Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình (qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bạo lực gia đình là vấn đề xâm phạm đến quyền con người, bạo lực gia đình đã tồn tại từ lâu đời trong xã hội Việt Nam và diễn ra hầu hết các tầng lớp trong xã hội, ở cả nông thôn, thành thị với mức độ trầm trọng. Bạo lực gia đình ảnh hưởng nghiệm trọng đến thể chất, tình cảm, tài chính của nạn nhân, xã hội và cộng đồng, mà trong đó chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình. Từ năm 1980, Chính phủ Việt Nam đã ký kết gia nhập Công ước về loại bỏ các hình thức phân biệt đối với phụ nữ (CEDAW), ban hành các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến bạo lực gia đình như Hiến pháp, Bộ Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình,…Tuy nhiên, những văn bản này mới dừng lại ở mức độ phòng ngừa, chưa có các chế định cụ thể, áp đặt đối với vấn đề bạo lực gia đình. Năm 2006, Luật Bình đẳng giới được thông qua quy định vấn đề bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống và chi tiết về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân nhằm đảm bảo những nguyên tắc này. Tiếp theo là Luật phòng, chống bạo lực gia đình được thông qua năm 2007 đã nêu lên một thông điệp rõ ràng bạo lực gia đình là không thể chấp nhận được và không thể coi đó là chuyện riêng tư của mỗi gia đình mà đã được pháp luật công nhận và bảo vệ, luật này đã đưa ra những biện pháp bảo vệ để ngăn không cho bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình. Việc ra đời của Luật phòng, chống bạo lực gia đình là một trong những công cụ pháp lý để bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình, là cơ sở pháp lý để nâng cao vai trò, hiệu quả công tác phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam.
Quá trình áp dụng và triển khai thực hiện luật về cơ bản đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, vấn đề bạo lực gia đình đã được nhìn nhận một cách thực sự và góp phần vào việc hạn chế áp lực của truyền thống văn hóa và niềm tin vào sức mạnh của gia đình. Tuy nhiên, theo Báo cáo nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc công bố ngày 25/11/2011, cứ ba phụ nữ có gia đình hoặc đã từng có gia đình thì có một người (34%) cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục. Số phụ nữ có hoặc từng có gia đình hiện đang phải chịu một trong hai hình thức bạo hành này chiếm 9%. Nếu xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong đời sống vợ chồng – thể xác, tình dục và tinh thần, thì có hơn một nửa (58%) phụ nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo lực gia đình kể trên. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị người khác lạm dụng [45]. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Đối với tỉnh Quảng Trị, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể năm 2011 đã ban hành 655 văn bản chỉ đạo, lãnh đạo có liên quan đến bạo lực gia đình, trong đó: 70 văn bản chỉ đạo của Đảng uỷ về phòng, chống BLGĐ, 47 văn bản chỉ đạo của Hội đồng nhân về phòng, chống BLGĐ, 103 văn bản chỉ đạo của UBND về phòng, chống BLGĐ, 59 văn bản chỉ đạo của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, 51 quyết định thành lập Ban chỉ đạo về phòng, chống BLGĐ, 325 quyết định thành lập nhóm phòng, chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, tình hình bạo lực gia đình không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng. Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh thì trong năm 2011 đã xảy ra 1.632 vụ bạo lực gia đình, trong đó số vụ bạo lực gia đình đối với phụ nữ là 1.290, chiếm đến 79,04%. Số vụ việc về về hôn nhân gia đình, ly hôn tăng cao và hầu hết người vợ là nguyên đơn. Năm 2006, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã xét xử 397 vụ ly hôn, trong đó có 268 vụ do đánh đập ngược đãi (chiếm 66%). Năm 2010 tại các địa phương trong tỉnh đã có 550 vụ án hôn nhân và gia đình, đến 30/12/2011 trên địa bàn tỉnh có 657 vụ, án hôn nhân cao nhất là Vĩnh Linh 167 vụ, Thành phố Đông Hà 149 vụ (bình quân có 1,8 cặp kết hôn có 1 cặp ly hôn). Nguyên nhân do xung đột, mâu thuẫn vợ chồng chiếm 70% [40,41].
Qua số liệu trên đây cho thấy, việc ra đời của Luật phòng, chống bạo lực gia đình vẫn chưa góp phần thiết thực vào việc hạn chế tình trạng bạo lực gia đình đang diễn ra trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói riêng.
Nhằm đánh giá một cách có hiệu quả tính thực thi của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị, xác định được những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân và có hướng đề xuất sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính thực thi của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, góp phần hạn chế tối đa tình trạng bạo lực gia đình đang diễn ra trên địa bàn Quảng Trị, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình (qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Cho đến nay ở Việt Nam chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình và thực tiễn áp dụng luật trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, các nghiên cứu chủ yếu về các vấn đề chung của bạo lực gia đình như: Kết quả từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ Việt Nam của Tổng cục Thống kê Việt Nam; Bạo lực gia đình và hệ quả của nó tại một số tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên của ThS Lê Thị Nga; Tổng quan về bạo lực và pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, trẻ em của TS. Nguyễn Thị Kim Phụng; Bạo lực gia đình đối với phụ nữ – nhìn từ góc độ pháp lý của ThS. Nguyễn Thị Thanh Hải; Pháp luật bảo vệ phụ nữ, trẻ em nhằm phòng, chống bạo lực gia đình và một số giải pháp hoàn thiện của tác giả Nguyễn Cảnh Quý; Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phòng, chống bạo lực gia đình; Luận văn thạc sĩ Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay của Đinh Thị Hồng Minh; Nghiên cứu bạo lực gia đình ở Việt Nam của TS Hoàng Bá Thịnh (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn); Đề tài Nghiên cứu đánh giá thực trạng và xây dựng một giải pháp nâng cao bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình cho phụ nữ Thái Bình của Bác Sỹ y khoa Phó Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Thái Bình Trần Thị Ngọc Lan và cộng sự; Những vấn đề lý luận cơ bản về bạo lực gia đình; Nghiên cứu rà soát các chương trình chống bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam; Gian nan cuộc đấu tranh chống bạo lực gia đình và một số bài viết trên các báo điện tử.
Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết các vấn đề:
- Phần nào đã đề cập đến khái niệm bạo lực gia đình, các hình thức bạo lực gia đình, nguyên nhân, hậu quả của vấn đề bạo lực gia đình và thực trạng bạo lực gia đình đang xảy ra;
- Về cơ bản đã hệ thống được các văn bản pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam và so sánh với các nước trên thế giới;
- Đã đưa ra được một số giải pháp nhằm giảm bạo lực gia đình và nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật về bạo lực gia đình. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Tuy nhiên, những vấn đề trên mang tính chất khái quát, phương diện rộng chưa đề cập đến vấn đề thực thi pháp luật trên một địa bàn cụ thể. Mỗi bài viết nhìn ở một góc độ khác nhau, giải quyết những vấn đề riêng biệt và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tập trung khái quát về vấn đề này tại Quảng Trị. Chính vì vậy, căn cứ trên những kết quả của những nghiên cứu trước và tình hình thực tế của địa phương mình, đề tài kế thừa những kết quả nghiên cứu trước để nghiên cứu một cách sâu hơn về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình (qua thực tiễn áp dụng pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị) từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị cụ thể.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn phòng, chống bạo lực gia đình, ý nghĩa của vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình dưới góc độ xã hội và pháp lý. Phát hiện những quy định của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình chưa phù hợp và bất cập trong thực tế thực hiện. Qua quá trình nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị giúp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả trong quá trình áp dụng, thực hiện pháp luật.
Để đạt được các mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu pháp luật Việt Nam từ quá khứ, hiện tại về phòng, chống bạo lực gia đình và một số quy định của một số nước để so sánh, đối chiếu.
- Thứ hai, nghiên cứu các căn cứ pháp lý về phòng, chống bạo lực gia đình.
- Thứ ba, nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị qua một số vụ việc cụ thể, từ đó tìm hiểu các vướng mắc, bất cập còn tồn tại và đề xuất hướng hoàn thiện
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định về phòng, chống bạo lực gia đình, chủ yếu là Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 và các văn bản khác có liên quan.
- Các vụ việc về bạo lực gia đình đã xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2009 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong quá trình nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá: Các phương pháp này được sử dụng trong việc làm sáng tỏ các khái niệm và nội dung của các quy phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; Phương pháp này cũng được sử dụng để làm sáng tỏ các số liệu đã thu thập được và các vấn đề có liên quan để đi đến các kết luận, nhận xét và là cơ sở để đề xuất các giải pháp cho vấn đề.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để so sánh các quy định pháp luật giữa các nước trên thế giới với Việt Nam để làm rõ hơn các khái niệm, các quy định có liên quan.
- Phương pháp phỏng vấn: Được sử dụng để làm rõ hơn thực trạng phòng, chống bạo lực gia đình đối với một số trường hợp điển hình.
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp quy nạp, diễn dịch, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn …để làm rõ vấn đề.
6. Những điểm mới và Ý nghĩa của luận văn
Là đề tài đầu tiên nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Việc nghiên cứu đề tài sẽ hệ thống được một cách cụ thể nhất quá trình hình thành và phát triển pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình từ trước năm 1945 đến nay; đánh giá một cách sát nhất thực trạng thực thi các quy định về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; tìm ra nguyên nhân bất cập, hạn chế trong quá trình áp dụng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tính thực thi của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm hạn chế tối đa tình trạng bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn còn gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về bạo lực gia đình
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
- Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn Quảng Trị và Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm gia đình và thành viên gia đình
Gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Những chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới. Trong thực tiễn, khái niệm về gia đình vẫn chưa được xác định một cách thống nhất và rõ ràng.
Tuỳ thuộc vào quan điểm và các phương pháp tiếp cận, người ta có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về Gia đình. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đồng thuận một cách hiểu chung nhất: Gia đình là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mỗi thành viên, nhất là trẻ em.
Ở Việt Nam, quan niệm về gia đình được nhiều nhà xã hội học thừa nhận là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm). Giữa họ là những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình.
Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi nhận tại điều 8 trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2000: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này”. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Quan hệ nuôi dưỡng: từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia thành rất nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống; gia đình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầy đủ,…
Xuất phát từ những quan niệm khác nhau về gia đình dẫn tới những quan niệm khác nhau về thành viên gia đình.
Ở góc độ tổng quát nhất, phạm vi các đối tượng được coi là thành viên gia đình cũng chính là phạm vi của quan hệ gia đình. Đây là khía cạnh rất quan trọng khi xác định phạm vi điều chỉnh của luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở các quốc gia.
Về vấn đề này, Luật mẫu về bạo lực gia đình do Ủy ban Quyền con người Liên hợp quốc thông qua năm 1996 khuyến khích các quốc gia xác định phạm vi các quan hệ điều chỉnh trong Luật về phòng, chống bạo lực gia đình càng rộng càng tốt, trong đó ít nhất phải bao gồm quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa người tình với người tình sống chung như vợ chồng, quan hệ với người tình cũ, vợ hay chồng cũ, quan hệ với những người thân khác là nữ trong gia đình (mẹ, con gái, chị em gái,..).
Liên quan đến vấn đề trên, Luật về phòng, chống bạo lực gia đình của các nước và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Niu Di lân, Nam Phi, Cam pu chia, Đài Loan, Đông Ti-mo và Cô-xô-vô, Phi-líp-pin, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào…quy định phạm vi quan hệ gia đình được điều chỉnh khá rộng, trong đó bao gồm các đối tượng như vợ chồng (cả hợp pháp hoặc thực tế), tình nhân, vợ chồng cũ, con cái, các thành viên gia đình và cả những người thân thích đang sống chung một nhà.
Ở Việt Nam, Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 chỉ rõ: quan hệ gia đình bao gồm quan hệ giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau. Còn Khoản 10 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 lại định nghĩa gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau,…
Như vậy, thành viên gia đình theo tôi được hiểu theo hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: xuất phát từ khái niệm gia đình thì thành viên gia đình bao gồm những người trong một gia đình được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng.
- Nghĩa rộng: thành viên gia đình được hiểu là những người trong cùng một gia đình, có đời sống chung về mặt vật chất và tinh thần như cha, mẹ và con cái, vợ và chồng, trong đó bao gồm các đối tượng như vợ chồng (cả hợp pháp hoặc thực tế)… Những người này có một khoảng thời gian sống chung với nhau ổn định, có sự quan tâm chia sẻ với nhau những công việc của gia đình và xã hội, từ đó hình thành nên mối liên hệ đặc biệt về tâm lý, tình cảm, tạo nên cách ứng xử giữa họ với nhau.
1.1.2. Khái niệm bạo lực và bạo lực gia đình Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Bạo lực là một hiện tượng xã hội và được các nhà nghiên cứu xã hội học xác định là một vấn đề được hình thành như là một lẽ tự nhiên của con người. Đối với người tiền sử, đã có những bằng chứng khảo cổ chứng minh cả bạo lực lẫn hòa bình là những đặc tính sơ khai của con người. Đã có nhiều định nghĩa về bạo lực. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt năm 1998: “Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp chống lại lực lượng đối lập hay lật đổ chính quyền” [11], hoặc theo Từ điển Tiếng Việt năm 2003, thì “Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp hoặc lật đổ” [54]. Nhà sinh vật học thần kinh Jan Volavka nhấn mạnh rằng: “hành vi bạo lực được định nghĩa như hành vi gây hấn thể chất một cách cố ý chống lại người khác” [53]. Tuy nhiên, không phải bất cứ hình thức bạo lực nào cũng hướng vào việc trấn áp, chống lại hoặc lật đổ các phe phái chính trị và chính quyền mà trên thực tế bạo lực giải quyết một sự bất hòa trong quan hệ xã hội; một sự tranh chấp quyền lợi giữa hai người; giành lấy quyền và lợi ích cho mình. Trong những trường hợp nhất định, bạo lực có thể có vai trò tích cực trong xã hội, song nó có thể trở thành tiêu cực, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội nếu bạo lực được sử dụng sai mục đích. Như vậy, bạo lực chính là một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung và có liên quan tới mối quan hệ người gây hấn – nạn nhân mà chúng ta nhận thức được.
Trong luật học, “bạo lực” được định nghĩa gắn liền với thuật ngữ “gia đình”. Hiện, đã có trên 89 nước trên thế giới có các quy định pháp luật riêng về chống bạo lực gia đình, trong đó có 60 nước nước có luật riêng về phòng chống bạo lực gia đình; 7 nước có luật riêng về bạo lực chống lại phụ nữ,… và đã có nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về “bạo lực gia đình”.
Theo Bộ luật của Bang Georgia (Mỹ) số 19-13-1 định nghĩa bạo lực trong gia đình là một số hành vi tội phạm thực hiện giữa những người có quan hệ với nhau. Các hình thức tội phạm bao gồm hành hung, doạ nạt, rình rập, phá hoại tài sản mang tính tội phạm, câu thúc bất hợp pháp, xâm nhập mang tính tội phạm và bất cứ tội hình sự nào khác. Các hành vi diễn ra giữa những con người có liên hệ với nhau như vợ chồng trong hiện tại hay quá khứ, là cha mẹ chung của cùng một đứa trẻ, cha mẹ và con cái, cha mẹ kế và con kế hoặc ngay cả những người ngoài hiện đang hoặc đã sống chung trong một gia đình.
Định nghĩa bạo lực gia đình của Liên hợp quốc thông qua năm 1993 được các tổ chức cũng như nhà khoa học trên thế giới chấp nhận rộng rãi thì BLGĐ là bất kỳ hành động bạo lực nào dẫn đến hoặc có thể dẫn đến những tổn thất về thân thể, tâm lý hay tình dục hay những đau khổ của người trong gia đình, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, việc cưỡng bức hay tước đoạt sự tự do. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Theo Luật mẫu về bạo lực gia đình của Ủy ban nhân quyền của Liên Hợp quốc ngày 02/02/1996: “BLGĐ là tất cả các hành vi lạm dụng thể chất, tinh thần, tình dục dựa trên cơ sở giới đối với một thành viên, một phụ nữ trong gia đình, từ hành vi đánh đập đơn giản đến gây thương tích nặng, bắt cóc, đe doạ, doạ dẫm, cưỡng bức, quấy rối, lăng nhục bằng lời nói, dùng vũ lực để vào nhà trái pháp luật, phóng hoả, huỷ hoại tài sản, bạo lực tình dục, hiếp dâm trong hôn nhân, bạo lực liên quan đến thách cưới hoặc của hồi môn,cắt bộ phận sinh dục nữ, bạo lực liên quan đến bóc lột mại dâm, bạo lực đối với người giúp việc trong gia đình…”[50].
Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực trong gia đình bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ XX. Sau Hội nghị quốc tế về bạo lực trên cơ sở giới tổ chức ở Bali năm 1993 và Hội nghị quốc tế về phụ nữ lần thứ 4 tổ chức tại Bắc Kinh năm 1995,“bạo lực trong gia đình” đã được khẳng định là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu xã hội phục vụ cho công cuộc phát triển. Trên cơ sở định nghĩa của Liên hợp quốc về bạo lực đối với phụ nữ, Luật phòng chống bạo lực gia đình được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ban hành ngày 21/11/2007 định nghiã : “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên trong gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại vể thể chất, tinh thần, kinh tế, đối với thành viên khác trong gia đình”
Như vậy, bạo lực gia đình được giới hạn bởi các chủ thể là thành viên của gia đình – những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng khi họ thực hiện hành vi với lỗi cố ý gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại về mọi mặt trong đời sống của nạn nhân. Khái niệm đã được ra đầy đủ các yếu tố để nhận diện hành vi bạo lực gia đình như chủ thể, lỗi, đối tượng tác động.
Từ các định nghĩa trên có thể thấy, mặc dù mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quan điểm, định nghĩa khác nhau về bạo lực gia đình nhưng đều có chung một số đặc điểm cơ bản:
- Thứ nhất, bạo lực gia đình là hành vi bạo lực của xảy ra giữa các thành viên trong gia đình tức là chủ thể có hành vi bạo lực gia đình (người gây ra bạo lực gia đình) phải là thành viên trong gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong những thành viên còn lại của gia đình đó. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
- Thứ hai, bạo lực gia đình được thực hiện bởi lỗi cố ý.
- Thứ ba, bạo lực gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
- Thứ tư, hành vi bạo lực gia đình rất đa dạng và phong phú, được thể hiện bằng hành động như hành hạ, ngược đãi, cưỡng ép, …
Cũng tại Luật này, Điều 3 đã liệt kê các hành vi BLGĐ, bao gồm:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép quan hệ tình dục;
- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở”.
Qua quy định tại Điều 3, Luật phòng, chống BLGĐ năm 2007 cho thấy sự nhất quán trong quan điểm của Việt Nam về nội hàm của khái niệm BLGĐ khi so với khái niệm này trong pháp luật quốc tế, thái độ của Việt Nam trong vấn đề này là luôn tiếp cận những giá trị tốt đẹp nhất, tiên tiến nhất của nhân loại. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
1.1.3. Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình hiện không còn là nỗi lo của mỗi gia đình mà nó đang trở thành vấn nạn của xã hội, của thế giới. Đây cũng không còn là việc của mỗi gia đình và “đèn nhà ai nấy rạng” mà nó đang ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế – xã hội và sự phát triển của quốc gia. Vì vậy, hầu như các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm tới việc phòng ngừa bạo lực gia đình.
Về phương diện tổ chức, phòng ngừa bạo lực gia đình cần đặt trong chiến lược hay kế hoạch chung về phòng ngừa bạo lực trên cơ sở giới và bạo lực chống lại phụ nữ, bởi lẽ, như đã đề cập, bạo lực gia đình về cơ bản là bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình. Các biện pháp phòng ngừa cần được tổ chức thực hiện một cách đồng bộ và cần phải được duy trì một cách liên tục, rộng khắp, từ cấp trung ương đến cơ sở, trong đó cần chú trọng cấp cơ sở.
Về mặt lô-gic, một chiến lược phòng ngừa bạo lực gia đình có hiệu quả và bền vững nhằm giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng này, đặc biệt là tục “trọng nam khinh nữ”, tình trạng bất bình đẳng, phân biệt đối xử với phụ nữ trên các phương diện pháp lý, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.
Từ thực tế cuộc sống, có thể hiểu phòng, chống bạo lực gia đình là tổng thể những biện pháp được tiến hành nhằm ngăn chặn và đẩy lùi khả năng xảy ra những hành động bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình, dưới mọi hình thức.
Liên quan đến vấn đề trên, lần đầu tiên, bạo lực gia đình được đề cập trong báo cập tại Hội nghị thế giới năm 1982 ở Copenhagen (Đan Mạch) về Thập kỷ về Phụ nữ của Liên Hiệp quốc: Bình đẳng, phát triển và hòa bình đã nêu rõ: “Cần ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật để phòng, chống bạo lực gia đình và bạo lực tình dục đối với phụ nữ. Cần thực thi tất cả các biện pháp cần thiết, kể cả biện pháp lập pháp, để đảm bảo cho các nạn nhân của bạo lực gia đình và bạo lực tình dục được đối xử công bằng trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự” [39]. Như vậy, vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình được quan tâm từ rất sớm và đã được xác định và một việc “cần” với “tất cả các biện pháp cần thiết” phòng, chống bạo lực gia đình.
Tiếp đó, Hội nghị Thế giới về Phụ nữ lần thứ III ở Nairobi (Kê-ni-a) đã lên tiếng kêu gọi các Chính phủ “thực hiện các biện pháp hiệu quả, bao gồm việc huy động các nguồn lực ở cộng đồng để xác định phòng, chống và xóa bỏ tất cả các hình thức bạo lực, bao gồm bạo lực gia đình, bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình và để cung cấp những nơi trú ngụ tạm thời, các dịch vụ hỗ trợ và trợ giúp tâm lý cho những phụ nữ và trẻ em bị lạm dụng” [40]. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Luật mẫu của Liên hợp quốc khuyến khích các quốc gia thông qua các chương trình hỗ trợ phòng ngừa và xóa bỏ bạo lực gia đình, bao gồm việc nâng cao nhận thức và giáo dục cho quần chúng về các biểu hiện, các nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình, từ đó khuyến khích cộng đồng tham gia phòng, chống hiện tượng này.
Ở cấp độ quốc gia, Luật về phòng, chống bạo lực gia đình của các nước Nhật Bản, Phi-líp-pin, Cam pu chia, Đài Loan, Đông Ti-mo và Malaysia có những quy định cụ thể về các biện pháp phòng ngừa chung, trong đó bao gồm việc tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức của quần chúng và nghiên cứu về bạo lực gia đình. Trong số này, Luật về phòng, chống bạo lực gia đình của Đông Ti-mo có cách tiếp cận toàn diện hơn cả. Cụ thể, Luật của nước này quy định, để phòng ngừa bạo lực gia đình, nhà nước phải: tạo điều kiện và xây dựng một chương trình giáo dục về quyền con người ở cả cấp tiểu học và trung học; tạo điều kiện để biên soạn một chương trình giáo dục về quyền con người và các hình thức bạo lực gia đình dành cho cảnh sát, công tố viên, thẩm phán, luật sư tham gia giải quyết những vụ việc bạo lực gia đình; cung cấp thông tin cho quần chúng, những lãnh đạo cộng đồng về quyền con người và về bạo lực gia đình với ý nghĩa là một sự vi phạm các quyền con người; các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức dựa trên cộng đồng cần phối hợp các nỗ lực phòng ngừa bạo lực gia đình và giải quyết những yếu tố kinh tế – xã hội dẫn đến nguy cơ làm gia tăng bạo lực gia đình.
Các quốc gia đã có các hành động cụ thể trong vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình là đưa ra các biện pháp; những hỗ trợ cần thiết nhằm mục đích bảo vệ sự an toàn cho nạn nhân trong cuộc sống, giảm thiểu thiệt hại, tạo điều kiện cho nạn nhân có khả năng sống độc lập, thể hiện được thái độ của mình trước vấn nạn bạo lực gia đình và ý thức cần phải ngăn chặn, đẩy lùi vấn nạn này.
Chính phủ Việt Nam đã tham gia rất mạnh mẽ phong trào quốc tế trong việc bảo vệ người phụ nữ và đẩy lùi bạo lực gia đình. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước về Xoá bỏ mọi Hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) năm 1981 và cam kết với kế hoạch hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cai-rô năm 1994 và Cương lĩnh hành động của Hội nghị quốc tế về phụ nữ tại Bắc Kinh năm 1995. Với tư cách là quốc gia thành viên của công ước CEDAW, Việt Nam đã có những tiếp cận theo đúng cách tiếp cận của công ước đối với bình đẳng và bình đẳng giới. Điều này được thể hiện trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, từ đạo luật gốc là Hiến pháp đến các đạo luật và các văn bản pháp luật khác đều khẳng định một nguyên tắc bình đẳng nam nữ và không có bất kỳ sự phân biệt nào trên cơ sở giới trên mọi lĩnh vực. Những văn bản pháp luật trên đã có rất nhiều quy định về phòng, chống bạo lực gia đình, góp phần quan trọng trong bảo vệ người phụ nữ khỏi bạo lực gia đình.
Nghị quyết của Quốc hội về chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010) đã đề ra nhiệm vụ: “… Đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình” [37]. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005-2010, trong đó có mục tiêu tăng cường phòng, chống bạo lực gia đình và giảm tỷ lệ bạo lực gia đình, bình quân hàng năm từ 10-15%.
Điều 3 Khoản 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 xác định việc phòng, chống bạo lực gia đình cần kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp, trong đó lấy phòng ngừa là chính. Luật này cũng xác định chiến lược phòng ngừa bạo lực gia đình dựa trên ba biện pháp chính: a) thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình; b) hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, và c) tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình. Ngoài ra, có thể xem việc áp dụng các chế tài kỷ luật, hành chính và hình sự với các đối tượng có hành vi bạo lực gia đình (mà được quy định trong các văn bản pháp luật khác) cũng là những biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình.
Như vậy có thể thấy phòng, chống bạo lực gia đình là mục tiêu cấp bách, quan trọng của mỗi quốc gia và cộng đồng. Dưới góc độ pháp lý, bạo lực gia đình là hành vi vi phạm pháp luật.
Từ những phân tích trên có thể khái quát về phòng, chống bạo lực gia đình như sau: Phòng, chống bạo lực gia đình là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi bạo lực giữa các thành viên trong gia đình.
1.2. Một số yếu tố tác động đến bạo lực gia đình Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến tình trạng bạo lực gia đình mà về cơ bản, có thể phân thành ba nhóm: các yếu tố liên quan đến cá nhân, các yếu tố liên quan đến quan hệ hôn nhân – gia đình, các yếu tố liên quan đến cộng đồng và xã hội.
1.2.1. Các yếu tố liên quan đến cá nhân
Một là, tuổi đời và kinh nghiệm sống: Tuổi đời trẻ khiến các đối tượng thiếu kinh nghiệm sống, kiềm chế kém, không biết cách xử lý các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội.
Hai là, trình độ văn hóa: trình độ văn hóa thấp khiến nhận thức xã hội hạn chế, thiếu hoặc không hiểu biết về việc xây dựng quan hệ và cách thức giải quyết các mâu thuẫn gia đình. Đồng thời với các yếu tố trên là yếu tố chứng kiến hoặc trải nghiệm bạo lực gia đình khi còn nhỏ khiến đối tượng có xu hướng lặp lại những sai lầm đó của cha mẹ hoặc người thân khi lớn lên.
Ba là, nghiện rượu, ma túy, cờ bạc: yếu tố này trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra và làm trầm trọng thêm mâu thuẫn trong gia đình, đồng thời trong nhiều trường hợp khiến người nghiện không kiểm soát được hành vi bạo lực trong đối xử với người thân.
Bốn là, nhân cách, bệnh tật: người có cá tính quá mạnh trong một số trường hợp khó tạo lập mối quan hệ hài hòa với người thân trong gia đình, gây ra những xung đột và hành vi bạo lực. Sự rối loạn tính cách (chẳng hạn như về tình dục) hoặc bị bệnh tâm thần có thể có những hành bi bạo lực với người thân của họ trong gia đình do không kiểm soát được hành vi.
1.2.2. Các yếu tố liên quan đến quan hệ hôn nhân – gia đình Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Xung đột trong hôn nhân có thể dẫn đến những hành động bạo lực, đặc biệt là bạo lực về thể chất và tinh thần.
Vợ, chồng: Lối sống gia trưởng, áp đặt, đề cao sự thống trị của người đàn ông trong gia đình tiềm ẩn những nguy cơ xung đột vợ chồng và bạo lực chống lại phụ nữ khi người phụ nữ không muốn cam chịu sống mãi trong cảnh bị áp chế của chồng (Bạo lực vật chất giữa chồng đối với vợ).
Bên cạnh đó sự khó khăn về kinh tế làm tăng thêm nguy cơ mâu thuẫn, xung đột trong gia đình và vì vậy, làm gia tăng nguy cơ bạo lực chống lại những thành viên gia đình, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (Bạo lực tinh thần của bên có điều kiện kinh tế đối với bên không có điều kiện kinh tế).
Ngoài ra, do những ghen tuông vô cớ trong quan hệ hôn nhân của vợ chồng cũng tác động không nhỏ đến tình hình bạo lực gia đình.
Cha mẹ, con cái, các thành viên khác trong gia đình: Theo quan niệm của Nho giáo là cha mẹ có quyền “dạy con từ thuở còn thơ” bằng mọi hình thức kể cả roi vọt. Dân gian có câu rằng “yêu thì cho roi, cho vọt” và cho rằng đó là cách giáo dục hữu hiệu nhất để cho con họ phục tùng ý kiến của họ và có thể sữa chữa được sai lầm. Cho đến nay, nhiều người làm cha, mẹ vẫn coi việc đánh đập, hành hạ hoặc sử dụng các hình phạt dã man là quyền của họ. Bên cạnh đó, các thành viên khác trong gia đình cũng là nạn nhân bạo lực gia đình do các yếu tố tác động như các yếu tố tác động của vợ chồng như trên, chỉ khác là đối với các quan hệ cha mẹ, con cái, các thành viên khác trong gia đình không bị tác động bởi yếu tố ghen tuông.
1.2.3. Các yếu tố liên quan đến cộng đồng và xã hội
Điều kiện kinh tế xã hội luôn là yếu tố tác động mạnh tới các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội. Kinh tế khó khăn thường gây nên sự căng thẳng, tranh chấp trong gia đình, là nhân tố dẫn tới các hành vi bạo lực về thể chất, tinh thần không đáng có. Việc thiếu thốn về vật chất cũng làm cho các thành viên trong gia đình không có điều kiện giao lưu, học tập, tiếp cận những tri thức tiến bộ cũng như không được định hướng về cách ứng xử trong gia đình, khiến tình trạng bạo lực càng dễ có nguy cơ xảy ra. Tuy nhiên, ở rất nhiều gia đình, dù điều kiện vật chất đầy đủ nhưng vẫn có hiện tượng bạo lực gia đình. Điều này có thể được lý giải như sau: khi kinh tế phát triển, các thành viên trong gia đình có xu hướng thỏa mãn các lợi ích cá nhân mà thiếu đi sự quan tâm chăm sóc tới nhau; hoặc vì quá ham mê các lợi ích kinh tế mà phát sinh tranh chấp giữa những người thân trong gia đình. Ở những gia đình này, bạo lực về tinh thần có xu hướng phát triển hơn bạo lực về thể chất, kinh tế hay tình dục bởi vì những nhu cầu này đều có thể được đáp ứng phần nào bằng tiền bạc.
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài, xu hướng bạo lực có chiều hướng gia tăng trong xã hội Việt Nam: mọi người đều dễ dàng tìm đến việc sử dụng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh. Ngoài ra, sự suy giảm các giá trị truyền thống cũng làm gia tăng những hành vi bạo lực gia đình vốn hiếm gặp trước đây: Vợ đánh chồng, con cái đánh đập, mắng chửi bố mẹ, bạo lực tình dục trong gia đình, đặc biệt là với trẻ em…
Vì vậy, một cộng đồng xây dựng và duy trì được những quy tắc và tập quán sống văn minh, trong đó người phụ nữ, người già, trẻ em và các nhóm yếu thế khác được tôn trọng và bảo vệ, sẽ làm giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình. Ngược lại, ở những cộng đồng còn duy trì những tập quán lạc hậu, ví dụ như tục trọng nam khinh nữ thì khó có thể phòng, chống và xóa bỏ có hiệu quả tình trạng bạo lực gia đình. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Phong tục tập quán: Tư duy bất bình đẳng, thái độ gia trưởng, trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam từ xưa cho đến nay: Phụ nữ phải phụ thuộc, yếu đuối, thụ động, nam giới là độc lập, mạnh mẽ có năng lực và là người ra quyết định. Chồng có quyền dạy vợ, vợ phải nghe theo chồng. Nam là trụ cột trong gia đình, có quyền quyết định những việc lớn quan trọng trong gia đình, nữ có trách nhiệm nuôi dạy con cái, nội trợ trong nhà. Nam giỏi việc xã hội, nữ phải giỏi việc nhà.
Định kiến như trên, đã gây nhiều tác động tiêu cực đến cơ hội, khả năng phát triển của chị em phụ nữ trong công việc xã hội và nhất là trong đời sống gia đình. Ở những gia đình có sự phân biệt, coi trong nam giới hơn nữ giới thì gia đình đó dành nhiều sự quan tâm, chăm sóc về mọi mặt cho các trẻ em trai, nhiều hơn cho trẻ em gái. Do đó khi trưởng thành, các em trai thường có điều kiện tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tốt hơn các em gái, mặc dù năng lực của các em gái không thua kém các em trai. Những suy nghĩ, cách hành xử, sự dạy dỗ có liên quan đến phân biệt, định kiến giới của ông, bà, cha, mẹ, anh, chị chính là những yếu tố ảnh hưởng lớn tới việc hình thành quan niệm về giới của mỗi thành viên trong gia đình. Do đó, nếu trong gia đình có những định kiến giới thì những định kiến này sẽ được lặp lại ở các thế hệ tiếp theo. Sự phân biệt đối xử với phụ nữ mà một trong các dạng cụ thể của nó là bạo lực chống lại phụ nữ có nguồn gốc sâu xa từ văn hóa, bởi vậy, chỉ khi một xã hội xóa bỏ được những tập tục truyền thống mang tính trọng nam khinh nữ thì mới có thể ngăn chặn và xóa bỏ được những hành vi bạo lực chống lại phụ nữ cả trong gia đình và ngoài xã hội.
Hệ thống pháp luật về bạo lực gia đình: Là hệ thống các quy tắc cư xử do nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện, mang tính chất bắt buộc với mọi chủ thể và cá nhân trong xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm bình đẳng giới nói chung, ngăn chặn và xóa bỏ bạo lực gia đình nói riêng. Bởi vậy, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình cũng như tổ chức thực thi hiệu quả các quy phạm này là một giải pháp quan trọng để ngăn chặn và xóa bỏ bạo lực gia đình.
1.3. Hậu quả của bạo lực gia đình đối với gia đình và xã hội và Ý nghĩa của việc phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
1.3.1. Hậu quả của bạo lực gia đình đối với gia đình và xã hội
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra ở 8 tỉnh của Hội Liên Hiệp phụ nữ năm 2008, có 23% số gia đình được hỏi có hành vi bạo hành về thể chất; 30% số gia đình có hành vi bạo lực về tình dục; 25% số gia đình được hỏi có hành vi bạo lực về tinh thần trong đó phụ nữ là nạn nhân chiếm 97%. Bạo lực gia đình tác động và ảnh hưởng nghiêm trọng tới gia đình – hạt nhân bền vững của xã hội. Bạo lực gia đình đã làm nhiều gia đình tan nát, ly dị, ly thân…Theo số liệu điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Giới và Phát triển, bạo lực gia đình đã làm cho gia đình tan nát chiếm 49,7%. Thống kê của TAND tối cao cũng cho chúng ta thấy hậu quả nghiêm trọng của bạo lực gia đình: năm 1998 có 55.419 vụ ly hôn, trong đó 28.686 vụ bạo lực, chiếm 52%, năm 1999 có 52.774 vụ ly hôn, trong đó 29.751 vụ bạo lực, chiếm 56%; năm 2000 có 51.361 vụ ly hôn, trong đó 32.164 vụ bạo lực, chiếm 62%; trung bình trong 5 năm từ 2000 đến 2005 cả nước có 352.000 vụ ly hôn thì có tới 39.730 vụ ly hôn do bạo lực gia đình (chiếm 53,1%) [22].
- Một là, hậu quả đối với đối tượng bị bạo lực gia đình:
Hậu quả về thể chất: những hành vi như đánh đập, ngược đãi, tra tấn hoặc các hành động cố ý khác làm nạn nhân bị thương tích, ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc bị thiệt mạng. Những nghiên cứu quy mô nhỏ của Việt Nam cho thấy bạo lực thể chất là dạng bạo lực phổ biến nhất trong các vụ bạo lực trên cơ sở giới đã được trình báo – 16-73% phụ nữ cho biết họ đã từng bị bạo lực về thể chất. Trong khảo sát, 26% phụ nữ từng bị chồng gây bạo lực thể xác hoặc tình dục cho biết đã bị thương tích do hậu quả trực tiếp từ hành vi bạo lực. Trong số này, 60% cho biết họ bị thương tích hai lần trở lên và 17% bị thương tích nhiều lần.
Hậu quả tinh thần: những hành vi bạo lực gia đình như lăng mạ, chửi bới, đe dọa hoặc các hành vi xúc phạm khác, kiểm soát và ngăn cấm người phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội hoặc kinh tế có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần của phụ nữ. Những nghiên cứu quy mô nhỏ cho thấy bạo lực tinh thần xảy ra với tỷ lệ cao hơn bạo lực về thể chất, chiếm 19% đến 55%. Bên cạnh đó, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bạo lực gia đình còn khiến trẻ em khủng hoảng, sợ hãi, mất ngủ, thiếu tự tin, thất vọng, rối nhiễu tâm lý, trầm cảm…Bạo lực gia đình cũng ảnh hưởng xấu tới kết quả học tập, kỹ năng sống, sự hòa nhập xã hội, năng lực giải quyết vấn đề của trẻ em… Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Hậu quả về thể chất và tinh thần: Bạo lực gia đình để lại những những vết thương và những đau đớn về thể xác, thậm chí có trường hợp dẫn đến tử vong. Phụ nữ từng bị bạo lực tình dục hoặc thể xác cho biết tình trạng sức khỏe của họ là “kém” hoặc “rất kém”. Phụ nữ bị bạo lực do chồng gây ra có xu hướng mắc phải những vấn đề về đi lại hoặc thực hiện những hoạt động thường ngày, bị đau và mất trí nhớ và trầm cảm. Theo ước tính, mỗi năm, trên thế giới có khoảng 120 đến 135 triệu phụ nữ bị cắt bỏ cơ quan sinh dục; khoảng 52% số phụ nữ trên toàn cầu đã từng là nạn nhân của bạo lực về thể chất từ phía người chồng hoặc bạn trai. Bạo lực về thể chất, nhất là bạo lực tình dục đối với phụ nữ đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng và dễ dàng nhận thấy. Đó là việc phá thai, mang ngoài ý muốn. Phá thai, nạo thai ngoài ý muốn có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng tới sức khỏe người phụ nữ. Phụ nữ trong quá tình mang thai bị hành hạ, đánh đập dễ có nguy cơ sảy thai, tử vong cho người mẹ; đứa trẻ dễ bị đẻ non, suy dinh dưỡng hoặc thiếu máu; trẻ sinh ra không được ai chăm sóc và không được phát triển toàn diện. Bạo lực tình dục đối với phụ nữ làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người phụ nữ. Theo các kết quả nghiên cứu, phụ nữ bị ngược đãi, bị bạo lực bị giảm sút sức khỏe tinh thần và thể chất nhiều hơn so với phụ nữ không bị ngược đãi. Bạo lực gia đình cũng là một nguyên nhân chính của các vụ giết người trong đó phụ nữ có thể là nạn nhân và có thể là thủ phạm.
Bạo lực gia đình đã tác động đến người phụ nữ trên mọi khía cạnh của cuộc sống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe và tinh thần của người phụ nữ. Trên thực tế, bạo lực gia đình không chỉ gây ra những đau đớn về thể xác và tinh thần mà còn cướp đi sinh mạng của bao nhiêu người, vi phạm quyền nghiêm trọng quyền được sống – quyền cơ bản và quan trọng nhất của một con người. Theo báo cáo của Bộ Công an, trên toàn quốc cứ khoảng 2-3 ngày lại có 1 người bị giết có liên quan đến bạo lực gia đình. Trong năm 2005, có 14% số vụ giết người liên quan đến bạo lực gia đình (151/1113 vụ giết người), trong đó có 39 vụ chồng giết vợ, 8 vụ vợ giết chồng); 6 tháng đầu năm 2006, tỉ lệ này là 30,5% (26/77 vụ). Theo báo cáo của Sở y tế một số tỉnh về các bệnh nhân là nạn nhân của bạo lực gia đình đã được điều trị trong năm 2005 thì ở An Giang có 1.319 bệnh nhân, trong đó có 1.011 người tự tử với 30 người chết; Gia lai có 3.944 bệnh nhân, trong đó có 715 người tự tử với 27 người chết; Bắc Giang có 464 bệnh nhân, trong đó có 174 người tự tử với 3 người bị chết…
Theo UNICEF, hiện có khoảng 275 triệu trẻ em đang sống trong cảnh bạo lực gia đình, phải chịu đựng sự bóc lột về thể chất, tinh thần và cả tình dục của cha mẹ cũng như người giám hộ. Bạo lực gia đình cũng làm gia tăng số trẻ em vi phạm pháp luật. Số liệu thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao 2008 cho thấy 71% trẻ vị thành niên phạm pháp là do không được quan tâm chăm sóc đúng mức. Nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên xuất phát từ gia đình: 8% trẻ phạm tội có bố mẹ ly hôn, 49% phàn nàn về cách đối xử của bố mẹ. Theo số liệu điều tra 2.209 học viên các trường giáo dưỡng, có tới 49,81% trong số này sống trong cảnh bị đối xử hà khắc, thô bạo, độc ác của bố mẹ. Số em bị bố đánh chiếm 23% (gấp 6 lần mẹ đánh); bị dì ghẻ, bố dượng đánh chiếm 20,3%. Số trẻ em bị lạm dụng tình dục tăng, trong đó có 85% trẻ bị xâm hại bởi những người quen biết. Những kẻ đó có thể là thân thích ruột rà, thậm chí là cha ruột; cũng có thể là hàng xóm, người giữ trẻ, thầy cô giáo… Những kẻ đó có thể là bất cứ ai có điều kiện gần gũi với trẻ. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Hai là, hậu quả đối với gia đình: Do bạo lực gia đình thường gắn liền với sự tan vỡ gia đình; việc bỏ đi của trẻ em; tình trạng trẻ em thiếu người chăm sóc, nuôi dưỡng; tình trạng trẻ em có thai; nạn nhân bị lây nhiễm HIV và các loại bệnh tình dục, trẻ em mồ côi nên gánh nặng với hệ thống bảo trợ xã hội không chỉ dừng lại ở việc cung cấp những nơi tạm lánh mà về lâu dài còn bao gồm việc xây dựng các cơ sở nuôi dưỡng, phục hồi thể chất, tinh thần cho các nạn nhân cũng như các chính sách, cơ chế khác để giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh. Tất cả tạo sức ép lên hệ thống bảo trợ xã hội của các quốc gia mà thông thường luôn ở trong tình trạng đã bị quá tải.
Ba là, hậu quả đối với xã hội: Bạo lực gia đình đã và đang làm xói mòn đạo đức, mất tính dân chủ xã hội và trở thành nguy cơ làm tan vỡ sự bền vững của gia đình Việt Nam. Hậu quả của bạo lực gia đình mà nạn nhân phải gánh chịu còn lớn hơn nhiều so với những nỗi đau về thể xác và tinh thần mà họ phải chịu đựng ngay lúc đó.
Song song với những tác động tích cực đối với gia đình, bạo lực gia đình còn để lại những hậu quả nặng nề cho xã hội. Có thể thấy: bạo lực gia đình dưới bất kỳ hình thức cũng để lại những tác động tiêu cực đến sức khỏe về thể chất, tinh thần không chỉ của nạn nhân mà còn cả các thành viên khác trong gia đình. Những tác động tiêu cực này đã chất thêm gánh nặng lên hệ thống y tế quốc gia. Trong những trường hợp nghiêm trọng (nạn nhân và trẻ em bị thương tích, khủng hoảng, bị truyền bệnh hay làm lây nhiễm HIV, có thai ngoài ý muốn…), gánh nặng với hệ thống y tế quốc gia là rất lớn.
Bạo lực gia đình đã và đang tác động tiêu cực đến lực lượng lao động và do đó cũng tác động đến các hoạt động kinh tế. Một nghiên cứu về bạo lực gia đình trên phạm vi quốc gia thực hiện ở Ca-na-đa cho thấy có 30% số người vợ bị chồng đánh đập phải bỏ việc do chấn thương về thể chất và tinh thần và 50% trong số họ phải nghỉ ốm để điều trị. Bên cạnh đó, bạo lực gia đình còn chất gánh nặng lên hệ thống bảo trợ xã hội: Bạo lực gia đình đặt ra yêu cầu trợ giúp và bảo vệ những nạn nhân chủ yếu là phụ nữ và trẻ em với hệ thống bảo trợ xã hội của quốc gia. Ví dụ, để bảo vệ các phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực trong gia đình, cần thiết phải xây dựng hệ thống các cơ sở tạm lánh cho họ….
Cùng với những tác động đối với kinh tế, y tế, hệ thống bảo trợ xã hội… bạo lực gia đình còn tác động đến hệ thống giáo dục của một quốc gia. Kết quả một số nghiên cứu cho thấy: Bạo lực gia đình có thể gây ra cho học sinh – những nạn nhân trực tiếp hoặc phải chứng kiến cảnh người mẹ là nạn nhân của bạo lực gia đình – những rối loạn tâm lý và sự sa sút trong học tập, tỷ lệ học sinh bỏ học vì lý do bạo lực gia đình thường rất cao. Trong trường hợp không bỏ học, việc học hành sa sút và những rối loạn nhân cách của các học sinh là nạn nhân (trầm cảm, và trong một số trường hợp là quấy phá hay có hành vi bạo lực với giáo viên và các học sinh khác…) gây cho nhà trường những rắc rối không nhỏ. Ở một số nước trên thế giới, các nhà trường phải tuyển dụng thêm những giáo viên hoặc chuyên gia tâm lý để hỗ trợ những học sinh là nạn nhân hoặc phải sống trong môi trường bạo lực gia đình. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
1.3.2. Ý nghĩa của việc phòng, chống bạo lực gia đình
Với những hậu quả nêu trên, việc phòng, chống bạo lực gia đình có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa và hạn chế việc phát sinh và phát triển của những tiêu cực đối với những hậu quả đã và đang xảy ra trên.
Ý nghĩa chính trị: Bình đẳng, không phân biệt đối xử là một trong những quyền cơ bản của con người và được ghi nhận như một nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt trong các văn kiện quốc tế về quyền con người mà trong đó Việt Nam là một trong những thành viên dã tham gia ký kết. Vì vậy, phòng, chống bạo lực gia đình trước hết là bảo vệ quyền con người (quyền công dân) một cách tốt nhất, trong đó bao gồm cả quyền lợi hợp pháp của phụ nữ, trẻ em được pháp luật quốc tế bảo hộ, đồng thời nâng cao nghĩa vụ, trách nhiệm của một nước thành viên trong việc triển khai, thực hiện các quy định chung đã cam kết về bảo vệ các quyền năng cơ bản của con người.
Ý nghĩa xã hội: Gia đình là tế bào của xã hội, việc bảo vệ một “tế bào” được ổn định, phát triển có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển xã hội. Vì vậy, việc phòng, chống bạo lực gia đình sẽ nâng cao ý thức bảo vệ gia đình cho các thành viên, góp phần đảm bảo cho một gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững. Đảm bảo cho hạnh phúc, bình yên trong mỗi gia đình sẽ đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển.
Ý nghĩa kinh tế: Bạo lực gia đình gây ra những tổn thất lớn về mặt kinh tế như: làm giảm năng suất lao động, tốn kém chi phí để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe cho nạn nhân, chi phí để điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc…chính vì vậy, phòng, chống bạo lực gia đình không chỉ hạn chế được những tổn thất về kinh tế cho việc khắc phục những thiệt hại có liên quan mà còn có khả năng góp phần đưa tình hình kinh tế phát triển nếu không có bạo lực gia đình xảy ra.
1.4. Pháp luật một số quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Trong suốt thời gian qua, mỗi quốc gia đã rất nhiều cố gắng trong việc ngăn chặn, phòng, chống bạo lực gia đình. Mỗi quốc gia có đặc điểm riêng về kinh tế, chính trị, văn hoá-xã hội nên họ có các biện pháp, chương trình hành động khác nhau để phòng, chống vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình mà trong đó phụ nữ được xác định là nạn nhân chính. Để công tác phòng, chống vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đạt được hiệu quả cao trong thời gian tới, Việt Nam chúng ta nên học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm của các nước khác trong lĩnh vực này.
1.4.1. Luật mẫu về bạo lực gia đình của Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc
Nhằm định hướng cho các quốc gia thành viên khi xây dựng pháp luật cho quốc gia mình, Liên hợp quốc đã đưa ra Luật mẫu về bạo lực gia đình với các nội dung khái quát. Trong đó, bên cạnh việc định nghĩa về “bạo lực gia đình”, “các hành vi bạo lực gia đình”, Luật mẫu còn chỉ ra mục đích của pháp luật về bạo lực gia đình, cơ chế giải quyết tố cáo, trách nhiệm của cán bộ tư pháp, các thủ tục tố tụng dân sự và hình sự, các quy định về dịch vụ trợ giúp nạn nhân…
Qua việc trình bày mục đích của Luật mẫu, có thể thấy, Luật mẫu rất quan tâm tới các nạn nhân của bạo lực gia đình – đặc biệt đối với các nạn nhân là phụ nữ. Đồng thời, Luật mẫu “kêu gọi các quốc gia ban hành một luật toàn diện về bạo lực gia đình, trong đó lồng ghép cả những quy định về hình sự, dân sự chứ không nên chỉ sửa đổi, bổ sung luật pháp hiện hành về hình sự, dân sự” [48]. Lời kêu gọi này của Uỷ ban về nhân quyền của Liên hợp quốc yêu cầu phải có sự nỗ lực toàn diện và sự phối hợp ăn ý giữa các nhà làm luật trong những ngành luật để mỗi quốc gia xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện hơn. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Từ những định nghĩa mà Luật mẫu đưa ra, chúng ta thấy sự chú ý đặc biệt của Liên hợp quốc tới những nạn nhân là phụ nữ. Điều này thể hiện qua xác định các mối quan hệ cần điều chỉnh: “Luật về bạo lực gia đình cần điều chỉnh các mối quan hệ sau: vợ, tình nhân sống cùng, vợ cũ hoặc tình nhân cũ; bạn gái (kể cả không sống cùng); người phụ nữ là họ hàng (như chị, em gái, con gái, mẹ) và người giúp việc gia đình” [50].
Với cách xác định trên, phạm vi những người phụ nữ được pháp luật bạo lực gia đình bảo vệ là rất rộng bao gồm cả những người không sống cùng hay không có quan hệ gia đình. Điều này nhằm mang đến cuộc sống an lành cho những người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Qua quy định về các hành vi bạo lực trong Luật mẫu, chúng ta có thể xếp hành vi bạo lực theo các nhóm: bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, bạo lực về tình dục và bạo lực về kinh tế. Đây là những hình thức bạo lực cơ bản trong gia đình được nhiều nước ghi nhận trong pháp luật của quốc gia mình. Từ đây, có thể thấy Luật mẫu đưa ra một cách toàn diện các hình thức bạo lực gia đình, làm cơ sở để các nước tham khảo, học tập và hoàn thiện pháp luật về bạo lực gia đình của quốc gia mình.
Bên cạnh đó, Luật mẫu còn quy định trách nhiệm của nhân viên cảnh sát, cán bộ tư pháp, cộng đồng đối với hiện tượng bạo lực gia đình và nạn nhân của hiện tượng này. Theo những quy định trong Luật mẫu, cảnh sát có trách nhiệm thông báo cho các nạn nhân được biết các quyền của họ, làm báo cáo về công tác phòng chống bạo lực gia đình, tham gia các lớp tập huấn để nâng cao trình độ chuyên môn. Cán bộ tư pháp có nhiệm vụ phải tuân thủ các quy định về quyền của nạn nhân như quyền yêu cầu lệnh bảo vệ, lệnh kiềm chế… Bất kỳ ai khi được nạn nhân đề nghị trợ giúp đều có quyền tố cáo các vụ bạo lực gia đình cho cảnh sát. Những quy định trên đây, cùng các quy định về thủ tục tố tụng dân sự, hình sự, quy định về các dịch vụ trợ giúp… được ghi nhận trong Luật mẫu sẽ góp phần giúp các nạn nhân tháo gỡ được khó khăn cho mình. Công việc cuối cùng thuộc về các quốc gia, đó là ghi nhận, phát triển, hoàn chỉnh những gợi ý này để có sự hoà hợp giữa pháp luật về bạo lực gia đình và hệ thống pháp luật trong nước.
Nhờ Luật mẫu của Liên hợp quốc về bạo lực gia đình, các quốc gia sẽ có động lực và những gợi ý cho việc hoàn thành một văn bản pháp luật. Để từ đó, mỗi quốc gia trong vai trò của mình sẽ tham gia tích cực vào công cuộc bảo vệ, giải phóng phụ nữ, thực hiện sự bình đẳng giới trên toàn cầu.
1.4.2. Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình của Nhật Bản Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Nhật Bản đã xây dựng được khung pháp lý về phòng, chống bạo lực gia đình khá hoàn thiện. Nhiều đạo luật quan trọng liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình đã được thông qua như: Luật về phúc lợi cho trẻ em (1947); Luật về đảm bảo cuộc sống (1950); Luật về phúc lợi xã hội (1951); Luật về phúc lợi cho bà mẹ, trẻ em và người goá (1964); Luật về cảnh sát; Bộ luật Hình sự; Luật về phòng, ngừa bạo lực hôn nhân và bảo vệ nạn nhân năm 2001 và sửa đổi năm 2004 là đạo luật chính, là cơ sở phát lý để phòng, chống bạo lực gia đình. Đạo luật này đã quy định một cách chặt chẽ các vấn đề về bạo lực gia đình như: khái niệm về bạo lực gia đình; xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật phòng, ngừa bạo lực hôn nhân; quyền của nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của Chính phủ và chính quyền địa phương; chính sách và định hướng cơ bản của công tác phòng, chống bạo lực gia đình…
Cùng với hệ thống pháp luật khá hoàn thiện, Chính phủ Nhật Bản còn thành lập các Trung tâm tư vấn và hỗ trợ về bạo lực hôn nhân. Các trung tâm này có nhiệm vụ: 1. Tư vấn cho các nạn nhân về các vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống của họ hoặc giới thiệu họ với các nhân viên tư vấn phụ nữ hoặc các tổ chức tư vấn thích hợp; 2. Tư vấn hướng dẫn về y tế, tâm lý hoặc các vấn đề khác giúp họ phục hồi về tinh thần và thể chất; 3. Cung cấp các biện pháp bảo vệ tạm thời cho nạn nhân và cả các thành viên khác trong gia đình trong trường hợp có các thành viên khác trong gia đình; 4. Cung cấp thông tin, tư vấn và thông tin cho các tổ chức liên quan, cùng với các hình thức hỗ trợ khác có liên quan; 5. Cung cấp thông tin, tư vấn, hợp tác, liên kết với các tổ chức liên quan, cũng như các hình thức trợ giúp khác liên quan đến các cơ sở mà nạn nhân có thể sống và được bảo vệ…
Như vậy, với một hệ thống pháp luật hoàn thiện cùng với các biện pháp tích cực trong đó có biện pháp thành lập các trung tâm tư vấn và hỗ trợ về bạo lực hôn nhân, Nhật Bản là một trong các nước ở khu vực Châu Á đạt được kết quả cao trong việc phòng, chống vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phu nữ. Những kinh nghiệm quý báu này là bài học quý giá cho các nước khác trong đó có Việt Nam trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
1.4.3. Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình của Phi-lip-pin
Phi – lip -pin là một quốc gia đặc biệt quan tâm đến vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình. Yếu tố quyết định đến việc phòng, chống vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình hiệu quả chính là Phi-lip-pin đã xây dựng được một hệ thống pháp luật và quy định khá đầy đủ về phòng, chống bạo lực gia đình. Đỉnh cao là Luật Chống bạo hành phụ nữ và trẻ em được Nghị viện Phi-lip-pin thông qua tại kỳ họp thứ 3, khoá 12, năm 2004 đã chỉ ra một cách chi tiết thế nào là “bạo hành đối với phụ nữ và trẻ em”; các hình thức bạo hành như: bạo hành về thể chất, bạo hành tình dục, bạo hành tâm lý và lạm dụng kinh tế… (điều 3); quy định về các hành vi bạo hành với phụ nữ và trẻ em (điều 5). Luật còn quy định các quyền của nạn nhân bạo hành gia đình của phụ nữ và trẻ em như: được đối xử với sự tôn trọng về phẩm giá; được trợ giúp miễn phí; được hưởng các dịch vụ hỗ trợ của Bộ phúc lợi và các cơ quan địa phương; được hưởng mọi sự bồi thường pháp lý và hỗ trợ theo quy định của bộ luật gia đình; được thông báo về các quyền và dịch vụ dành cho mình bao gồm cả quyền được nộp đơn đề nghị ra quyết định bảo vệ; quyền được tạm nghỉ việc…Như vậy, người phụ nữ khi bị là nạn nhân của bạo lực gia đình, họ có rất nhiều quyền và có nhiều cơ chế đảm bảo thực hiện quyền này. Điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà nước Phi-lip-pin đối với nạn nhân bạo lực gia đình cũng như đối với vấn đề bạo lực gia đình. Để công tác phòng, chống bạo lực gia đình có hiệu quả, Luật Chống bạo hành phụ nữ và trẻ em của Phi-lip-pin còn quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước nhất là cơ quan công an và cán bộ y tế trong việc giúp đỡ các nạn nhân cũng như xử lý các vụ vi phạm pháp luật chống bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em. Họ phải giúp đỡ nạn nhân về mọi mặt và dưới nhiều hình thức, cả hỗ trợ ngay tức thì cũng như các biện pháp hỗ trợ lâu dài.
Điều đặc biệt, Luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em đã quy định về việc hình thành cơ quan có trách nhiệm trong việc chống bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em. Tại điều 39 của Luật quy định việc hình thành Hội đồng liên ngành về chống bạo hành với phụ nữ và trẻ em gồm: Cơ quan phúc lợi và phát triển xã hội; Uỷ ban quốc gia về quyền của phụ nữ; Uỷ ban dịch vụ dân sự; Hội đồng chăm sóc trẻ em; Bộ Tư pháp; Bộ Nội vụ và chính quyền địa phương; Cảnh sát quốc gia; Bộ Y tế; Bộ Giáo dục; Bộ Lao động và việc làm; Cục điều tra quốc gia. Các cơ quan này có nhiệm vụ đưa ra các chương trình và dự án ngăn chặn nạn bạo hành theo thẩm quyền của từng cơ quan, đồng thời thực hiện các chương trình nâng cao năng lực cho nhân viên của họ thích ứng nhanh hơn với nhu cầu của các đối tượng mà họ phục vụ. Hội đồng có nhiệm vụ sẽ giám sát việc thực hiện công tác của các cơ quan nói trên. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Tại Phi-lip-pin, theo quy định của Luật Chống bạo hành phụ nữ và trẻ em, một Uỷ ban liên ngành về bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em đã được thành lập. Uỷ ban liên ngành này được tổ chức và hoạt động nhằm đáp ứng một cách nhanh nhất các biện pháp bảo đảm cho việc phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em, đồng thời ngăn chặn tối đa những thiệt hại về tính mạng, tinh thần và sức khỏe cũng như các thiệt hại khác của nạn nhân nữ.
1.4.4. Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình của In-đô-nê-xi-a
Luật về xoá bỏ nạn bạo hành gia đình năm 2004 của In-đô-nê-xi-a quy định nguyên tắc và mục đích của Luật tại chương II. Luật đã đưa ra bốn nguyên tắc về xoá bỏ bạo lực gia đình: nguyên tắc tôn trọng quyền con người; nguyên tắc công bằng và bình đẳng giới; nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc bảo vệ nạn nhân. Trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản đó, Luật về xoá bỏ bạo lực gia đình chỉ ra mục đích của Luật là: Ngăn chặn các hình thức bạo hành trong gia đình; bảo vệ nạn nhân bị bạo hành trong gia đình; tiến hành các biện pháp chống lại kẻ gây ra bạo hành trong gia đình; duy trì sự toàn vẹn của sự hoà thuận và thịnh vượng gia đình.
Rất nhiều quyền của nạn nhân bị bạo hành được quy định trong Luật này như: quyền được bảo vệ từ gia đình, luật sư, các tổ chức chính trị xã hội, cơ quan cảnh sát, tư pháp, toà án; quyền được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ theo nhu cầu về y tế; quyền được đối xử đặc biệt về giữ bí mật đối với nạn nhân; quyền được giúp đỡ, chia sẻ của những người làm việc trong các tổ chức dịch vụ xã hội; quyền được hưởng các dịch vụ tư vấn về mặt tinh thần… Cũng như Luật của một số nước trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, Luật về xoá bỏ bạo lực gia đình của In-đô-nê-xi-a quy định trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xoá bỏ nạn bạo lực gia đình. Điều 13 của Luật này quy định: Chính quyền địa phương cần tăng cường sự lãnh đạo của các cơ quan hành chính liên quan, tổ chức, điều phối và kêu gọi các cơ quan này hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
Nhận thức được tác hại của bạo lực gia đình, hành vi bạo lực gia đình được hình sự hoá. Cụ thể, Luật dành chương 8 để quy định chi tiết về tội phạm với các hành vi vi cấu thành tội phạm trong lĩnh vực này. Tuỳ theo tính chất và mức độ nguy hiểm của từng hành vi mà chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng. Chẳng hạn đối với người có hành vi bạo lực gia đình về mặt thể xác thì bị phạt tù không quá 5 năm hoặc phạt tiền không quá 15 triệu rupi; người có hành vi bạo hành về tâm lý sẽ bị phạt tù không quá 3 năm hoặc phạt tiền không quá 9 triệu rupi; người có hành vi bạo lực tình dục thì bị phạt tù không quá 12 năm hoặc bị phạt tiền không quá 36 triệu rupi… Đây là điểm mới và khác biệt so với Luật phòng, chống bạo lực gia đình của nhiều nước trên thế giới. Việc quy định cụ thể, chi tiết hành vi phạm tội và khung hình phạt đối với từng tội phạm một mặt khẳng định tính chất nguy hiểm của hành vi bạo lực gia đình, mặt khác có tác dụng răn đe cho những người hay có hành vi bạo lực gia đình, giáo dục các chủ thể khác không có hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Hơn nữa, việc quy định như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành công vụ trong phòng, chống bạo lực gia đình áp dụng chính xác Luật và đạt được hiệu quả cao nhất.
Như vậy, qua pháp luật về bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới, ta thấy, mặc dù với những tên gọi khác nhau, những chế định khác nhau… nhưng tất cả các quốc gia đều hướng tới mục đích: nhằm xoá bỏ bạo lực trong mỗi gia đình, bảo vệ những nạn nhân của bạo lực gia đình, thúc đẩy sự bình đẳng giới, xây dựng gia đình hạnh phúc.
1.5. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Việt Nam Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Bạo lực gia đình đã tồn tại từ lâu trong xã hội và đặc biệt xảy ra đối với phụ nữ trong gia đình. Qua một số nghiên cứu mang tính quốc gia, xuất phát điểm của bạo lực gia đình là bất bình đẳng giới. Theo PGS.TS.Lê Thị Quý ở Trung tâm nghiên cứu giới và phát triển (Đại học quốc gia Hà Nội): “Khía cạnh bạo lực gia đình, một biểu hiện của bất bình đẳng giới”[24]. Như vậy, bạo lực gia đình trước tiên được xác định là một biểu hiện của bất bình đẳng giới. Chính vì vậy, quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của các quy định về bình đẳng giới và các vấn đề liên quan đến quyền con người.
1.5.1. Giai đoạn trước năm 1945
Xã hội Việt Nam thời trước Cách mạng tháng 8/1945 là một xã hội nghèo đói, chậm phát triển. Trong gia đoạn này, phụ nữ nằm ở nhóm xã hội “tôi”,”con”,”vợ” là nhóm phải chịu sự giáo dục, sự thống trị tuyệt đối của nam giới. Phụ nữ còn phải tuân theo các quy tắc của “Tam tòng, Tứ đức” và bị coi rẻ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, thân phận của người phụ nữ bị gắn với buồng the, bếp núc, hầu hạ các đấng mày râu; phải tuân thủ các bất bình đẳng kéo dài, trói buộc đôi khi khiến họ lãng quên quyền làm người của mình. Trong gia đình, mặc dù là lực lượng lao động chủ lực nhưng người phụ nữ không được định đoạt số phận của mình, họ bị trói buộc bởi lễ giáo phong kiến, bị dồn vào khuôn khổ chật hẹp của công việc nội trợ, nuôi dạy con cái phải nghe theo sự điều khiển của người chồng trong gia đình và thậm chí cả con trai của mình. Tư tưởng này vốn ăn sâu vào tiềm thức, người đàn ông là người làm chủ gia đình, có thể làm bất cứ việc gì họ muốn và mọi thành viên trong gia đình, đặc biệt là phụ nữ phải nhất nhất chấp hành. Có thể thấy, trong giai đoạn này, vấn đề bạo lực trên thực tế đã diễn ra một cách gay gắt, người phụ nữ là nạn nhân chủ yếu của bạo lực gia đình, họ phải luôn phục tùng theo mệnh lệnh của người đàn ông trong gia đình, người phụ nữ trong gia đoạn này phải chịu sự giáo dục, sự thống trị tuyệt đối của nam giới là việc đương nhiên. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến “trọng nam, khinh nữ” nên trong giai đoạn này ý thức về bạo hành gia đình chưa được đề cập đến, các quy định do Nho giáo và tục lệ đặt ra đều nhằm mục đích bảo vệ tuyệt đối chế độ gia tộc phụ quyền: thiên về quyền lợi pháp lý của người chồng, bảo vệ quyền lợi của người chồng với tư cách là gia trưởng.
Với sự ra đời của “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là bộ Luật Hồng Đức với các quy định tiến bộ đã đem lại cho con người cái nhìn khác về xã hội lúc bấy giờ. Luật Hồng Đức nói riêng và pháp luật thời Lê nói chung mang đặc thù của pháp luật Đại Việt, phản ánh chân thực và sâu sắc tình trạng xã hội nước ta thế kỷ XV và sau này. Tính đặc thù của Bộ luật Hồng Đức thể hiện rõ trong hai chương “Hộ hôn” và “Điền sản”. Những điều luật này ít nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình – đây là một trong những quy định đầu tiên bảo vệ quyền lợi phụ nữ nhằm phòng, chống bạo lực gia đình. Bên cạnh các quy định khắt khe về nghĩa vụ của người vợ, bảo vệ gia đình phụ quyền gia trưởng với nhiều đặc quyền của người đàn ông thì Bộ luật Hồng Đức đã có những quy định hé mở cho vấn đề bình đẳng nam nữ, cha mẹ và con cái với một số quy định bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em,… Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Người vợ, theo phong tục và quy định phải lệ thuộc vào chồng nhưng trong Bộ luật Hồng Đức địa vị của người vợ có những độc lập nhất định như họ có quyền có tài sản riêng, có quyền xin ly hôn trong một số trường hợp, ví dụ tại Điều 308 quy định: “Chồng xa cách vợ không lui tới suốt 5 tháng thì vợ được phép trình quan sở tại, quan xã làm chứng thì chồng đó mất vợ. Nếu đã có con thì gia hạn 1 năm. Những người công sai đi xa không áp dụng luật này. Nếu đã thôi vợ mà cản trở người khác cưới vợ cũ thì xử biếm”. Trong trường hợp cưỡng ép phụ nữ kết hôn cũng bị tội, Điều 320 quy định như sau: “Mãn tang chồng nhưng người vợ thủ tiết, nếu ngoài ông bà, cha mẹ, kẻ nào khác gả ép người phụ nữ đó thì bị biếm ba tư và buộc phải ly dị. Trả người đàn bà về chồng cũ…” hoặc “những nhà quyền thế mà ức hiếp để cưới con gái lương dân thì xử phạt, biếm hay đồ” (Điều 338).
Bộ luật Hồng Đức xử rất nặng đối với những trường hợp xâm phạm thân thể, tiết hạnh của người phụ nữ, kẻ nào “hiếp dâm thì xử lưu hay chết. Phải nộp tiền tạ tội hơn một bậc đối với tiền tạ tội gian dâm thường. Nếu gây thương tích cho người đàn bà thì xử nặng hơn một bậc đánh người bị thương. Nếu làm chết người đàn bà thì điền sản kẻ phạm tội phải giao cho nhà người bị chết” (Điều 403); “gian dâm với con gái nhỏ 12 tuổi trở xuống, dù nó thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm” (Điều 404). Nếu “chồng đánh vợ bị thương thì xử như tội đánh người bị thương nhưng nhẹ hơn 3 bậc. Nếu đánh chết thì xử như tội đánh chết người nhưng nhẹ hơn 3 bậc, tiền đền mạng bớt 3 phần. Cố ý giết vợ thì giảm một bậc tội; nếu có tội bị chồng đánh, không may chết thì xử riêng. Đánh vợ bé bị thương, sứt gãy trở lên thì nhẹ tội hơn đánh vợ 2 bậc…” (Điều 482).
Bên cạnh bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, bộ luật Hồng Đức còn chú ý đến đối tượng trẻ em, tại Điều 313 có quy định: “Trẻ nhỏ mồ côi và phụ nữ tự bán mình không người bảo lãnh thì kẻ mua và kẻ viết văn khế, kẻ làm chứng đều bị xử roi, trượng theo luật (nữ bị đánh 50 roi, nam bị đánh 80 trượng) đòi lại tiền trả cho kẻ mua, hủy bỏ văn khế. Kẻ cô độc, khốn cùng từ 15 tuổi trở lên tự nguyện bán mình thì cho phép. Trường hợp kẻ nào “làm chuyện ngược ngạo (lượm trẻ lạc về, không nuôi còn hành hạ) để đến nỗi con người ta chết thì đánh 80 trượng, đền 5 quan tiền nhân mạng cho cha mẹ đứa trẻ chết” (điều 605).
Như vậy, ngay từ thời phong kiến, con người đã có ý thức đối với việc bảo vệ các quyền lợi của mình, đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em, pháp luật bước đầu đã ghi nhận các quyền lợi đó, bình đẳng giới cơ bản được hình thành nhằm phòng, chống các hành vi bạo lực xảy ra trong gia đình và xã hội. Xét về góc độ pháp luật, những quy định này là tiền đề cho những quy định cụ thể về các hành vi bạo lực sau này. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
1.5.2. Giai đoạn từ năm 1945-1954
Năm 1945, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, chương trình bình đẳng nam nữ đã được đưa vào luật pháp, chính sách, chương trình hoạt động của Nhà nước một cách có hệ thống.
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã thể hiện rõ cam kết của Đảng và Nhà nước đối với bình đẳng nam nữ. Điều 1 Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, pháp luật quy định phụ nữ được hưởng các quyền ngang với nam giới: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, quyền bình đẳng nam nữ đã được ghi nhận trong đạo luật có hiệu lực pháp lí cao nhất của nhà nước. Chính nội dung qui định này đã tạo tiền đề pháp lí quan trọng cho những thay đổi về địa vị của người phụ nữ trên văn bản pháp luật cũng như trong thực tiễn và là một khẳng định quan trọng, tiền đề cho việc giải quyết mấu chốt sâu xa của bạo lực gia đình.
Mặc dù pháp luật đã qui định rõ, nhưng do tàn tích của lịch sử để lại nên trong nhiều gia đình, phụ nữ vẫn chưa được bình đẳng hoàn toàn với nam giới, họ vẫn là nạn nhân của bạo lực gia đình. Nhận thức được những nguyên nhân sâu xa của bạo lực gia đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng muốn thực hiện bình đẳng nam, nữ; phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trước hết phải giải phóng phụ nữ ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, ra khỏi sự bất công ngay trong gia đình của họ. Người lên án mạnh mẽ quan điểm “đàn bà phải quanh quẩn trong bếp”. Chính những quan niệm kiểu đó đã dẫn đến việc giá trị người phụ nữ bị hạ thấp trong gia đình và xã hội. Người đặc biệt lên án mạnh mẽ các hiện tượng phân biệt đối xử với phụ nữ như: khinh rẻ, coi thường, đánh đập, chửi mắng, hành hạ phụ nữ, ép duyên con gái, đối xử tàn tệ với con dâu… Người viết: “Khinh rẻ phụ nữ và dã man nhất là thói đánh vợ. Trong nhân dân và đảng viên vẫn còn thói xấu này.
Thậm chí, có cán bộ và đảng viên đánh vợ bị thương nặng khi vợ mới ở cữ. Mẹ chồng và em chồng không ngăn lại còn thượng đấm tay, hạ đá chân” [16]. Người cho đó là một điều đáng xấu hổ, như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kỳ dã man. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên nhắc nhở các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể phải làm tốt công tác vận động phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền, chống bạo lực gia đình bởi bạo lực gia đình chính là yếu tố cản trở sự phát triển xã hội. Chính vì vậy, trong giai đoạn này Người đã chủ trương giải phóng phụ nữ khỏi những bất công, tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền bình đẳng của mình, trước hết là trong gia đình.
Trong giai đoạn này, lịch sử phát triển pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình bước sang một trang mới với sự cụ thể hóa vấn đề bình đẳng trong lĩnh vực dân sự và hôn nhân, gia đình. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, đó là Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn – đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của chính sách phụ vận về hôn nhân và gia đình. Trong Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, vấn đề bình đẳng nam nữ trong gia đình được khẳng định “Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” (Điều 5); “Người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ” (Điều 6). Về vấn đề ly hôn, Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 cũng thể hiện sự bình đẳng nam nữ, như công nhận quyền tự do giá thú và tự do ly hôn, xóa bỏ sự phân biệt không bình đẳng về các duyên cớ ly hôn riêng cho vợ và chồng trong các Bộ dân luật cũ, đồng thời quy định duyên cớ ly hôn chung cho cả hai vợ chồng (Điều 2). Bên cạnh đó, Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 cũng quy định điều khoản bảo vệ phụ nữ và thai nhi mà không bị xem là bất bình đẳng giới: “Trường hợp ly hôn mà người vợ có thai thì vợ hay chồng có thể xin Tòa án hoãn đến sau kỳ sinh nở mới xử việc ly hôn” (Điều 5).
Mặc dù chưa có quy định cụ thể về vấn đề bạo lực gia đình, tuy nhiên những quy định sơ khai khẳng định quyền bình đẳng giữa nam và nữ đã thể hiện được ý thức tiến bộ, xóa bỏ tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ. Các văn bản pháp luật này đã tập hợp thành hệ thống các văn bản pháp luật về bình đẳng giới, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc ngăn chặn, hạn chế tình trạng bạo lực gia đình trên thực tế ở Việt Nam.
Như vậy, dù không thể hiện bằng văn bản nhưng thực tế đã chứng minh việc phòng, chống bạo lực gia đình đã được ghi nhận. Xóa bỏ bất bình đẳng giới, khẳng định quyền của con người là một trong những yếu tố quan trọng để xác lập ý thức phòng, chống bạo lực gia đình. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
1.5.3. Giai đoạn từ năm 1954-1975
Sau năm 1954, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trong giai đoạn này, bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hiến pháp năm 1959, đã được Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 31/12/1959 và được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 01/01/1960. Điều 24 Hiến pháp năm 1959 đã quy định và ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Công việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn được hưởng nguyên lương. Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển của các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ, nhà nuôi trẻ. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”.
Ngày 17/01/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Các nguyên tắc chung về bình đẳng nam nữ, bình đẳng vợ chồng được quy định tại Điều 1, Điều 2 và Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Những Điều từ Điều 12 đến Điều 16 quy định bình đẳng giữa vợ và chồng về nghĩa vụ và quyền trong quan hệ hôn nhân.
Cùng với các quy định của pháp luật, Nghị quyết số 153/NQ-TƯ ngày 01/01/1967 của Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng khẳng định:“sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của toàn Đảng của Nhà nước, của xã hội. Lực lượng phụ nữ, trong đó đội ngũ xung kích là lực lượng cán bộ phụ nữ ở tất cả các lĩnh vực, phải phát huy vai trò chủ động của mình”[2].
Nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ đã được thể hiện nhất quán, liên tục trong các bản Hiến pháp của nhà nước Việt Nam. Trong mỗi bản Hiến pháp đều có một điều khoản qui định nguyên tắc chung: mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 7 Hiến pháp 1946, Điều 22 Hiến pháp 1959) và ít nhất một điều khoản ghi nhận riêng về bình đẳng giữa nam và nữ, về quyền của phụ nữ được Nhà nước và xã hội tạo mọi điều kiện thuận lợi, dành những chế độ chính sách đặc biệt giúp đỡ họ vừa thực hiện tốt thiên chức riêng của phụ nữ là làm mẹ, vừa phát triển tiến bộ bình đẳng với nam giới (Điều 9 Hiến pháp 1946, Điều 22 Hiến pháp 1959).
Việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trước vấn đề bạo lực gia đình được khẳng định và phát triển qua từng thời kỳ cách mạng, vị thế của người phụ nữ ngày càng được nâng lên, được hưởng các quyền bình đẳng và được coi trọng như nam giới. Các chế độ, chính sách đối với phụ nữ ngày càng được thể hiện rõ nét, dần dần xóa bỏ tư tưởng phong kiến, áp đặt đối với người phụ nữ, vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình được pháp luật ghi nhận thông qua việc mở rộng các quy định về vấn đề bình đẳng giới.
1.5.4. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước thống nhất cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bản Hiến pháp thứ ba năm 1980 đã được Quốc hội khóa VI kỳ họp thứ 7 chính thức thông qua, tiếp tục là nền tảng cho việc xây dựng các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Hiến pháp năm 1980 còn bổ sung thêm một số nội dung mới nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ. Điều 63 của Hiến pháp năm 1980 khẳng định: “phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Nhà nước và xã hội chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không ngừng phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội. Nhà nước có chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ. Phụ nữ và nam giới việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau”.
Điều 64 của Hiến pháp năm 1980 qui định: “Nhà nước bảo hộ chế độ hôn nhân và gia đình. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng…”
Những nội dung thể hiện quyền bình đẳng nam nữ – mấu chốt của công cuộc phòng, chống bạo lực gia đình trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959 và 1980 tiếp tục được kế thừa trong Hiến pháp năm 1992.
Điều 63 Hiến pháp năm 1992 qui định: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương ngang nhau”… Trong Hiến pháp 1992, các quy định liên quan đến vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tập trung nhất ở Điều 50, Điều 52, Điều 63, Điều 71, khẳng định những nguyên tắc cơ bản: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Đặc biệt là Điều 71 quy định rõ: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Việc ghi nhận quyền bình đẳng giới và bảo vệ các quyền phụ nữ trong Hiến pháp năm 1992 tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng và ban hành các văn bản luật nhằm cụ thể hóa các nội dung liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình trong Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự, Luật Hình sự….
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã đưa ra các quy định về vấn đề hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, xã hội và Nhà nước trong việc xây dựng, củng cố hôn nhân và gia đình của Việt Nam. Điều 2 (các mục 1,2,5), Điều 4, Điều 19, 20, 21, 22, 23, 34, 35 và 38 của Luật này bao gồm các điều khoản trực tiếp liên quan đến PCBLGĐ khẳng định sự bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ, chồng và vợ, nghiêm cấm phân biệt đối xử, ngược đãi, xúc phạm lẫn nhau, khẳng định quyền của người vợ tự do lựa chọn nơi cư trú, khẳng định các nghĩa vụ tôn trọng và bảo toàn danh dự, nhân phẩm và uy tín của vợ chồng.
Bộ luật Dân sự 1995 đã cụ thể hoá các nguyên tắc của Hiến pháp quy định các quyền nhân thân của con người. Trong đó vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được quy định ở Điều 32, Điều 33, Điều 36, Điều 37 và Điều 38. Bộ luật dân sự một lần nữa khẳng định: ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình cũng như trong giao lưu dân sự; Quyền ly hôn như một biện pháp bảo đảm để không có bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Bộ luật Hình sự 1999 đã dành toàn bộ Chương XII quy định tội danh và hình phạt đối với các hành vi bạo lực đối với công dân nói chung trong đó có phụ nữ. Chương này gồm 30 điều, trong đó có 14 điều liên quan đến các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Đó là các Điều 93 tội giết người; Điều 100 tội bức tử; Điều 103 tội đe doạ giết người; Điều 104 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 110 tội hành hạ người khác; Điều 111 tội hiếp dâm; Điều 112 tội hiếp dâm trẻ em; Điều 113 tội cưỡng dâm; Điều 114 tội cưỡng dâm trẻ em; Điều 115 tội giao cấu với trẻ em; Điều 116 tội dâm ô với trẻ em; Điều 117 tội lây truyền HIV cho người khác; Điều 119 tội mua bán phụ nữ và Điều 121 tội làm nhục người khác. Đồng thời, Chương XIII các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân có Điều 130 tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ; Chương XV các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình có Điều 146 tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Điều 147 tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng; Điều 151 tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình và Điều 152 tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
Bộ luật tố tụng hình sự 1999, trong Điều 6, một lần nữa khẳng định: “Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, và nhân phẩm. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân đều bị xử lý theo pháp luật”. Như vậy, mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người phụ nữ đều phải bị xử lý theo pháp luật, bất kể hành vi đó xẩy ra trong đời sống cộng đồng hay trong phạm vi gia đình, bất kể chủ thể vi phạm có quan hệ gia đình với nạn nhân hay không. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Sau năm 1975 đến nay, Luật hôn nhân và gia đình đã được bổ sung, sửa đổi nhiều lần nhằm phù hợp với trào lưu tiến bộ chung của xã hội. Trong đó, Luật hôn nhân và gia đình 2000 dành rất nhiều điều quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giữa vợ và chồng, giữa các thành viên trong gia đình và nhiều điều cấm các hành vi bạo lực trong gia đình như Điều 2, Điều 4, Điều 9, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 34, Điều 35, Điều 38, Điều 47, Điều 48, Điều 49, Điều 67, Điều 85 và Điều 107. Nội dung chủ yếu của các quy định là: Vợ chồng có quyền đồng thời là nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, chăm sóc nhau, tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau. Vợ, chồng có quyền ly hôn. Dưới góc độ phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, có thể coi ly hôn là biện pháp cuối cùng để đảm bảo không xảy ra bạo lực đối với phụ nữ trong các gia đình.
Bên cạnh đó, với sự ra đời và phát triển của một số văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự 2005, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004, Pháp lệnh người cao tuổi năm 2000, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý 2006 … và các Nghị định của Chính phủ về xử phạt hành chính liên quan đến bạo lực gia đình đã góp phần hoàn thiện về cơ bản hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Cùng với việc ban hành các văn bản luật và dưới luật liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quyền bình đẳng của phụ nữ, Chính phủ Việt Nam đã sớm thành lập Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ nhằm đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản luật và dưới luật. Đồng thời Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đầu tiên ký Công ước CEDAW vào năm 1979 và phê chuẩn 1981. Điều đó, càng thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với phụ nữ – một trong những nạn nhân chính của vấn nạn bạo lực gia đình.
Xuất phát từ quan điểm mang tính định hướng: Nhiều gia đình cộng lại thành một xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình, Đảng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo đối với việc phòng chống BLGĐ, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ. Chỉ thị số 49/2005/CT-TƯ ban hành ngày 21/02/2005 của Ban bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong mục 1.2 đã nêu rõ: “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác gia đình, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên; chủ động rà soát, đánh giá tình hình gia đình tại địa phương, xây dựng và triển khai các kế hoạch, đề án cụ thể giải quyết những khó khăn, thách thức về gia đình và công tác gia đình. Cần đặc biệt quan tâm xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình; kiên quyết đấu tranh chống lối sống thực dụng, vị kỷ, đồi trụy; tăng cường công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; có kế hoạch và biện pháp cụ thể phòng, chống tệ nạn xã hội và bạo hành trong gia đình”[1]. Tiếp tục quan điểm trên, để lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng gia đình Việt Nam tiên tiến, trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Đảng ta tiếp tục khẳng định: “ Chú trọng bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em gia đình nghèo, trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em. Nhân rộng các mô hình làm tốt việc bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng. Xây dựng và triển khai chiến lược quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, tập trung ở những vùng và khu vực có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳng cao, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và BLGĐ”[10].
Không dừng lại ở ở việc ban hành văn bản trực tiếp định hướng cho việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đối với hoạt động phòng, chống BLGĐ, Đảng cộng sản Việt Nam còn trực tiếp chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện của Nhà nước trong việc triển khai các hoạt động phòng, chống BLGĐ.
Như vậy có thể thấy rằng, Đảng ta luôn nhất quán với việc phòng, chống lại tệ nạn BLGĐ trong suốt các giai đoạn phát triển của đất nước. Luôn gắn hoạt động phòng, chống BLGĐ với sự phát triển bền vững xã hội, hướng tới việc xây dựng một xã hội lành mạnh, tiến bộ, tất cả vì sự phát triển của con người. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Chính phủ Việt Nam cũng nhận định: “Bất bình đẳng giới và BLGĐ là những trở ngại đối với sự phát triển và làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các mặt”[7]. Trên cơ sở đó Chính phủ xác định một trong những chỉ tiêu về phát triển kinh tế – xã hội và xóa đòi giảm nghèo là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ; nâng cao trình độ chuyên môn của phụ nữ. Đảm bảo mọi điều kiện để phụ nữ tham gia và hưởng lợi một cách đầy đủ và bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội…Khuyến khích xây dựng gia đình văn hóa trên cơ sở nâng cao vai trò làm chủ của phụ nữ trong gia đình, có biện pháp giúp phụ nữ giảm gánh nặng trong gia đình (nội trợ, ăn uống, đi lại, chăm sóc con cái,..). Giảm nạn bạo hành đối với phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình và xã hội”[7]. Trên cơ sở thúc đẩy các hoạt động rà soát, đánh giá thực trạng bạo hành đối với phụ nữ, nhận diện những thách thức đối với công tác gia đình hiện nay, vấn đề BLGĐ ở Việt Nam được nhận định: “ … Bạo hành trong gia đình, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em lang thang kiếm sống, trẻ em làm trái pháp luật có chiều hướng phát triển”[25].
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình gắn liền với quá trình phát triển của xã hội. Chính vì vậy, trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều có những quy định pháp luật khác nhau về vấn đề bạo lực gia đình, tuy nhiên các quy định đó đều nhằm mục đích phòng ngừa và hạn chế bạo lực gia đình xảy ra trong gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân mà trong đó chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.
Nghiên cứu pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình từ trước năm 1945 đến 01 tháng 07 năm 2008 có thể thấy rằng: sau năm 1975, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình. Mặc dù các quy định này nằm rãi rác ở các văn bản pháp luật khác nhau, nhưng về cơ bản các quy định có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình đều được quy định trong các văn bản có giá trị pháp lý cao và đã hình thành được một hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Hệ thống các văn bản này cũng đều được được hình thành từ những năm đầu xây dựng đất nước, thể hiện quan điểm của Nhà nước ta trong vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hệ thống văn bản pháp luật về PCBLGĐ còn một số hạn chế nhất định như: Chưa có văn bản pháp luật nào có một định nghĩa pháp lý về BLGĐ; Chưa xác định được cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về PCBLGĐ; Thiếu quy định pháp lý về biện pháp ngăn ngừa BLGĐ; biện pháp hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân BLGĐ và Thiếu các quy định mang tính đặc thù về giáo dục có hiệu quả đối với người gây BLGĐ. Ngoài ra, ý thức của người dân trong giai đoạn này vẫn còn mang nặng tư tưởng phong kiến, nhiều người vẫn còn có những thành kiến, tiêu chuẩn và định kiến giới. Nhiều nạn nhân bạo lực gia đình không được trao quyền cũng như lệ thuộc vào kinh tế, không nhận thức rõ các quyền của họ. Vì vậy, các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trong giai đoạn này chưa thực sự phát huy được tính pháp lý của mình.
Trong quá trình hội nhập và phát triển, Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn luật và công ước quốc tế liên quan đến bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình. Vì vậy, Việt Nam trở thành thành viên của các công ước với nghĩa vụ pháp lý đầy đủ. Các yêu cầu trong việc giới thiệu các nguyên tắc được quốc tế chấp nhận và nội dung của các công ước, điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với hệ thống luật pháp và chính sách quốc gia đòi hỏi việc ban hành và triển khai pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
Thực hiện định hướng chỉ đạo của Ban bí thư Trung ương Đảng tại Chỉ thị số 49-CT/TW Ngày 21/2/2005 về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong đó nêu rõ “tình hình bạo lực gia đình gia tăng làm ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở nước ta”[1]. Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam và một trong những quan điểm chỉ đạo là “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội”[3]. Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010) đề ra nhiệm vụ “.. Đấu tranh phòng, chống bạo lực trong gia đình”[37]. Chiến lược xây dựng gia đình Việt nam giai đoạn 2005-2010, trong đó có mục tiêu tăng cường phòng, chống bạo lực trong gia đình và giảm tỷ lệ bạo lực gia đình, bình quân hàng năm từ 10-15% của Thủ tướng Chính phủ. Và qua những bất cập thực tiễn thi hành các quy định liên quan đến bạo lực gia đình tại văn bản pháp luật như Hiến pháp năm 1992, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ Luật Dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh người cao tuổi …
Nhằm thể chế hóa chủ trương đường lối của Đảng về vấn đề gia đình; làm rõ chức năng quản lý Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; góp phần củng cố và xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; Phát huy vai trò cá nhân, gia đình và cộng đồng trong phòng, chống bạo lực gia đình; chú trọng các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình tại cộng đồng, kịp thời phát hiện sớm và có giải pháp ngăn chặn, răn đe hành vi bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân, tránh xảy ra bạo lực gia đình gây hậu quả nghiêm trọng; Bảo đảm quyền con người, nhất là đối tượng yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già, ưu tiên nguyện vọng chính đáng của nạn nhân; đồng thời tôn trọng các quyền của công dân khi xử lý các hành vi vi phạm về bạo lực gia đình; Phù hợp với hệ thống Pháp luật của Việt Nam và bảo đảm thực hiện cam kết quốc tế, nhất là Công ước về Chống mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước quyền trẻ em. Ngày 21 tháng 11 năm 2007, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2008. Đây là đạo luật quan trọng, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể chế hóa chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình; là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, nhất là người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em, những người rất dễ trở thành và thường là nạn nhân của BLGĐ. Luật PCBLGĐ khẳng định rằng cuộc đấu tranh ngăn chặn tệ nạn BLGĐ đang tồn tại dai dẳng trong đời sống gia đình là nhiệm vụ của toàn xã hội, bởi BLGĐ không phải là chuyện riêng của từng gia đình mà là một vấn đề xã hội.
Qua quá trình hình thành và phát triển, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đã xây dựng được một hệ thống khá đầy đủ các quy định có liên quan để ngăn chặn, hạn chế bạo lực gia đình đã và đang xảy ra ngày càng trầm trọng mà trong đó đỉnh cao là sự ra đời của Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Luật phòng, chống bạo lực ra đời là kết quả của những nỗ lực và tinh thần trách nhiệm cao của các cơ quan pháp luật, các chuyên gia, các tổ chức quần chúng, các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, đồng thời là sự phản ánh nguyện vọng của nhân dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng một xã hội tiến bộ, bình đẳng, dân chủ và văn minh. Luận văn: Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị