Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xăng dầu là nguồn năng lượng quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt với những nước có nền công nghiệp phát triển và đang phát triển như nước ta. Mặt hàng xăng dầu thực sự thiết yếu đối với hoạt động sản xuất, đời sống dân sinh, an ninh quốc phòng và là một trong những nhân tố đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước mà trong thời gian dài chưa thể thay thế. Thực tế trong nhiều năm qua, hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu chưa bao giờ “bớt nóng” trên báo chí vì là hoạt động kinh tế có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh năng lượng, đời sống dân sinh, sự ổn định cũng như tốc độ phát triển kinh tế của đất nước.
Xăng dầu là loại hàng hóa đặc biệt, nó có những tiêu chuẩn về kỹ thuật rất khắt khe và có nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động kinh doanh. Kinh doanh mặt hàng xăng dầu thuộc diện kinh doanh có điều kiện, muốn kinh doanh mặt hàng này, theo quy định của pháp luật, thương nhân phải đạt các điều kiện về chủ thể kinh doanh, về cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị; về bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ; về trình độ chuyên môn và sức khỏe của cán bộ, nhân viên… Hiện nay, cả nước có 33 thương nhân đầu mối xuất, nhập khẩu xăng dầu được phân giao hạn mức nhập khẩu xăng dầu hằng năm, pha chế xăng dầu, mua bán xăng dầu, nguyên liệu với các thương nhân đầu mối khác. Các đầu mối này được phân phối xăng dầu qua hệ thống bán lẻ trực thuộc và bán qua các thương nhân phân phối, tổng đại lý, đại lý, thương nhân nhượng quyền bán lẻ xăng dầu. Hệ thống các tổng đại lý, đại lý bán lẻ xăng dầu, theo quy định hiện hành, mỗi hệ thống chỉ được quyền nhập xăng dầu từ một thương nhân đầu mối/phân phối.
Quy định hiện hành cũng buộc các thương nhân đầu mối/phân phối, tổng đại lý, đại lý phải kiểm soát chặt chẽ hệ thống bán lẻ của mình, chịu trách nhiệm liên đới khi các cửa hàng bán lẻ có các hành vi vi phạm. Thực tế, cả nước có khoảng 13.000 cửa hàng bán lẻ xăng dầu, trong đó, các cửa hàng thuộc hệ thống của 13 doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu có trên 3.000 (chiếm 25 – 30%), số còn lại là các cửa hàng của đại lý, tổng đại lý, nhượng quyền [24]. Theo quy định hiện hành, đại lý bán lẻ xăng dầu chỉ được ký hợp đồng làm đại lý cho một tổng đại lý hoặc một thương nhân đầu mối/phân phối xăng dầu. Nếu tổng đại lý hoặc thương nhân đầu mối/phân phối xăng dầu đó không kinh doanh nhiên liệu sinh học, thì đại lý được ký thêm hợp đồng làm đại lý cho một pháp nhân khác để kinh doanh nhiên liệu sinh học. Việc kiểm soát nguồn xăng dầu thông qua hóa đơn xuất, nhập.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc kiểm soát khối lượng xăng dầu đầu vào, đầu ra theo hóa đơn đối với đại lý bán lẻ xăng dầu chưa chặt chẽ, đặc biệt là việc bán lẻ xăng dầu không xuất hóa đơn vẫn còn tràn lan, nên đại lý xăng dầu rất dễ “hợp thức hóa” khi mua xăng dầu trôi nổi trên thị trường, xăng dầu giả để pha trộn với xăng dầu nhập chính thức từ thương nhân đầu mối/phân phối, tổng đại lý… rồi ung dung bán cho người tiêu dùng để trục lợi. Trước khi lực lượng công an phá vụ án Trịnh Sướng và đồng bọn sản xuất, tiêu thụ xăng giả, trong thực tế, xăng rởm, xăng kém chất lượng đã xuất hiện trên thị trường nước ta từ lâu. Việc quản lý chất lượng xăng dầu còn tồn tại nhiều kẽ hở, chế tài xử lý vi phạm còn nhẹ, công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh xăng dầu vẫn còn nhiều bất cập, chồng chéo, hiệu quả không cao [24]. Hiện nay, có rất nhiều cơ quan có thể kiểm tra, kiểm soát kinh doanh xăng dầu như: Quản lý thị trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Công an… Chính vì vậy, khi phát hiện vụ sản xuất xăng giả quy mô lớn của Trịnh Sướng và đồng bọn, nhiều ý kiến cho rằng, các cơ quan chức năng không làm tròn nhiệm vụ vì… sợ giẫm chân lên nhau. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Có thể nói, pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam hiện nay đang có rất nhiều hạn chế, bất cập. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có chiều sâu về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo pháp luật Việt Nam hiện nay trong bối cảnh nước ta đang triển khai những chính sách “cởi mở” hơn bằng việc cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia cùng với rất nhiều biến động lớn về thị trường kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại Việt Nam là vấn đề có tính cấp thiết.
Với các lý do được phân tích ở trên, nên tác giả đã lựa chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu liên quan đến hoạt động kinh doanh xăng dầu trong những năm trước đây đã có một số công trình nghiên cứu như:
- Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Duyên Cường (2011) với đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước hoạt động kinh doanh xăng dầu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [8];
- Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Bùi Thị Hồng Việt (2012) với đề tài “Chính sách quản lý nhà nước đối với kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam” [20];
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế của tác giả Cảnh Chí Hùng (2014) với đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” [10];
- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Ánh (2015) “Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu”, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội [1];
- Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Thế Cường (2016) với đề tài “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay”, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội [9];
- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Ngô Thị Liên (2018) với đề tài “Thực hiện pháp luật về kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Lai Châu”, Khoa Luật – Đại học Quốc gia [11];
Mặc dù được tiếp cận dưới nhiều giác độ khác nhau như quản lý kinh tế hay dưới giác độ luật học, nhưng thực tế, các công trình nghiên cứu chủ yếu phân tích hoạt động kinh doanh xăng dầu nói chung, các hành vi gây hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu hoặc luận bàn về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu… mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây sẽ là tư liệu quý giá để học viên tham khảo và kế thừa trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là khái quát, phân tích để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại Việt Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn xác định các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Khái quát, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra các mặt ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại Việt Nam trong giai đoạn tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn, hệ thống các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu và thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung và không gian, phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo quy định pháp luật tại Việt Nam, từ đó, phân tích thực tế việc thực thi và tác động của các quy định pháp luật tới việc tổ chức hoạt động và kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam hiện nay.
Về thời gian, Luận văn nghiên cứu tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu kể từ khi Nghị định số 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu có hiệu lực từ ngày 01/11/2014 cho đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh đó, một số phương pháp nghiên cứu cơ bản, chủ yếu được sử dụng như: Phương pháp tổng hợp, phân tích và diễn giải; phương pháp thống kê, hệ thống hóa tài liệu; phương pháp so sánh và đánh giá; phương pháp quy nạp và diễn dịch…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, việc nghiên cứu đề tài luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận pháp luật về tổ chức, điều kiện và quy trình hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong quá trình thực thi pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó, đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu nghiên cứu có giá trị cho các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam, là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo về kinh tế và luật học ở Việt Nam. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
7. Kết cấu luận văn
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam.
- Chương 2: Thực tiễn thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam hiện nay.
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tổ chức, hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam.
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BÁN LẺ XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu
1.1.1. Khái niệm hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu
- Khái niệm xăng dầu
Xăng dầu là sản phẩm của quy trình lọc dầu mỏ, là hỗn hợp chất lỏng dễ cháy của hydrocacbon, chủ yếu là hexan, heptan và chỉ số octan, thu được từ dầu mỏ và sử dụng như một dung môi và nhiên liệu cho động cơ đốt trong. Theo Nghị định 83/2014/NĐ-CP ngày 03/09/2014 của Chính phủ, thì:
Xăng dầu là tên chung để chỉ các sản phẩm của quá trình lọc dầu thô, dùng làm nhiên liệu, bao gồm: Xăng động cơ, dầu điêzen, dầu hỏa, dầu ma dút, nhiên liệu bay; nhiên liệu sinh học và các sản phẩm khác dùng làm nhiên liệu động cơ, không bao gồm các loại khí hóa lỏng và khí nén thiên nhiên [6]. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Xăng dầu có các đặc điểm cơ bản sau đây: (i) Là một loại chất lỏng, nguy cơ gây cháy nổ cao, dễ bắt lửa, chỉ va chạm mạnh cũng có khả năng gây cháy nổ. Khi cháy chúng phát sáng, thể tích tăng đột ngột và sinh nhiệt; (ii) Xăng dầu là một loại sản phẩm dễ hao hụt trong quá trình vận chuyển, lưu kho và kinh doanh do khả năng bốc hơi rất mạnh; (iii) Xăng dầu là loại sản phẩm độc hại. Quá trình khai thác, chế biến cũng như vận chuyển, phân phối, bảo quản có thể gây rò rỉ hoặc tai nạn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường: (iv) Xăng dầu là nguồn nhiên liệu của nhiều ngành kinh tế, là đầu vào không thể thiếu của nhiều ngành kinh tế. Do đó, khi lượng xăng dầu không đáp ứng đủ nhu cầu sẽ làm cho quy mô các hoạt động kinh tế giảm sút.
Khi giá xăng dầu tăng cao, chi phí sản xuất các mặt hàng xăng dầu như yếu tố đầu vào tăng lên [6].
- Khái niệm hoạt động kinh doanh xăng dầu
Kinh doanh là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống kinh tế của nước ta cũng như các nước trên thế giới, trên thực tế khái niệm kinh doanh có nhiều cách hiểu. Theo cách hiểu thông thường, kinh doanh được hiểu là các hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua, bán hàng hóa. Theo cách hiểu này thì kinh doanh đồng nhất với khái niệm thương mại được nêu trong Luật Thương mại Việt Nam.
Khái niệm “kinh doanh” chính thức được pháp luật Việt Nam ghi nhận từ năm 1990 khi Quốc hội ban hành hai bộ luật rất quan trọng, đó là Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990. Đến năm 1999, khái niệm kinh doanh một lần nữa được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp như sau: “Kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [15].
Theo đó, kinh doanh bao hàm cả các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa, các hoạt động sản xuất, gia công, đầu tư hay các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi. Cách hiểu này về kinh doanh khá tương đồng với khái niệm thương mại được nêu ra trong Luật Thương mại sửa đổi năm 2005. Theo Luật Thương mại 2005, “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục tiêu sinh lợi khác” [16], đây cũng là cách hiểu phổ biến về thương mại trên thế giới. Như vậy, hiện nay khái niệm kinh doanh được hiểu như là thương mại theo nghĩa rộng. Kinh doanh là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống kinh tế của nước ta cũng như các nước trên thế giới, trên thực tế khái niệm kinh doanh có nhiều cách hiểu.
Theo cách hiểu thông thường, kinh doanh được hiểu là các hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua, bán hàng hóa. Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sanh lợi” [18]. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Từ cách hiểu và định nghĩa “kinh doanh” theo Luật Thương mại và Luật Doanh nghiệp, Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, ngày 03/09/2014 của Chính phủ quy định:
Kinh doanh xăng dầu bao gồm các hoạt động như: xuất khẩu (xăng dầu, nguyên liệu sản xuất trong nước và xăng dầu, nguyên liệu có nguồn gốc nhập khẩu), nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, gia công xuất khẩu xăng dầu, nguyên liệu; sản xuất và pha chế xăng dầu; phân phối xăng dầu tại thị trường trong nước; dịch vụ cho thuê kho, cảng, tiếp nhận, bảo quản và vận chuyển xăng dầu [6].
- Khái niệm hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu
Hoạt động kinh doanh bán lẻ là một nội dung và là một trong những phương thức thực hiện dịch vụ phân phối được xem là đặc trưng nhất. Theo cách hiểu chung nhất, dịch vụ bán lẻ hàng hóa là một hình thức phân phối hàng hóa, mà theo đó, nhà phân phối bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng.
Theo khoản 8 Điều 3 Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thì “bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng” [5].
Như vậy, tuy có nhiều định nghĩa bán lẻ theo nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả đều thể hiện một đặc điểm chung của bán lẻ đó là hoạt động dịch vụ đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng (tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng của cá nhân hay gia đình). Nói cách khác, bán lẻ gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh. Ở đây, người tiêu dùng là người cuối cùng mua được hàng hóa đó và mua hàng hóa đó với mục đích để tiêu dùng. Theo khái niệm này thì “bán lẻ” phải là hoạt động liên quan đến bán hàng hóa trực tiếp và có đối tượng người mua là “người tiêu dùng cuối cùng”.
Hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu là một hoạt động kinh tế có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh năng lượng và sự ổn định cũng như tốc độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam hiện nay, kinh doanh bán lẻ xăng dầu được xếp là ngành kinh doanh có điều kiện và được Nhà nước quản lý chặt chẽ, từ khâu nhập khẩu đến hình thành giá và phân phối. Để quản lý hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu, Nhà nước đưa ra các cơ chế cụ thể, qua đó quy định trách nhiệm và cách thức phối hợp của các đơn vị quản lý. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về để tiêu dùng nội bộ. Xăng, dầu là loại hàng hóa đặc biệt, được các cá nhân người tiêu dùng, các đơn vị, tổ chức kinh tế sử dụng nhằm thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng của họ.
Tương tự hoạt động kinh doanh bán lẻ các loại hàng hóa khác, “kinh doanh bán lẻ xăng dầu là hoạt động bán xăng dầu trực tiếp cho người tiêu dùng (bao gồm các cá nhân, tổ chức, đơn vị kinh tế) để tiêu dùng nội bộ; kinh doanh bán lẻ xăng dầu nhằm mục đích sinh lợi”.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Xuất phát từ đặc điểm của mặt hàng kinh doanh là xăng dầu với những đặc tính lý hóa riêng như đã đề cập ở trên, để được phép kinh doanh cơ sở kinh doanh cần đảm bảo đạt được những điều kiện nhất định như: (i) Phải có thiết bị và phương tiện chuyên dùng cho kinh doanh xăng dầu, công tác phòng cháy, chữa cháy phải gắn liền với toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh, có biện pháp hạn chế tối đa tác động đến môi trường…, tùy thuộc vào các hoạt động cụ thể của kinh doanh xăng dầu. Hoạt động kinh doanh xăng dầu liên quan trực tiếp đến cơ sở hạ tầng kinh tế.
Có thể nói, các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh xăng dầu như hệ thống cảng biển, hệ thống vận tải, hệ thống kho chứa là bộ phận cấu thành quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Các hệ thống này càng phát triển thì không chỉ tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh xăng dầu nói riêng mà còn tăng cường tiềm lực phát triển của nền kinh tế nói chung. Xăng dầu là mặt hàng kinh doanh chịu ảnh hưởng mạnh của các quan hệ kinh tế – chính trị quốc tế. Do vị trí và tầm quan trọng của xăng dầu, mỗi quốc gia đều xây dựng chiến lược riêng về lĩnh vực này. Trên thực tế, quan hệ ngoại giao song phương, chính sách phong tỏa, cấm vận của các nước lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất nhập khẩu xăng dầu. Là mặt hàng chiến lược, các quốc gia, đặc biệt là các nước có thế lực trong buôn bán quốc tế luôn sử dụng xăng dầu như một con bài trong các quan hệ kinh tế – chính trị quốc tế. Vì vậy, kinh doanh xăng dầu không chỉ đơn thuần là một hoạt động kinh tế, mà còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của tình hình chính trị quốc tế. Xăng dầu là mặt hàng có tính nhạy cảm cao.
Như trên đã trình bày, xăng dầu là mặt hàng có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, do đó, kinh doanh xăng dầu là lĩnh vực nhạy cảm, một thay đổi nhỏ trong cung cầu có thể có tác động lớn đến kinh tế xã hội đất nước. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam có đặc điểm là kinh doanh hàng hóa nhập khẩu. Việt Nam phải nhập khẩu phần lớn xăng dầu cho nhu cầu trong nước nên chịu ảnh hưởng khá rõ từ những biến động của thị trường xăng dầu thế giới. Mặc dù, Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã đi vào hoạt động từ năm 2009, nhưng Việt Nam hiện vẫn đang nhập khẩu một lượng lớn xăng dầu cho tiêu dùng.
So với các đặc điểm của kinh doanh xăng dầu, thì kinh doanh bán lẻ xăng dầu đơn giản hơn nhiều do tính chất đặc thù, phạm vi và mô hình của hoạt động bán lẻ, cụ thể kinh doanh bán lẻ xăng dầu được tổ chức theo mô hình bán lẻ trực tiếp tại các cửa hàng bán lẻ chuyên kinh doanh xăng dầu, là cơ sở cuối cùng trong hệ thống tổ chức kinh doanh xăng dầu từ xuất nhập khẩu, sản xuất trong nước đến người tiêu dùng, không bao gồm các hoạt động xuất khẩu, tạm nhập tái xuất và các dịch vụ xăng dầu khác như dịch vụ thuê kho cảng, tiếp nhận, bảo quản và vận chuyển xăng dầu. Với những đặc điểm riêng có của xăng dầu nên xăng dầu là một mặt hàng kinh doanh có điều kiện. Kinh doanh bán lẻ xăng dầu có một số đặc điểm cơ bản sau:
Về hoạt động, kinh doanh bán lẻ xăng dầu là việc thực hiện lưu chuyển hàng hóa (xăng dầu) thông qua hoạt động mua – bán trực tiếp với người tiêu dùng. Người mua xăng, dầu để tiêu dùng (không phải để sản xuất, kinh doanh), thỏa mãn những nhu cầu của họ.
Về hàng hóa, xăng dầu là loại sản phẩm có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về để bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Xăng dầu là mặt hàng gây độc hại cho người bán và người tiêu dùng, dễ cháy, nổ, có ảnh hưởng nhiều đến môi trường. Xăng dầu là mặt hàng đặc biệt, có tính chất quan trọng chiến lược, ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng. Mặt hàng này được Nhà nước độc quyền quản lý nguồn nhập khẩu.
Về tổ chức kinh doanh, kinh doanh bán lẻ xăng dầu được tổ chức theo mô hình bán lẻ trực tiếp tại các cửa hàng chuyên kinh doanh xăng, dầu. Cửa hàng xăng dầu (là cơ sở cuối cùng trong hệ thống tổ chức kinh doanh xăng, dầu từ nhập khẩu, sản xuất trong nước đến người tiêu dùng).
Về cơ sở kinh doanh, các cửa hàng bán lẻ xăng dầu được xây dựng cố định, có đầy đủ trang thiết bị chuyên dùng và có điều kiện bảo đảm phòng chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường… Quy mô xây dựng, kỹ thuật xây dựng và công nghệ của các cửa hàng xăng, dầu cũng như mật độ cửa hàng trên địa bàn cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của dịch vụ bán hàng.
Về hình thức bán lẻ, kinh doanh bán lẻ xăng dầu cũng áp dụng đầy đủ các hình thức bán lẻ như các hình thức bán lẻ các hàng hóa khác.
1.2. Mô hình tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo pháp luật Việt Nam Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
1.2.1. Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu
Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu được hiểu là hệ thống phân phối bán lẻ xăng dầu thông qua hệ thống phân phối chính là các cửa hàng bán lẻ xăng dầu trực thuộc các thương nhân kinh doanh xăng dầu theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ban hành ngày 03/09/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu (Nghị định số 83/2014/NĐ-CP) đã quy định cụ thể các thương nhân kinh doanh xăng dầu bao gồm: Thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu; thương nhân sản xuất xăng dầu; thương nhân phân phối xăng dầu; thương nhân làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu; thương nhân làm đại lý bán lẻ xăng dầu; thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu; thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu [6].
Theo các quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ xăng dầu phải là tổ chức kinh tế, đủ điều kiện, và đã đăng ký kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo pháp luật, thực hiện việc bán lẻ xăng dầu tại cửa hàng bán lẻ xăng dầu của mình, cụ thể cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu, đồng sở hữu của thương nhân là đại lý hoặc tổng đại lý hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng, dầu hoặc thương nhân phân phối xăng, dầu hoặc thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu hoặc thương nhân sản xuất xăng dầu có hệ thống phân phối theo quy định của pháp luật, trong đó có trường hợp thương nhân sản xuất xăng dầu và thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu thì chỉ quy định về việc thương nhân có quyền tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu nếu có nhu cầu và phải tuân thủ các quy định tại Nghị định này về hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu [6]. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Như vậy, với đặc thù của hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại Việt Nam, các thương nhân phải tổ chức mô hình hoạt động theo hệ thống phân phối xăng dầu bao gồm các cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu hoặc sở hữu và đồng sở hữu của doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu, tổng đại lý hoặc đại lý bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của doanh nghiệp, trong đó số lượng và điều kiện cụ thể của các cửa hàng bán lẻ phụ thuộc vào loại hình của thương nhân kinh doanh xăng dầu.
Ngoài ra, các doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu thường phải đảm bảo các điều kiện chung sau về cửa hàng bán lẻ:
- Cửa hàng bán lẻ xăng dầu được thiết kế, xây dựng và có trang thiết bị theo đúng các quy định hiện hành về quy chuẩn, tiêu chuẩn cửa hàng bán lẻ xăng, dầu, an toàn phòng cháy chữa, bảo vệ môi trường của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
- Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.
Tại các cửa hàng bán lẻ, hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu thường được thực hiện dưới các hình thức sau:
- Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp: Nhân viên bán hàng trực tiếp bán xăng dầu cho khách và thu tiền.
- Hình thức bán hàng thu tiền tập trung: Khách hàng mua xăng dầu và nhận giấy thu tiền, hoá đơn của nhân viên bán hàng. Nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn, tích kê để kiểm kê số hàng bán ra trong ngày và thu tiền.
- Hình thức bán hàng trả góp: khách hàng mua xăng dầu trả tiền mua hàng thành nhiều lần. Doanh nghiệp thương mại ngoài số tiền thu theo hoá đơn giá bán hàng hoá còn thu thêm khoản tiền lãi trả chậm của khách.
- Hình thức bán hàng tự động: Hình thức này không cần nhân viên bán hàng đứng quầy giao hàng và nhận tiền tiền của khách. Khách hàng tự động nhét thẻ tín dụng của mình vào máy bán hàng và nhận hàng. Hình thức này chưa phổ biến rộng rãi ở nước ta nhưng ở ngành xăng dầu đã bắt đầu áp dụng bằng việc tạo ra một số cây xăng bán hàng tự động ở các trung tâm thành phố lớn.
1.2.2. Mô hình kinh doanh bán lẻ xăng dầu Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 3/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu đã quy định rõ quản lý hệ thống kinh doanh xăng dầu theo chuỗi từ thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối xăng dầu tới tổng đại lý, đại lý, thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu và cửa hàng bán lẻ xăng dầu, nhằm bảo đảm số lượng, chất lượng xăng dầu từ đầu nguồn tới khâu tiêu dùng, xác định rõ và nâng cao trách nhiệm của thương nhân kinh doanh xăng dầu đối với số lượng, chất lượng xăng dầu cung cấp trong hệ thống phân phối của thương nhân [6].
- Tổng đại lý kinh doanh xăng dầu
Mô hình tổ chức và hoạt động của tổng đại lý kinh doanh xăng dầu được quy định tại khoản 13 Điều 3 Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, cụ thể, tổng đại lý kinh doanh xăng dầu là thương nhân làm đại lý kinh doanh xăng dầu, ngoài việc tự tiêu thụ xăng dầu tại các cửa hàng bán lẻ xăng dầu của mình còn phải tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để bán xăng dầu cho bên giao đại lý là thương nhân đầu mối để hưởng thù lao [6].
Để được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu thì thương nhân phải đáp ứng đủ các điều kiện sau [6]:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
- Có kho, bể xăng dầu dung tích tối thiểu hai nghìn mét khối (2.000m3), thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ năm (05) năm trở lên.
- Có phương tiện vận tải xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ năm (05) năm trở lên.
- Có hệ thống phân phối xăng dầu, bao gồm tối thiểu năm (05) cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu, tối thiểu mười (10) cửa hàng thuộc các đại lý bán lẻ xăng dầu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định của pháp luật.
Hệ thống phân phối của tổng đại lý kinh doanh xăng dầu phải nằm trong hệ thống phân phối của một thương nhân đầu mối và chịu sự kiểm soát của thương nhân đó.
Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.
Phạm vi hoạt động của tổng đại lý kinh doanh xăng dầu là tương đối rộng, dưới các hình thức cụ thể như: là bên đại lý cho một thương nhân đầu mối và được hưởng thù lao đại lý; bên giao đại lý cho đại lý bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của mình và trả thù lao đại lý cho các đại lý đó và được bán lẻ xăng dầu tại cửa hàng bán lẻ xăng dầu của mình theo giá bán lẻ do thương nhân đầu mối quy định.
Tuy nhiên, tổng đại lý kinh doanh xăng dầu chỉ được ký hợp đồng làm tổng đại lý cho duy nhất một thương nhân đầu mối, không được ký thêm hợp đồng làm đại lý cho tổng đại lý khác hoặc thương nhân đầu mối khác, trừ trường hợp thương nhân đầu mối đó không kinh doanh nhiên liệu sinh học thì được ký thêm hợp đồng làm tổng đại lý cho một thương nhân đầu mối khác chỉ để kinh doanh nhiên liệu sinh học. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Đối với các đại lý trong hệ thống phân phối của mình, tổng đại lý kinh doanh xăng dầu có nghĩa vụ phải kiểm tra, giám sát các hoạt động của các đại lý đó, và phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các hành vi vi phạm của đại lý trong hoạt động kinh doanh xăng dầu theo quy định hiện hành của pháp luật.
- Đại lý bán lẻ xăng dầu
Mô hình tổ chức và hoạt động của đại lý bán lẻ xăng dầu được quy định tại khoản 14 Điều 3 Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, cụ thể, đại lý bán lẻ xăng dầu là thương nhân làm đại lý để thực hiện việc bán lẻ xăng dầu tại cửa hàng bán lẻ xăng dầu của mình cho bên giao đại lý là thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu hoặc tổng đại lý kinh doanh xăng dầu để hưởng thù lao [6]. Để được Sở công thương cấp giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu thì thương nhân phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.
- Có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu được cấp giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định pháp luật.
- Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.
Kinh doanh đại lý bán lẻ xăng dầu là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Trong phạm vi hoạt động, đại lý bán lẻ xăng dầu thực hiện việc bán lẻ xăng dầu tại cửa hàng bán lẻ xăng dầu của mình theo giá bán lẻ do thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu quy định, theo các hình thức là bên đại lý cho tổng đại lý hoặc thương nhân phân phối xăng dầu hoặc thương nhân đầu mối và được hưởng thù lao đại lý. Tuy nhiên, mỗi đại lý bán lẻ xăng dầu chỉ được ký hợp đồng làm đại lý bán lẻ xăng dầu cho một tổng đại lý hoặc một thương nhân phân phối xăng dầu hoặc một thương nhân đầu mối, không được ký thêm hợp đồng làm đại lý cho tổng đại lý hoặc thương nhân phân phối xăng dầu hoặc thương nhân đầu mối khác.
Riêng trường hợp nếu tổng đại lý hoặc thương nhân phân phối xăng dầu hoặc thương nhân đầu mối đó không kinh doanh nhiên liệu sinh học, đại lý bán lẻ xăng dầu được ký thêm hợp đồng làm đại lý cho một tổng đại lý hoặc một thương nhân phân phối xăng dầu hoặc một thương nhân đầu mối khác chỉ để kinh doanh nhiên liệu sinh học.
Sau khi ký hợp đồng nêu trên thì đại lý bán lẻ xăng dầu phải phải nằm trong hệ thống phân phối của tổng đại lý hoặc thương nhân phân phối xăng dầu hoặc thương nhân đầu mối và chịu sự kiểm soát của thương nhân đó, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về chất lượng, số lượng, giá xăng dầu niêm yết, bán ra theo quy định.
- Thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Mô hình tổ chức và hoạt động của đại lý bán lẻ xăng dầu được quy định tại khoản 15 Điều 3 Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, cụ thể thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu là thương nhân kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo phương thức nhượng quyền thương mại từ thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu [6].
Thương nhân có đủ các điều kiện dưới đây được làm thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.
- Có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu được cấp giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định của pháp luật.
- Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.
Về phạm vi hoạt động của thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu, thương nhân được bán lẻ xăng dầu tại cửa hàng bán lẻ xăng dầu của mình theo giá bán lẻ do thương nhân nhượng quyền là thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu quy định. Thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu chỉ được ký hợp đồng làm thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu cho một thương nhân đầu mối hoặc một thương nhân phân phối xăng dầu.
Thương nhân đã ký hợp đồng làm thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu không được ký thêm hợp đồng làm đại lý cho tổng đại lý hoặc thương nhân phân phối xăng dầu, làm tổng đại lý hoặc đại lý cho thương nhân đầu mối. Ngoài ra, thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu phải nằm trong hệ thống phân phối và chịu sự kiểm soát của thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Riêng đối với trường hợp thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối không kinh doanh nhiên liệu sinh học, thì thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu được ký thêm hợp đồng làm thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu cho một thương nhân phân phối hoặc một thương nhân đầu mối khác chỉ để kinh doanh nhiên liệu sinh học.
Ngoài ra, thương nhân nhận đầu mối phải chịu trách nhiệm về chất lượng, số lượng, giá xăng dầu niêm yết, bán ra theo quy định tại cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu hoặc sở hữu và đồng sở hữu của doanh nghiệp mình.
- Cửa hàng bán lẻ xăng dầu
Mô hình tổ chức và hoạt động của đại lý bán lẻ xăng dầu được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 11/2013/TT-BCT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu thiết kế cửa hàng xăng dầu do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành, cụ thể cửa hàng xăng dầu là công trình xây dựng chuyên kinh doanh bán lẻ xăng dầu, các loại dầu mỡ nhờn, có thể kết hợp kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng đóng trong chai hoặc cung cấp dịch vụ tiện ích cho người và phương tiện tham gia giao thông [4]. Cửa hàng xăng dầu có đủ các điều kiện dưới đây được Sở Công thương cấp giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu:
- Thuộc sở hữu, đồng sở hữu của thương nhân là đại lý hoặc tổng đại lý hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu hoặc thương nhân phân phối xăng dầu hoặc thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu hoặc thương nhân sản xuất xăng dầu có hệ thống phân phối theo quy định tại Nghị định này (thương nhân đề nghị cấp phải đứng tên tại giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu). Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
- Được thiết kế, xây dựng và có trang thiết bị theo đúng các quy định hiện hành về quy chuẩn, tiêu chuẩn cửa hàng bán lẻ xăng dầu, an toàn phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
- Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.
Một điều kiện tiên quyết của cửa hàng bán lẻ xăng dầu đã từng được quy định tại Nghị định 83/2014/NĐ-CP là địa điểm đặt cửa hàng phải phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt [6], tuy nhiên điều kiện này đã bị bãi bỏ bởi quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2018/NĐ-CP [7].
Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh xăng dầu đối với cửa hàng bán lẻ xăng dầu như sau:
- Kiểm soát cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của mình.
- Thông báo bằng văn bản về thời gian ngừng bán hàng gửi Sở Công thương nơi cấp giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu cho cửa hàng bán lẻ xăng dầu, trong đó ghi rõ lý do ngừng bán hàng.
- Niêm yết giá bán các loại xăng dầu và bán đúng giá niêm yết.
- Tại khu vực bán hàng, chỉ được treo biển hiệu của thương nhân cung cấp xăng dầu cho cửa hàng là thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu. Biển hiệu phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật.
- Ghi rõ thời gian bán hàng tại khu vực bán hàng, thuận tiện cho quan sát của người mua hàng.
- Chỉ ngừng bán hàng sau khi được Sở Công thương chấp thuận bằng văn bản.
- Chịu trách nhiệm về chất lượng, số lượng, giá xăng dầu niêm yết, bán ra theo quy định.
- Trước ba mươi (30) ngày, trước khi ngừng lấy hàng của thương nhân cung cấp cho cửa hàng bán lẻ xăng dầu, thương nhân sở hữu cửa hàng bán lẻ xăng dầu phải báo cáo và đề nghị Sở Công thương điều chỉnh giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu đã cấp cho cửa hàng bán lẻ xăng dầu.
1.3. Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán lẻ xăng dầu Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Xăng dầu là mặt hàng chiến lược có tầm quan trọng, có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế và sự ổn định xã hội của Việt Nam. Xăng dầu là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất, đồng thời là loại năng lượng có hạn, không thể tái sinh và hiện tại chưa thể thay thế được. Bên cạnh các hoạt động kinh doanh phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, xăng dầu còn là mặt hàng dự trữ chiến lược quốc gia. Trong điều kiện mới việc đảm bảo hiệu quả kinh doanh, tự chủ của doanh nghiệp đồng thời phải đi liền với đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Khi tiến hành mở cửa thị trường xăng dầu theo xu hướng hội nhập, vấn đề đặt ra là, làm thế nào để đảm bảo cho thị trường vận động tự do theo quy luật cung cầu, tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp? Điều này đòi hỏi Nhà nước phải có những điều chỉnh, đổi mới về cơ chế, chính sách phù hợp với những diễn biến phức tạp của thị trường. Một mặt, phải đảm bảo lợi ích của các doanh nghiệp, lợi ích của người tiêu dùng, mặt khác, phải đảm bảo dự trữ xăng dầu, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
1.3.1. Cấp phép cho hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu
Xăng dầu là hàng hóa đặc biệt, việc bảo quản, vận chuyển, mua bán phải tuân theo những tiêu chuẩn kỹ thuật chặt chẽ, nên việc kinh doanh xăng dầu phải tuân thủ những điều kiện nhất định, các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ xăng dầu phải có những ràng buộc về năng lực, quy mô và trình độ tối thiểu bắt buộc.
Hiện nay, ở Việt Nam, xăng dầu là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, các doanh nghiệp muốn kinh doanh trong lĩnh vực này phải đáp ứng được các điều kiện quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu [6]. Tương ứng với các hoạt động kinh doanh sẽ là các loại giấy phép khác nhau, mỗi loại giấy phép lại cần đáp ứng điều kiện kinh doanh xăng dầu riêng theo khoản 1 Điều 6 Thông tư số 38/2014/TT-BCT sửa đổi tại Điều 1 Thông tư số 28/2017/TT-BCT [3], cụ thể:
Việc cấp phép cho hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu được hiểu là việc các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp các loại giấy xác nhận, giấy chứng nhận đủ điều kiện đối với từng mô hình kinh doanh bán lẻ xăng dầu, cụ thể ở Việt Nam thẩm quyền thuộc về Bộ Công thương và Sở Công thương. Thương nhân có nhu cầu cấp mới, cấp bổ sung, sửa đổi hoặc cấp lại giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu; giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu; giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu, thương nhân gửi hồ sơ đăng ký về Bộ Công Thương, Sở Công Thương qua đường công văn hoặc qua mạng điện tử theo địa chỉ do Bộ Công Thương, Sở Công Thương thông báo trên trang thông tin điện tử. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Trong đó, thẩm quyền cấp phép cho hoạt động bán lẻ xăng dầu được quy định cụ thể đối với Bộ Công thương và Sở Công thương như sau:
- Bộ Công Thương có trách nhiệm xem xét, thẩm định, kiểm tra năng lực thực tế và cấp giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu (có hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên) cho thương nhân.
- Sở Công Thương có trách nhiệm xem xét, thẩm định, kiểm tra năng lực thực tế và cấp giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu (có hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn một tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương); giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu; giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.
Như vậy đối với các mô hình kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại Việt Nam, Bộ Công thương chỉ cấp giấy xác nhận đủ điều kiện cho thương nhân xin cấp phép làm Tổng đại lý kinh doanh xăng dầu có hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn hai tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương trở lên. Với các đề nghị cấp giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu (có hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn một tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương), đại lý bán lẻ xăng dầu và giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu cho thương nhân thuộc thẩm quyền của Sở Công thương.
Sau khi nhận bộ hồ sơ đăng ký của thương nhân, Bộ Công thương và Sở công thương có trách nhiệm triển khai các công việc sau: Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
- (i) Thẩm định, kiểm tra năng lực thực tế của thương nhân
Đối với Bộ Công thương: Tùy từng trường hợp cụ thể, Bộ Công Thương phối hợp hoặc ủy quyền cho Sở Công Thương nơi thương nhân đặt trụ sở chính, Sở Công Thương nơi thương nhân có cơ sở kinh doanh xăng dầu có trách nhiệm thẩm định, kiểm tra năng lực thực tế của thương nhân, lập thành văn bản gửi về Bộ Công Thương xem xét cấp giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu.
Đối với Sở Công thương: Phải trực tiếp thực hiện việc xem xét, thẩm định, kiểm tra năng lực thực tế của các thương nhân thuộc thẩm quyền của Sở. Đối với công việc do Bộ Công thương ủy quyền hoặc đề nghị phối hợp, Sở Công thương thực hiện công việc được ủy quyền, sau đó lập thành văn bản gửi kết quả kiểm tra, thẩm định về Bộ Công Thương để xem xét cấp giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu.
- (ii) Cấp giấy xác nhận, giấy chứng nhận cho thương nhân đủ điều kiện:
Đối với Bộ Công thương: Trong trường hợp kết quả kiểm tra thực tế phù hợp với hồ sơ đề nghị của thương nhân, Bộ Công thương cấp giấy xác nhận cho thương nhân đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu.
Trong trường hợp kết quả kiểm tra không đạt, Bộ Công thương thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do từ chối cấp giấy xác nhận cho thương nhân.
Đối với Sở Công thương: Trong trường hợp kết quả kiểm tra thực tế phù hợp với hồ sơ đề nghị của thương nhân, Sở Công Thương cấp giấy xác nhận, Giấy chứng nhận cho thương nhân.
Trong trường hợp kết quả kiểm tra thực tế không phù hợp với hồ sơ đề nghị của thương nhân, Sở Công Thương thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do từ chối cấp giấy xác nhận, giấy chứng nhận cho thương nhân.
1.3.2. Quản lý về đo lường, chất lượng trong kinh doanh xăng dầu Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Trong Thông tư số 38/2014/TT-BCT có quy định rõ về đo lường xăng dầu, quy định về chất lượng của xăng dầu trong kinh doanh và trách nhiệm của thương nhân kinh doanh bán lẻ xăng dầu và cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan [6].
Thương nhân kinh doanh bán lẻ xăng dầu phải thực hiện các yêu cầu về quản lý đo lường, chất lượng xăng dầu theo quy định của pháp luật hiện hành trong quá trình tồn trữ và bán cho người tiêu dùng; chịu trách nhiệm và liên đới chịu trách nhiệm về đo lường, chất lượng xăng dầu trong hệ thống kinh doanh bán lẻ xăng dầu của mình. Trên thực tế, hiện nay vẫn còn tồn tại các hành vi gian lận trong kinh doanh bán lẻ xăng dầu hết sức phức tạp, có tính phổ biến, thủ thuật tinh vi, đặc biệt là thủ thuật thay đổi phần mềm có sai số lớn cài đặt lên bộ vi xử lý để gian lận đo lường.
Với việc triển khai việc cung cấp kết quả đo cho khách hàng khi có yêu cầu sẽ giúp người tiêu dùng có chứng cứ để khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật đo lường, chất lượng trong trường hợp thương nhân bán lẻ xăng dầu gây thiệt hại cho người tiêu dùng và cơ quan nhà nước có thẩm quyền có đủ chứng cứ, tài liệu để xử lý khiếu nại, tố cáo, xác định thu lợi bất chính do vi phạm về đo lường trong kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Bộ Khoa học Công nghệ đã ban Thông tư số 15/2015/TT-BKHCN quy định về đo lường và chất lượng trong kinh doanh xăng dầu. Thông tư này quy định về đo lường, chất lượng trong kinh doanh xăng dầu và trình tự, thủ tục đăng ký cơ sở pha chế xăng dầu tại Việt Nam, áp dụng cho thương nhân kinh doanh xăng dầu; cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường, chất lượng và cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan [2]. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Trong Thông tư có quy định rõ về đo lường xăng dầu, quy định về chất lượng của xăng dầu trong kinh doanh và trách nhiệm của thương nhân kinh doanh xăng dầu và cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chỉ đạo việc kiểm định các thiết bị đo lường theo quy định hiện hành của pháp luật về đo lường và việc đảm bảo chất lượng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và Tiêu chuẩn công bố áp dụng; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng dầu để điều chỉnh, bổ sung các chỉ tiêu chất lượng, phương pháp thử phù hợp với tiêu chuẩn của các nước trong khu vực và quốc tế; chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp trong nước; tiến hành thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức đánh giá sự phù hợp nước ngoài để bảo đảm đáp ứng yêu cầu kịp thời, nhanh chóng, chính xác và thuận lợi cho công tác kiểm tra.
Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm xăng dầu hiện do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đảm nhiệm với các Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn Đo lường chất lượng 1, 2, 3, 4 ở ba miền Bắc, Trung, Nam và vùng Tây Nguyên.
Các Trung tâm tiến hành kiểm tra sản phẩm xăng dầu nhập ngoại hoặc pha chế, sản xuất trong nước. Các Sở Công thương hoặc Sở Khoa học và Công nghệ ở các tỉnh có chức năng quản lý Nhà nước về chất lượng các sản phẩm xăng dầu nhưng không có cơ sở vật chất chuyên dụng để kiểm tra chất lượng xăng dầu. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Trên thực tế, Nhà nước đã từng bước tăng cường công tác quản lý chất lượng xăng dầu trong lưu thông bằng nhiều biện pháp khác nhau theo hướng nâng cao chất lượng đảm bảo an toàn môi trường được xã hội và người tiêu dùng đánh giá cao như: chấm dứt sử dụng xăng pha chì và ban hành các văn bản quy định về tiêu chuẩn chất lượng nhiên liệu Diezel. Những cơ sở pháp lý này là tiền đề hết sức quan trọng để đảm bảo chất lượng hàng hóa xăng dầu.
Đội ngũ quản lý thị trường cũng đã được quan tâm, trở thành một lực lượng chuyên trách, được tổ chức thành hệ thống từ trung ương đến các địa phương. Ở Trung ương là Cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công thương, ở các tỉnh thành là các Chi cục Quản lý thị trường. Cục Quản lý thị trường là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước. Các Chi cục Quản lý thị trường giúp Giám đốc Sở Công thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong kinh doanh thương mại trên địa bàn tỉnh, thành phố. Lực lượng quản lý thị trường trong cả nước chủ trì và triển khai các hoạt động chống buôn bán xăng dầu kém chất lượng, đong sai, đong thiếu xăng dầu, bán không đúng giá niêm yết.
Như vậy, có thể thấy, công tác kiểm tra trong lĩnh vực xăng dầu đã góp phần hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc tập trung bảo vệ những hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp và đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu, góp phần tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, bảo vệ người tiêu dùng. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ xăng dầu, đặc biệt là kiểm tra về đo lường và chất lượng sản phẩm sẽ đảm bảo tính hiệu quả của xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Việc đảm bảo đo đúng, đủ sẽ giúp cho người tiêu dùng tránh những thiệt thòi do sự gian lận trong đo lường của các cửa hàng, đại lý thường rất hay xảy ra tại các cửa hàng có quy mô nhỏ và các địa điểm xa trung tâm. Việc kiểm tra về chất lượng sẽ đảm bảo cho việc vận hành tốt của máy móc, thiết bị sử dụng xăng dầu. Đây là một yếu tố cực kỳ quan trọng vì nhiều máy móc, thiết bị sử dụng xăng dầu có chi phí đầu tư rất lớn, nếu chất lượng xăng dầu không đảm bảo sẽ dẫn đến làm hỏng hóc máy móc, thiết bị và gây thiệt hại lớn cho người tiêu dùng và xã hội.
Mặc dù đã có nhiều vụ việc được phát hiện và xử lý, nhưng dường như vẫn chưa có tác dụng răn đe, tình trạng gian lận thương mại trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ xăng dầu hiện vẫn diễn ra rất phổ biến và ngày càng tinh vi. Việc gian lận thường diễn ra dưới hình thức gian lận về đo lường, về chất lượng xăng dầu và đầu cơ khi có biến động giá lớn.
1.3.3. Quản lý giá bán xăng dầu, công khai, minh bạch trong điều hành giá và kinh doanh xăng dầu Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Do vai trò hết sức quan trọng của xăng dầu đối với đời sống kinh tế xã hội và đặc điểm kinh doanh sản phẩm này mà Chính phủ nhiều nước đều can thiệp vào giá cả xăng dầu bằng nhiều hình thức và biện pháp điều tiết, khống chế khác nhau và Việt Nam cũng không là một ngoại lệ.
Trên thực tế, chính sách giá tối đa đã có tác động đến việc ổn định giá xăng dầu trên thị trường nội địa. Mặc dù kinh doanh xăng dầu thời kỳ này không còn mang tính độc quyền của một doanh nghiệp, nhưng việc kiểm soát giá đối với mặt hàng này vẫn rất quan trọng do xăng dầu là sản phẩm chịu tác động trực tiếp của thị trường thế giới, trong khi đó, khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước chưa cao, nếu giá nhiên liệu không ổn định sẽ gây hậu quả xấu đến giá bán các sản phẩm đầu ra của nhiều ngành nghề sử dụng nhiên liệu xăng dầu.
Tại Điều 38, 39 Nghị định số 83/2014/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định cụ thể về quản lý giá bán xăng dầu, công khai, minh bạch trong điều hành giá và kinh doanh xăng dầu [6]. Nghị định nêu rõ về các nguyên tắc quản lý giá bán xăng dầu, bao gồm: Giá bán xăng dầu được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước; thời gian giữa hai lần điều chỉnh giá liên tiếp tối thiểu là 15 ngày đối với trường hợp tăng giá, tối đa là 15 ngày đối với trường hợp giảm giá. Khi các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở giảm so với giá cơ sở liền kề trước đó, trong thời hạn quy định, thương nhân đầu mối phải giảm giá bán lẻ tối thiểu tương ứng giá cơ sở tại thời điểm thương nhân điều chỉnh giá; đồng thời gởi văn bản kê khai giá, quyết định điều chỉnh giá đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Liên Bộ Công thương và Tài chính) và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mức giá được điều chỉnh; không hạn chế mức giảm, khoảng thời gian giữa hai lần giảm và số lần giảm giá.
Về việc điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng dầu, Nghị định cũng quy định khá cụ thể. Trường hợp các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng trong phạm vi 3% so với giá cơ sở liền kề trước đó, thương nhân đầu mối được tăng giá bán lẻ tương ứng giá cơ sở tại thời điểm thương nhân điều chỉnh giá; đồng thời, gởi văn bản kê khai giá, quyết định điều chỉnh giá đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Liên Bộ Công thương và Tài chính) và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mức giá được điều chỉnh. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Trường hợp các yếu tố cấu thành làm cho giá cơ sở tăng vượt 3% đến 7% so với giá cơ sở liền kề trước đó, thương nhân đầu mối gởi văn bản kê khai giá, dự kiến mức điều chỉnh giá tới cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Liên Bộ Công thương – Tài chính). Trong thời hạn 3 ngày làm việc, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phải có văn bản trả lời. Quá thời hạn này, nếu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền không có văn bản trả lời, thương nhân đầu mối được quyền điều chỉnh giá bán lẻ tối đa tương ứng với mức giá cơ sở tại thời điểm điều chỉnh nhưng không được vượt quá 7% so với giá cơ sở liền kề trước đó. Trường hợp các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng trên 7% so với giá cơ sở liền kề trước đó hoặc việc tăng giá ảnh hưởng đến phát triển kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân, Liên Bộ Công thương – Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến về biện pháp điều hành cụ thể.
Nghị định này cũng quy định về việc công khai, minh bạch trong điều hành giá và kinh doanh xăng dầu. Theo đó, Bộ Công thương có trách nhiệm công bố trên trang thông tin điện tử của mình về giá thế giới, giá cơ sở, giá bán lẻ xăng dầu hiện hành; thời điểm sử dụng, số trích lập, số sử dụng và số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu hàng quý; các biện pháp điều hành khác. Thương nhân đầu mối có trách nhiệm công bố trên trang thông tin điện tử của thương nhân hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng về giá bán lẻ hiện hành, công bố báo cáo tài chính trong năm tài chính khi đã được kiểm toán.
Nói tóm lại, doanh nghiệp chỉ được quyền quyết định giá trong một phạm vi nhất định. Khi giá thị trường có thể tác động tới các chỉ tiêu kinh tế xã hội, Chính phủ có quyền điều tiết việc tăng giảm giá của doanh nghiệp. Chủ trương sử dụng Quỹ Bình ổn giá giúp doanh nghiệp được hưởng lợi, được sử dụng tạo nguồn vốn lưu động mà không phải đi vay, không phải trả lãi, Nhà nước có thêm công cụ để điều tiết giá, kiềm chế lạm phát ổn định an sinh xã hội. Tuy nhiên việc điều hành trích lập, sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu còn nhiều bất cập. Quy định như vậy là tạo ra một quỹ ảo vì nếu doanh nghiệp trích Quỹ Bình ổn giá tức là phải lấy vốn ra để trích lập Quỹ. Hơn thế nữa, Quỹ Bình ổn giá cũng không tách được số lãi do số dư Quỹ chưa sử dụng mang lại, hạn chế và tính minh bạch vì dễ bị doanh nghiệp lạm dụng vào mục đích khác.
1.3.4. Áp dụng các biện pháp an toàn và bảo vệ môi trường của các cơ sở kinh doanh bán lẻ xăng dầu Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Xăng dầu là loại nhiên liệu thiết yếu đối với đời sống con người trong suốt nhiều năm qua và tiếp tục đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong tương lai. Tuy nhiên do đặc điểm lý hóa riêng nên việc sử dụng, vận chuyển và bảo quản không hợp lý có thể sẽ có tác động gây ô nhiễm môi trường. Xăng dầu là chất lỏng bay hơi ở bất cứ nhiệt độ nào, dễ bắt lửa và cháy ở nhiệt độ bình thường. Khi hơi xăng dầu đạt đến một nồng độ nhất định nó có thể gây cháy nổ, và khi cháy nổ xăng dầu tỏa ra nhiệt lượng lớn hủy hoại môi trường xung quanh. Là chất lỏng dễ bay hơi nên xăng dầu dễ phát tán vào khí quyển gây ngộ độc cho con người và sinh vật. Do các đặc tính lý hóa của các sản phẩm xăng dầu nên hoạt động của ngành xăng dầu (lưu chứa, vận chuyển) luôn chứa đựng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, Nhà nước phải đưa ra chính sách bảo vệ môi trường, quy định về bảo vệ môi trường và an toàn phòng chống cháy nổ đối với các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Do nguy cơ cao về cháy nổ và khả năng ảnh hưởng lớn đến môi trường khi kinh doanh và sử dụng xăng dầu nên Chính phủ đã có quy định về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường tại Điều 6 Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, bao gồm: (i) Cơ sở kinh doanh xăng dầu phải bảo đảm các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động kinh doanh xăng dầu; (ii) Thương nhân kinh doanh xăng dầu phải tổ chức kiểm tra định kỳ sáu (06) tháng một lần các cơ sở kinh doanh xăng dầu thuộc hệ thống bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường và quy chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng xăng dầu.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an tổ chức thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy, như: ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định về phòng cháy, chữa cháy trong phạm vi quản lý và thẩm quyền của mình; phối hợp với Bộ Công an tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật, hướng dẫn kiến thức về phòng cháy, chữa cháy; chỉ đạo xây dựng và duy trì phong trào quần chúng phòng cháy, chữa cháy; chỉ đạo việc đầu tư kinh phí cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy, trang bị phương tiện phòng cháy, chữa cháy; chỉ đạo về tổ chức chữa cháy và khắc phục hậu quả vụ cháy; bố trí lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy; thống kê, báo cáo Chính phủ và Bộ Công an về phòng cháy, chữa cháy. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Bên cạnh đó, yêu cầu về nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cũng cần được tuân thủ theo Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, cụ thể:
Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường; xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường; tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc; định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường; xây dựng, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kiểm tra, xác nhận các công trình bảo vệ môi trường; tổ chức xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường; chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học; quản lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm; cải thiện và phục hồi môi trường; cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về môi trường. Đặc biệt là cần duy trì thường xuyên và có hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường; thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường; xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường [17].
Tiểu kết Chương 1
Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập thế giới hiện nay, xăng dầu là một loại nguyên liệu chưa thể thay thế vào có vai trò đặc biệt quan trọng. Hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu là hoạt động kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Những quy định về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu theo pháp luật Việt Nam đã phần nào phát huy vai trò và có tác động lớn trong việc góp phần cho sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận văn: Tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu.
Trong Chương 1 của luận văn, học viên đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam. Các vấn đề được trình bày tại chương này là nền tảng cơ sở lý luận để từ đó, phân tích thực tiễn thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam hiện nay trong Chương 2.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp về hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu