Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán tại Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Địa vị pháp lý của công ty chứng khoán theo pháp luật hiện hành
2.1.1 Điều kiện thành lập và tổ chức bộ máy công ty chứng khoán
- Điều kiện thành lập công ty chứng khoán
Theo Điều 59 luật Chứng khoán năm 2013, Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp.
Để thành lập một Công ty chứng khoán, cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về vốn, điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện về nhân sự và các quy định theo Luật ban hành.
Điều kiện về vốn, Công ty chứng khoán phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định. Vốn pháp định được quy định cụ thể theo từng loại hình nghiệp vụ. Luật Chứng khoán không quy định cụ thể mức vốn cho từng loại hình hoạt động. Nội dung này được quy định cụ thể trong các Nghị định hướng dẫn thi hành luật. Hiện nay, nội dung này được quy định ở điều 71 Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 07 năm 2012 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán năm 2013, theo đó, quy định về mức vốn pháp định đối với từng nghiệp vụ của Công ty chứng khoán là:
- Nghiệp vụ môi giới: 25 tỷ đồng
- Nghiệp vụ tự doanh: 100 tỷ đồng
- Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng
- Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng
Trường hợp Công ty chứng khoán xin cấp phép cho nhiều loại hình kinh doanh thì vốn pháp định là tổng số vốn pháp định của từng loại hình. Như vậy, tổng vốn pháp định cho bốn nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán là 300 tỷ đồng. Mức vốn này không thay đổi so với quy định trước đây (ở Điều 18, Nghị định số 14/CP ngày 19/1/2007 hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán năm 2006).
- Pháp luật có quy định về vốn góp đối với thể nhân và pháp nhân là khác nhau.
Tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của các cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ chức tối thiểu là 65% vốn điều lệ, trong đó các tổ chức là ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức nước ngoài theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Thông tư 210/2012/TT-BTC sở hữu tối thiểu 30% vốn điều lệ của Công ty chứng khoán;
Cổ đông, thành viên sở hữu từ 10% trở lên vốn cổ phần hoặc phần vốn góp của một Công ty chứng khoán và người có liên quan của cổ đông, thành viên góp vốn đó không được góp vốn trên 5% số cổ phần hoặc phần vốn góp của một Công ty chứng khoán khác; CTCK thành lập và hoạt động tại Việt Nam không được góp vốn thành lập công ty chứng khoán khác tại Việt Nam.
Cá nhân tham gia góp vốn phải chứng minh khả năng góp vốn bằng tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi có trong tài khoản ngân hàng. Giá trị tiền tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp vào công ty chứng khoán và thời điểm xác nhận của ngân hàng tối đa không quá ba mươi (30) ngày tính đến ngày hồ sơ đề nghị thành lập công ty chứng khoán đã đầy đủ và hợp lệ [7].
Đối với tổ chức góp vốn, điều kiện đối với tổ chức tham gia góp vốn thành lập công ty chứng khoán gồm: Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
- Có tư cách pháp nhân; không đang trong tình trạng hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản và không thuộc các trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định pháp luật;
- Hoạt động kinh doanh phải có lãi trong hai (02) năm liền trước năm góp vốn thành lập công ty chứng khoán và không có lỗ luỹ kế đến thời điểm góp vốn thành lập công ty chứng khoán;
- Trường hợp là ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty chứng khoán tham gia góp vốn;
- Không đang trong tình trạng kiểm soát hoạt động, kiểm soát đặc biệt hoặc các tình trạng cảnh báo khác;
- Đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được tham gia góp vốn, đầu tư theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Trường hợp là các tổ chức kinh tế khác tham gia góp vốn: phải có thời gian hoạt động tối thiểu là năm (05) năm liên tục liền trước năm tham gia góp vốn thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán; Vốn chủ sở hữu sau khi trừ đi tài sản dài hạn tối thiểu bằng số vốn dự kiến góp; Vốn lưu động tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp.
Chỉ được sử dụng vốn chủ sở hữu và các nguồn vốn hợp lệ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành, không được sử dụng vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn.
Trường hợp tổ chức nước ngoài tham gia góp vốn thành lập công ty chứng khoán phải đáp ứng quy định sau:
- Là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và đã có thời gian hoạt động tối thiểu là hai (02) năm liền trước năm tham gia góp vốn thành lập;
- Chịu sự giám sát thường xuyên, liên tục của cơ quan quản lý, giám sát chuyên ngành ở nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán và được cơ quan này chấp thuận bằng văn bản về việc góp vốn thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam;
- Cơ quan quản lý, giám sát chuyên ngành ở nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ký kết thỏa thuận hợp tác song phương hoặc đa phương về trao đổi thông tin, hợp tác quản lý, thanh tra, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán;
- Đáp ứng quy định có liên quan tại khoản 7 Điều này;
- Tỷ lệ tham gia góp vốn thành lập công ty chứng khoán của các tổ chức nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều kiện về cơ sở vật chất, ngoài điều kiện về vốn, để thành lập, Công ty chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện về trụ sở làm việc, cơ sở vật chất như: quyền sử dụng trụ sở công ty có thời hạn tối thiểu 1 năm tính từ ngày hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động Công ty chứng khoán đầy đủ và hợp lệ; Diện tích sàn giao dịch chứng khoán tại trụ sở chính của Công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới chứng khoán tối thiểu là 150 m2; Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính, phần mềm phục vụ cho hoạt động phân tích đầu tư, phân tích và quản lý rủi ro, lưu trữ bảo quản chứng từ, tài liệu và các thiết bị bảo đảm an toàn, an ninh cho trụ sở làm việc của công ty.
Điều kiện về nhân sự, những người quản lý hay các nhân viên giao dịch của Công ty chứng khoán phải đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Theo điều 72 Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 07 năm 2012 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán năm 2013, Công ty chứng khoán phải có tối thiểu 3 người hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh đề nghị cấp phép hoạt động. Người hành nghề chứng khoán là người làm việc tại các vị trí chuyên môn trong công ty chứng khoán và có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp.
Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty chứng khoán phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Không phải là người đã từng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt tù hoặc bị toà án tước quyền hành nghề theo quy định của pháp luật; Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
- Chưa từng là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bị phá sản, trừ trường hợp phá sản vì lý do bất khả kháng;
- Trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc gồm: Có bằng đại học hoặc trên đại học chuyên ngành tài chính, ngân hàng, chứng khoán; kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán ít nhất hai năm kinh nghiệm quản lý điều hành tối đa 03 năm;
- Đảm bảo đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh chứng khoán;
- Có chứng chỉ hành nghề chứng khoán;
- Không phải là người đã từng bị Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xử lý theo pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán trong vòng 03 năm gần nhất.
Sau khi đã đáp ứng được các điều kiện, các nhà sáng lập Công ty chứng khoán phải lập hồ sơ xin cấp phép lên Ủy ban chứng khoán nhà nước. Hồ sơ được quy định tại điều 63 Luật Chứng khoán năm 2013 gồm:
- Giấy đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.
- Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán.
- Xác nhận của ngân hàng về mức vốn pháp định gửi tại tài khoản phong toả mở tại ngân hàng.
- Danh sách dự kiến Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán kèm theo bản sao Chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
- Danh sách cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập kèm theo bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu đối với cá nhân và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với pháp nhân.
- Bản sao báo cáo tài chính năm gần nhất có xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập của cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là pháp nhân tham gia góp vốn từ mười phần trăm trở lên vốn điều lệ đã góp của tổ chức đề nghị cấp giấy phép.
- Dự thảo Điều lệ công Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
- Dự kiến phương án hoạt động kinh doanh trong ba năm đầu phù hợp với nghiệp vụ kinh doanh đề nghị cấp phép kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát nội bộ, quy trình quản lý rủi ro.
Tổ chức bộ máy công ty chứng khoán
CTCK có tổ chức bộ máy tương ứng phù hợp với loại hình Công ty chứng khoán là công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần. phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ chứng khoán mà công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoán. Tuy nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng được chia ra làm hai khối tương ứng với hai khối công việc mà công ty chứng khoán đảm nhận:
Khối I (khối nghiệp vụ): Gồm Phòng môi giới, phòng tự doanh, phòng tư vấn, phòng phân tích … Do một phó phó giám đốc trực tiếp phụ trách, thực hiện các giao dịch mua bán kinh doanh chứng khoán, nói chung là có liên hệ với khách hàng. Khối này đem lại thu nhập cho công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra các sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó.
Trong khối này, ứng với một nghiệp vụ chứng khoán cụ thể, công ty có thể tổ chức một phòng để thực hiện. Vì vậy công ty thực hiện bao nhiêu nghiệp vụ sẽ có thể có từng ấy phòng và nếu Công ty chứng khoán chỉ thực hiện một nghiệp vụ, có thể sẽ chỉ có một phòng thuộc khối này. Riêng phòng thanh toán và lưu giữ chứng khoán thì mọi Công ty chứng khoán đều phải có và có thể có khối I do nó trực tiếp liên hệ với khách hàng.
Tuy vậy, tùy quy mô từng nghiệp vụ và mức độ chú trọng vào các nghiệp vụ khác nhau mà công ty có lợi thế, Công ty chứng khoán có thể kết hợp một số nghiệp vụ vào một phòng, hoặc có thể chia nhỏ các phòng ra thành nhiều tổ do khâu đoạn phức tạp.
Khối II (khối hỗ trợ): Gồm phòng kế toán, phòng kế hoạch, phòng pháp chế, phòng công nghệ… cũng do một phó giám đốc phụ trách, thực hiện các công việc yểm trợ cho khối I. Nói chung, bất kỳ một nghiệp vị nào ở khối I đều cần sự trợ giúp của các phòng ban của khối II. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Ngoài sự phân biệt rõ ràng hai khối như vậy, Công ty chứng khoán còn có thể có thêm một số phòng như cấp vốn, phòng tín dụng… nếu công ty này được thực hiện các nghiệp vụ mang tính ngân hàng.
Đối với các Công ty chứng khoán lớn, còn có thêm chi nhánh văn phòng ở các địa phương, hoặc các nước khác nhau, hay có thêm phòng quan hệ quốc tế…
Để thuận tiện cho quan hệ với khách hàng, mạng lưới tổ chức một công ty chứng khoán thường gồm văn phòng trung tâm và các chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại các địa phương, khu vực cần thiết. Cũng có thể công ty chứng khoán ủy thác cho một ngân hàng thương mại ở địa phương hướng dẫn và nhận các lệnh đặt hàng mua bán chứng khoán của khách hàng.
Về nguyên tắc, chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện là những đơn vị thuộc công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán phải chịu trách nhiệm về hoạt động của chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện của mình. Việc quản trị, điều hành Công ty chứng khoán phải tuân thủ các quy định của Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật có liên quan về quản trị công ty.
2.1.2. Các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
- Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng [Luật chứng khoán 2013, Điều 6, khoản 20]. Đây là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó công ty chứng khoán đứng ra làm đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch trên cơ sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch đó. Người môi giới chỉ thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng để hưởng phí hoa hồng, họ không phải chịu rủi ro từ hoạt động giao dịch đó. Chức năng của hoạt động môi giới là nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư; nối liền những người bán và người mua, đem đến cho khách hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
CTCK có thể tư vấn thu phí hoặc miễn phí cho khách hàng về một số thông tin như: xu thế phát triển và triển vọng của chứng khoán mà khách hàng định đầu tư, về giá cả và mức độ rủi ro… Việc có quyết định đầu tư hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào khách hàng, Công ty chứng khoán không chịu trách nhiệm về giá cả các chứng khoán mà khách hàng quyết định thực hiện giao dịch. Theo quy định của pháp luật chứng khoán, khi thực hiện hoạt động môi giới, Công ty chứng khoán được thu phí hoa hồng theo tỷ lệ phần trăm doanh số mua, bán chứng khoán đã thực hiện. Số tiền mua, bán chứng khoán càng nhỏ thì tỷ lệ phần trăm quy định càng lớn. Ủy ban chứng khoán nhà nước xây dựng mức giá theo khung và trình Bộ Tài chính quyết định, mức phí cụ thể do các công ty quyết định. Chẳng hạn, mức giá do Công ty chứng khoán ngân hàng Ngoại thương quy định là 0,04% cho một giao dịch mua bán chứng khoán có trị giá giao dịch dưới 50 triệu đồng và 0,035% cho giao dịch chứng khoán có trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng. Trong khi, Công ty chứng khoán ngân hàng Đầu tư và phát triển quy định mức phí 0,04% cho giao dịch chứng khoán có trị giá từ 50 triệu đồng trở lên.
Trên thế giới, có nước cũng áp dụng nhiều mức phí như Việt Nam, song cũng có nước áp dụng một mức phí cố định như Thái Lan (0,5%), Indonesia (0,5%), Trung Quốc (1,5%), Ấn Độ (1,5%).
Sở dĩ có sự khác nhau về các mức phí là do điều kiện cung cấp các dịch vụ giao dịch cho khách hàng thuận lợi hay chưa thuận lợi. Điều này hoàn toàn phù hợp với các Thị trường chứng khoán trong xu thế cạnh tranh để phát triển dịch vụ, thu hút lượng khách hàng cần thiết cho hoạt động của công tư để tăng nguồn thu từ hoạt động môi giới.
- Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Theo khoản 21, Điều 6 Luật chứng khoán 2013, tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC. Rủi ro trong hoạt động tự doanh chứng khoán do Công ty chứng khoán tự chịu trách nhiệm.
CTCK thực hiện mua bán chứng khoán bằng nguồn vốn của công ty và thu lợi nhuận khi giá chứng khoán bán đi của công ty lên cao hơn so với giá chứng khoán lúc công ty mua vào tùy thuộc và giá cả thị trường. Tự doanh chứng khoán là hoạt động rất nhạy cảm và chứa nhiều yếu tố tiêu cực bởi Công ty chứng khoán đồng thời được thực hiện môi giới cho khách hàng và tự doanh cho chính mình. Về lý thuyết và thực tiễn, hai hoạt động này hoàn toàn mâu thuẫn lợi ích giữa khách hàng và công ty. Để bảo vệ khách hàng, Điều 54 Thông tư 210/2012/TT-BTC ngày 30/11/2012 Hướng dẫn về thành lập và hoạt động công ty chứng khoán quy định:
- Người hành nghề chứng khoán thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán không được đồng thời thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
- CTCK phải thực hiện lệnh mua, bán chứng khoán của khách hàng trước lện của công ty;
- CTCK phải đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán khi thực hiện các giao dịch cho tài khoản của công ty;
- CTCK phải cho đối tác biết mình là khách hàng giao dịch trực tiếp khi thực hiện giao dịch thỏa thuận, không thu phí giao dịch này;
- CTCK không được tiết lộ những giao dịch lớn của khách hàng cho bên thứ ba;
- Không được mua hoặc bán chứng khoán của công ty cùng giao dịch cho khách hàng với bất cứ mức giá nào.
Khi khách hàng đặt lệnh giới hạn, công ty chứng khoán không được mua hoặc bán cùng chiều cùng loại chứng khoán đó cho mình ở mức giá bằng hoặc tốt hơn mức giá của khách hàng trước khi lệnh của khách hàng được thực hiện.
- Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Theo khoản 22, Điều 6 Luật chứng khoán 2013, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành phân phối chứng khoán ra công chúng.
Trong hoạt động của Thị trường chứng khoán, việc rao bán chứng khoán (quảng cáo phát hành chứng khoán cho tổ chức phát hành) của tổ chức bảo lãnh là cần thiết bởi công việc truyền tải thông tin về phát hành chứng khoán của tổ chức phát hành đến người đầu tư không phải lúc nào cũng phổ cập hết được. Công việc chính của tổ chức phát hành là kinh doanh, sản xuất và họ rất cần tập trung thời gian và nguồn lực cho hoạt động kinh doanh. Để việc quảng bá, rao bán chứng khoán sắp phát hành cho tổ chức bảo lãnh phát hành là hợp lý và đúng sở trường. Tuy nhiên, từ việc rao bán các chứng khoán sắp phát hành đến việc bán các chứng khoán đã phát hành thì việc cung cấp và xử lý thông tin liên quan đến phát hành của tổ chức phát hành đòi hỏi phải khớp và chính xác. Điều này nếu không thực hiện được thì người chịu rủi ro cao nhất là người đầu tư.
- Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Theo khoản 23, Điều 6 Luật chứng khoán 2013, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán.
Theo Điều 56 Thông tư 210/2012/TT-BTC, để cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng, Công ty chứng khoán phải ký kết hợp đồng với khách hàng với các nội dung tối thiểu như sau:
- Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng;
- Phạm vi tư vấn đầu tư chứng khoán;
- Phương thức cung cấp dịch vụ;
- Phí cung cấp dịch vụ.
Theo quy định của pháp luật chứng khoán Việt Nam, khi thực hiện tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng, các công ty chứng khoán và nhân viên kinh doanh phải:
- Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp.
- Bảo đảm tính trung thực, khách quan và khoa học của hoạt động tư vấn.
- Không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của bất kỳ loại chứng khoán nào.
- Không được có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật để dụ dỗ hay mời gọi khách hàng mua bán một loại chứng khoán nào đó.
- Bảo mật các thông tin nhận được từ người sử dụng dịch vụ tư vấn trừ trường hợp đươc khách hàng đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động tư vấn và bồi thường thiệt hại cho người sử dụng dịch vụ tư vấn khi vi phạm cam kết trong hợp đồng tư vấn [7].
Tuy nhiên, các nhà tư vấn thường đánh giá tình huống theo kiến thức, kinh nghiệm và tư duy chủ quan của họ, do vậy việc đánh giá tình huống của mỗi nhà tư vấn là khác nhau. Tính khách quan và chính xác của các bản phân tích sẽ mang lại uy tín cho nhà tư vấn. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Ngoài 4 nghiệp vụ kinh doanh chính nêu trên, Công ty chứng khoán có thể có một số nghiệp vụ phụ trợ khác nhằm hỗ trợ giao dịch, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các nghiệp vụ phụ trợ gồm: lưu ký chứng khoán, tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.
2.1.3. Quyền và nghĩa vụ của công ty chứng khoán
- Quyền của công ty chứng khoán
CTCK là doanh nghiệp được tổ chức theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán nên quyền của Công ty chứng khoán được quy định cả trong Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán.
Các quyền được quy định trong Luật Doanh nghiệp gồm: các quyền về tự chủ kinh doanh theo pháp luật và không bị can thiệp vào các hoạt động kinh doanh hợp pháp, được nhà nước có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại tranh chấp trong quá trình kinh doanh khi có yêu cầu, được thu các khoản lãi hợp pháp trong quá trình kinh doanh…
Các quyền được quy định trong Luật Chứng khoán và Thị trường chứng khoán gồm: quyền lựa chọn, thu hẹp hoặc mở rộng nghiệp vụ kinh doanh, tổ chức các địa điểm kinh doanh, quyền được thu phí giao dịch, quyền được sử dụng các thiết bị giao dịch của Trung tâm giao dịch, quyền quản lý một hoặc nhiều quỹ đầu tư, quyền tư vấn đầu tư… Các nội dung này được quy định trong Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành và trong Điều lệ mẫu áp dụng cho Công ty chứng khoán được thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Chẳng hạn, Điều lệ mẫu quy định Công ty chứng khoán có các quyền sau:
- Ký hợp đồng bằng văn bản với khách hàng về giao dịch chứng khoán, đăng ký và lưu ký chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính;
- Thực hiện thu phí theo các mức phí, lệ phí do Bộ Tài chính quy định;
- Ưu tiên sử dụng lao động trong nước, bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động theo quy định của Luật Lao động, tôn trọng quyền tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ của công ty chứng khoán
Nghĩa vụ của công ty chứng khoán được quy định tại Điều 71 Luật Chứng khoán năm 2013 như sau:
- Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và giám sát, ngăn ngừa những xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch với người có liên quan. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
- Quản lý tách biệt chứng khoán của từng nhà đầu tư, tách biệt tiền và chứng khoán của nhà đầu tư với tiền và chứng khoán của công ty chứng khoán.
- Ký hợp đồng bằng văn bản với khách hàng khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng; cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin cho khách hàng.
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của công
- Thu thập, tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng; bảo đảm các khuyến nghị, tư vấn đầu tư của công ty cho khách hàng phải phù hợp với khách hàng đó.
- Tuân thủ các quy định bảo đảm vốn khả dụng theo quy định của Bộ Tài chính.
- Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán tại công ty hoặc trích lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư để bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư do sự cố kỹ thuật và sơ suất của nhân viên trong công ty.
- Lưu giữ đầy đủ các chứng từ và tài khoản phản ánh chi tiết, chính xác các giao dịch của khách hàng và của công ty.
- Thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán để bán theo quy định của Bộ Tài chính.
- Tuân thủ các quy định của Bộ Tài chính về nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán
Ngoài ra, Điều lệ mẫu còn quy định bổ sung một số nghĩa vụ sau:
- Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê, nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện công bố thông tin theo quy định tại Điều 101 (trường hợp công ty đại chúng) và Điều 104 của Luật Chứng khoán và chế độ báo cáo theo quy định của Bộ Tài chính.
- Tuân thủ các nguyên tắc về quản trị công ty theo quy định hiện hành.
- Đóng góp quỹ hỗ trợ thanh toán theo quy định tại quy chế của Trung tâm lưu ký chứng khoán.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài các nghĩa vụ nêu trên, Điều lệ mẫu của Ủy ban chứng khoán nhà nước còn có một số quy định hạn chế đối với Công ty chứng khoán gồm:
- Không được đưa ra nhận định hoặc bảo đảm với khách hàng về mức thu nhập hoặc lợi nhuận đạt được trên khoản đầu tư của mình hoặc bảo đảm khách hàng không bị thua lỗ, ngoại trừ đầu tư vào chứng khoán có thu nhập cố định;
- Không được tiết lộ thông tin về khách hàng trừ khi được khách hàng đồng ý hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
- Không được thực hiện những hành vi làm cho khách hàng và nhà đầu tư hiểu nhầm về giá chứng khoán;
Không được cho khách hàng vay tiền để mua chứng khoán, trừ trường hợp Bộ Tài chính có quy định khác.
Có thể nói, các nghĩa vụ, trách nhiệm của Công ty chứng khoán được quy định khá nhiều và chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư chứng khoán, ngăn ngừa các hành vi vi phạm gây lũng đoạn Thị trường chứng khoán.
2.1.4. Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi, chấm dứt hoạt động công ty chứng khoán Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi Công ty chứng khoán được quy định tại Điều 69 Luật Chứng khoán năm 2013, Điều 66 Thông tư 210/2012/TT-BTC, cụ thể:
- Công ty chứng khoán khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi phải được Ủy ban chứng khoán nhà nước chấp thuận
- Công ty chứng khoán phải gửi hồ sơ đề nghị đến Ủy ban chứng khoán nhà nước; sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu.
Công ty mới hình thành sau khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi chỉ được phép hoạt động ngành nghề kinh doanh chứng khoán khi đáp ứng các điều kiện kinh doanh chứng khoán theo quy định của Luật Chứng khoán và phải hoàn tất hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định
Việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất chuyển đổi công ty chứng khoán được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp
Công ty mới hình thành từ việc chia, tách, hợp nhất phải hoàn tất hồ sơ và làm thủ tục đề nghị cấp lại Giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định
Trường hợp tách công ty, công ty bị tách phải chứng minh đủ điều kiện hoạt động kinh doanh chứng khoán để duy trì Giấy phép thành lập và hoạt động
Công ty được hình thành sau khi sáp nhập công ty, chuyển đổi hình thức công ty phải thực hiện việc đổi Giấy phép thành lập và hoạt động. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Hồ sơ để thực hiện việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi Công ty chứng khoán gồm:
Thành phần hồ sơ, bao gồm:
- Giấy đề nghị chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi;
- Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông hoặc của Hội đồng thành viên hoặc quyết định của chủ sở hữu công ty về việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi công ty
- Phương án kinh doanh (bao gồm cách thức thực hiện, đánh giá hiệu quả kinh tế, phạm vi kinh doanh, dự báo tình hình tài chính trong ba năm tới, phương án phân chia, xử lý hợp đồng còn tồn tại) khi thực hiện chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty
- Danh sách cổ đông, thành viên và vốn điều lệ của tổ chức hình thành sau khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty
- Hợp đồng nguyên tắc về việc hợp nhất, sáp nhập đối với trường hợp thực hiện hợp nhất, sáp nhập
- Ý kiến của tổ chức tư vấn tài chính hoặc của tổ chức kiểm toán được chấp thuận về việc định giá và tỷ lệ chuyển đổi cổ phần hoặc phần vốn góp đối với trường hợp hợp nhất, sáp nhập
- Ý kiến của luật sư về tính phù hợp pháp luật của hợp đồng, hồ sơ của việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định chấp thuận chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty chứng khoán. Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Đình chỉ hoạt động, giải thể, phá sản công ty chứng khoán
- Đình chỉ hoạt động, giải thể, phá sản Công ty chứng khoán là sự kiện kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người đầu tư trên Thị trường chứng khoán.
Theo Điều 75 Luật Chứng khoán năm 2013, việc giải thể Công ty chứng khoán được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp. Trường hợp công ty chứng khoán tự giải thể trước khi kết thúc thời hạn hoạt động thì phải được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận. Việc phá sản công ty chứng khoán, được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Theo Điều 70 Luật Chứng khoán năm 2013, Khoản 3 Điều 1 Thông tư 07/2016/TT-BTC ngày 18/1/2016 của Bộ Tài chính, Công ty chứng khoán bị đình chỉ hoạt động trong các trường hợp sau đây:
- Hồ sơ đề nghị cấp, điều chỉnh Giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin cố ý làm sai sự thật;
Sau khi hết thời hạn cảnh báo (kiểm soát hoặc kiểm soát đặc biệt) theo quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính, công ty chứng khoán không cung cấp được bằng chứng chứng minh công ty đã khắc phục được tình trạng cảnh báo (tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ một trăm tám mươi phần trăm (180%) trở lên trong ba (03) tháng liên tục, trong đó tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ báo cáo cuối cùng phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận) và có lỗ gộp đạt mức năm mươi phần trăm (50%) trở lên vốn điều lệ hoặc có vốn chủ sở hữu tại thời điểm báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc soát xét gần nhất thấp hơn vốn pháp định theo các nghiệp vụ kinh doanh được cấp phép;
- Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong Giấy phép thành lập và hoạt động;
- Không duy trì một trong các điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 3 Thông tư 07/2016/TT-BTC;
- Các trường hợp bị đình chỉ theo quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Đối với các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 1 Thông tư 07/2016/TT-BTC, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước căn cứ vào hình thức và mức độ vi phạm để ra quyết định đình chỉ một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán và lưu ký chứng khoán, trong đó nêu rõ thời hạn và phạm vi đình chỉ.
Trong thời gian bị đình chỉ, công ty chứng khoán không được ký mới, gia hạn các hợp đồng có liên quan đến các nghiệp vụ kinh doanh bị đình chỉ hoạt động; phải thực hiện tất toán, chuyển tài khoản theo yêu cầu của khách hàng (nếu có); có phương án khắc phục và báo cáo tình hình thực hiện phương án theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Trường hợp bị đình chỉ hoạt động tự doanh, công ty chứng khoán chỉ được bán, không được tăng thêm các khoản đầu tư kinh doanh, trừ trường hợp buộc phải mua vào để sửa lỗi giao dịch hoặc giao dịch lô lẻ hoặc được hưởng các quyền có liên quan đến chứng khoán đang nắm giữ theo quy định của pháp luật hiện hành.
2.2. Thực trạng các công ty chứng khoán tại Việt Nam trong những năm gần đây Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Ở Việt Nam, 2 Công ty chứng khoán đầu tiên được thành lập năm 1999 là Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) và Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt. Năm 2000, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động với việc vận hành sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM vào ngày 20/7/2000 và giao dịch chứng khoán Hà Nội vào ngày 8/3/2005 (trước đó các Sàn giao dịch chứng khoán hoạt động với mô hình là các Trung tâm Giao dịch chứng khoán và tổ chức dưới hình thức đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước). Đến nay, sau gần 15 năm đi vào hoạt động và phát triển dựa trên các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển Thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 và Chiến lược phát triển thị trường vốn đến 2010 và tầm nhìn 2020, hoạt động của các Công ty chứng khoán đã khá phát triển.
Trong giai đoạn năm 2012, tái cấu trúc Công ty chứng khoán được nêu lên như là nhu cầu tất yếu để chấn chỉnh hoạt động của khối doanh nghiệp này. Số Công ty chứng khoán đã tăng lên theo lẽ tự nhiên khi Thị trường chứng khoán phát triển chắc chắn sẽ phải giảm theo lẽ tự nhiên khi Thị trường chứng khoán khó khăn, tức là để họ tự nguyện sáp nhập, giải thể hay phá sản giống như ngân hàng.
Đến năm 2013, khung pháp lý cho việc ra đời các loại hình quỹ mới như quỹ mở, quỹ đầu tư bất động sản, quỹ hoán đổi danh mục, công ty đầu tư chứng khoán đã được ban hành. Về tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán: Để tạo cơ sở pháp lý cho quá trình tái cấu trúc, Ủy ban chứng khoán nhà nước đã trình Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư an toàn tài chính; Thông tư sửa đổi về tổ chức và hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán. Căn cứ chỉ tiêu an toàn tài chính, Ủy ban chứng khoán nhà nước đã phân loại các Công ty chứng khoán thành 4 nhóm:
- Nhóm 1: Nhóm hoạt động lành mạnh, gồm các công ty có tỷ lệ vốn khả dụng trên 180%
- Nhóm 2: Nhóm hoạt động bình thường gồm các công ty có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 150% tới 180%
- Nhóm 3: Nhóm bị kiểm soát gồm các công ty có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 120% tới 150%
- Nhóm 4: Nhóm bị kiểm soát đặc biệt gồm các công ty hoạt động kinh doanh thua lỗ làm cho tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%
Theo số liệu thống kê của Ủy ban chứng khoán nhà nước, đến năm 2014 có 13/105 Công ty chứng khoán không có hoạt động môi giới chứng khoán. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Kết quả kinh doanh nửa đầu năm 2013 của các Công ty chứng khoán cho thấy sự thận trọng hơn trong chiến lược kinh doanh. Không còn có những trường hợp “lãi khủng” hay “lỗ khủng” trong kỳ như các năm trước. Tại các Công ty chứng khoán tuy không bằng cùng kỳ, nhưng thể hiện sự ổn định. Hết quý 1, tổng lợi nhuận của các Công ty chứng khoán là gần 520 tỉ đồng. Sang quý 2, con số này là 452 tỉ đồng. Tuy nhiên, mặt bằng lợi nhuận giữa các công ty đồng đều. Trong quý 2, không có công ty nào lãi vượt trội, lợi nhuận của tốp 10 các công ty đạt kết quả kinh doanh tốt nhất không chênh lệch đáng kể.
Việc lợi nhuận được phân hóa một cách rõ rệt ở các Công ty chứng khoán lớn và nhỏ như vậy là một lợi thế cho quá trình tái cấu trúc các Công ty chứng khoán. Nhìn vào cơ cấu thị phần hàng quý thì có thể thấy các công ty nhỏ sẽ không còn chỗ đứng trong thời gian tới. Việc thua lỗ kéo dài của các Công ty chứng khoán ảnh hưởng không nhỏ tới nhà đầu tư là khách hàng của những công ty này. Kế hoạch tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán được UBCK Nhà nước khởi động từ năm 2012 nhưng vẫn tiến hành khá chậm chạp.
Trong năm 2013, đặc biệt là thời điểm cuối năm của Thị trường chứng khoán, đã có nhiều tín hiệu đánh dấu sự phục hồi ở nhiều Công ty chứng khoán, niêm yết cũng như đại chúng. Điều này được thể hiện qua con số 53/87 Công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh báo lãi quý 4. Không ít công ty còn lội ngược dòng từ lỗ thành có lãi cả năm 2013 chỉ nhờ lợi nhuận quý 4.
Với nhiều điểm sáng tích cực từ kinh tế vi mô và thanh khoản thị truờng tăng mạnh, hoạt động của các Công ty chứng khoán năm 2014 đã có nhiều khởi sắc với việc ghi nhận sự tăng truởng đột biến về cả doanh thu lẫn lợi nhuận, nhất là ở nhóm các Công ty chứng khoán lớn. Các Công ty chứng khoán top đầu vẫn chiếm phần lớn thị phần môi giới chứng khoán toàn thị truờng. Top 10 Công ty chứng khoán trên HSX năm 2014 chiếm 62,13% tổng thị phần, xấp xỉ mức 62,6% của năm 2013.
- Biểu đồ 1: Doanh thu của 17 công ty chứng khoán lớn trong 6 tháng đầu năm 2014 và 2013
- Biểu đồ 2: Lợi nhuận sau thuế của 17 công ty chứng khoán lớn trong 6 tháng đầu năm 2014 và 2013
Đánh giá chung về tình hình kinh doanh của các Công ty chứng khoán trong năm 2014, chủ tịch Ủy ban chứng khoán nhà nước cho rằng, thị trường diễn biến tích cực, giá trị giao dịch tăng trên 100% so với 2013, nên các Công ty chứng khoán nhờ đó cũng có kết quả kinh doanh tăng mạnh. Đối với một số Công ty chứng khoán nhỏ lãi tăng tới vài chục lần là do mức lãi của các năm trước quá thấp. Thêm vào đó, một số đơn vị có danh mục tự doanh trước đây rất lớn, mua ở thời điểm giá thấp, nên khi thị trường khởi sắc, số chứng khoán trên tăng điểm, các công ty lại giảm trích lập dự phòng và chuyển sang doanh thu nên kết quả đạt được cao. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
- Biều đồ 3: 10 Công ty chứng khoán có doanh thu lớn nhất năm 2014
Năm 2015, theo thống kê của Vietstock, trong số các Công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh năm 2015, có 47 công ty báo lãi và 13 doanh nghiệp bị lỗ.
CTCK Sài Gòn (SSI) dẫn đầu với mức lợi nhuận ròng hơn 966,6 tỉ đồng, tăng 30% so với năm trước đó do nguồn thu chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư chứng khoán, góp vốn và hoạt động khác. Bên cạnh đó, năm qua việc hoàn nhập dự phòng 352 tỉ đồng cũng là một nguyên nhân chính giúp lãi của SSI tăng mạnh.
Đứng thứ hai là Công ty chứng khoán Ngân hàng Kỹ thương với lợi nhuận ròng 416 tỉ đồng, tăng mạnh gần 90% so với năm 2014 nhờ vào các đợt tư vấn phát hành trái phiếu thành công cho một số doanh nghiệp. Đứng thứ ba là Công ty chứng khoán Bản Việt với lợi nhuận ròng đạt 239,5 tỉ đồng, tăng hơn 60% so với năm 2014.
Trong danh sách bị thua lỗ thì Công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp – Phát triển nông thôn (AGR) dẫn đầu với mức lỗ 175,7 tỉ đồng dù năm trước đó vẫn có lãi gần 48 tỉ đồng. Đứng thứ hai là Công ty chứng khoán Đông Á tiếp tục bị thua lỗ trong năm vừa qua với mức 81,5 tỉ đồng (năm 2014 công ty này bị lỗ 118,5 tỉ đồng) và Công ty chứng khoán Kim Long cũng thua lỗ 68 tỉ đồng dù năm 2014 đạt lợi nhuận lên đến 144,7 tỉ đồng…
Theo Ủy ban Chứng khoán nhà nước, tính đến hết năm 2015 còn 81 Công ty chứng khoán hoạt động, giảm hơn 20 công ty so với trước đó.
Theo đánh giá của Ủy ban chứng khoán nhà nước, năm 2015 là một năm đầy biến động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự sụt giảm của nhiều thị trường chứng khoán trọng điểm. Trong bối cảnh đó, Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn duy trì được sự phát triển tương đối ổn định và hấp dẫn dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài dựa trên nền tảng chính trị, kinh tế vĩ mô ổn định với môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện, trở thành điểm sáng nổi bật trong khu vực và nhóm thị trường mới nổi với tăng trưởng của chỉ số VN-Index tăng 6,2 % so với cuối năm 2014. Giá trị vốn hóa thị trường ngày cuối năm đạt 1,14 triệu tỷ đồng, tăng 16,41% so với cuối năm 2014, tương đương 27,3% GDP ước thực hiện năm 2015.
Ngày 15/2/2016, Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh đã vinh danh các công ty chứng khoán tiêu biểu năm 2015 như sau:
- Bảng 1: Top 10 công ty chứng khoán thành viên có thị phần giao dịch môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ lớn nhất trong năm 2015 Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
- Bảng 2: Top 05 công ty chứng khoán thành viên có thị phần giá trị giao dịch môi giới trái phiếu lớn nhất năm 2015
- Bảng 3: Top 05 công ty chứng khoán thành viên tiêu biểu trong việc thực hiện nghiệp vụ tư vấn niêm yết và đấu giá trong năm 2015
- Bảng 4: Công ty chứng khoán thành viên thực hiện nghiệp vụ tư vấn đấu giá cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước điển hình trong năm 2015
- Bảng 5: Công ty chứng khoán thành viên có số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư tăng trưởng tốt nhất trong năm 2015
- Bảng 6: Công ty chứng khoán thành viên có thị phần môi giới tăng trưởng tốt nhất trong năm 2015
Bà Nguyễn Thị Liên Hoa – Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, quy mô thị trường chứng khoán trong năm 2015 tiếp tục tăng trưởng với mức vốn hoá đạt 1.360 nghìn tỷ đồng, tăng 17% so với cuối năm 2014, tương đương 34,5% GDP. Thanh khoản thị trường mặc dù có giảm nhẹ so với năm 2014 nhưng quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên (bao gồm cả cổ phiếu, chứng chỉ quỹ và trái phiếu) vẫn đạt mức khá tốt với 4.932 nghìn tỷ đồng. Thị trường chứng khoán vẫn phát huy vai trò kênh huy động vốn và góp phần tích cực vào tiến trình tái cấu trúc DNNN và cổ phần hoá. Tổng giá trị huy động vốn thông qua đấu thầu trái phiếu, phát hành thêm cổ phiếu… ước đạt 300 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2014. Năm 2015, có 139 doanh nghiệp đã đấu giá trên 2 Sở với giá trị đạt 11.671 tỷ đồng, tăng 40% về số lượng doanh nghiệp và 5% về giá trị thu được so với năm 2014.
Việc tái cấu trúc các Công ty chứng khoán sau 4 năm thực hiện đã thu được kết quả tốt trong việc thu hẹp về số lượng Công ty chứng khoán với chất lượng hoạt động cải thiện rõ rệt. Các công ty ngày càng tập trung hoàn thiện các nghiệp vụ, nâng cao tính chuyên nghiệp, chất lượng và hiệu quả hoạt động, thể hiện cam kết mạnh mẽ của các công ty cùng với cơ quan quản lý hướng đến một Thị trường chứng khoán lành mạnh và minh bạch.
- Tuy nhiên, hoạt động của các Công ty chứng khoán còn những hạn chế như sau:
Số lượng các Công ty chứng khoán không cân xứng với quy mô của thị trường Con số 85 Công ty chứng khoán tính đến hết năm 2015 được xem là quá nhiều so với quy mô, nhu cầu của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Điều này có thể nhận thấy rõ ràng nếu so sánh với một số Thị trường chứng khoán khác trong khu vực. Tổng số tài khoản cá nhân trên Thị trường chứng khoán VN chỉ ở mức khoảng 0,7% dân số hiện tại trong khi Trung Quốc có khoảng trên 100 triệu tài khoản, tương đương với khoảng 8% dân số, nhưng số lượng Công ty chứng khoán cũng chỉ bằng Việt Nam; thị trường chứng khoán Thái Lan với quy mô khoảng 100 tỷ USD, giá trị giao dịch bình quân/phiên khoảng 400 triệu USD nhưng chỉ có gần 40 Công ty chứng khoán; Singapore chỉ có 26 Công ty chứng khoán, Malaysia có 33 Công ty chứng khoán… Số lượng lớn Công ty chứng khoán Việt Nam đang hoạt động nhỏ lẻ cho thấy sự phát triển thiếu chuyên nghiệp và chưa có định hướng dài hạn.
- Năng lực tài chính và quy mô hoạt động còn hạn hẹp Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Theo quy định hiện hành, Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu 300 tỷ đồng nếu muốn có đủ 4 nghiệp vụ kinh doanh là môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên, theo thống kê của Ủy ban chứng khoán nhà nước, trong 4 năm gần đây, số lượng Công ty chứng khoán có quy mô nguồn vốn chủ sở hữu dưới 300 tỷ đồng (tương đương khoảng 15 triệu USD) chiếm khoảng 70% số lượng Công ty chứng khoán trên thị trường. Đặc biệt, số lượng Công ty chứng khoán có vốn điều lệ dưới 50 tỷ đồng (tương đương dưới 2,5 triệu USD) có xu hướng gia tăng qua các năm. Thậm chí, một số Công ty chứng khoán đã xin rút giấy phép hoạt động một số nghiệp vụ nhằm giảm áp lực vốn điều lệ theo quy định. Cụ thể, tính cho đến hết năm 2015, theo danh sách công bố trên hai Sở GDCK, chỉ có 82/85 Công ty chứng khoán là thành viên. Như vậy, có 3 Công ty chứng khoán hiện không cung ứng dịch vụ môi giới chứng khoán là TC Capital Việt Nam, Công ty chứng khoán Hamico và Công ty chứng khoán CIMB-Vinashin. Với quy mô vốn như hiện nay, năng lực tài chính của các Công ty chứng khoán Việt Nam thấp hơn nhiều so với các định chế tài chính khác như NHTM, công ty bảo hiểm, công ty tài chính đang hoạt động trên thị trường.
Bên cạnh đó, mặc dù số lượng Công ty chứng khoán nhiều nhưng mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch chưa rộng khắp, chủ yếu vẫn chỉ tập trung ở những tỉnh, thành phố có kinh tế phát triển.
Theo Điều 3, Quy chế tổ chức và hoạt động Công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định 27/2007/QĐ-BTC, Công ty chứng khoán phải có quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu trong vòng 1 năm, trong đó diện tích sàn giao dịch phục vụ NĐT tối thiểu là 150 m2. Theo Điều 17 Quy chế này, Công ty chứng khoán sẽ bị đình chỉ hoạt động nếu không duy trì các điều kiện trên. Tuy nhiên, có một thực tế là diện tích sàn giao dịch tại nhiều Công ty chứng khoán đang ngày càng hẹp lại. Tại nhiều sàn chứng khoán, diện tích dành cho NĐT được quây lại sao cho vừa đủ chiều rộng của 2 màn máy chiếu bảng điện tử, chiều dài đủ khoảng 4 – 5 hàng ghế, diện tích còn lại để tận dụng cho các hoạt động dịch vụ khác. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dịch vụ cung ứng cho nhà đầu tư Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
- Các chỉ số an toàn tài chính giảm xuống, rủi ro hoạt động tăng cao
Theo số liệu thống kê của Ủy ban chứng khoán nhà nươc, trong 4 năm gần đây, hệ số nợ trung bình của các Công ty chứng khoán được duy trì dưới mức 0,65 hay tỷ lệ nợ phải trả trên nguồn vốn chủ sở hữu được duy trì dưới mức 2:1. Xét tổng thể toàn ngành, hệ số nợ này tương đối an toàn. Tuy nhiên, nếu xét theo nhóm 20 công ty có tổng tài sản lớn nhất có hệ số nợ cao hơn mức trung bình ngành trong khi nhóm 20 công ty có tổng tài sản thấp nhất trên thị trường lại có hệ số nợ khá thấp. Nói cách khác, mức độ an toàn tài chính tổng quát của các công ty lớn có xu hướng thấp hơn các công ty nhỏ. Đồng thời, số lượng Công ty chứng khoán có hệ số nợ cao – trên 0,8 – có xu hướng gia tăng mạnh.
Việc cung cấp đòn bẩy một cách thái quá, trong đó không loại trừ khả năng lạm dụng vốn nhàn rỗi của khách hàng là một trong những nguyên nhân khiến Công ty chứng khoán bị thiếu hụt thanh toán tạm thời. Trong trường hợp bình thường, công ty có thể tìm kiếm nguồn khác để bù đắp, chẳng hạn lấy vốn tự có, vay nóng ngân hàng, thậm chí vay nóng cả bên ngoài để cân đối. Mọi việc sẽ vẫn trơn tru nếu vòng quay này vận hành tốt. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, như danh mục cầm cố không giải phóng được, nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy bị kẹt, nguồn vay ngắn hạn bị ngắt, vòng quay vốn sẽ dừng lại. Trên thực tế là những lý do đó lại thường xảy ra trong bối cảnh khó khăn như hiện tại: Thị trường liên tục xuống dốc, giá trị tài sản cầm cố suy giảm quá nhanh, ngân hàng không dễ dàng cho vay trước áp lực thu hồi nợ… đã đẩy hoạt động của công ty rủi ro hơn rất nhiều, thậm chí có công ty có dấu hiệu mất thanh khoản tạm như Công ty chứng khoán SME. Thực tế này không chỉ nằm ở một hai công ty mà có thể tiềm ẩn ở khá nhiều đơn vị nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các Công ty chứng khoán không được cải thiện trong thời gian tới.
- Nguồn nhân lực còn thiếu và yếu
Lực lượng lao động hành nghề trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán có sự phát triển nhanh cùng với sự phát triển của thị trường, quá trình thiết lập và mở rộng hoạt động của các Công ty chứng khoán. Nhưng đi kèm với tốc độ gia tăng số lượng, chất lượng nguồn nhân lực không được đảm bảo. Tỷ trọng nhân viên Công ty chứng khoán có giấy phép hành nghề mới chỉ chiếm khoảng 55% tổng số nhân viên. Điều đáng chú ý trong thời gian gần đây khi hoạt động kinh doanh của các Công ty chứng khoán trở nên kém hiệu quả, nhiều công ty đã phải cắt giảm đến 15-20% nhân sự. Trong đó, xuất hiện ngày càng mạnh xu hướng rút lui khỏi hoạt động chứng khoán của đội ngũ những người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán, đặc biệt là đội ngũ quản trị, điều hành có trình độ cao. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
- Hạn chế trong các hoạt động kinh doanh chứng khoán
Thứ nhất là trong hoạt động môi giới. Hoạt động môi giới chỉ dừng lại ở mức dộ đơn giản là nhận và truyền lệnh cho các nhà đầu tư, chưa kết hợp nhiều hoạt động tư vấn. Hình thức đặt tên qua điện thoại và Internet còn hạn chế, số lượng nhà đầu tư sử dụng được dịch vụ này còn bị giới hạn do hệ thống thông tin chưa đáp ứng được hết cho tất cả các nhà đầu tư.
Thứ hai là trong hoạt động tự doanh. Các Công ty chứng khoán chưa đảm đương được vai trò bình ổn giá chứng khoán cũng như vai trò nhà tạo lập thị trường. Danh mục đầu tư của các Công ty chứng khoán tuy đã có sự đa dạng song mức độ phân tán rủi ro trong danh mục đầu tư chưa được thiết lập. Các công ty tập trung đầu tư cổ phiếu trong khi số lượng Công ty chứng khoán triển khai tự doanh trái phiếu còn ít.
Thứ ba là trong hoạt động tư vấn tài chính. Tư vấn chỉ mang hình thức cung cấp thông tin, nội dung và hình thức tư vấn còn sơ sài, chưa có nhiều các bài phân tích, đánh giá một cách sâu sắc về hoạt động của tổ chức phát hành hay diễn biến thị trường.Tư vấn hậu cổ phần hóa, hậu niêm yết, M&A chưa được phát triển nhiều.
Thứ tư là trong các hoạt động khác. Hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu chưa niêm yết chưa được phát triển mạnh. Các Công ty chứng khoán chưa tham gia vào việc bình ổn giá chứng khoán sau khi phát hành. Chưa tách bạch giữa các hoạt động có thể làm ảnh hưởng tới lợi ích của khách hàng như dùng tiền của khách hàng tiến hành hoạt động tự doanh. Chất lượng dịch vụ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công chúng đầu tư, đặc biệt là trong vấn đề công bố thông tin, thực hiện lệnh cho khách hàng. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Nhiều công ty chứng khoán vượt rào quy định về mức cho vay tối đa (lên đến 70% giá trị danh mục) đã phát sinh rủi ro cho thị trường, tạo ra sân chơi không công bằng giữa các nhà đầu tư và cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty chứng khoán. Bên cạnh đó, khi thị trường điều chỉnh, thanh khoản sẽ có những thời điểm tăng cao đột ngột sau đó giảm mạnh do dòng tiền ký quỹ chủ yếu mang tính chất ngắn hạn, lướt sóng nên được rút ra rất nhanh, điều này dẫn đến hệ quả chỉ số biến động thất thường, không ổn định. Nhiều mã chứng khoán có thể bị thao túng và làm giá. Đối với công ty chứng khoán, việc đảm bảo an toàn tỷ lệ tài chính cũng như công tác tư vấn đầu tư, giám sát, quản lý tài khoản ký quỹ được đặt lên hàng đầu. Nếu không tuân thủ các quy định liên quan có thể sẽ dẫn đến thua lỗ, mất vốn, gây thiệt hại cho chính công ty.
- Những hạn chế trong hoạt động của Công ty chứng khoán thời gian qua xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Sau hơn 15 năm phát triển, các Công ty chứng khoán đã bộc lộ nhiều yếu điểm. Mặc dù thị trường có những chuyển biến tích cực khi chỉ số VN-Index có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2013 – 2015, tình trạng quá nhiều Công ty chứng khoán thành lập và các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài khiến nhiều công ty lâm vào khó khăn. Đặc biệt trong giai đoạn nước ta tái cấu trúc lại Thị trường chứng khoán nên các chỉ tiêu về tài chính cũng như các yêu cầu về chất lượng được nâng lên cao hơn.
Tác động của khủng hoảng và khó khăn về kinh tế vĩ mô và Thị trường chứng khoán, hoạt động cổ phần hoá, phát hành huy động vốn giảm mạnh, hoạt động của các tổ chức trung gian thị trường gặp nhiều khó khăn.
Công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm còn hạn chế do hệ thống công nghệ thông tin, quy định pháp luật chưa phù hợp, chế tài, thẩm quyền xử lý của cơ quan nhà nước còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ quản lý còn trẻ, nhiều cán bộ mới nên việc xây dựng chính sách, thực hiện nghiệp vụ cũng gặp nhiều khó khăn cần phải có thời gian tích luỹ kinh nghiệm.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
Địa vị pháp lý pháp lý của Công ty chứng khoán theo pháp luật Việt Nam hiện hành đã được học viên nêu cụ thể từ điều kiện thành lập, tổ chức, các hoạt động kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của Công ty chứng khoán, vấn đề chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động đối với Công ty chứng khoán.
Thực trạng hoạt động của các Công ty chứng khoán có những thăng trầm và việc thực hiện tái cấu trúc các Công ty chứng khoán đang được thực hiện nhằm thu hẹp số lượng, nâng cao chất lượng hoạt động qua việc tăng cường năng lực tài chính, quản trị công ty, quản trị rủi ro; củng cố hoạt động; cơ cấu lại tổ chức, nhân sự.
Hoạt động của Công ty chứng khoán trên Thị trường chứng khoán mang tính cạnh tranh với rất nhiều sức ép nên chỉ cần sơ hở ở một điểm nào đó, Công ty chứng khoán sẽ phải trả giá. Khi gặp bất lợi, nếu liên tục đầu tư, giả sử kết quả không được như ý, thì sức ép đối với Công ty chứng khoán càng lớn thêm. Điều này đã đặt ra thử thách lớn cho các Công ty chứng khoán trong quá trình phát triển của mình. Để thúc đẩy sự phát triển của Công ty chứng khoán trên Thị trường chứng khoán ở Việt Nam, cần không ngừng nâng cao tính hiệu quả, tính hoàn thiện và đồng bộ các văn bản pháp luật về chứng khoán nói chung và các quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán nói chung. Đây là nền tảng để học viên đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định và tăng cường thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán. Luận văn: Thực trạng về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp về địa vị pháp lý của công ty chứng khoán

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Địa vị pháp lý của công ty chứng khoán ở Việt Nam