Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình
Năm 2019 có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành mục tiêu kế hoạch kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020 của Tỉnh. Ngay từ đầu năm, dưới sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, sự điều hành tập trung, quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành… Kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Nam đã vượt qua khó khăn, thách thức, đạt nhiều kết quả tích cực. Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố, Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2019 ước tính tăng 3,81%, mức tăng trưởng năm nay tuy không đạt như kỳ vọng (KH: +7-7,5%) nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn thì đạt được mức tăng trưởng trên là một nỗ lực lớn.
So với chỉ tiêu theo Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra về nhiệm vụ năm 2019, dự kiến có 13/14 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra; Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tăng 4,5%; Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,6%; Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 15%. Sơ bộ đánh giá tình hình kinh tế – xã hội cả năm 2019 đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực chủ yếu, như sau:
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2019 (giá so sánh 2010) ước tính đạt 60.788 tỷ đồng, tăng 3,81% so với năm 2018 (6 tháng đầu năm 2019: +3,93%). Trong mức tăng 3,81% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,69%, thấp nhất kể từ năm 2014 trở lại đây, đóng góp 0,21 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,62%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 13,8% của năm trước, đóng góp 1,26 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,09%, đóng góp 1,69 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 3,32%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm. Dân số trung bình năm 2019 gần 1,5 triệu người, trong đó dân số nữ có gần 761 nghìn người (chiếm 50,8%); dân số khu vực thành thị gần 380 nghìn người (chiếm 25,4%). Dân số từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động hơn 924 nghìn người (chiếm 61,7%); trong đó có trên 903 nghìn người có việc làm. Trong số lao động đang làm việc, khu vực nông, lâm, thủy sản có trên 364 nghìn lao động (chiếm tỷ lệ 40,4%); khu vực công nghiệp – xây dựng gần 243 nghìn lao động (chiếm 26,8%); khu vực dịch vụ 296 nghìn lao động (chiếm 32,8%). Tình hình đời sống của dân cư ổn định, đại đa số được cải thiện và khá hơn năm trước, thu nhập của người lao động tăng khá, công tác giải quyết việc làm, đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng lên. Ước tính thu nhập bình quân 01 người 01 tháng chung cả tỉnh đạt gần 3.334 nghìn đồng, tăng 14,7% so với năm 2018 (2.906 nghìn đồng/người/tháng). Công tác tạo việc làm mới đạt 128% kế hoạch; xuất khẩu lao động đạt 101,7% kế hoạch. Công tác chăm lo, thăm hỏi cho người có công được thực hiện thường xuyên chu đáo; đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng lên.
Năm 2019, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật quần chúng và chuyên nghiệp được tổ chức thường xuyên với 68 lượt Đoàn nghệ thuật. Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức hơn 120 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ nhân dân tại các địa phương và các sở, ban, ngành trong tỉnh. Đoàn Ca kịch tổ chức 41 buổi biểu diễn phục vụ nhân dân tại các địa phương trong và ngoài tỉnh, 120 buổi biểu diễn nghệ thuật bài chòi, 25 buổi diễn chương trình nghệ thuật tổng hợp phục vụ các cơ quan ban, ngành trong tỉnh đã thu hút 150 nghìn lượt người dự xem. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Nhân các ngày lễ, tết, sự kiện chính trị của đất nước, địa phương, của ngành trong tỉnh đã tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động trực quan, trưng bày triển lãm bằng nhiều hình thức phong phú, đã thực hiện hơn 40.000 m2 panô, gần 20.000 m2 lượt băng rôn, khẩu hiệu, hơn 16.000 lượt cờ, phướn. Công tác trưng bày, triển lãm tại tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố được chú trọng cả về nội dung, hình thức trong năm từ tỉnh đến cơ sở, tổ chức hơn 60 cuộc trưng bày, triển lãm các hình ảnh, tư liệu, sách báo thu hút hàng trăm nghìn lượt người dự xem.
Hệ thống thư viện từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn tổ chức nhiều hoạt động, góp phần phục vụ tốt nhu cầu bạn đọc. Tổ chức trưng bày nhân các sự kiện chính trị trong năm như: triển lãm Hội báo Xuân; tổ chức các hội thi, triển lãm sách và quảng bá văn hóa đọc tại các Trường Tiểu học và Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh… Thư viện tỉnh bổ sung 3.655 bản sách mới (khoảng 1.330 đầu sách) nâng tổng số bản sách hiện có của Thư viện tỉnh hiện nay là 154.204 bản, luân chuyển 3.800 bản sách về phục vụ cơ sở, tặng 6.250 bản sách cho 19 xã và 6 trường.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện gắn với công tác xây dựng Nông thôn mới và đô thị văn minh. Đến nay, toàn tỉnh có 347.095/395.197 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hoá (đạt 87,8%); 1.000/1.240 thôn – khối phố văn hoá (đạt 80,6%); 49/207 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới (đạt 23,7%); 19/37 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị (đạt 51,4%); 1.931/2.197 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hoá (đạt 87,9%).
Sự phát triển về kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Nam có sự ảnh hưởng lớn đến hoạt động triển khai thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình.
2.2. Thực trạng hoạt động phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
2.2.1. Hoạt động phát thanh
- Phát thanh tỉnh
Đài Phát thanh tỉnh Quảng Nam thực hiện phát sóng chương trình đầu tiện vào ngày 01/01/1997 thông qua sóng AM tần số 702 KHz; Sóng FM: tần số 97,6 MHz của Đài Tiếng nói Việt Nam. Từ tháng 5 năm 2005, Đài Phát thanh phát sóng 3 buổi/ngày (sáng, trưa và chiều) vào tất cả các ngày trong tuần. Thời lượng 1 giờ 30 phút/ngày, trong đó chương trình tự sản xuất 1 giờ/ngày, chương trình phối hợp 30 phút/ngày. Hiện Đài, có 2 máy phát sóng phát thanh FM, công suất 5.000W và 2.000W, tuy nhiên hiện Đài mới chỉ sử dụng công suất đến 2.000W. Nội dung phát thanh liên tục được đổi mới, đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa thông tin thời sự chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội với giải trí. Khung chương trình trong ngày gồm 5 chương trình phát thanh, trong đó có 3 chương trình thời sự tổng hợp, 2 chương trình văn nghệ. Riêng thứ bảy, chủ nhật có chuyên mục văn nghệ đáp ứng nhu cầu của cán bộ, nhân dân trong và ngoài tỉnh. Năm 2019, Đài phát sóng trên kênh phát thanh 415 chuyên đề với 9.973 tin, bài, phóng sự, trong đó có 729 tác phẩm báo chí, chương trình trao đổi, phối hợp.
Bảng 2.1. Thực trạng hoạt động của Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Quảng Nam
- Truyền thanh huyện, thị xã, thành phố
Có 18/18 huyện, thành phố, thị xã có Đài Truyền thanh, có Đài Truyền thanh – Truyền hình Tam Kỳ, Hội An, Điện Bàn thực hiện chức năng sản xuất chương trình truyền hình. Hầu hết các đài phát sóng FM, công suất từ 150W đến 450W. Đài Truyền thanh huyện tiếp sóng chương trình phát thanh của Đài PT&TH tỉnh và phát sóng chương trình của huyện, thời lượng từ 1 – 4 giờ 30 phút/ngày. Năng lực sản xuất chương trình của Đài từ 1 – 2 giờ/ngày. Một số Đài xây dựng chương trình giải trí chủ yếu âm nhạc.
Các Đài Truyền thanh huyện được trang bị máy ảnh, ghi âm, camera, thiết bị ánh sáng, đầu đọc… Tuy vậy, hoạt động đầu tư tiến hành nhỏ lẻ, thời gian kéo dài nên thiết bị của các đài huyện không đồng bộ, gây khó khăn hoạt động nghiệp vụ. Tổng số lao động 188 người trong đó: 74,8% trình độ đại học; 17% cao đẳng; 8,2% trung cấp, trình độ khác.
Bảng 2.2. Tình hình hoạt động của các đài phát thanh huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Truyền thanh xã, phường, thị trấn Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 233/244 xã, phường, thị trấn có đài truyền thanh hoạt động, trong đó có 214 đài truyền thanh vô tuyến, 19 đài truyền thanh hữu tuyến. Trong 214 đài truyền thanh vô tuyến có 181 đài hoạt động tốt, 15 đài hoạt động kém cần nâng cấp, 32 đài sử dụng công nghệ truyền thanh hữu tuyến thiết bị hư hỏng cần đầu tư mới và 8 xã chưa có đài truyền thanh. Hầu hết các đài hoạt động ở dải tần số 54 – 68 MHz và 87 – 108 MHz. Đài truyền thanh xã thực hiện chế độ phát sóng bình quân 2 buổi/ngày, thời lượng tiếp và phát sóng của các đài xã/ngày thường từ 40 – 125 phút, nhiều nhất thành phố Tam Kỳ 125 phút, ít nhất huyện Tây Giang 40 phút. Các đài xã tiếp sóng đài TW trung bình 17 phút/ngày, tiếp sóng đài tỉnh trung bình 13 phút/ngày; tiếp sóng đài huyện trung bình 25 phút/ngày, tự phát sóng trung bình 23 phút/ngày, số lượng tin bài tự biên tập cấp xã trung bình 16 tin/tháng.
- Bảng 2.3. Thực trạng hoạt động của Đài Truyền thanh xã
Ngoài việc tiếp sóng Đài cấp trên, truyền thanh xã phát các văn bản chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương, đọc thông báo hỗ trợ hoạt động y tế, giáo dục, nông nghiệp, nông thôn tại địa phương. Tỉnh có chính sách hỗ trợ cán bộ phụ trách Đài truyền thanh xã (0,6 mức lương tối thiểu chung), nhưng công việc nhiều, hơn nữa đa số cán bộ là kiêm nhiệm hoặc hợp đồng nên ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Đài truyền thanh xã. Cụ thể, toàn tỉnh có 255 cán bộ truyền thanh xã, trong đó 145 cán bộ kiêm nhiệm, (chủ yếu là cán bộ văn hóa, văn phòng, y tế,..); 110 cán bộ là lao động hợp đồng; 84 cán bộ có trình độ Đại học, Cao đẳng: 144 người, Trung cấp: 23 người; Trình độ khác: 14 người.
2.2.2. Hoạt động truyền hình Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
- Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Quảng Nam
Đài PT&TH tỉnh phát sóng kênh truyền hình thời sự, chính trị, tổng hợp với thời lượng 24 giờ/ngày, năng lực sản xuất chương trình đạt 11 giờ/ngày. Thời lượng phát sóng, năng lực tự sản xuất chương trình của Đài liên tục tăng:
- Thời lượng phát sóng: Năm 2010 Đài phát 16 giờ/ngày, năm 2015: 18 giờ/ngày, năm 2019: 24 giờ/ngày.
- Năng lực sản xuất chương trình: Năm 2015 Đài sản xuất 9 giờ/ngày, năm 2019 là 11 giờ/ngày.
Hình 2.1. Thời lượng phát sóng các chương trình truyền hình trên đài QRT
Bình quân hàng năm Đài phát sóng từ 800 – 900 chuyên đề với 16.000 – 20.000 tin, bài, trong đó có từ 3.000 – 4.000 tác phẩm báo chí, chương trình trao đổi, phối hợp. Nội dung Truyền hình chia theo tỷ lệ: 20% thời sự, chính trị; 13% kinh tế – xã hội; 1% an ninh quốc phòng; 49% thể thao, văn nghệ; 17% nội dung khác.
Mỗi năm, Đài tổ chức khoảng 6 – 8 chương trình truyền hình trực tiếp. Đài thường xuyên cộng tác với Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam; Hiện truyền hình Quảng Nam đã số hóa thiết bị sản xuất chương trình. Cụ thể:
Camera: Gồm 42 camera, trong đó có 3 camera kết nối Intercom, phát sóng tự động, đảm bảo chất lượng hình ảnh, âm thanh, phục vụ hệ thống thiết bị trường quay. Ngoài ra, còn có cẩu camera với các thiết bị chuyên dụng.
Phát hình: Có 1 máy phát hình, công suất đạt 10 KW, phát trên kênh 41UHF, 1 xe truyền hình lưu động gồm 5 camera và một số trang thiết bị thiết yếu, đảm bảo phục vụ sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng của tỉnh.
Truyền hình Quảng Nam được trang bị 4 phòng dựng, 18 bàn dựng trong đó 3 bàn dựng tuyến tính và 15 bàn dựng phi tuyến.
Đài PT&TH tỉnh Quảng Nam được tổ chức 11 phòng: Tổ chức – Hành chính, Thời sự, Thư ký – Biên tập, Thông tin Điện tử, Bạn đọc, Chuyên đề, Văn nghệ, Kế hoạch – Tài vụ, Kỹ thuật Phát thanh – Truyền hình, Quản lý Truyền thanh cơ sở và phòng Dịch vụ quảng cáo. Tổng số có 96 cán bộ, nhân viên, trong đó 84 cán bộ có trình độ đại học và trên đại học, chiếm trên 87%; 43 phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên, 34 có Thẻ Nhà báo, chiếm 79% số lượng phóng viên, biên tập viên; 13 cán bộ có trình độ cao cấp và trung cấp lý luận chính trị, chiếm trên 13%, 60 đảng viên.
- Truyền hình trả tiền Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Truyền hình trả tiền cũng là một loại hình dịch vụ phát thanh – truyền hình được nhiều người yêu thích lựa chọn vì sự đa dạng của các loại hình kênh, dịch vụ:
- Bảng 2.4. Tình hình hoạt động truyền hình trả tiền
Hiện Quảng Nam có 94% số hộ gia đình có thiết bị thu hình; người dân có thể thu kênh Truyền hình Quảng Nam qua nhiều loại hình dịch vụ khác nhau: Truyền hình tương tự mặt đất, truyền hình vệ tinh, truyền hình cáp, IPTV. Nhu cầu tiếp nhận thông tin qua dịch vụ truyền hình của người dân Quảng Nam rất lớn.
2.2.3. Phát thanh online và Truyền hình online
Quảng Nam hiện chưa có loại hình Báo điện tử; có 17 trang thông tin điện tử truyền hình (trong đó 13 trang được cấp phép, còn lại đang hoàn thiện thủ tục) và hàng nghìn Website của các tổ chức, cá nhân. Cổng hiện có 25 chuyên trang, chuyên mục, gần 200 kênh tin với hơn 1000 mục tin..
Hàng năm đăng tải khoảng 8.000 tin, bài trên 23 chuyên trang, chuyên mục, trong đó sử dụng từ 70% tin, bài của Báo Quảng Nam in. Các chuyên mục chính: Thời sự – Chính trị, Kinh tế – Xã hội, An ninh – Quốc phòng; Thể thao; Văn hóa – Văn nghệ; Phóng sự – Ký sự – Ghi chép; Giáo dục – Đào tạo…
Trang TTĐT của Đài phát thanh – truyền hình tỉnh http://www.qrt.vn bắt đầu hoạt động từ năm 2007, hiện Đài đang duy trì 16 chuyên mục, mỗi năm đăng tải khoảng 13.000 tin, bài, trong đó, sử dụng, biên tập 70% số lượng tin, bài từ Đài PT&TH tỉnh, còn lại 30% sử dụng tin, bài của các Báo Trung ương. Đặc biệt, trên trang website của Đài có thể xem lại các bản tin thời sự của Đài, xem trực tuyến kênh truyền hình Vĩnh Phúc và một số kênh truyền hình VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, HTV7, HTV9, VTC1, VTC2, VTC8, VTC10…
Trang TTĐT các Đài huyện: Hiện nay 90% các Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện, đã xây dựng trang TTĐT nhằm đăng tải các chương trình truyền hình online, phát thanh online.
2.3. Thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
2.3.1. Tổ chức bộ máy và chủ thể thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình
- Chức năng, nhiệm vụ của Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Quảng Nam
Các Đài phát thanh truyền hình cấp tỉnh có các chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm như sau:
- Thông tin, tuyên truyền các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh trên các phương tiện phát thanh và truyền hình một cách có hiệu quả đến toàn thể nhân dân trong toàn tỉnh.
- Triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước cũng như Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh và 2 Đài Quốc gia (THVN, TNVN) trên lĩnh vực phát thanh, truyền hình một cách có hiệu quả phù hợp với đặc điểm tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
- Xây dựng qui hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống phát thanh – truyền hình và kế hoạch hoạt động sự nghiệp của ngành hàng năm để trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện theo qui hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt.
- Hướng dẫn về nội dung và tổ chức phối hợp thực hiện giữa các Đài Truyền thanh – Truyền hình các Huyện, thành phố thuộc Tỉnh về kế hoạch sản xuất các chương trình phát thanh truyền hình, hướng dẫn chỉ đạo các Đài huyện, thành phố về nghiệp vụ và kỹ thuật phát thanh – truyền thanh – truyền hình.
- Sắp xếp tổ chức bộ máy, quản lý và tuyển dụng công chức, quản lý tài chính, tài sản của Đài theo các quy định hiện hành của Nhà nước. Quản lý thống nhất hệ thống kỹ thuật chuyên dùng trong truyền dẫn tín hiệu và phát sóng truyền thanh – truyền hình trong phạm vi toàn tỉnh.
- Tổ chức giới thiệu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chỉ tiêu định mức, quy trình, quy phạm kỹ thuật trong xây dựng và quản lý hệ thống phát thanh – truyền thanh – truyền hình địa phương. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
- Thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho công chức, viên chức của Đài tỉnh và các Đài huyện, cơ sở.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn về báo chí theo Luật báo chí và các qui định hiện hành của nhà nước.
- Tổ chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra phong trào thi đua, chấp hành quy chế quản lý của Nhà nước, của ngành trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình, xét khen thưởng, kỷ luật theo quy định hiện hành của Nhà nước
- Đài phát thanh truyền cấp Tỉnh là Đơn vị sự nghiệp công lập có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động. Giám đốc được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính.
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Ủy ban nhân dân tỉnh
Đài phát thanh – truyền hình Quảng Nam là Đài cấp Tỉnh có chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động như sau: Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Quảng Nam được thành lập vào ngày 02/01/1997 trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam có tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là QRT.Ngày 19/06/1997 Đài phát sóng chương trình phát thanh truyền hình đầu tiên.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy của Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Quảng Nam
Về cơ bản, đội ngũ cán bộ viên chức của đài có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ được đạo đức người làm báo, chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ được nâng lên, đáp ứng nhiệm vụ sản xuất, truyền dẫn và phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình của tỉnh. Đội ngũ những người làm Phát thanh – Truyền hình tỉnh Quảng Nam đã bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân đã phản ánh được thực tiễn sinh động trong công cuộc đổi mới trên quê hương Quảng Nam trong suốt chặng đường 22 năm qua.
Giám đốc: Là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi quyết định trong việc thực hiện chỉ đạo nội dung tuyên truyền trên sóng phát thanh-truyền hình và tự chịu trách nhiệm về tài chính. Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch sản xuất các chương trình hàng ngày, các công việc chuyên môn ở các Phòng, Ban chức năng đúng nguyên tắc, chế độ quản lý tài chính của Nhà nước.
Các Phó Giám đốc: Giúp Giám đốc một số công việc được Giám đốc đơn vị phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về những công việc được giao. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Phòng Tổ chức – Hành chính và Quản lý nghiệp vụ địa phương: Phụ trách công tác nhân sự trong đơn vị thông qua việc đề xuất, tham mưu cho Ban giám đốc và Ban cán sự đảng về con người, hàng năm tiến hành xem xét việc triển khai thực hiện các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên…
Phòng Kế hoạch – Tài vụ: Phụ trách việc thực hiện lập kế hoạch thu, chi các nguồn thu dịch vụ tuyên truyền, thông báo, quảng cáo; lập dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước; lập kế hoạch thực hiện sản suất các chương trình phát thanh truyền hình; lập kế hoạch sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn tài sản cố định… Kiểm tra, kiểm soát các Phòng chức năng về thực hiện kế hoạch, và các văn bản chế độ kế toán tài chính theo quy định của pháp luật.
Phòng Dịch vụ – Quảng cáo: Tham mưu cho Giám đốc trong việc ký kết các hợp đồng dịch vụ tuyên truyền, thông báo, quảng cáo, tài trợ, theo dõi tình hình thực hiện các hợp đồng, lên kế hoạch phát sóng tuyên truyền, thông báo, quảng cáo trên sóng phát thanh truyền hình.
Phòng Kỹ thuật sản xuất chương trình: Thực hiện công việc kỹ thuật sản xuất chương trình và kỹ thuật truyền dẫn tín hiệu đầu vào theo kế hoạch và chương trình phát sóng. Chịu trách nhiệm chất lượng kỹ thuật các sản phẩm chương trình do Đài sản xuất.
Phòng kỹ thuật truyền dẫn phát sóng: Thực hiện kỹ thuật truyền dẫn về đài phát sóng An Hà, tiếp và phát sóng các chương trình của Đài quốc gia. Thực hiện công tác duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên thiết bị phát thanh, truyền hình…
Phòng Chương trình: Xây dựng khung chương trình phát sóng, kết nối các chương trình phát sóng hàng ngày và phối hợp các Phòng, Ban liên quan tổ chức thực hiện các buổi phát sóng của Đài. Khai thác, kiểm tra nội dung chất lượng các chương trình trước khi đưa vào phát sóng… Thực hiện và phối hợp với các bộ phận đảm bảo hoạt động của trang thông tin điện tử và phát thanh, truyền hình trực tuyến.
Phòng Thời sự: Tổ chức sản xuất các bản tin thời sự trong ngày để phát trên sóng phát thanh truyền hình của Tỉnh và cộng tác bản tin thời sự với Đài quốc gia khi có yêu cầu. Thực hiện sản xuất các phóng sự, ghi nhanh, chuyên mục, bản tin…
Phòng Chuyên đề: Tổ chức sản xuất các thể loại chương trình chuyên sâu về các vấn đề mang tính xã hội như phản ánh tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… của tỉnh và theo dõi các chuyên mục giải đáp bạn xem truyền hình…
Phòng Văn nghệ và Giải trí: Tổ chức sản xuất các chương trình văn nghệ, dân ca, nhạc hoạ, thiếu nhi, thể thao, khai thác các chương trình ca nhạc quốc tế, ca nhạc theo thư yêu cầu khán giả… và các chương trình giải trí khác để phát trên sóng Đài tỉnh.
Phòng Biên tập tiếng dân tộc: Thực hiện việc tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh – truyền hình tiếng Cơtu và Cadong. Khai thác, cộng tác với các cộng tác viên phát thanh truyền hình trong tỉnh thực hiện các tin, bài tiếng dân tộc…
Ngoài ra các Phòng, Ban còn phối hợp với nhau để thực hiện các chương trình phát thanh truyền hình khác như: Chương trình phát thanh – truyền hình trực tiếp, chương trình ghi hình lưu động…
Trong đó: Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
- Ban giám đốc, Trưởng, Phó phòng bộ phận trực tiếp, gián tiếp thuộc khối quản lý.
- Nhân viên Phòng Tổ chức hành chính và QLNVĐP, Phòng Dịch vụ – Quảng cáo và Kế hoạch – Tài vụ, Phòng Kỹ thuật sản xuất chương trình và Phòng Kỹ thuật truyền dẫn phát sóng, thuộc bộ phận gián tiếp.
- Phóng viên, biên tập viên Phòng Chương trình và trang thông tin điện tử, Phòng thời sự, Phòng Chuyên đề, Phòng biên tập tiếng dân tộc, Phòng Văn nghệ và giải trí, thuộc bộ phận trực tiếp.
Trên đây là bộ máy quản lý chung của Đài phát thanh – truyền hình cấp Tỉnh, tùy theo chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của mỗi Đài mà cơ cấu bộ máy được tổ hoạt động cho hiệu quả. Đối với Đài phát thanh – truyền hình Quảng Nam có đặc điểm riêng đó là Đài phát thanh – truyền hình cấp tỉnh lần đầu tiên được Nhà nước cho phép thực hiện thí điểm tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc.
Trong 22 năm xây dựng và phát triển, đến nay QRT đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành. Từ lúc đầu mới chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà nẵng, đội ngũ cán bộ công nhân viên còn mới mẻ, chưa được đào tạo chính quy. Phần lớn nhân viên làm chương trình phát thanh, truyền hình được điều động từ các Đài truyền thanh các Huyện, Thị xã trong tỉnh, trang thiết bị kỹ thuật phát thanh, truyền hình còn lạc hậu, cũ kỹ.
- Đặc điểm về đội ngũ nhân sự
Hiện nay, tổng số cán bộ, viên chức và người lao động của Đài có 118 người; trong đó, có 89 biên chế. Bộ máy hoạt động của đài bao gồm 10 phòng chuyên môn (Phòng Tổ chức – Hành chính và quản lý nghiệp vụ địa phương; Phòng Dịch vụ – Quảng cáo; Phòng Kế hoạch – Tài vụ; Phòng Kỹ thuật Công nghệ; Phòng kỹ thuật truyền dẫn phát sóng; Phòng Thời sự; Phòng Chuyên đề; Phòng Chương trình; Phòng Văn nghệ và giải trí; Phòng Biên tập tiếng dân tộc).
Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Trong tổng số 89 biên chế có 01 tiến sĩ, 04 thạc sĩ, 77 đại học, 03 trường hợp đang theo học đại học, 04 cao đẳng và trung cấp. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Đến nay QRT đã có đội ngũ cán bộ công nhân viên là 118 người, được đào tạo chuyên nghiệp và phần lớn có trình độ đại học và sau đại học. Ngoài việc tiếp và phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình của Đài tiếng nói Việt Nam và Đài truyền hình Việt Nam trên các kênh AM, FM, VTV1, VTV2, VTV3, QRT sản xuất và mở thêm nhiều chuyên mục, chuyên đề với các nội dung và thể loại phong phú như văn nghệ, thể thao, khoa giáo… phục vụ cho nhân dân trong tỉnh. Cơ cấu nhân sự tại QRT từ năm 2017 – 2019.
- Bảng 2.5. Cơ cấu nhân sự tại QRT từ năm 2017 – 2019
QRT là đơn vị sự nghiệp công lập có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ của mình, Giám đốc được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Đối với các khoản thu từ hoạt động tuyên truyền, thông báo, quảng cáo, Giám đốc được tự quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể, đảm bảo tích cực khai thác các nguồn thu. Giám đốc được chủ động quyết định và chịu trách nhiệm về các mức chi hoạt động cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định, và các mức chi này phải được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và trong phạm vi nguồn kinh phí. Bên cạnh những thành công đã được trong những năm qua thì QRT vẫn còn một số khó khăn như nguồn kinh phí ngân sách Tỉnh cấp cho Đài hàng năm còn thấp, chương trình mục tiêu quốc gia được hai Đài quốc gia cấp cho QRT còn hạn chế.
2.3.2. Thực trạng triển khai các nội dung thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình
- Ban hành các văn bản quản lý của địa phương về lĩnh vực phát thanh – truyền hình
Nghị định 06/2016/NĐ-CP gồm 6 Chương, 32 Điều được triển khai, trong đó có một số quy định mới về dịch vụ phát thanh, truyền hình: Cụ thể, Điều 4 bổ sung phân loại dịch vụ phát thanh, truyền hình trên mạng Internet. Như vậy, Nghị định quy định 5 loại hình công nghệ dịch vụ phát thanh, truyền hình gồm: Dịch vụ truyền hình mặt đất; dịch vụ truyền hình cáp (tương tự, số, IPTV); dịch vụ truyền hình qua vệ tinh; dịch vụ truyền hình di động; dịch vụ phát thanh, truyền hình qua mạng Internet. Điều 5 của Nghị định đã quy định một số chính sách của Nhà nước nhằm thực hiện chủ trương khuyến khích sử dụng nguồn lực từ xã hội tham gia sản xuất nội dung chương trình trong nước nhằm tạo nguồn nội dung trong nước phong phú, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tinh thần của nhân dân. Điều 12 bổ sung quy định về các điều kiện, quy trình, thủ tục cấp phép cho doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trên mạng Internet theo phương thức trả tiền. Đây là quy định mới nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền, cũng như cơ hội để những đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền có thể tận dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẵn có để mở rộng phạm vi, đối tượng cung cấp dịch vụ. Điều 29 bổ sung quy định về đối tượng được thu xem kênh truyền hình nước ngoài trực tiếp từ vệ tinh (khách sạn đã được đăng ký hoạt động hợp pháp có người nước ngoài lưu trú)…
Thời gian qua hệ thống phát thanh – truyền hình tại Tỉnh Quảng Nam đã tăng về chất lượng, số lượng và loại hình. Tuy nhiên, công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển phát thanh – truyền hình trên địa bàn Tỉnh Quảng Nam chưa thường xuyên, liên tục, có nơi còn buông lỏng. Một số địa phương hiện vẫn chưa có có sự quan tâm, đầu tư cho hệ thống Truyền thanh – Truyền hình nên dẫn tới tình trạng có 233/244 xã, phường, thị trấn có Đài truyền thanh. Trong số đó 15 Đài hoạt động kém, 17 Đài đã hỏng. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
- Thực hiện các quy định về phát thanh – truyền hình
- Nội dung các chương trình phát thanh – truyền hình
Truyền hình tại tỉnh Quảng Nam đã tập trung tăng thời lượng, nâng cao chất lượng chương trình về nội dung, kỹ thuật, nghệ thuật, hình thức thể hiện, tăng cường tính toàn diện của truyền hình. Hệ thống truyền dẫn truyền hình từ Tỉnh đến các địa phương với cơ sở vật chất, kỹ thuật được đổi mới và hiện đại hoá, phù hợp với xu thế phát triển là không chỉ mở rộng diện phủ sóng, nâng cao chất lượng hình ảnh, âm thanh và cơ bản đáp ứng nhu cầu hội nhập thông tin khu vực và thế giới. Quy mô chương trình ngày càng được mở rộng; nội dung, hình thức thể hiện không ngừng được đổi mới và ngày càng phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng công chúng. Tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng các chương trình phát sóng, Đài phát thanh – truyền hình tỉnh đã tổ chức rà soát, đánh giá lại chất lượng cụ thể với từng chuyên mục, chuyên đề, chương trình…của từng phòng chuyên môn. Theo đó, những chương trình hay, có sức hút sẽ được tiếp tục sản xuất, những chuyên mục, chương trình chưa thu hút được khán giả, chưa hấp dẫn, hiệu quả chưa cao thì sẽ cắt, giảm thời lượng, số lượng chương trình, đồng thời bố trí, sắp xếp lại khung chương trình phát sóng hằng ngày. Đài phát thanh – truyền hình Tỉnh tiếp tục đổi mới hình thức thể hiện các chương trình sinh động hơn, hiệu quả hơn. Mở thêm chương trình, chuyên mục mới để phản ánh kịp thời, chính xác những vấn đề dư luận nhân dân trong tỉnh quan tâm. Xây dựng một số format chương trình mới, chương trình hay, hấp dẫn ở mỗi phòng chuyên môn để nâng tầm thương hiệu cánh sóng QRT với công chúng trong và ngoài tỉnh, điển hình như mục: Theo dòng Thời sự, sân chơi ca nhạc giải trí, các chương trình game show: “Tiếng hát đất Quảng”, “Người Quảng xa quê”, “Đất và Người xứ Quảng”. Hay mới đây là “Quê mình xứ Quảng” dành cho nông dân, “Học trò xứ Quảng” dành cho học sinh các trường THPT trong tỉnh…
Đặc biệt, từ năm 2012, Đài phát thanh – truyền hình Quảng Nam đã xây dựng chương trình “Những miền quê xứ Quảng” và đã tạo được dấu ấn riêng. Các tác phẩm trong chuyên mục không chỉ sát với format mà còn phản ánh sinh động về những vùng đất, con người, KT-XH của 18 miền quê xứ Quảng. “Những miền quê xứ Quảng” góp phần giúp khán giả xem truyền hình có dịp hiểu thêm về vùng đất và con người xứ Quảng. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Ngoài ra, Đài phát thanh – truyền hình Tỉnh còn tăng cường mở rộng liên kết, hợp tác trao đổi chương trình với các Đài phát thanh – truyền hình các tỉnh, các đơn vị truyền thông để có được những chương trình hay, hấp dẫn, sinh động, nhất là những chương trình văn hoá, văn nghệ, giải trí….đáp ứng được xu thế phát triển chung cũng như nhu cầu thông tin, giải trí của công chúng hiện nay.
Đối với Đài TT- TH huyện: 18/18 Đài đã xây dựng chương trình truyền hình địa phương trên sóng Đài phát thanh – truyền hình Quảng Nam với thời lượng 15 phút/CT và phát sóng từ 1- 2 CT/tháng. Thông qua các chương trình đã phản ánh các thông tin, tình hình, sự kiện và quảng bá hình ảnh của từng địa phương.
Riêng format Liên hoan phát thanh – truyền hình tỉnh Quảng Nam được tổ chức 02 năm/1 lần là dịp để những người làm phát thanh – truyền hình trong tỉnh trao đổi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hơn, thông qua đó đã góp phần tạo ra một sân chơi bổ ích cho đội ngũ những người làm phát thanh – truyền hình từ tỉnh đến huyện. Đồng thời cũng là cách để phản ánh toàn diện các vấn đề về kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng… một cách chân thực và có sức thuyết phục cao của từng Đài Truyền thanh – Truyền hình các địa phương trong Tỉnh.
Tại tỉnh Quảng Nam, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh luôn xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của lĩnh vực này nên thường xuyên quan tâm chỉ đạo, định hướng hoạt động, đầu tư nguồn lực con người, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, từng bước chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo đó, một số nội dung quản lý nhà nước ở lĩnh vực báo chí phát thanh – truyền hình đã được tỉnh vận dụng thể chế hoá để phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh như: ban hành Quyết định 06/2015/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định chế độ nhuận bút đối với các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử, bản tin trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; Quyết định 2822/QĐ- Ủy ban nhân dân ngày 13/9/2013 về việc Ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; tăng cường công tác cán bộ và quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về báo chí cấp tỉnh, cấp huyện như Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 20/10/2014 về việc Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
- Về cung cấp dịch vụ phát thanh – truyền hình
Quảng Nam là vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, nơi tập trung nhiều điểm “nóng”, do vậy mà trong mỗi chương trình phát thanh – truyền hình luôn kịp thời có những bài viết, phóng sự mang tính thời sự như: vấn đề đảm bảo trật tự đô thị, trật tự an toàn giao thông, những nổi cộm trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường, khai thác vàng trái phép tại huyện Phú Ninh, huyện Phước Sơn hay sạt lỡ bờ kè ở thành phố Hội An, Thành phố Tam Kỳ… Nhiều bài viết, phóng sự đã mạnh dạn phê phán tình trạng vi phạm trật tự vỉa hè lòng đường thực hiện khu phố văn minh tạo được phản ứng tốt trong nhân dân. Các Đài đã xây dựng được nhiều chuyên mục phát thanh mang tính chuyên sâu như: Đưa Nghị quyết Đảng vào cuộc sống; Học tập và làm theo Bác; Xây dựng và quản lý đô thị; An ninh- Quốc phòng; Tìm hiểu chính sách pháp luật… cùng một số chuyên mục phối hợp với các ngành như: Phát thanh Công đoàn, Phát thanh Thanh niên, Nông dân, Tiếng nói tuổi thơ, xây dựng Nông thôn mới… đã tạo được định hướng tốt trong dư luận.
Có thể khẳng định, hoạt động phát thanh – truyền hình trong tỉnh đã chuyển tải đầy đủ, kịp thời, chính xác chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước tới nhân dân các dân tộc; phản ánh, phát hiện và cổ vũ các nhân tố mới, gương điển hình tiên tiến, đồng thời đề cao tính phản biện xã hội, giúp Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh kịp thời điều chỉnh chủ trương, chính sách phát triển KT-XH địa phương. Tuy chưa thật sự quyết liệt và thường xuyên song thông qua kênh sóng đã tích cực đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, góp phần làm lành mạnh quan hệ xã hội, xử lý tốt mối quan hệ “xây” và “chống” trong thông tin, tuyên truyền vì sự phát triển chung của tỉnh.
Với khối lượng lớn chương trình được đăng tải, phát sóng, phổ biến rộng rãi đến nhân dân, phát thanh – truyền hình tỉnh Quảng Nam đảm nhiệm tốt vai trò cầu nối chuyển tải thông tin, góp phần nâng cao nhận thức và định hướng tư tưởng trong nhân dân, phát thanh – truyền hình địa phương cũng đã giới thiệu, quảng bá hình ảnh Đất và Người Quảng Nam với bạn bè trong nước, khu vực và quốc tế.
Các Đài phát thanh – truyền hình đã trang bị đầy đủ phương tiện nghiệp vụ hiện đại (máy ảnh, máy tính, camera, máy ghi âm …) cho phóng viên. Đó cũng là mục tiêu của Đề án “Quản lý hoạt động truyền thanh, truyền hình cấp huyện đến năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 308/QĐ-TTg ngày 13/3/2018. Chính nhờ điều kiện thuận lợi trong các khâu của quá trình tác nghiệp nhờ sự ứng dụng công nghệ mới, hiện đại nên nhiều phóng viên các Đài trong Tỉnh, Cổng thông tin điện tử đã có phong cách làm báo chuyên nghiệp. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Đặc biệt, triển khai thực hiện Đề án số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đảm bảo lộ trình ngừng phát sóng truyền hình tương tự mặt đất trên địa bàn tỉnh vào ngày 31/12/2018 với tổng kinh phí thực hiện Đề án là 103.426.573.000 đồng [76]. Năm 2015 đã triển khai thực hiện tại 4 huyện gồm: Duy Xuyên, Đại Lộc, thị xã Điện Bàn, thành phố Hội An và năm 2018 là 14 huyện, thành phố còn lại gồm: Núi Thành, Phú Ninh, Tiên Phước, Bắc Trà My, Nam Trà My, Thăng Bình, Hiệp Đức, Quế Sơn, Nông Sơn, Phước Sơn, Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang và Tam Kỳ đã ngừng phát sóng truyền hình tương tự mặt đất để chuyển đổi hoàn toàn sang truyền hình số mặt đất.
Theo Đề án, các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo theo tiêu chuẩn nghèo, cận nghèo quốc gia được phê duyệt tại Quyết định số 4625/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam được hỗ trợ đầu thu truyền hình số. Đó là những hộ đang sử dụng máy thu hình công nghệ tương tự chưa tích hợp tính năng thu truyền hình số theo tiêu chuẩn DVB-T2, chưa có đầu thu truyền hình số DVB-T2, chưa sử dụng bất kỳ một trong các phương thức truyền hình trả tiền như truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh, truyền hình Internet (IPTV) trong thời gian triển khai hỗ trợ tại địa phương. Mỗi hộ nghèo, hộ cận nghèo được nhận một lần gồm 01 đầu thu truyền hình số mặt đất hoặc vệ tinh kèm theo ăngten thu phù hợp, cùng với dây cáp nối có độ dài tối đa 15 mét (đối với chế độ thu ngoài trời), được lắp đặt hoàn chỉnh và bảo hành ít nhất 12 tháng tính từ ngày hộ gia đình nhận bàn giao đầu thu truyền hình số.
Thực hiện các chính sách về lĩnh vực phát thanh – truyền hình 81 Thực hiện Thông tư liên tịch số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV của Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Nội vụ đã xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Đài phát thanh – truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện, Đài Truyền thanh xã là cơ sở pháp lý, là cơ hội để ngành phát thanh – truyền hình tỉnh Quảng Nam tiếp tục nhận được sự quan tâm cụ thể và hiệu quả hơn từ cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân toàn tỉnh. Theo đó tại các địa phương, hằng năm từ nguồn ngân sách huyện đã hỗ trợ cho các Đài huyện mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn.
Ngoài ra, tỉnh Quảng Nam đã đổi mới, bổ sung cơ chế, chính sách liên quan đến sự phát triển của báo chí nói chung, phát thanh – truyền hình nói riêng phù hợp với quy định của pháp luật và sự phát triển của phát thanh – truyền hình trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; có chế độ, chính sách hợp lý đối với người làm phát thanh – truyền hình, đặc biệt là cán bộ các Đài truyền thanh xã. Cụ thể đã ban hành Quyết định 1649/QĐ-UBND ngày 29/5/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về Phê duyệt Đề án phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống Đài truyền thanh cơ sở đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Sở Thông tin và Truyền thông tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện đổi mới cơ chế quản lý tài chính theo hướng đẩy mạnh thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho Đài phát thanh – truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện nhằm khuyến khích các đơn vị khai thác và quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển sự nghiệp phát thanh – truyền hình, từng bước thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội.
Xây dựng cơ chế hỗ trợ cho cán bộ phụ trách Đài truyền thanh xã theo tinh thần Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 19/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành “Quy định về thực hiện mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế cho cán bộ không chuyên trách xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh”.
Tuy nhiên, từ cơ chế quản lý, vị trí và vai trò của Đài Truyền thanh – Truyền hình cấp huyện chưa được xác định rõ dẫn đến việc phát triển không đồng đều giữa các Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện; các chế độ, định mức, quy phạm kỹ thuật… cũng được áp dụng khác nhau. Địa phương nào có điều kiện, quan tâm hiệu quả thì hoạt động của ngành Truyền thanh – Truyền hình của địa phương đó được phát triển đồng bộ hơn. Mặt khác, do điều chỉnh địa giới hành chính mà số Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện đã tăng từ 12 Đài (năm 1999) lên 18 đài (năm 2019), trong khi ngân sách đầu tư, chi thường xuyên cho sự nghiệp phát thanh – truyền hình vẫn phân bổ ổn định theo số dân nên kinh phí cấp cho ngành phát thanh – truyền hình toàn tỉnh và các Đài cấp huyện còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu.
2.3.3. Thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
72 Phát thanh, truyền hình là loại hình báo chí mang tính đặc thù, với sự gắn kết giữa nội dung, kỹ thuật và hạ tầng. Sự thống nhất chức năng quản lý Nhà nước về phát thanh, truyền hình cả về nội dung và kỹ thuật đòi hỏi tính đồng bộ cao thì ở địa phương vẫn chưa đáp ứng được. Đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp theo dõi lĩnh vực báo chí, phát thanh, truyền hình ở tỉnh còn thiếu về số lượng, ít kinh nghiệm, năng lực công tác quản lý Nhà nước chưa cao. 79 Hiện tại, Phòng Báo chí-Xuất bản của Sở chỉ có 01 chuyên viên trực tiếp theo dõi lĩnh vực phát thanh truyền hình và thông tin điện tử. Chưa có cán bộ, chuyên viên có nghiệp vụ phù hợp để phụ trách, theo dõi về kỹ thuật phát thanh, truyền hình và truyền dẫn, phát sóng. Mặt khác, các phương tiện nghe, nhìn, quản lý về phát thanh, truyền hình chưa được trang bị, nên việc cập nhật những nội dung thông tin nhanh, nhạy trên sóng phát thanh, truyền hình thực hiện chưa đầy đủ, nhất là việc kiểm soát về nội dung, chất lượng và bản quyền của các chương trình truyền hình trả tiền;
Công tác thanh tra, kiểm tra đột xuất, định kỳ về phát thanh, truyền hình được Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Nam thực hiện nghiêm túc, nhưng do chưa có các trang thiết bị đo kiểm về phát thanh, truyền hình và truyền dẫn, phát sóng, nên hiệu quả chưa cao; Về lưu chiểu báo nói, báo hình không quy định lưu chiểu tại cơ quan quản lý Nhà nước, đây cũng là một khó khăn đối với công tác theo dõi, quản lý về nội dung và chất lượng của các chương trình phát thanh, truyền hình. Trong khi hiện tại, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Quảng Nam đang sử dụng công nghệ analog, với số lượng băng từ dùng hàng ngày rất lớn, làm hạn chế việc quản lý, lưu trữ các chương trình truyền hình tại đơn vị, đồng thời làm suy giảm nhanh chóng chất lượng của băng từ và các thiết bị thu phát; Mối quan hệ giữa các đơn vị phát thanh, truyền hình và cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí chưa chặt chẽ.
2.4. Đánh giá chung về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
2.4.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, phát thanh, truyền hình thực hiện đúng tôn chỉ là tiếng nói của Đảng, chính quyền và nhân dân
Đại bộ phận phóng viên, văn nghệ sỹ, cán bộ báo chí, phát thanh – truyền hình và thông tin điện tử tỉnh có lập trường tư tưởng vững vàng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, động cơ tinh thần, thái độ làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, tâm huyết với nghề.
Thứ hai, phát thanh, truyền hình trong sự nghiệp xây dựng, phát triển tỉnh Quảng Nam
Trong thời gian qua tỉnh Quảng Nam đã có bước phát triển vượt bậc về KT-XH. Các lực lượng phát thanh – truyền hình và thông tin điện tử làm tốt vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng – văn hoá, góp phần tích cực vào tiến trình dân chủ hoá xã hội, phục vụ đắc lực công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng – an ninh của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh. Với khối lượng các chương trình PT&TH trên địa bàn tỉnh, TTĐT được đăng tải, phát sóng, phổ biến rộng rãi đến nhân dân, Phát thanh – Truyền hình và Thông tin điện tử tỉnh đảm nhiệm tốt vai trò cầu nối chuyển tải thông tin, góp phần nâng cao dân trí, tăng cường giới thiệu, quảng bá hình ảnh Đất và Người Quảng Nam đến với bạn bè trong nước, quốc tế.
Thứ ba, phát thanh, truyền hình hướng tới chuyên nghiệp hoá và hiện đại hoá, hoà nhập với xu thế chung
Một bộ phận không nhỏ phóng viên Báo Quảng Nam, Đài PT&TH tỉnh, Cổng TT-GTĐT đã có phong cách làm báo chuyên nghiệp. Chính vì vậy thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam có sự đầu tư cho các Đài phát thanh – truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện và Đài truyền thanh xã.
Thứ tư, tăng cường công tác quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình
Xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động phát thanh – truyền hình và thông tin điện tử, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh thường xuyên quan tâm chỉ đạo, định hướng hoạt động, đầu tư nguồn lực con người, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, từng bước chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉnh đã vận dụng thể chế hoá một số nội dung quản lý nhà nước về phát thanh – truyền hình phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh như: Vấn đề nhuận bút cho các tác phẩm, phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; tăng cường tổ chức biên chế và quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về phát thanh – truyền hình cấp tỉnh, cấp huyện. Công tác chỉ đạo, quản lý về báo chí, phát thanh – truyền hình và thông tin điện tử có chuyển biến tích cực. Phát hiện, uốn nắn và khắc phục những lệch lạc, sai phạm trên các tờ báo và các chương trình truyền hình và trang thông tin điện tử.
2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Hạn chế:
- Phát thanh, truyền hình chưa tương xứng với sự phát triển chung
Nhiều thiết bị cũ, lạc hậu. So với mặt bằng chung khu vực trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, chất lượng phát sóng các chương trình PT-TH còn hạn chế cả về hình ảnh, âm thanh. Đài chưa có khả năng sản xuất chương trình Game show, các chương trình thu hút nhiều khán giả, phim truyện… Tuy nhiên, chưa được cơ quan quan tâm, số lượng phòng viên, biên tập viên có trình độ lý luận từ trung cấp đến cử nhân rất ít.
Tính chiến đấu, phản biện báo chí đã được coi trọng song chưa thật mạnh mẽ và thường xuyên. Chưa có nhiều phóng viên, biên tập viên giỏi, nhạy bén, sắc sảo, có trình độ lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình còn hạn chế, bất cập
Công tác quản lý Báo chí, Phát thanh – Truyền hình và Thông tin điện tử trên địa bàn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Cụ thể: hiện tại, Phòng Báo chí – Xuất bản của Sở Thông tin và Truyền thông chỉ có 01 chuyên viên trực tiếp theo dõi lĩnh vực phát thanh – truyền hình và thông tin điện tử. Chính sách đầu tư công nghệ, tài chính cho phát thanh – truyền hình ở Quảng Nam còn chậm.
- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, công tác rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản pháp luật về lĩnh vực phát thanh – truyền hình chưa được coi trọng. Việc không thường xuyên rà soát dẫn đến không kịp thời phát hiện được những quy định mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với hoạt động báo chí. Ngoài ra, một số văn bản pháp luật lĩnh vực phát thanh – truyền hình đã được kiểm nghiệm trên thực tiễn trong một thời gian khá dài nhưng vẫn chưa được nghiên cứu để hợp nhất vào Luật Báo chí gây nên sự tản mát trong hệ thống pháp luật lĩnh vực phát thanh – truyền hình, rất khó để các chủ thể nắm bắt và thực hiện.
Thứ hai, việc quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí thiếu cân đối, lãng phí, tràn lan. Cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực phát thanh – truyền hình còn bị động trong công tác tham mưu cho Chính phủ để tổ chức, sắp xếp, quy hoạch toàn diện mạng lưới báo chí; chưa có sự phân loại báo chí để có chính sách đầu tư thỏa đáng và quản lý hiệu quả. Ngoài đài phát thanh – truyền hình tỉnh, mỗi huyện lại có đài phát thanh – truyền hình riêng. Các đài cấp huyện ngoài việc tiếp sóng, một số đài cũng làm nhiệm vụ sản xuất tin, bài và đưa tin trực tiếp từ cơ sở như một đơn vị phát thanh – truyền hình, tuy nhiên do chưa được coi là Đài phát thanh – truyền hình nên chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để hệ thống này được quản lý và hoạt động hiệu quả.
Thứ ba, chính sách cho hoạt động Phát thanh – Truyền hình và Thông tin điện tử chậm được thể chế hóa; kinh phí đầu tư chưa đảm bảo, tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, tốc độ tăng trưởng KT-XH của địa phương và thua kém các tỉnh trong khu vực miền Trung. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Thứ tư, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý lĩnh vực phát thanh – truyền hình và công tác đào tạo, bồi dưỡng nghề báo vẫn còn nhiều hạn chế. Cho đến nay, ngoài những quy định chung trong Luật Báo chí và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, vẫn chưa có văn bản cụ thể nào quy định tiêu chuẩn các chức danh lãnh đạo Đài phát thanh – truyền hình. Vì vậy, vẫn còn tình trạng tùy tiện trong điều động và bổ nhiệm. Một thực tế cho thấy, vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa cán bộ quản lý và đối tượng quản lý. Việc tuyển dụng cán bộ quản lý nhà nước về báo chí gặp khó khăn, cán bộ được tuyển dụng còn hạn chế về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn quản lý. Các nhóm đối tượng hoạt động trong lĩnh vực báo chí được đào tạo không đồng đều. Nhóm đối tượng là những người trực tiếp tác nghiệp và những người làm công tác khoa học báo chí được đào tạo bài bản; trong khi đó nhóm đối tượng là những người làm công tác lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí chưa có chương trình đào tạo, bồi dưỡng riêng, phù hợp với thực tế công việc
Thứ năm, lĩnh vực Phát thanh – Truyền hình chưa được đặt đúng vị trí trong tư duy chỉ đạo, quản lý, chưa được xem xét một cách hệ thống để hoạch định chính sách phát triển. Đến nay tỉnh chưa có quy hoạch Phát thanh – Truyền hình làm cơ sở cho quản lý, đầu tư, phát triển.
- Tiểu kết chương 2
Chương 2 của luận văn đã phân tích nhằm làm rõ thực trạng lĩnh vực phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam, thực hiện pháp luật về phát thanh – truyền hình. Hiến pháp năm 2013 là đạo luật cơ bản, giữ vai trò quyết định khung khổ và cấu trúc của toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam. Với việc ban hành Hiến pháp mới năm 2013, nhiều quy định trong các hệ thống văn bản pháp luật về báo chí nói chung, lĩnh vực phát thanh – truyền hình nói riêng không còn phù hợp. Vì vậy, phải rà soát lại toàn bộ các quy định của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình từ đó sửa đổi toàn diện để tạo sự thống nhất giữa pháp luật về báo chí theo và trên cơ sở Hiến pháp năm 2013. Chương 2, làm rõ các nội dung về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình trên địa bàn tỉnh thông qua nghiên cứu thực trạng phát thanh – truyền hình của tỉnh, các nội dung về phát thanh – truyền hình, các văn bản quản lý đối với lĩnh vực phát thanh – truyền hình, qua đó rút ra những kết quả đạt được, những tồn tại và hạn chế. Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình