thực hiện xã hội hoá trên các lĩnh vực: giáo dục, y tế, dạy nghề, văn hoá, văn nghệ, thể thao. Số lượng và chất lượng hoạt động của các cơ sở tư vấn và hỗ trợ phải được tăng cường. Các cơ sở tư vấn và hỗ trợ về phòng, chống bạo lực gia đình được thành lập và giải thể theo sự hướng dẫn của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Các cơ sở tư vấn, hỗ trợ sẽ giúp người phụ nữ nâng cao nhận thức của mình về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, thấy được mình là đối tượng được pháp luật bảo vệ, biết cách bảo vệ mình trước bạo lực gia đình đồng thời bảo vệ, hỗ trợ người phụ nữ khi họ là nạn nhân của bạo lực gia đình. Các cơ sở tư vấn và hỗ trợ về phòng, chống bạo lực gia đình còn có vai trò tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, kiến thức về phòng, chống bạo lực gia đình.
- Thứ tư, tăng cường khảo sát, nắm tình hình về bạo lực gia đình
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh cần chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan để điều tra, khảo sát, nắm tình hình, diễn biến của bạo lực gia đình ở các địa phương trong toàn tỉnh. Trên cơ sở đó, các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Việc khảo sát chính xác sẽ giúp cho các cơ quan có thẩm quyền đánh giá đúng hơn, sát hơn về thực trạng bạo lực gia đình trên địa bàn, từ đó đưa ra các phương pháp có hiệu quả thiết thực hơn nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình xảy, góp phần thúc đẩy tính khả thi của Luật phòng, chống bạo lực gia đình.
Thứ năm, Thường xuyên sơ kết, tổng kết, đánh giá hiệu quả, rút kinh nghiệm, biểu dương, khen ngợi cá nhân, tập thể có thành tích trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình
Pháp luật được xây dựng trên sự đòi hỏi của thực tiễn, nhưng lại mang nặng ý chí chủ quan của người làm luật. Thực tiễn cuộc sống là môi trường tốt nhất để kiểm nghiệm tính đúng đắn của pháp luật. Do đó, trong thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình, cần phải thường xuyên sơ kết, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm. Trong thực tế, chúng ta đôi khi coi nhẹ vấn đề này. Ngay từ ban đầu, khi xây dựng kế hoạch thực hiện, phải đề ra thời hạn và mục tiêu cụ thể và đây là căn cứ để chúng ta đối chiếu khi sơ kết, tổng kết, từ đó rút ra những kinh nghiệm, kiến nghị, đề xuất để xây dựng phương hướng hoạt động trong giai đoạn tiếp theo.
Cần biểu dương gương người tốt, việc tốt của các cá nhân và tập thể trong thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình nhằm động viên, khuyến khích và tạo hiệu ứng cho toàn xã hội cùng tham gia.
Các giải pháp trên nếu được thực hiện một cách đồng bộ và có hệ thống thì sẽ nâng cao hiệu quả tính thực thi của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình và bạo lực gia đình sẽ phần nào được hạn chế và từng bước đẩy lùi.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Liệu xã hội có bình yên, nếu nhiều gia đình trong đó thường xuyên trong tình trạng mâu thuẫn, bất ổn? Đó là câu hỏi mà chúng ta không cần phải giải đáp, bởi lẽ một vấn đề đương nhiên xảy ra “Gia đình là tế bào của xã hội”, một tế bào bị tổn thương thì cả xã cũng ảnh hưởng theo và nhiều gia đình – nhiều tế bào bị tổn thương thì xã hội không thể bình yên. Bạo lực gia đình gây nên những mâu thuẫn, những bất ổn trong gia đình, nó như cơn sóng ngầm có sức tàn phá rất lớn đến hạnh phúc của mỗi gia đình và để lại những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình và xã hội.
Mặc dù Việt Nam đã có một hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh về phòng, chống bạo lực gia đình, nhưng qua thực tế những gì đang diễn ra, chúng ta có thể thấy bạo lực gia đình bạo lực gia đình đang nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát của những quy định của pháp luật. Đã đến lúc, cả xã hội phải góp sức, chung tay phòng, chống bạo lực gia đình để đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đem lại hạnh phúc cho con người nói chung và người phụ nữ nói riêng, góp phần nâng cao tính thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên thực tế.
Đánh giá thực trạng tình hình bạo lực gia đình, nghiên cứu tính thực thi của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trên một địa bàn để rút ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó và từ đó đề ra những giải pháp để góp phần “kiểm soát” vấn nạn bạo lực gia đình đang diễn ra là một yêu cầu bức thiết. Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Chính vì vậy, Luận văn đã phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn về bạo lực gia đình, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và đi sâu phân tích những hạn chế, tồn tại trong quá trình thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao tính thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình với mong muốn góp một phần công lao nhỏ bé của mình vào sự nghiệp phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung để gia đình luôn luôn là tổ ấm, xã hội luôn luôn bình yên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị