Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục Luật hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát về khách thể khảo sát và tổ chức khảo sát

2.1.1. Khái quát về các trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng

Trong những năm qua, giáo dục trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng luôn giữ ổn định về quy mô; mạng lưới trường, lớp. Hiện nay mỗi huyện đều ít nhất 02 trường Trung học phổ thông (trừ Thông Nông và Hòa An có 01 trường (do sáp nhập địa giới hành chính).

  • Bảng 1.1. Số lượng học sinh, lớp học 03 năm học

Về số lượng và chất lượng đội ngũ lãnh đạo nhà trường, giáo viên của các trường Trung học phổ thông ở tỉnh Cao Bằng (Năm học 2017 – 2018)

Về số lượng: 68 Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng; 849 giáo viên. Nhìn chung các trường đủ về số lượng Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên. Cơ cấu theo bộ môn đáp ứng được yêu cầu của hoạt động giáo dục và dạy học [15].

Về chất lượng đội ngũ: 100% số lãnh đạo nhà trường, giáo viên đạt chuẩn và số trên chuẩn ngày càng tăng. Tỷ lệ số Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên đạt trình độ trên chuẩn là 9,4 % [15].

Đa số nhiệt tình, có trách nhiệm, yêu nghề, có phẩm chất chính trị tốt; chất lượng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục; có khả năng điều hành và tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Đội ngũ giáo viên trong những năm gần đây được bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ.

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có một số giáo viên thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy, hạn chế về năng lực tổ chức các hoạt động đoàn thể, chậm đổi mới phương pháp, chưa thực sự tâm huyết với nghề dạy học.

Về quy mô trường lớp và cơ cấu thành phần dân tộc, đặc điểm của học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng

Tình hình học sinh ở các trường THP tỉnh Cao Bằng năm học 2017 – 2018 là 30 trường; số lớp 373, số học sinh 11.977 [15].

Đa số học sinh của các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng là người dân tộc thiểu số (chiếm 96,21% tổng số học sinh). Trong đó số học sinh là dân tộc Tày (46,70%), Nùng ( 38,15%), H’mông (4,49%), Dao (6,13%), Dân tộc khác (0,74), Dân tộc Kinh chỉ chiếm có 3,79% số học sinh [15]. Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Nhận xét chung về tình hình giáo dục ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng

Mặt mạnh:

  • Quy mô trường lớp ổn định;
  • Trong những năm qua, chất lượng giáo dục các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng được nâng lên đáng kể. Nhiệm vụ giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, pháp luật, thể chất được đặc biệt quan tâm, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc trong các cơ sở giáo dục.
  • Cơ sở vật chất được tăng cường về thiết bị, thư viện, phòng học bộ môn. Đội ngũ GV ngày càng được chuẩn hóa. Công tác xã hội hóa ngày càng được quan tâm [15].

Mặt yếu:

  • Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương nói riêng và của cả nước nói chung.
  • Trong quá trình giảng dạy các giáo viên chưa cải tiến phương pháp, còn nặng về dạy chữ, một số các trường Trung học phổ thông ít quan tâm đến việc dạy người. Việc giáo dục phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Đặc biệt là tỉ lệ học sinh dân tộc chiếm tỉ lệ lớn trên 96% đây là một trong những trở ngại, khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động Giáo dục pháp luật cho học sinh [15].

2.1.2. Đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm vùng miền của học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Ở học sinh trung học phổ thông, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức. Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao. Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn. Tuy vậy quan sát của thanh niên học sinh cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên. Giáo viên cần quan tâm để hướng quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định. Ở tuổi thanh niên học sinh, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng. Ghi nhớ ý nghĩa ngày một rõ rệt.

Do sự phát triển của các quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của thanh niên học sinh có thay đổi quan trọng. Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa được học ở trường. Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn. Đồng thời, tính phê phán của tư duy cũng phát triển… Những đặc điểm đó tạo điều kiện lớn cho học sinh thực hiện các thao tác tư duy toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm bắt được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và trong xã hội… Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan.

Tuy vậy, hiện nay số học sinh trung học phổ thông đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều. Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính… Việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên.

Học sinh trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng, đa số là con em các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, điều kiện kinh tế vô vùng thiếu thốn; phần đa các em rất thật thà và thẳng thắng nhưng cũng nhút nhát, rụt rè, dễ xấu hổ ngại giao tiếp vì khả năng diễn đạt bằng tiếng phổ thông còn hạn chế; dễ tự ti phân biệt dân tộc, có thể làm được nhưng không dám nói; thường có lòng tự trọng cao, nếu các em gặp phải những lời phê bình nặng nề, gay gắt hoặc khi kết quả học tập kém, quá thua kém bạn bè một vấn đề nào đó trong sinh hoạt, bị dư luận bạn bè chê cười,… các em dễ xa lánh thầy cô giáo và bạn bè hoặc bỏ học; luôn có niềm tin sâu sắc vào giáo viên và thực tiễn, các em thường dễ dàng nghe theo những người mình đã tin cậy, đặc biệt là giáo viên; khả năng nhận thức còn hạn chế và có khoảng cách tương đối lớn giữa các vùng, miền trong tỉnh nên trong quá trình Giáo dục pháp luật cho các em giáo viên cần chú ý: nắm vững đặc điểm tâm lý, thận trọng suy xét trong quá trình đánh giá; gần gũi, đi sâu, đi sát giúp đỡ các em, cố gắng cảm hoá các em bằng sự tận tình chăm sóc của mình; đồng thời cũng cố gắng gương mẫu về mọi mặt để dành cho được sự tin yêu của các em, từ đó phát huy tác dụng giáo dục của mình.

Tỉ lệ học sinh dân tộc ít người chiếm tỉ lệ lớn, nhiều thành phần dân tộc tạo nên sự phong phú đa dạng về bản sắc văn hóa dân tộc. Đặc điểm học sinh dân tộc ít người là các em rất hiền lành, khắc phục mọi khó khăn trong cuộc sống, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau; có truyền thống nhân ái, khoan dung…; các em có ý thức tự vươn lên, có lối sống lành mạnh; luôn có niềm tin sâu sắc vào giáo viên và thực tiễn, các em thường dễ dàng nghe theo những người mình đã tin cậy, đặc biệt là giáo viên; ham học hỏi, luôn cố gắng rèn luyện để năng cao phẩm chất, nhân cách, năng lực để trở thành người HS toàn diện.

Học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng, đa số là con em của gia đình có hoàn cảnh khó khăn, điều kiện kinh tế vô vùng thiếu thốn; Tuy xã hội ngày càng phát triển một số tập tục lạc hậu đã được xóa bỏ nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng một số hủ tục lạc hậu; trình độ nhận thức kiến thức phổ thông và các vấn đề xã hội còn rất hạn chế, Chẳng hạn khi hỏi về vấn đề tảo hôn “có biết lấy vợ lấy, chồng sớm và sinh con khi chưa đủ tuổi là vi phạm pháp luật và có thể bị đi tù không?” thì rất nhiều em trả lời “không biết được, ở làng nhiều người nó lấy vợ, lấy chồng khi đang học lớp 9, lớp 10 có ai phạt nó đâu, đi tù thì chưa có”… Đó là vấn đề báo động trong Giáo dục pháp luật cho thế hệ trẻ, đặc biệt là đối tượng học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường.

2.1.3. Tổ chức khảo sát

  • Mục tiêu khảo sát Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Đánh giá về mức độ nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng về Luật Hôn nhân và gia đình thông qua công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình, đánh giá đúng thực trạng công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh cũng như quản lí hoạt động này ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý công tác quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng.

Đối tượng khảo sát

  • Để khảo sát thực trạng công tác giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng, chúng tôi tập trung khảo sát tại 07/30 trường trung học phổ thông, gồm các trường Trung học phổ thông: Bản Ngà, Bảo Lạc, Bảo Lâm, Lý Bôn, Lục Khu, Hạ Lang, Thông Nông.
  • Số lượng khách thể khảo sát: Đề tài khảo sát với 175 học sinh, 14 lãnh đạo nhà trường cấp trường và 70 giáo viên.

Nội dung khảo sát

  • Mức độ nhận thức của học sinh, giáo viên, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng về GD Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Thực trạng công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông trong 03 năm học gần đây, gồm các trường Trung học phổ thông: Bản Ngà, Bảo Lạc, Bảo Lâm, Lý Bôn, Lục Khu, Hạ Lang, Thông Nông.
  • Mức độ quản lý và phối hợp các lực lượng tham gia vào quá trình thực hiện công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình.

Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu

  • Điều tra bằng phiếu; Trao đổi với lãnh đạo, GV và học sinh các trường;

Phương thức xử lý số liệu: Chúng tôi thiết kế mẫu phiếu điều tra theo 3 phương pháp lựa chọn và mức đánh giá tương ứng như sau:

  • Đồng ý, tốt, rất ảnh hưởng, rất quan trọng hoặc rất hiệu quả: 3 điểm;
  • Phân vân, bình thường, ảnh hưởng, quan trọng hoặc hiệu quả: 2 điểm;
  • Không đồng ý, chưa tốt, không ảnh hưởng, không quan trọng hoặc không hiệu quả: 1 điểm.
  • Dựa vào thang đo Likert, giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/n = (3-1)/3 = 0.67. Ý nghĩa các giá trị đó như sau.
  • Nếu 00 ≤ X ≤ 1.67: Mức độ đánh giá thấp;
  • Nếu 68 ≤ X ≤ 2.34: Mức độ đánh giá trung bình;
  • Nếu 35 ≤ X ≤ 3: Mức độ đánh giá cao.

2.2. Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

2.2.1. Thực trạng về nhận thức của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên, học sinh về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác GD Luật HN&GĐ cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng

Để tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi đã thăm dò ý kiến của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên qua phiếu khảo sát đối với 84 người với câu hỏi “Thầy, cô cảm thấy tầm quan trọng của Giáo dục Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông như thế nào và 175 học sinh” kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.1. Nhận thức của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của công tác GD Luật HN&GĐ cho học sinh
  • Biểu đồ 2.1. Nhận thức của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của công tác GD Luật HN&GĐ cho học sinh

Nhận xét:

Từ kết quả Bảng 2.1 cho thấy: Theo đánh giá của các khách thể điều tra có 3 mức độ nhận thức về tầm quan trọng của công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông, X = 2.36 đến 2.43, điều này thể hiện nhận thức của lãnh đạo nhà trường, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông ở thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, kết quả đánh giá cho việc nhận thức mỗi mức độ khác nhau đối với từng đối tượng, cụ thể:

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy có 94 % lãnh đạo nhà trường, giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của công tác GD Luật HN&GĐ cho học sinh để góp giảm thiểu học sinh bỏ học. Còn có đến 6,0 % Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên cho rằng nó không quan trọng. Điều này cho thấy nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông thuộc các trường thuộc đối tượng khảo sát là chưa đồng đều một số lãnh đạo nhà trường, giáo viên còn coi nhẹ công tác này, chỉ quan tâm chú ý đến dạy kiến thức văn hóa cho học sinh và giáo dục một số kỹ năng khác, chưa quan tâm, đầu tư đúng mực công tác Giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật HN&GĐ như trường Trung học phổ thông L.B, BN, L.K. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn cô giáo Đ.T.T được biết “học sinh có thể tự học kiến thức về Luật HN&GĐ nếu các em thấy cần thiết, không nhất thiết phải GD Luật Hôn nhân và gia đình cho các em ở trong nhà trường”. Đa số các trường còn lại có quan tâm và được đầu tư đúng mức đến công tác GD Luật HN&GĐ cũng như giáo dục toàn diện cho học sinh như: đó còn nhiều nội dung khác như giáo dục kỹ năng sống, giáo dục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục đạo đức, pháp luật, giáo dục hướng nghiệp…

Đối với HS qua kết quả khảo sát có thể thấy đa số học sinh ý thức được mục đích, ý nghĩa tầm quan trọng của hoạt động GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh chiếm tỉ lệ 85,7,7%. Khi được hỏi “tại sao các em cho rằng cần thiết phải GD Luật Hôn nhân và gia đình”, học sinh Nông Minh Q – Trường Trung học phổ thông B.L cho rằng “theo em nhiều học sinh chưa hiểu về pháp luật HN&GĐ nên có nhiều em đang học mà còn bỏ học để lấy vợ, lấy chồng vì vậy học sinh THPT cần được biết kiến thức pháp luật về HN&GĐ”. Nhưng còn có đến 14,3 % các em cho rằng vấn đề GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh là không cần thiết. Như vậy có thể thấy được công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình ở các trường chưa được quan tâm thường xuyên và đồng đều. Nhiều trường có thực hiện nhưng công tác tuyên truyền về vấn đề này còn hạn chế nên nhận thức của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên và học sinh còn chưa cao. Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Từ câu trả lời của em học sinh Nông Minh Q – Trường Trung học phổ thông B.L cho rằng, để tìm hiểu lý do học sinh đang học mà bỏ học có liên quan đến việc GD Luật HN&GĐ hay không, chúng tôi đã tìm hiểu qua một số lãnh đạo nhà trường, giáo viên và học sinh của các trường thuộc đối tượng khảo sát, với câu hỏi “Theo thầy, cô các học sinh đang học bỏ học vì lý do nào?” và “Theo em các bạn đang học bỏ học vì lý do nào?”.

Kết quả thu được: tỷ lệ học sinh bỏ học “Do hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế” chiếm tỷ lệ cao nhất; nguyên nhân chủ yếu thứ hai dẫn đến việc học sinh bỏ học là do học lực yếu kém; nguyên nhân thứ ba bỏ học vì lý do khác chiếm tỷ lệ cao thứ ba và nguyên nhân “Do lấy vợ, lấy chồng (tảo hôn)” là nguyên nhân chiếm tỷ lệ thấp nhất so với các nguyên nhân trên nhưng nguyên nhân này cần được nhà trường và xã hội hết sức quan tâm. Nguyên nhân tảo hôn ở lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông có nhiều, với các học sinh ở các trường thuộc đối tượng khảo sát tập trung một số nguyên nhân sau: Một phần do chịu ảnh hưởng bởi các hủ tục lạc hậu; việc quản lý, giáo dục con em của phụ huynh ở nhiều gia đình…; Nạn tảo hôn đối với học sinh Trung học phổ thông một phần cũng từ nhà trường. Nhiều nhà trường không chú trọng đến công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức và GD sức khỏe sinh sản vị thành niên hay GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh một cách thường xuyên. Điều đó đã không tác động tích cực vào nhận thức của học sinh về hôn nhân, gia đình và sức khỏe sinh sản. Đồng thời, hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở nhiều nhà trường còn đơn điệu, chưa khéo léo lồng ghép kiến thức về hôn nhân gia đình trong các hoạt động ngoại khóa. Nhiều nhà trường quan niệm rằng, nếu nói nhiều, khuyên bảo nhiều, dạy cách phòng tránh nhiều thì không khác gì “vẽ đường cho hươu chạy”. Nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao và các phong trào để tạo sân chơi bổ ích, mang tính giáo dục cao cho học sinh ở nhiều nhà trường còn thiếu hoặc chưa sôi nổi. Để nạn tảo hôn không còn là nguyên nhân dẫn đến giảm sĩ số học sinh, không còn là nguy cơ làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, các trường học ở vùng sâu, vùng xa cần có những giải pháp hữu hiệu.

Tảo hôn không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ra hậu quả rất lớn đối với cá nhân, gia đình và xã hội; làm gia tăng nhanh số lượng và giảm chất lượng dân số, trực tiếp ảnh hưởng đến việc chăm sóc, giáo dục trẻ em. Tảo hôn ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất, tâm sinh lý, sức khỏe sinh sản của người phụ nữ, nhất là trẻ em gái. Điều này càng khẳng định nhận thức của lãnh đạo nhà trường, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của công tác GD Luật HN&GĐ cơ bản là rất tốt.

2.2.2. Thực trạng thực hiện các nội dung GD Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Nội dung công tác GD Luật HN&GĐ cho học sinh trong nhà trường Trung học phổ thông Để tìm hiểu các nội dung GD Luật Hôn nhân và gia đình trong trường Trung học phổ thông, tôi tiến hành khảo sát với câu hỏi “Theo thầy (cô) GD Luật HN&GĐ cho học sinh ở trường Trung học phổ thông gồm những nội dung nào?”

  • Bảng 2.2. Nội dung công tác GD Luật HN&GĐ trong nhà trường Trung học phổ thông

Nhận xét:

Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi điều tra khảo sát ý kiến về một số nội dung chính của Luật HN&GĐ cần được giáo dục cho học sinh. Qua điều tra khảo sát, nhìn số liệu tổng thể chúng tôi thấy các nội dung cơ bản trong Luật HN&GĐ theo chúng tôi cần giáo dục pháp luật cho học sinh được đánh giá ở mức độ cao (giá trị X = 2,5) và các nội dung như: Kiến thức, hiểu biết về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, quyền và nghĩa vụ sau kết hôn; Kiến thức, hiểu biết về chế độ hôn nhân và gia đình; Kiến thức, hiểu biết về kết hôn trái PL, quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái PL, Xử lý việc kết hôn trái pháp luật; Kiến thức, hiểu biết về cưỡng ép kết hôn; Giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông có kỹ năng sống dựa trên các giá trị sống đúng đắn để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con là những nội dung lãnh đạo nhà trường, giáo viên, học sinh cho rằng rất cần thiết phải giáo dục pháp luật cho học sinh, thang đo các nội dung này dao động từ 2,76 – 2,86. Điều này khẳng định lãnh đạo nhà trường, giáo viên đã tổ chức, thực hiện và học sinh được giáo dục những nội dung chúng tôi đưa để GD Luật Hôn nhân và gia đình và nội dung chúng tôi đưa ra là đúng hướng, phù hợp, đúng nhu cầu của các nhà trường trong việc GD Luật HN&GĐ. Tuy nhiên, nội dung: kiến thức, hiểu biết về mang thai hộ vì mục đích thương mại; kiến thức, hiểu biết về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; kiến thức, hiểu biết về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo chúng ta cần phải xem xét vì cả 3 nhóm đối tượng khảo sát đều đánh giá nội dung này với điểm TB khá thấp chỉ từ 1,73 đến 1,78, cũng dễ hiểu vì sao 3 nhóm đối tượng khảo sát còn phân vân hay không đồng ý đưa những nội dung này vào giáo dục cho học sinh vì đây là những nội dung mới của Luật HN&GĐ năm 2014. Tuy niên với cuộc sống hiện nay, chúng ta đang sống với thời đại khoa học, công nghệ phát triển những nội dung này là cần thiết cần giáo dục cho học sinh. Những nội dung mới được đưa vào bước đầu sẽ những khó khăn nhất định từ nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên sau một vài năm sẽ tổng kết và rút ra kinh nghiệm để có những điều chỉnh phù hợp để các nhà trường thực hiện nội dung này.

  • Mức độ thực hiện nội dung công tác GD Luật HN&GĐ cho học sinh trường Trung học phổ thông

Bảng 2.3. Đánh giá về mức độ thực hiện nội dung GD Luật HN&GĐ cho học sinh trong trường Trung học phổ thông

  • Nhận xét: Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Qua bảng số liệu từ phiếu đánh giá có thể nhận thấy rằng tình hình thực hiện nội dung GD Luật Hôn nhân và gia đình được đánh giá ở mức trung bình X = 1,83, có 10/18 nội dung GD Luật Hôn nhân và gia đình có tỷ lệ từ 50% “chưa tốt” trở lên, đặc biệt có những nội dung tỷ lệ “chưa tốt” rất cao (hơn 75%), như nội dung: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”; “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo”; “Mang thai hộ vì mục đích thương mại”, đây là nội dung mới của Luật HN&GĐ năm 2014, điều này cho thấy rằng giáo viên ít cập nhật và quan tâm những nội dung mới của Luật.

Qua bảng số liệu cũng thấy rằng việc giáo dục cho học sinh những nội dung về gia đình cũng chưa được quan tâm, chú trọng. Giá trị X dao động từ 1,58 đến 1,67 (Mức độ đánh giá thấp), điều này rất đáng báo động vì đó là những nguyên nhân xảy ra sự bất bình đẳng và bạo lực trong gia đình, cũng như việc xây dựng gia đình hạnh phúc, vì vậy trong những năm học tới các nội dung này các nhà trường cần phải chú trọng, lưu tâm hơn trong công tác chỉ đạo và thực hiện GD Luật Hôn nhân và gia đình.

Nhìn vào Bảng số liệu thấy rằng các trường thực hiện khá tốt ở một số nội dung kiến thức, hiểu biết: về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, quyền và nghĩa vụ sau kết hôn; về chế độ hôn nhân và gia đình; về kết hôn trái PL, quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái PL, Xử lý việc kết hôn trái PL; về cưỡng ép kết hôn; về gia đình, thành viên gia đình; Những nội dung kiến thức, hiểu biết trong Luật HN&GĐ này là cần thiết, tuy nhiên tỷ lệ đánh giá “Tốt” cũng còn “khiêm tốn”, Giá trị X dao động từ 2,35 đến 2,41 (Mức độ đánh giá cao) . Khi được hỏi, vì sao em cho rằng việc thực hiện nội dung kiến thức “Cưỡng ép kết hôn” là tốt? học sinh L.T.H Trường Trung học phổ thông T.N nói “trong một buổi ngoại khóa về pháp luật, em được xem một tiểu phẩm nói về chủ đề “cưỡng ép hôn” rất xúc động và có tính tuyên truyền, giáo dục cao. Qua tiểu phẩm em có thể giải thích cho mọi người ở trong làng khi gặp trường hợp lấy vợ bị ép buộc”.

Với nội dung “Giáo dục hành vi và chuẩn mực cho học sinh Trung học phổ thông biết kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về HN&GĐ” được đánh giá ở mức độ thấp, chúng tôi thực hiện trao đổi với cô B.M.T giáo viên Trường Trung học phổ thông H.L, được biết trong việc GD Luật HN&GĐ thông qua buổi ngoại khóa chỉ chú trọng nội dung kiến thức về hôn nhân còn nội dung kiến thức, hiểu biết về gia đình chưa được đề cập trong buổi ngoại khóa, có chăng các em được giáo dục thông qua bộ môn Giáo dục công dân”.

2.2.3. Thực trạng sử dụng các hình thức GD Luật HN&GĐ cho học sinh trong trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng

  • Bảng 2.4. Đánh giá về mức độ sử dụng hình thức GD Luật HN&GĐ cho học sinh trong trường Trung học phổ thông

Nhận xét: Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Nhìn vào kết quả bảng trên ta thấy việc GD Luật HN&GĐ cho học sinh các trường thuộc đối tượng khảo sát được tổ chức với các hình thức đa dạng, phong phú, tuy nhiên việc đánh giá chung các hình thức tổ chức GD Luật HN&GĐ chỉ ở mức trung bình ( X =1,97), tuy nhiên việc GD Luật HN&GĐ thông qua hình thức hoạt động ngoại khóa (ngoại khóa PL, các cuộc thi tìm hiểu PL, hoạt động hưởng ứng “Ngày PL” tư vấn PL…) chiếm tỷ lệ cao (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên có 53,6% – HS có 56,6%), thông qua sinh hoạt dưới cờ là thực hiện tương đối tốt (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên có 50% – HS có 49,7%) . Còn thông dạy học môn GDCD cho học sinh có 29,8% Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên và 34,3% học sinh cho rằng là thực hiện tốt; 25 % Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên và 36,6% học sinh cho rằng thực hiện chưa tốt. Còn với 3 hình thức: thông qua hoạt động phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã hội, đặc biệt là gia đình; thông qua Tủ sách pháp luật; Thông qua hình thức tự giáo dục của học sinh tính trung bình thì có 20,2% Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên và 24,6% học sinh cho là thực hiện tốt, 57% Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên và 51,1% học sinh cho là chưa thực hiện tốt. Như vậy các hình thức chủ yếu sử dụng để giáo dục GD Luật Hôn nhân và gia đình của các trường mới chỉ dừng lại ở hình thức bên ngoài các hoạt động ngoại khóa (ngoại khóa PL, các cuộc thi tìm hiểu PL, hoạt động hưởng ứng “Ngày PL” tư vấn PL…)… Còn hình thức thông qua hoạt động phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã hội, đặc biệt là gia đình, thông qua Tủ sách pháp luật hay hoạt động trải nghiệm giáo dục cũng rất quan trọng để phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức pháp luật để có thể vận dụng nó trọng cuộc sống hằng ngày, tuy nhiên hình thức này được thực hiện hạn chế, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đạo đức, hạnh kiểm và ý thức tự rèn luyên, tu dưỡng của học sinh miền núi chưa cao, là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng học sinh vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật HN&GĐ nói riêng. Đây cũng chính là vấn đề các trường cần được quan tâm hơn.

Tìm hiểu lý do tại sao hình thức “GD Luật HN&GĐ các hoạt động ngoại khóa (ngoại khóa PL, các cuộc thi tìm hiểu PL, hoạt động hưởng ứng “Ngày PL” tư vấn PL…)” được giáo viên, học sinh đánh giá “Tốt”, chúng tôi tiến hành phỏng vấn cô B.T.Y giáo viên Trường Trung học phổ thông T.N, nhận được câu trả lời “với các buổi tuyên truyền, giáo dục pháp luật chỉ thông qua ngoại khóa có thơ, ca, hò vè đưa một số tình huống pháp luật vào đó thì giáo viên, học sinh mới hứng thú, buổi tuyên truyền không nhàm chán, từ các tình huống như thế kiến thức pháp luật mới dễ để học sinh chú ý, nhớ lâu. Chứ nếu để Báo cáo viên pháp luật của Phòng Tư pháp, Công an huyện hay Tổ pháp chế lên tuyên truyền thì học sinh, giáo viên không tập trung đâu. Nhưng với các buổi ngoại khóa như thế các giáo viên vất vả lắm, phải chuẩn bị trước đó từ 1 đến 2 tuần nên rất mất thời gian, một số công việc khác của giáo viên sẽ bị ảnh hưởng; quỹ lớp “âm nhanh lắm” vì phải chi nào trang phục, nước uống… cho tập luyện”.

2.3. Thực trạng công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

2.3.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông

Để khảo sát việc lập kế hoạch công tác lập kế hoạch GD Luật HN&GĐ cho học sinh chúng tôi khảo sát với Câu hỏi 7 của Phụ lục: “Thầy (cô) cho biết thực trạng quản lý hoạt động GD Luật HN&GĐ cho học sinh ở trường thầy (cô) bằng cách tích dấu (x) vào mức độ thầy (cô) cho là phù hợp”.

Bảng 2.5. Đánh giá về xây dựng kế hoạch công tác GD Luật HN&GĐ trong nhà trường Trung học phổ thông

  • Nhận xét

Qua kết quả khảo sát cho thấy công tác xây dựng kế hoạch được đối tượng khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ trung bình, (thể hiện điểm trung bình chung = 2,18) và điểm trung bình của các biện pháp lập kế hoạch đang thực hiện dao động 1,76 ≤ X ≤ 2.42, Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông đã thực hiện nhiều biện pháp lập kế hoạch GD Luật HN&GĐ, mức độ thực hiện các biện pháp thực hiện không đồng đều. Thực hiện “Xác định mục tiêu Luật HN&GĐ”, “Xây dựng kế hoạch giáo dục luật hôn nhân và gia đình theo năm học”, “Xây dựng kế hoạch theo từng lĩnh vực giáo dục pháp luật” được đánh giá cao nhất. Các biện pháp lập kế hoạch được đánh giá thực hiện thấp hơn là “Xây dựng các nội dung của GD Luật HN&GĐ”, “Lập kế hoạch thực hiện các nội dung của GD Luật HN&GĐ”. Việc “Lập kế hoạch về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cho việc giáo dục pháp luật” được đánh giá thấp nhất X = 1,76. Một trong những công việc khác cũng quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch là “Nghiên cứu các văn bản về công tác GD Luật HN&GĐ”, “Đánh giá thực trạng công tác GD Luật HN&GĐ hiện nay (những mặt mạnh, mặt yếu, thời cơ và thách thức..)” hay “Xác định các biện pháp để thực hiện kế hoạch GD Luật HN&GĐ” chỉ được đánh giá ở mức trung bình, với điểm đánh giá không cao dao động 1,94 đến 2,01. Nếu thực hiện tốt công việc quan trọng thì hiệu quả GD Luật HN&GĐ sẽ được nâng cao hơn. Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Với kết quả khảo sát được đánh giá thấp “Lập kế hoạch về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cho việc giáo dục pháp luật”, chúng tôi trao đổi với thầy H.V.K Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông B.C “Theo thầy tại sao Lập kế hoạch về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cho việc giáo dục pháp luật được cho là không hiệu quả?” được biết rằng “trong năm học ngoài việc phải thực hiện các buổi ngoại khóa pháp luật theo chỉ đạo của Sở GD&ĐT trong Kế hoạch công tác pháp chế, Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật năm học thì ở các trường Trung học phổ thông phải thực hiện nhiều buổi ngoại khóa khác, như: ngoại khóa tuyên truyền ba văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc; ngoại khóa tuyên truyền về Công viên địa chất Non nước Cao Bằng… những buổi ngoại khóa này cũng cần nhiều kinh phí nên việc dành kinh phí chi thường xuyên cho công tác giáo dục pháp luật rất hạn chế, eo hẹp chúng tôi phải san siu, tính toán vì thế có thầy cô cho là việc lập kế hoạch kinh phí cho hoạt động giáo dục pháp luật không hiệu quả cũng là điều dễ hiểu. Thực hiện các Đề án về giáo dục pháp luật cho học sinh, như Đề án 1928 giai đoạn trước nhưng các trường cũng chẳng có thêm kinh phí”.

2.3.2. Tổ chức và chỉ đạo thực hiện chương trình giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông

Để khảo sát việc lập kế hoạch công tác lập kế hoạch GD Luật HN&GĐ cho học sinh chúng tôi khảo sát với Câu hỏi 7 của Phụ lục: “Thầy (cô) cho biết thực trạng quản lý hoạt động GD Luật HN&GĐ cho học sinh ở trường thầy (cô) bằng cách tích dấu (x) vào mức độ thầy (cô) cho là phù hợp”

  • Bảng 2.6. Đánh giá về nội dung biện pháp tổ chức và chỉ đạo công tác GD Luật HN&GĐ trong nhà trường Trung học phổ thông

Nhận xét: Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Bảng 2.8 trên khảo sát 84 lãnh đạo nhà trường và giáo viên cho thấy: các nội dung được đánh giá ở 3 mức trung bình, khá, tốt. Công tác tổ chức và chỉ đạo các hoạt động GD Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông được lãnh đạo, giáo viên các trường thuộc đối tượng khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ trung bình, thể hiện điểm trung bình chung X = 2,20 và điểm trung bình của biện pháp tổ chức và chỉ đạo thực hiện dao động: 1,96 ≤ X ≤ 2,38.

Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông đã thực hiện nhiều biện pháp tổ chức và chỉ đạo các công tác GD Luật HN&GĐ cho học sinh trung học phổ thông, mức độ thực hiện các biện pháp tổ chức và chỉ đạo được đánh giá không như nhau. Thực hiện tốt nhất, được đánh giá cao là các biện pháp “Tổ chức và chỉ đạo các hoạt động GD Luật HN&GĐ cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân và các môn học khác” đứng thứ nhất với X = 2,38; biện pháp “Tổ chức và chỉ đạo xây dựng và triển khai các chủ đề tích hợp, liên môn gắn với GD Luật HN&GĐ cho học sinh” xếp thứ 2 với X = 2,32; biện pháp “Tổ chức và chỉ đạo thực hiện các hoạt động GD Luật HN&GĐ cho học sinh qua ngoài giờ lên lớp, qua các hoạt động trải nghiệm” xếp thứ ba với X = 2,13 và biện pháp “Tổ chức các cuộc thi; tìm hiểu về pháp luật; vận dụng các kiến thức vào giải quyết các tình huống pháp luật HN&GĐ thực tiễn xảy ra” xếp thứ tư 4/4 với với X = 1,96.

Qua kết quả khảo sát, chúng tôi tiến hành phỏng vấn cô H.T.H giáo viên dạy Giáo dục công dân Trường Trung học phổ thông H.L để tìm hiểu nguyên nhân vì sao việc “Tổ chức các cuộc thi; tìm hiểu về pháp luật; vận dụng các kiến thức vào giải quyết các tình huống pháp luật HN&GĐ thực tiễn xảy ra” được đánh giá thấp, với câu hỏi “theo cô giáo, một số thầy cô đánh giá việc vận dụng các kiến thức vào giải quyết các tình huống pháp luật HN&GĐ thực tiễn xảy ra không hiệu quả?”, được cô H.T.H trao đổi “các giáo viên phụ trách công tác giáo dục pháp luật ở các trường chỉ có trình độ cử nhân sư phạm, đâu có được đào tạo chuyên sâu về Luật và việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho các giáo viên này tuy được Sở tiến hành nhưng ít, thời gian tập huấn eo hẹp nên để giải quyết các tình huống pháp luật HN&GĐ cho học sinh, giáo viên cần phải có một kiến thức pháp luật vững, chúng tôi có tiến hành nhưng chỉ có thể phân tích, giải thích sâu được các tình huống có sẵn trong sách, tài liệu đã có”.

2.3.3. Kiểm tra, đánh giá giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông của Hiệu trưởng Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên

Kiểm tra, đánh giá là một mắt xích quan trọng của công tác quản lí, không những giúp cho nhà quản lí biết ưu điểm của công tác quản lí mà còn là căn cứ để điều chỉnh kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo… Để đánh giá về kết quả khảo sát công tác GD Luật HN&GĐ được chúng tôi khảo sát qua Bảng 2.7 trên tổng số 84 người gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên và thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.7. Đánh giá về nội dung kiểm tra, đánh giá công tác GD Luật HN&GĐ trong nhà trường Trung học phổ thông

Nhận xét: Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Qua bảng kết quả khảo sát cho thấy công tác kiểm tra, đánh giá GD Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông của Hiệu trưởng Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên cho học sinh được lãnh đạo, giáo viên các trường thuộc đối tượng khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ trung bình, thể hiện điểm trung bình chung X = 2,16 và điểm trung bình của các biện pháp lập kế hoạch đang thực hiện dao động: 1,99 ≤ X ≤ 2,46.

Các công việc kiểm tra, đánh giá GD Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông của Hiệu trưởng Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên cho học sinh được lãnh đạo, giáo viên các trường thuộc đối tượng khảo sát hiện nay đã thực hiện trên tất cả nội dung. Mức độ thực hiện các nội dung được đánh giá không đồng đều nhau. Thực hiện tốt nhất là các nội dung “Xây dựng các tiêu chí kiểm tra đánh giá GD Luật HN&GĐ” được đánh giá cao, xếp thứ nhất với X = 2,26; nội dung “Tổng kết rút kinh nghiệm công tác GD Luật HN&GĐ” xếp thứ hai với X = 2,25. Các nội dung kiểm tra, đánh giá được đánh giá thực hiện thấp hơn là “Tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra các bộ phận thực hiện nhiệm vụ tổ chức hoạt động GD Luật HN&GĐ” xếp thứ 3 với X = 2,13, “Phát hiện, điều chỉnh các sai lệch khi tổ chức hoạt động GD Luật HN&GĐ”, “Giám sát việc thực hiện GD Luật HN&GĐ đã xác định” được xếp thứ 4, thứ 5; và nội dung “Khảo sát, đánh giá mức độ thực hiện các nhiệm vụ Giáo dục pháp luật HN&GĐ theo tiêu chí đã xây dựng” được đánh giá thấp nhất với X = 1,99.

Kiểm tra đánh giá là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý nhằm thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý để thực hiện ba chức năng; phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích, nhờ kiểm ra đánh giá mà Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên có được thông tin để đánh giá kết quả công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động đúng hướng nhằm đạt được mục tiêu. Việc kiểm tra đánh giá phải dựa trên chương trình, kế hoạch đã được quy định, phải có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể cho từng hoạt động, có thể định tính, định lượng, hoặc thông qua sự thừa nhận của tập thể, của xã hội trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể.

Tuy nhiên qua trao đổi, khảo sát và nghiên cứu một số kế hoạch, kịch bản chương trình tổ chức thực hiện với các buổi ngoại khóa của các trường thuộc đối tượng khảo sát cho thấy việc kiểm tra đánh giá chỉ mang tính hình thức, còn phó mặc cho chủ thể việc thực hiện là Đoàn thanh niên. Mục đích của kiểm tra là để đánh giá xếp loại thi đua giữa các lớp trong trường. Chưa làm tốt việc đánh giá mức độ thực hiện các nhiệm vụ GD Luật HN&GĐ theo tiêu chí đã xây dựng. Ban giám hiệu các trường chưa xây dựng được kế hoạch kiểm tra, đánh giá thường xuyên hoạt động Giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật HN&GĐ nói riêng. Việc tuyên dương, phê bình chưa kịp thời đối với hoạt động GD Luật HN&GĐ đa số không thực hiện, chỉ được thực hiện tuyên dương, phê bình sau các đợt thi đua lớn như 20/1, 26/3…

2.3.4. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông, chúng tôi khảo sát 84 lãnh đạo, giáo viên các trường thuộc đối tượng khảo sát với câu hỏi “Theo thầy (cô), những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh ở trường nơi thầy (cô) công tác?”

Kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông thu được như sau:

  • Bảng 2.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh Trung học phổ thông

Nhận xét:

Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh được lãnh đạo, giáo viên các trường thuộc đối tượng khảo sát đánh giá mức độ “ảnh hưởng rất nhiều” (đánh giá ở mức độ cao), thể hiện điểm trung bình chung X = 2,41 điểm (rất ảnh hưởng) và điểm trung bình của các yếu tố ảnh hưởng dao động: 1,62 < < 2,71. Các yếu tố ảnh hướng đến công tác GD Luật HN&GĐ cho học sinh trung học phổ thông bao gồm nhiều yếu tố, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố được đánh giá ảnh hưởng đến công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh khác nhau và khá chênh lệch (1,09 điểm): Những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là “Nhận thức, ý thức và đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông” với X = 2,71 điểm (rất ảnh hưởng) đứng thứ nhất; yếu tố “Năng lực quản lý của lãnh đạo nhà trường nhà trường” và “Vai trò của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong nhà trường” với X = 2,70 điểm (rất ảnh hưởng) đứng thứ hai; yếu tố “Trình độ, năng lực của giáo viên” với X = 2,69 điểm (rất ảnh hưởng) đứng thứ 3; yếu tố “Nhận thức và ý thức trách nhiệm của giáo viên với việc thực hiện công tác GD Luật HN&GĐ” với X = 2,64 điểm (rất ảnh hưởng) đứng thứ 4. Những yếu tốt ảnh hưởng ít nhất là “Công tác phối hợp giữa trường Trung học phổ thông và các cơ quan đoàn thể trên địa bàn nơi trường đóng chân” với X = 1.64 điểm (trên 53 % số người được hỏi cho là không ảnh hưởng) và cuối cùng là “Sự quan tâm của chính quyền các cấp ở địa phương” với X = 1,62 điểm (trên 57 % số người được hỏi cho là không ảnh hưởng). Trao đổi với bà H.T.L Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông B.L một người có kinh nghiệm giáo dục học sinh với câu phổng vấn “Theo bà tại sao bà cho rằng:”Nhận thức, ý thức và đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông” là yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác GD Luật HN&GĐ”, bà H.T.L cho rằng: trong công tác GD Luật HN&GĐ phải rất chú ý đến nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông. Lứa tuổi này có đặc điểm trí tuệ rất phát triển nhưng nhận thức về hành vi làm không nên làm nhiều khi không đúng, nhiều khi các em ngộ nhận sự quan tâm của bạn khác giới là tình yêu… ; lứa tuổi này cơ thể đang phát triển mạnh, thần kinh nhiều khi không cân bằng, hưng phấn mạnh và dễ có hành vi bột phát… Điều này sẽ ảnh hưởng nhiều và rất nhiều đến công tác giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật cho các em nói chung và công tác GD Luật HN&GĐ nói riêng. Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Tìm hiểu các yếu tố mà giáo viên cho là không ảnh hưởng đến công tác GD Luật HN&GĐ, chúng tôi phỏng vấn thầy N.T.D Bí thư Đoàn trường Trường Trung học phổ thông B.N với câu hỏi “theo thầy tại sao thầy cho rằng “Sự quan tâm của chính quyền các cấp ở địa phương” không ảnh hưởng đến công tác GD Luật HN&GĐ”, được trả lời “từ ngày tôi vào trường đến nay, một số hoạt động ngoại khóa pháp luật có đề nghị chính quyền địa phương hỗ trợ, giúp đỡ nhưng cũng chẳng giúp được gì, rất nhiều lần mời chính quyền đến dự hoạt động ngoại khóa, họ đến nhưng khi tổ chức rút kinh nghiệm sau hoạt động ngoại khóa GD Luật HN&GĐ thì họ đều nhận xét, đánh giá chung chung, không chỉ ra được những gì chúng tôi đã là được và những gì chúng tôi còn hạn chế… Nói chung với công tác giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật HN&GĐ nói riêng chúng tôi, các thầy cô ở trường “tự bơi” là chính”.

2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng

2.4.1. Những ưu điểm

Luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của Sở GD&ĐT tỉnh Cao Bằng trong việc triển khai và thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật trong Ngành GDĐT và có đầy đủ hệ thống văn bản hướng dẫn và đã tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật cho giáo viên các trường về công tác giáo dục pháp luật và nhà trường đã cử giáo viên tham gia đầy đủ các đợt tập huấn, bồi dưỡng đó.

Công tác quản lý giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật HN&GĐ nói riêng các trường thuộc đối tượng khảo sát luôn được Chi bộ, Ban Giám hiệu, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tổ chuyên môn môn trong nhà trường quan tâm và coi trọng. Nhà trường luôn coi công tác giáo dục pháp luật là một trong những biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chung của nhà trường. Cơ bản lãnh đạo, giáo viên các nhà trường đều có nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật HN&GĐ cho học sinh nói riêng.

Đội ngũ giáo viên môn Giáo dục công dân, giáo viên phụ trách công tác pháp chế các nhà trường cơ bản vững về chuyên môn, có đủ năng lực và trình độ giảng dạy và tổ chức các hoạt động ngoại khóa giáo dục pháp luật. Giáo viên môn Giáo dục công dân, giáo viên phụ trách công tác pháp chế đã chịu khó tìm tòi, khai thác sử dụng triệt để các tài liệu được trang bị hoặc tự làm, tìm tòi sử dụng phương tiện dạy học hiện đại và ứng dụng CNTT vào bài giảng trong giảng dạy kiến thức pháp luật nhằm đem lại chất lượng giờ lên lớp và các hoạt động ngoại khóa giáo dục pháp luật cao hơn.

Kế hoạch tổ chức giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật HN&GĐ cho học sinh ở chương trình chính khóa cũng như ngoại khóa đã được xây dựng cụ thể, có trọng điểm, trọng tâm, việc triển khai thực hiện môn Giáo dục công dân và kiến thức pháp luật tích hợp trong các môn học đã triển khai, thực hiện bắt buộc với nội dung được biên soạn sát với thực tế, bổ ích, phù hợp với điều kiện của nhà trường cũng đã giúp cho học sinh rất nhiều trong việc nhận thức đúng đắn, sâu sắc về kiến thức pháp luật.

Các hình thức và biện pháp giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật HN&GĐ được sử dụng khá đa dạng, phong phú; sự phối, kết hợp giữa giáo dục pháp luật với công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã được quan tâm chú trọng; việc chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá cũng đã được tiến hành tương đối thường xuyên và đạt hiệu quả khá tốt.

Các nhà trường cũng đã chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp và biện pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đơn vị, các tổ chức chính trị xã hội trong trường nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho học sinh; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật của học sinh góp phần ổn định xã hội và môi trường giáo dục.

2.4.2. Những hạn chế, tồn tại Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Ngoài những kết quả đã đạt được, công tác quản lý giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật HN&GĐ nói riêng của các trường trung học phổ thông trên đại bàn tỉnh Cao Bằng còn những hạn chế, tồn tại nhất định:

Nhận thức về tầm quan trọng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh của một số lãnh đạo, giáo viên làm công tác này chưa cao nên công tác quản lý phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh ở nhiều trường chưa được coi trọng, chưa được quan tâm đúng mức;

Giáo viên phụ trách công tác giáo dục pháp luật ở các nhà trường chủ yếu là kiêm nhiệm, ít được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng, phương pháp giáo dục pháp luật cho học sinh;

Kinh phí, cơ sở, vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác giáo dục pháp luật cho học sinh;

Các hình thức giáo dục pháp luật tuy có nhiều hình thức nhưng còn đơn điệu, rập khuôn, thiếu sự hấp dẫn; hiện tượng dạy học nặng về kiến thức, nhẹ về rèn luyện kỹ năng cho người học còn khá phổ biến; các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục pháp luật cho học sinh hiện nay mới đánh giá ở mức độ ghi nhớ, chưa đánh giá sự chuyển biến về ý thức, về kỹ năng áp dụng pháp luật cho người học;

Sự phối hợp giữa các tổ chức, đoàn thể trong trường với các lực lượng ngoài nhà trường trong công tác giáo dục pháp luật chưa đi vào nề nếp, chưa thường xuyên; thiếu sự chỉ đạo thường xuyên, đồng bộ, thống nhất từ trên xuống dưới, vì thế dẫn đến hiểu biết pháp luật của học sinh còn hạn chế, hiện tượng vi phạm thậm chí, có nhiều trường hợp học sinh vi phạm pháp luật vẫn không nhận thức được những việc làm của mình là hành vi vi phạm pháp luật;

Công tác kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục pháp luật chưa thường xuyên và chặt chẽ. Chưa có sự tổng kết thường xuyên để tìm ra được các mặt mạnh thành công các gương điển hình trong học sinh nhân rộng làm điểm để giáo dục pháp luật. Việc kiểm tra còn mang tính thời vụ sau mỗi đợt khi có chỉ đạo kiểm tra giáo dục pháp luật của các cấp đến nhà trường phổ thông. Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại

  • Công tác giáo dục pháp luật chịu bởi điều kiện kinh tế xã hội của địa phương & phong tục tập quán,văn hóa địa phương. Điều này tác động đến tâm lý, tình cảm, nhận thức chung của học sinh về pháp luật.
  • Kinh phí cho công tác giáo dục pháp luật chủ yếu được thực hiện trong kinh phí chi thường xuyên nên hạn chế, eo hẹp, chưa được bố trí thỏa đáng; các nhà trường chưa huy động được các nguồn lực hợp pháp khác để bổ sung kinh phí cho công tác giáo dục pháp luật.
  • Nhận thức về công tác giáo dục pháp luật nói chung, GD Luật HN&GĐ cho học sinh nói riêng của một số chính quyền địa phương, lãnh đạo nhà trường, giáo viên và học sinh chưa đúng mức.
  • Giáo viên phụ trách công tác giáo dục pháp luật ở các trường Trung học phổ thông chủ yếu là kiêm nghiệm, ít được tập huấn để nâng cao kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục pháp luật; thời gian dành cho công tác giáo dục pháp luật chưa tương xứng với nhiệm vụ.
  • Việc giáo dục pháp luật cho học sinh thông qua ngoại khóa trong nhà trường mất rất nhiều thời gian, công sức nên một số giáo viên còn e ngại, chưa nhiệt tình tham gia.
  • Các cơ quan liên quan chức thiếu sự quan tâm, phối hợp với nhà trường trong công tác giáo dục pháp luật.
  • Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp về Giáo dục pháp luật có ban hành Đề án thực hiện nâng cao chất lượng công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, tuy nhiên việc chỉ đạo còn chung chung, như việc giao cho UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính thực hiện bố trí kinh phí thực hiện Đề án; việc tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Đề án chưa được chú trọng.
  • Nhận thức về vị trí, vai trò của môn học Giáo dục công dân và công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường còn có “khoảng cách” so với việc thực hiện nhiệm vụ khác trong các nhà trường.
  • Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như: Nội dung Giáo dục pháp luật chưa thiết thực; những biến đổi tâm, sinh lý của học sinh; quản lý giáo dục của nhà trường chưa chặt chẽ, hời hợt; việc thực thi pháp luật của các cơ quan bảo vệ, thi hành pháp luật, chính quyền địa phương có nơi chưa nghiêm.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Công tác giáo dục pháp luật cho học sinh nói chung và GD Luật HN&GĐ trong các trường Trung học phổ thông thuộc đối tượng khảo sát những năm gần đây đã đạt được những thành tích đáng kể. Các trường cơ bản đã xác định được vai trò, tầm quan trọng và quan tâm đến công tác giáo dục pháp luật cho học sinh: Mỗi năm học đều thành lập, kiện toàn Tổ pháp chế; có kế hoạch hoạt động công tác pháp chế, kế hoạch công tác giáo dục pháp luật; tổ chức triển khai kế hoạch, giao nhiệm vụ cụ thể tới từng bộ phận trong nhà trường để cùng thống nhất và tổ chức thực hiện; các hình thức và biện pháp giáo dục pháp luật cơ bản phong phú, đa dạng; nội dung giáo dục pháp luật ngày càng phong phú, thiết thực hơn. Tuy nhiên trong một số nhà trường vẫn còn một số lãnh đạo nhà trường, giáo viên chưa quan tâm đúng mực về công tác giáo dục pháp luật nói chung và công tác GD Luật HN&GĐ; hiệu quả giáo dục pháp luật chưa cao… Nguyên nhân chính là do công tác quản lý giáo dục pháp luật còn một số hạn chế, một số biện pháp giáo dục pháp luật chưa thiết thực và khả thi. Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi đội ngũ làm công tác quản lý phải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật HN&GĐ nói riêng. Đó là những nội dung chính chúng tôi sẽ trình bày trong Chương 3. Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT

One thought on “Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT

  1. Pingback: Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464