Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại điện tử
GKHĐ là thuật ngữ được Bộ luật Dân sự năm 2015 sử dụng để chỉ việc ký kết hợp đồng. Vì vậy, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử được hiểu là toàn bộ quá trình đàm phán, thương thảo, tạo lập và ký kết hợp đồng thương mại thông qua việc trao đổi dữ liệu điện tử có kết nối mạng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật Giao dịch điện tử năm 2005: “GKHĐ điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình Giao kết hợp đồng”.
Do sử dụng các phương tiện điện tử kết nối mạng để truyền dẫn dữ liệu nên ngoài các nguyên tắc chung khi Giao kết hợp đồng dân sự truyền thống như: Tự do, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội (Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015), thì Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử còn tuân thủ các nguyên tắc riêng biệt. Cụ thể, Điều 35 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định:
- Các bên tham gia có quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết và thực hiện hợp đồng.
- Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật này và pháp luật về hợp đồng.
- Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thoả thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó.”
Nguyên tắc thứ nhất, pháp luật Giao dịch điện tử nói chung và Thương mại điện tử nói riêng không bắt buộc cá nhân, tổ chức kinh doanh phải tiến hành giao dịch điện tử thay cho giao dịch truyền thống. Khi tiến hành giao kết một hợp đồng, các bên được tự nguyện thỏa thuận sử dụng hoăc không sử dụng phương tiện điện tử cho giao dịch của mình. Đồng thời, khi sử dụng phương tiện điện tử, các bên có thể đàm phán để thống nhất lựa chọn một phương thức phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù của mỗi bên [14, tr. 377]. Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Nguyên tắc thứ hai, việc giao kết, thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và pháp luật về hợp đồng. Có thể thấy, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 điều chỉnh tất cả các giao dịch (trong hoạt động của cơ quan nhà nước, trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác) được tiến hành bằng phương tiện điện tử. Như vậy, Luật chỉ điều chỉnh về hình thức điện tử của các giao dịch này, tức là các điều kiện, cách thức để các giao dịch tiến hành bằng phương tiện điện tử được xem là có giá trị pháp lý như các giao dịch tiến hành bằng phương tiện truyền thống. Những vấn đề về nội dung của từng loại giao dịch vẫn do pháp luật chuyên ngành điều chỉnh. Chính vì vậy, khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, ngoài việc phải tuân thủ các nguyên tắc đặc trưng trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005, các bên còn phải tuân thủ các nguyên tắc chung về Giao kết hợp đồng của Bộ luật Dân sự năm 2015, cũng như những quy định khác về hợp đồng trong Luật Thương mại. Luật Giao dịch điện tử chỉ đơn thuần đảm bảo rằng, những giao dịch trước đây phải được tiến hành bằng hình thức giấy tờ thì nay có thể được thực hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.
Nguyên tắc thứ ba, khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng. Xuất phát từ những đặc điểm đặc thù dẫn đến khả năng tiềm ẩn rủi ro khó tránh khỏi khi Giao kết hợp đồng thông qua internet, cũng như từ nguyên tắc cơ bản tự do thỏa thuận trong hợp đồng, nên khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, các bên có toàn quyền thỏa thuận và lựa chọn các phương thức bảo đảm vấn đề an ninh, kỹ thuật, chứng cứ của hợp đồng phù hợp với từng loại giao dịch cũng như điều kiện khả năng khoa học công nghệ của các bên tham gia.
Có thể thấy, khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, các bên vẫn phải tuân thủ và đảm bảo đúng các quy định về tự do thỏa thuận, đàm phán và giao kết trong hợp đồng truyền thống cũng như các nguyên tắc quy định tại Điều 35 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.
2.2. Trình tự giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Không chỉ có sự khác biệt về nguyên tắc giao kết cũng như các chủ thể tham gia hợp đồng, việc Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử cũng phải tuân theo những thủ tục và trình tự nhất định. Về trình tự Giao kết hợp đồng, Điều 36 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Trong Giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị Giao kết hợp đồng và chấp nhận Giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu”. Như vậy, có thể thấy, Luật Giao dịch điện tử quy định rất rõ ràng trình tự Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn đề nghị Giao kết hợp đồng và giai đoạn chấp nhận Giao kết hợp đồng.
2.2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
- Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Khoản 2 Điều 36 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có quy định: “Trong Giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị Giao kết hợp đồng và chấp nhận Giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu”.
Cho đến nay pháp luật Việt Nam cũng chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về đề nghị Giao kết hợp đồng điện tử. Ủy ban về pháp luật thương mại của Liên Hợp Quốc đưa ra định nghĩa về một đơn chào hàng điện tử như sau: “Một thông điệp tạo thành một đơn chào hàng nếu nó bao gồm một đề nghị giao kết một bản hợp đồng được gửi đến một hoặc nhiều người xác định, và cho thấy ý định của người gửi bản chào hàng là được ký kết trong trường hợp một đơn chào hàng được chấp nhận. Một thông điệp được công bố rộng rãi thông qua đường liên lạc điện tử sẽ không cấu thành một đơn chào hàng, trừ khi được nêu rõ trong thông điệp đó là đơn chào hàng”. Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Với Việt Nam, tuy không quy định về khái niệm hoạt động Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử trong Luật Giao dịch điện tử, nhưng với từng trường hợp đã được cụ thể hóa trong các Nghị định hướng dẫn. Theo đó, về đề nghị Giao kết hợp đồng không có bên nhận cụ thể, Điều 12 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị Giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chỉ là thông báo mời đề nghị Giao kết hợp đồng. Thông báo đó chưa được coi là đề nghị Giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ tại thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận”. Việc quy định chỉ cần bên thông báo chỉ rõ trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận vẫn được coi là một đề nghị giao kết như Nghị định số 52/2013/NĐ-CP là một quy định đặc thù, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch Thương mại điện tử nói chung cũng như đảm bảo an toàn cho quá trình giao kết nói riêng.
Khoản 1 Điều 386 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định: “Đề nghị Giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng”. Như vậy, ngoài trường hợp bên nhận được xác định cụ thể còn trường hợp lời đề nghị Giao kết hợp đồng được gửi đến công chúng (không xác định cụ thể được bên nhận). Đây là quy định điều chỉnh Giao kết hợp đồng trong Thương mại điện tử, đảm bảo quy định của luật chung (BLDS) được thống nhất với pháp luật chuyên ngành (Điều 12 Nghị định 52/2013/NĐ-CP).
Ngoài ra, đối với từng lĩnh vực khác nhau, các văn bản pháp luật chuyên ngành lại có quy định cụ thể hóa chi tiết về việc đề nghị Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Như đối với đề nghị Giao kết hợp đồng của khách hàng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website Thương mại điện tử, Điều 15 Mục 2 Chương II Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định về thông báo mời đề nghị Giao kết hợp đồng như sau: “Nếu một website Thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến áp dụng cho từng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể được giới thiệu trên website đó, thì các thông tin giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ và các điều khoản liên quan được coi là thông báo mời đề nghị Giao kết hợp đồng của thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng theo quy định tại Điều 12 Nghị định này”. Trên cơ sở thông báo, lời mời này sẽ hình thành đề nghị Giao kết hợp đồng, là “Chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến được coi là đề nghị Giao kết hợp đồng của khách hàng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ gắn kèm chức năng đặt hàng trực tuyến đó” (Điều 17 Nghị định 52/2013/NĐ-CP).
Ngoài ra, trong lĩnh vực Giao kết hợp đồng qua ứng dụng điện thoại di động, theo Khoản 1 Điều 8 Thông tư số 59/2015/TT-BCT thì việc đề nghị Giao kết hợp đồng sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến qua ứng dụng di động cũng được thực hiện theo quy định chung về đề nghị giao kết tại Mục 2 Chương II Nghị định 52/2013/NĐ-CP. Có thể thấy, về cơ bản Điều 12 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, Mục 2 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Điều 8 Thông tư 59/2015/TT-BCT của Việt Nam quy định khá tương đồng với Công ước về sử dụng Giao dịch điện tử trong hợp đồng quốc tế năm 2005 của Liên hợp quốc. Điều 11 Công ước này quy định “Một đề nghị Giao kết hợp đồng được làm thông qua một hay nhiều Giao dịch điện tử không gửi đến một hay nhiều bên xác định, nhưng nói chung các bên sử dụng hệ thống thông tin đều có thể tiếp cận, bao gồm cả đề nghị sử dụng các ứng dụng tương tác để chào hàng thông qua các hệ thống thông tin đó, được coi là một lời mời đưa ra chào hàng, trừ khi nó chỉ rõ ý định của bên đề nghị muốn ràng buộc trách nhiệm trong trường hợp được chấp nhận” [1, tr.61].
- Thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của một lời đề nghị giao kết có ý nghĩa rất quan trọng đối với hợp đồng nói chung và hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng. Thời điểm có hiệu lực của đề nghị Giao kết hợp đồng có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm mà bên đưa ra đề nghị giao kết phải chịu ràng buộc với đề nghị của mình đồng thời là căn cứ xác định thời hạn có hiệu lực của đề nghị đó. Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Hiện nay, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 không có quy định trực tiếp về thời điểm có hiệu lực của để nghị giao kết mà đề cập thông qua thời điểm gửi và nhận một thông điệp dữ liệu. Chính vì vậy, thời điểm có hiệu lực của một lời đề nghị giao kết của hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng được dẫn chiếu tới các quy định trong Bộ luật Dân sự.
Đề nghị Giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định Giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (Khoản 1 Điều 386 Bộ luật Dân sự 2015). Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hiệu lực của một lời đề nghị Giao kết hợp đồng phát sinh kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó. Trong Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, thời điểm nhận được đề nghị là khi “đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị”. Như vậy, nếu hai bên giao kết sử dụng mạng internet để trao đổi thì thời điểm này sẽ là thời điểm đề nghị Giao kết hợp đồng nhập vào hệ thống mạng của người nhận được đề nghị.
Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng như Nghị định 52 hướng dẫn thi hành đều quy định chi tiết về thời điểm gửi và nhận một thông điệp dữ liệu. Theo đó, Khoản 1 Điều 17 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Thời điểm gửi một thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo”. Đồng thời, Nghị định 52 cũng bổ sung: “Thời điểm gửi một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo. Trong trường hợp chứng từ điện tử không rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo, thời điểm gửi là thời điểm nhận được chứng từ điện tử” (Khoản 1 Điều 10 Nghị định 52). Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Có thể thấy, trong giao dịch Thương mại điện tử, đặc biệt giao dịch qua internet, nếu đường truyền hoạt động bình thường, thì thời điểm gửi và nhận một thông điệp dữ liệu khó có thể xác định chính xác. Có nghĩa là, khi người đề nghị gửi một lời đề nghị giao kết thông qua việc ấn nút “send” trên máy tính khởi tạo, thì gần như ngay lập tức dữ liệu đó đã được chuyển đến hệ thống máy tính của người được đề nghị. Do đó, bên cạnh việc quy định về thời điểm gửi thông điệp dữ liệu, để xác định điểm Giao kết hợp đồng, Luật Giao dịch điện tử còn quy định rất chi tiết về thời điểm nhận thông điệp dữ liệu trong từng trường hợp. Cụ thể, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Trường hợp người nhận đã chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận là thời điểm thông điệp dữ liệu nhập vào hệ thống thông tin được chỉ định; nếu người nhận không chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu đó nhập vào bất kỳ hệ thống thông tin nào của người nhận”.
- Thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Nghị định 52 về Thương mại điện tử có quy định các trường hợp chấm dứt đề nghị Giao kết hợp đồng tại Điều 20. Theo đó,
“1. Trường hợp thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng có công bố thời hạn trả lời đề nghị Giao kết hợp đồng, nếu hết thời hạn này mà khách hàng vẫn không được trả lời thì đề nghị Giao kết hợp đồng của khách hàng chấm dứt hiệu lực. Việc trả lời chấp nhận sau thời hạn này được coi là một đề nghị Giao kết hợp đồng khác từ phía thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng;
2. Trường hợp thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng không công bố rõ thời hạn trả lời đề nghị Giao kết hợp đồng, nếu trong vòng 12 (mười hai) giờ kể từ khi gửi đề nghị Giao kết hợp đồng, khách hàng không nhận được trả lời đề nghị Giao kết hợp đồng thì đề nghị Giao kết hợp đồng của khách hàng được coi là chấm dứt hiệu lực.”
Như vậy, có thể thấy, việc trả lời đề nghị Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử phải được thực hiện trong một thời gian nhất định, nếu không thì đề nghị giao kết đó được xác định là không có giá trị.
Có thể thấy, các quy định về thời hạn trả lời đề nghị Giao kết hợp đồng trong lĩnh vực Thương mại điện tử cũng tương đối phù hợp với quy định về thời hạn có hiệu lực của lời chào hàng trong Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế. Cụ thể, Công ước quy định lời chào hàng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ có hiệu lực trong một thời hạn hợp lý. Trong đó, “thời hạn hợp lý” căn cứ vào khoảng cách giao dịch giữa các bên và phương tiện để chào hàng, nghĩa là khoảng thời gian khi chào hàng bằng thư điện tử sẽ ngắn hơn thư bằng văn bản thông thường. Ngoài ra, Điều 20 của Công ước 1980 còn quy định rất cụ thể về thời hạn này là “…Thời hạn chấp nhận chào hàng do người chào hàng quy định bằng điện thoại, bằng telex hay bằng phương tiện truyền tin tức thời khác, thời gian được tính từ thời điểm chào hàng tới nơi người được chào hàng”.
Trong lĩnh vực Giao kết hợp đồng trên website Thương mại điện tử, Điều 20 Nghị định 52 cũng quy định về chấm dứt đề nghị Giao kết hợp đồng với hai trường hợp sau: Trường hợp thứ nhất, nếu tổ chức, cá nhân bán hàng có công bố thời hạn trả lời đề nghị Giao kết hợp đồng, khi hết thời hạn này mà khách hàng vẫn không được trả lời thì đề nghị Giao kết hợp đồng của khách hàng chấm dứt hiệu lực. Việc trả lời chấp nhận sau thời hạn này được coi là một đề nghị Giao kết hợp đồng mới từ phía thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng. Trường hợp thứ hai, thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng không công bố rõ thời hạn trả lời đề nghị Giao kết hợp đồng, nếu trong vòng 12 (mười hai) giờ kể từ khi gửi đề nghị Giao kết hợp đồng, khách hàng không nhận được trả lời đề nghị Giao kết hợp đồng thì đề nghị Giao kết hợp đồng của khách hàng được coi là chấm dứt hiệu lực. Có thể thấy, về căn bản các quy định này được kế thừa phù hợp với các quy định tại khoản 7 Mục II Thông tư 09/2008/TT-BCT hướng dẫn về cung cấp thông tin và Giao kết hợp đồng trên website Thương mại điện tử trước đây. Chỉ có một điểm thay đổi về hiệu lực của đề nghị giao kết trong trường hợp không có công bố thời hạn trả lời, Nghị định 52/2013/NĐ-CP đã nâng thời hạn từ 08 giờ làm việc như quy định tại Thông tư 09/2008/TT-BCT lên thành 12 giờ làm việc. Đây được coi là sự thay đổi hợp lý, để đảm bảo Giao kết hợp đồng được thuận lợi, tránh các rủi ro khi thực hiện qua hệ thống trả lời tự động.
2.2.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung của đề nghị. Chấp nhận Giao kết hợp đồng thực chất là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc Giao kết hợp đồng với bên đã đề nghị.
Khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, các bên tham gia hợp đồng giao dịch và ký kết hợp đồng với nhau một cách gián tiếp thông qua các phương tiện điện tử có kết nối mạng. Do đó, việc chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng có thể được xác định trong một thời hạn nhất định. Nếu các bên đã ấn định một khoảng thời gian trả lời, thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời gian hạn đó. Nếu các bên không thỏa thuận thời hạn trả lời, thì thời gian trả lời đề nghị Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử sẽ theo quy định của pháp luật trong từng trường hợp cụ thể.
Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định 57/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Giao dịch điện tử trước đây chưa có quy định về chấp nhận đề nghị cũng như thời gian chấp nhận của bên được đề nghị khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, mà chỉ quy định khái quát “chấp nhận Giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu” (Khoản 2 Điều 36 Luật Giao dịch điện tử năm 2005). Tuy nhiên, Điều 19 Nghị định 52/2013/NĐ-CP thay thế Nghị định 57/2006/NĐ-CP đã bổ sung quy định về trả lời chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử như sau: “Trả lời chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng phải được thực hiện dưới hình thức phù hợp để thông tin có thể lưu trữ, in và hiển thị được tại hệ thống thông tin của khách hàng”. Ngoài ra, khi trả lời chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng của khách hàng, thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng phải cung cấp cho khách hàng những thông tin sau: a) Danh sách toàn bộ hàng hóa hoặc dịch vụ khách hàng đặt mua, số lượng, giá của từng sản phẩm và tổng giá trị hợp đồng; b) Thời hạn giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ; c) Thông tin liên hệ để khách hàng có thể hỏi về tình trạng thực hiện hợp đồng khi cần thiết.
Có thể thấy, các quy định này cũng phù hợp và tương đồng với quy định của Thông tư 09/2008/TT-BCT trước đây về Giao kết hợp đồng trên website Thương mại điện tử. Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Theo pháp luật Việt Nam, người được đề nghị có thể chấp nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung đề nghị khi Giao kết hợp đồng (khi người được đề nghị muốn sửa hoặc thay đổi nội dung mà người đề nghị đưa ra). Trong trường hợp chỉ chấp nhận một phần, họ sẽ trở thành người đề nghị mới và người đề nghị trước đó lại trở thành người được đề nghị. Sự hoán đổi có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi các bên thống nhất được với nhau toàn bộ nội dung của hợp đồng và đi đến chính thức Giao kết hợp đồng (Điều 392 Bộ luật Dân sự 2015).
Cũng như đề nghị Giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng cũng có thể được rút lại nếu có sự thỏa thuận với bên còn lại. Theo quy định tại Điều 397 Bộ luật Dân sự năm 2015 “bên được đề nghị Giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận Giao kết hợp đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận Giao kết hợp đồng”. Pháp luật về Giao kết hợp đồng điện tử hiện hành chưa quy định về việc rút lại chấp nhận Giao kết hợp đồng điện tử, nên trường hợp các bên được đề nghị rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết có thể áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, bên được đề nghị Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử có thể rút lại thông báo chấp nhận Giao kết hợp đồng, nếu thông báo đó đến trước hoặc cùng thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết, tức là thông báo đó được nhập vào hệ thống thông tin chính thức của bên đề nghị trước hoặc cùng thời điểm trả lời chấp nhận Giao kết hợp đồng điện tử được nhập vào hệ thống thông tin của bên đề nghị. Tuy nhiên, do việc Giao kết hợp đồng được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử có kết nối internet nên có thể xảy ra trường hợp lỗi mạng,… mà thông báo rút lại chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng điện tử không thể đến trước hoặc cùng thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời. Về vấn đề này, pháp luật Thương mại điện tử cần phải có những quy định rõ ràng và cụ thể hơn.
2.3. Thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Nếu như một hợp đồng soạn thảo dưới hình thức văn bản thường được giao kết bằng cách hai bên trực tiếp gặp gỡ nhau để thương thảo trao đổi các điều khoản bằng các tài liệu giao dịch và ký bằng chữ ký tay, thì đối với Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, các bên giao tiếp với nhau trong môi trường ảo, có vị trí địa lý xa nhau, ở bất kỳ đâu và mọi thời điểm đều có thể truy cập vào mạng để gửi hoặc nhận một thông điệp dữ liệu đề nghị hay chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng. Đề nghị và chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng được tạo ra, gửi đi, nhận và được lưu trữ bằng các phương tiện điện tử, thường không có sự can thiệp trực tiếp của con người; do đó, việc xác định thời điểm và địa điểm Giao kết hợp đồng sẽ trở nên khó khăn hơn so với hợp đồng được giao kết bằng phương thức truyền thống.
2.3.1. Thời điểm giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Thời điểm Giao kết hợp đồng được xác định là dấu mốc quan trọng trong việc phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch, theo đó từ thời điểm này, hợp đồng đã được ký kết và có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên.
Với hợp đồng dân sự truyền thống, theo quy định tại Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết”. Thời điểm Giao kết hợp đồng được xác định là khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận Giao kết hợp đồng. Hợp đồng Thương mại điện tử, là một loại hợp đồng đặc thù nhưng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của hợp đồng dân sự nói chung, chính vì vậy, việc xác định thời điểm Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử cũng tương đồng với quy định tại Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định 57/2006/NĐ-CP về Thương mại điện tử trước đây đều không quy định về thời điểm Giao kết hợp đồng. Vấn đề này bị bỏ ngỏ và chỉ được quy định trực tiếp khi Thông tư 09/2008/TT-BCT hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử về cung cấp và Giao kết hợp đồng trên website Thương mại điện tử được ban hành. Theo đó, thời điểm Giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website Thương mại điện tử là thời điểm khách hàng nhận được trả lời của thương nhân chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng (Khoản 6 Thông tư 09/2008/TT-BCT). Trong đó, khi trả lời chấp nhận Giao kết hợp đồng này, thương nhân phải cung cấp các thông tin về: Danh sách toàn bộ hàng hóa hoặc dịch vụ khách hàng đặt mua, số lượng, giá của từng sản phẩm và tổng giá trị hợp đồng; Thời hạn giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ; Thông tin liên hệ để khách hàng có thể hỏi về tình trạng thực hiện hợp đồng khi cần thiết (Điểm a Khoản 6 Mục II Thông tư 09/2008/TT-BCT). Hiện nay, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử thay thế cho Nghị 57/2006/NĐ-CP và Thông tư 09/2008/NĐ-CP cũng tiếp tục kế thừa và quy định tương tự về vấn đề này (Điều 21 Nghị định 52/2013/NĐ-CP ).
Khoản 2 Điều 36 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định “Trong Giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị Giao kết hợp đồng và chấp nhận Giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu”. Như vậy, xác định thời điểm Giao kết hợp đồng trong lĩnh vực Thương mại điện tử, chính là việc xác định thời điểm gửi và nhận các thông điệp dữ liệu cấu thành nên “lời đề nghị giao kết”. Tiếp theo, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử đã đưa ra những quy định hướng dẫn giúp các bên ký kết hợp đồng Thương mại điện tử có thể xác định rõ ràng thời điểm gửi và nhận các thông điệp dữ liệu này. Cụ thể, Điều 10 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
1. Thời điểm gửi một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo. Trong trường hợp chứng từ điện tử không rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo, thời điểm gửi là thời điểm nhận được chứng từ điện tử.
2. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, thời điểm nhận một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó tới được địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra và có thể truy cập được.
Trong lĩnh vực Thương mại điện tử, do có đặc thù của việc sử dụng các phương tiện điện tử được kết nối internet, nên các nhà làm luật đã xác định thời điểm gửi và nhận các chứng từ điện tử trong hai trường hợp. Trong trường hợp các phương tiện điện tử hoạt động bình thường, thì thời điểm gửi một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó rời khỏi hệ thống thông tin của người khởi tạo hay người đại diện. Trường hợp thứ hai, nếu phương tiện điện tử bị hỏng hóc hoặc đường truyền internet bị gián đoạn, các chứng từ điện tử này sẽ không rời khỏi hệ thống thông tin của người khởi tạo, thì thời điểm gửi là thời điểm nhận được chứng từ điện tử.
Ngoài ra, Nghị định cũng mở rộng quyền tự do thỏa thuận của hai bên giao kết khi lựa chọn thời điểm nhận chứng từ điện tử. Nếu không có thỏa thuận khác, thì theo quy định của pháp luật thời điểm nhận một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ đó đến địa chỉ do người nhận chỉ ra và người đó phải truy cập được. Tuy nhiên, với những quy định này, người giao dịch hợp đồng qua internet cần hết sức lưu ý là nếu các bên không kiểm tra địa chỉ điện tử để kịp thời biết về việc chứng từ điện tử đã tới địa chỉ điện tử của mình vì vẫn bị coi là đã nhận được.
Trong lĩnh vực Thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động, theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư 59/2015/TT-BCT thì việc Giao kết hợp đồng được thực hiện tương tự các quy định tại Mục 2 Chương II Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử. Như vậy, thời điểm Giao kết hợp đồng qua ứng dụng trên thiết bị di động cũng được xác định theo thời điểm gửi và nhận chứng từ điện tử tại quy định tại Điều 10 Nghị định 52/2013/NĐ-CP.
2.3.2. Địa điểm giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Cũng như thời điểm Giao kết hợp đồng, việc xác định địa điểm Giao kết hợp đồng cũng có ý nghĩa quan trọng trong Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Địa điểm Giao kết hợp đồng là một trong những căn cứ để xác định thẩm quyền của cơ quan tài phán hoặc chọn luật điều chỉnh trong hợp đồng quốc tế.
Theo quy định tại Điều 399 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định địa điểm Giao kết hợp đồng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì địa điểm Giao kết hợp đồng sẽ là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị Giao kết hợp đồng.
Tuy nhiên riêng trong lĩnh vực Thương mại điện tử, hợp đồng được thiết lập trên cơ sở các thông điệp dữ liệu, được tạo trong môi trường kỹ thuật số kết nối mạng internet nên không như hợp đồng truyền thống, các bên có thể Giao kết hợp đồng từ bất kỳ đâu chứ không chỉ ở nơi cư trú cá nhân hoặc trụ sở của tổ chức. Đây chính là điểm khác biệt đặc thù khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Chính vì vậy, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định hướng dẫn đã quy định chi tiết về vấn đề này.
Theo đó, Khoản 2 Điều 17 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cá nhân. Trường hợp người khởi tạo có nhiều trụ sở thì địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch”. Địa điểm nhận thông điệp dữ liệu (quy định tại Khoản 2 Điều 19) là trụ sở của người nhận nếu người nhận là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú thường xuyên của người nhận nếu người nhận là cá nhân. Trường hợp người nhận có nhiều trụ sở thì địa điểm nhận thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch.
Bên cạnh đó, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử cũng đưa ra thuật ngữ mới về địa điểm kinh doanh “là cơ sở cố định để tiến hành hoạt động kinh doanh, không bao gồm cơ sở cung cấp tạm thời hàng hóa hay dịch vụ” (Khoản 7 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP). Theo đó, địa điểm gửi và nhận chứng từ điện tử cũng là địa điểm Giao kết hợp đồng cũng được xác định thông qua địa điểm kinh doanh của các bên (Khoản 3 Điều 10 Nghị định 52/2013/NĐ-CP ). Đồng thời, Điều 11 Nghị định cũng quy định địa điểm kinh doanh của các bên trong từng trường hợp như sau:
- Địa điểm kinh doanh của mỗi bên là địa điểm do bên đó chỉ ra, trừ khi bên khác nêu rõ bên đó không có địa điểm kinh doanh tại địa điểm này. Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
- Trong trường hợp một bên có nhiều địa điểm kinh doanh nhưng không chỉ ra địa điểm kinh doanh nào thì địa điểm kinh doanh là địa điểm có mối quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng liên quan xét tới mọi bối cảnh trước và tại thời điểm Giao kết hợp đồng.
- Trong trường hợp một cá nhân không có địa điểm kinh doanh thì địa điểm kinh doanh là nơi đăng ký thường trú của cá nhân đó.
- Một địa điểm không được coi là địa điểm kinh doanh nếu địa điểm đó chỉ là nơi đặt máy móc, thiết bị công nghệ của hệ thống thông tin do một bên sử dụng để Giao kết hợp đồng hoặc chỉ là nơi các bên khác có thể truy cập hệ thống thông tin đó.
- Một địa danh gắn với tên miền hay địa chỉ thư điện tử của một bên không nhất thiết liên quan tới địa điểm kinh doanh của bên đó.
Đây là những quy định hết những cần thiết và hợp lý, bởi khác với hợp đồng truyền thống, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử có thể được thực hiện ở bất kì đâu tại mọi quốc gia. Chỉ cần một chiếc máy tính có kết nối internet là một thương nhân có thể giao kết hàng trăm hợp đồng ở các quốc gia khác nhau. Vì vậy, trường hợp sai lệch hoặc thậm chí là “giả mạo” địa điểm giao kết để lừa đảo khi Giao kết hợp đồng thương mại là hoàn toàn có thể xảy ra. Do đó, các quy định về xác điểm địa điểm có mối quan hệ gắn bó nhất với thương nhân kinh doanh là rất cần thiết trong lĩnh vực Thương mại điện tử.
2.4. Hình thức của hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Hình thức của hợp đồng được hiểu là sự thể hiện nội dung của hợp đồng và những thủ tục mà pháp luật quy định bắt buộc các bên giao kết hợp đồng phải thực hiện khi tiến hành ký kết hợp đồng. Đối với hợp đồng Thương mại điện tử thì nó được thiết lập thông qua việc trao đổi thông điệp dữ liệu. Hợp đồng Thương mại điện tử không sử dụng bằng lời nói, bằng hành vi hay bằng văn bản như hợp đồng truyền thống mà nó được soạn thảo và gửi qua thư điện tử hoặc là hợp đồng “nhấn nút đồng ý” qua các trang web bán háng, theo đó người mua nhấn vào nút tôi đồng ý thì hợp đồng sẽ được giao kết ngay. Vấn đề khó khăn khi giao kết hợp đồng Thương mại điện tử là liệu các điều khoản mà các bên đã ký với nhau có được đảm bảo thực hiện đúng hay không? Nó có giá trị pháp lý hay không?
Trên thương trường, bất kể hoạt động kinh doanh nào của bạn với đối tác bên ngoài cũng đều được thể hiện thông qua hợp đồng. Đây chính là ràng buộc pháp lý về nghĩa vụ của các bên trong kinh doanh. Khá nhiều các tranh chấp kinh doanh ngày nay đều xuất phát từ những bất cập của hợp đồng. Nhiều công ty, tập đoàn lớn trên toàn thế giới đã tổ chức bộ phận pháp lý riêng để xem xét, đánh giá và tư vấn cho mình trước khi ký kết các hợp đồng. Nhiều chuyên gia kinh tế từng đặt câu hỏi: Đâu là yếu tố quan trọng nhất của một thương vụ làm ăn? Phần lớn câu trả lời nhận được là tính chặt chẽ và hình thức của hợp đồng.
- Một số cách biểu hiện của hình thức hợp đồng Thương mại điện tử như:
Hình thức trao đổi dữ liệu điện tử: trao đổi dữ liệu điện tử là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc”. Có cấu trúc có nghĩa là các thông tin trao đổi được các đối tác thỏa thuận với nhau sẽ tuân thủ một khuôn dạng nào đó từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hoặc các đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau. Theo cách này sẽ tự động hoàn toàn không cần có sự can thiệp của con người. Theo Ủy ban của Liên hợp quốc tế về Luật thương mại quốc tế, việc trao đổi dữ liệu được xác định như sau: “trao đổi dữ liệu điện tử là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin”.
Hình thức thanh toán điện tử: Một trong những dạng của hình thức hợp đồng Thương mại điện tử là hình thức thanh toán điện tử. Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua bản tin điện tử thay cho việc dùng tiền mặt. Ngày nay với sự phát triển của Thương mại điện tử, thanh toán điện tử đã được mở rộng và được thanh toán dưới các hình thức khác nhau như: tiền mặt Internet, túi tiền điện tử hay còn gọi là ví điện tử, giao dịch ngân hàng số hóa, giao dịch chứng khoán số hóa.
Hình thức thư điện tử: Hình thức phổ biến của hợp đồng điện tử là thư điện tử. Luật giao dịch điện tử Việt Nam 2005 quy định “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu” (Điều 33). Điều 10 của Luật này giải thích rõ “Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax” Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax.”Các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước… sử dụng thư điện tử để gửi cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư điện tử (viết tắc là e-mail). Thông tin trong thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúc định trước nào
2.5. Các biện pháp bảo đảm an toàn khi giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
2.5.1. Sử dụng chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử
Do tạo thành từ các thông điệp dữ liệu bằng các phương tiện điện tử có kết nối internet trong môi trường ảo nên hợp đồng Thương mại điện tử phải sử dụng một loại chữ ký mới để xác nhận sự đồng thuận của các bên. Chữ ký đó được gọi là “chữ ký điện tử”.
Theo Khoản 1 Điều 21 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 của Việt Nam, “chữ ký điện tử là chữ ký được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách logic với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký”.
Quy định này được xây dựng dựa trên Điều 7 của Luật mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL với mục đích đưa ra các tiêu chuẩn về mặt chức năng mà chữ ký điện tử cần phải đáp ứng để được công nhận tương đương về mặt pháp lý như chữ ký tay thông thường. Một chữ ký điện tử có hai chức năng cơ bản bao gồm: Chỉ ra sự liên quan của người ký và chỉ ra sự chấp thuận của người ký đối với nội dung văn bản được ký.
Pháp luật hiện hành cũng quy định các điều kiện đảm bảo an toàn cho một chữ ký điện tử. Điều 22 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Chữ ký điện tử được xem là bảo đảm an toàn nếu được kiểm chứng bằng một quy trình kiểm tra an toàn do các bên giao dịch thỏa thuận và đáp ứng được các điều kiện sau đây:
- Dữ liệu tạo chữ ký điện tử chỉ gắn duy nhất với người ký trong bối cảnh dữ liệu đó được sử dụng;
- Dữ liệu tạo chữ ký điện tử chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký;
- Mọi thay đổi đối với chữ ký điện tử sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện;
- Mọi thay đổi đối với nội dung của thông điệp dữ liệu sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện.
- Chữ ký điện tử đã được tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử chứng thực được xem là bảo đảm các điều kiện an toàn quy định tại Khoản 1 Điều này”.
Bên cạnh đó, giá trị pháp lý cũng như mức độ an toàn của một chữ ký điện tử đến đâu lại phụ thuộc vào quy định của pháp luật cũng như công nghệ khởi tạo, truyền nhận chữ ký điện tử trong từng trường hợp. Tương tự như chữ ký tay truyền thống, chữ ký điện tử cũng gồm nhiều loại mới mức độ tin cậy khác nhau như chữ ký điện tử thông thường, chữ ký điện tử được chứng thực bởi tổ chức không có đăng ký và chữ ký điện tử được chứng thực bởi tổ chức có đăng ký. Có thể thấy, trong số các chữ ký điện tử được liệt kê tại khoản 1 Điều 21 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thì chữ ký số (digital signture) là loại chữ ký điện tử được sử dụng rộng rãi và an toàn nhất trên thế giới hiện nay.
Sau khi Luật Giao dịch điện tử ra đời, các nhà làm luật đã ban hành riêng Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ban hành ngày 15/02/2007 quy định chi tiết về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số. Trong đó, theo khoản 4 Điều 3 Nghị định 26/2007/NĐ-CP, chữ ký số là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một số thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, theo đó người có được thông điệp dữ liệu ban đầu và khóa công khai của người ký có thể xác định được chính xác: Việc biến đổi nêu trên được tạo ra bằng đúng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai trong cùng một cặp khóa; và sự toàn vẹn nội dung của thông điệp dữ liệu kể từ khi thực hiện việc biến đổi nêu trên.
Ngoài ra Nghị định 26/2007/NĐ-CP, đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 106/2011/NĐ-CP ngày 23/11/2011 cũng quy định chi tiết về giá trị pháp lý cũng như những điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký điện tử. Cụ thể, Điều 9 quy định, chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khoá công khai ghi trên chứng thư số có hiệu lực đó. Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
- Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai ghi trên chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số chuyên dùng hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài được công nhận tại Việt Nam cấp.
- Khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký.
- Khóa bí mật và nội dung thông điệp dữ liệu chỉ gắn duy nhất với người ký khi người đó ký số thông điệp dữ liệu”.
Có thể thấy, chữ ký số và hoạt động chứng thực chữ ký số là công nghệ phổ biến hiện nay có khả năng chống đỡ có hiệu qua những hành vi bất hợp pháp như xem trộm, giả mạo, hay mạo danh… và đảm bảo sự tin cậy giữa các bên. Cụ thể công nghệ này cho phép:
- Mã hóa và giải mã dữ liệu: cho phép hai đối tác giao dịch với nhau trên mạng có thể che giấu thông tin cá nhân. Người gửi mã hóa các thông tin trước khi gửi đi, người nhận sẽ giải mã các thông tin này trước khi đọc. Do đó, các thông tin sẽ không bị lộ trong quá trình truyền.
- Chống lại sự giả mạo: cho phép người nhận có thể kiểm tra thông tin có bị thay đổi hay không. Bất kỳ một sự thay đổi hay thay thế nội dung của thông tin gốc đều bị phát hiện.
- Xác thực: cho phép người nhận có thể xác định danh tính của người gửi.
- Không thể chối cãi: người gửi không thể chối cãi việc gửi thông tin.
Ngoài ra, về mặt quản lý nhà nước, Nghị định 26/2007/NĐ-CP và sau này là Nghị định 106/2011/NĐ-CP, Nghị định 170/2013/NĐ-CP quy định chi tiết các điều kiện, thủ tục cấp phép hoạt động chứng thực chữ ký số cho từng tổ chức cung cấp, dịch vụ. Cụ thể, tại Chương III Nghị định 26/2007/NĐ-CP quy định cấp phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, trong đó quy định tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số được cung cấp dịch vụ cho công cộng khi đáp ứng các điều kiện sau: 1. Có giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng do Bộ Bưu chính, Viễn thông cấp; 2. Có chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia cấp (Điều 13). Đồng thời Điều 15 cũng quy định hàng loạt điều kiện để được cấp phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng: về chủ thể, về điều kiện tài chính, điều kiện nhân sự, điều kiện kỹ thuật, và các điều kiện khác về cơ sở hạ tầng và quy chế chứng thực…. Có thể thấy, một số quy định rất khắt khe để đảm bảo năng lực của tổ chức chứng thực như về điều kiện tài chính phải “Ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam hoặc có giấy bảo lãnh của một ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam không dưới 5 (năm) tỷ đồng, hoặc cam kết mua bảo hiểm để giải quyết các rủi ro và các khoản đền bù có thể xảy ra trong quá trình cung cấp dịch vụ và thanh toán chi phí tiếp nhận và duy trì cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi giấy phép”, hay điều kiện về kỹ thuật như: “a)Thiết lập hệ thống thiết bị kỹ thuật đảm bảo các yêu cầu Lưu trữ đầy đủ, chính xác và cập nhật thông tin của thuê bao phục vụ cho việc cấp chứng thư số trong suốt thời gian chứng thư số có hiệu lực; Đảm bảo tạo cặp khoá chỉ cho phép mỗi cặp khoá được tạo ra ngẫu nhiên và đúng một lần duy nhất; có tính năng đảm bảo khoá bí mật không bị phát hiện khi có khoá công khai tương ứng; Lưu trữ đầy đủ, chính xác, cập nhật danh sách các chứng thư số có hiệu lực và đã hết hiệu lực và cho phép người sử dụng internet truy nhập trực tuyến 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần; Có khả năng phát hiện, cảnh báo và ngăn chặn mọi truy nhập bất hợp pháp, các hình thức tấn công trên môi trường mạng và tuân theo những tiêu chuẩn đảm bảo an ninh thông tin; Được thiết kế theo xu hướng giảm thiểu tối đa sự tiếp xúc trực tiếp với môi trường internet; Hệ thống phân phối khóa cho thuê bao phải đảm bảo sự toàn vẹn và bảo mật của cặp khoá. Trong trường hợp phân phối khoá thông qua môi trường mạng máy tính thì hệ thống phân phối khoá phải sử dụng các giao thức bảo mật đảm bảo không lộ thông tin trên đường truyền; b) Có phương án kỹ thuật và phương án kinh doanh khả thi, phù hợp với các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng; c) Có các phương án kiểm soát sự ra vào trụ sở, quyền truy nhập hệ thống, quyền ra vào nơi đặt thiết bị phục vụ việc cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số; d) Có các phương án dự phòng đảm bảo duy trì hoạt động an toàn, liên tục và khắc phục khi có sự cố xảy ra; đ) Toàn bộ hệ thống thiết bị sử dụng để cung cấp dịch vụ đặt tại Việt Nam” (Điều 15 Nghị định 26/2007/NĐ-CP).
Ngoài ra, Nghị định còn quy định rất chi tiết về các yêu cầu về hồ sơ xin cấp phép và giao trực tiếp cho Bộ Bưu chính, Viễn thông chủ trì, phối hợp với các bộ ngành có liên quan thẩm định (Điều 17 Nghị định 26/2007/NĐ-CP ). Nghị định cũng quy định tổ chức cung cấp chứng thực chữ ký số công cộng bị tạm đình chỉ giấy phép hoạt động khi “Cung cấp dịch vụ sai với nội dung ghi trên giấy phép; Không đáp ứng được một trong các điều kiện về cấp phép trong quá trình hoạt động cung cấp dịch vụ; và Các điều kiện khác theo quy định của pháp luật”; Bị thu hồi giấy phép hoạt động khi “Không triển khai cung cấp dịch vụ trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp phép mà không có lý do chính đáng; Bị giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật có liên quan; Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cho công cộng đã hết hạn; Không khắc phục được các điều kiện tạm đình chỉ quy định tại khoản 1 Điều này sau thời hạn tạm dừng ấn định bởi cơ quan nhà nước” (Khoản 1, Khoản 2 Điều 20 Nghị định 26/2007/NĐ-CP). Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Như vậy, với những quy định rất chặt chẽ cả về điều kiện kỹ thuật và đảm bảo an toàn của chữ ký điện tử cũng như các quy định thủ tục quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực chữ ký số của các tổ chức cung cấp dịch vụ có thể khẳng định chữ ký số và hoạt động chứng thực chữ ký số là một trong những biện pháp hàng đầu để đảm bảo an toàn cho các bên khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Thương mại điện tử chưa quy định cụ thể về chữ ký điện tử đối với các thương nhân nước ngoài. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chỉ có một điều khoản duy nhất quy định về thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài là tại Khoản 1 Điều 27: “Nhà nước công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài nếu chữ ký điện tử hoặc chứng thư điện tử đó có độ tin cậy tương đương với độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử theo quy định của pháp luật. Việc xác định mức độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài phải căn cứ vào các tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các yếu tố có liên quan khác”.
Vậy làm thế nào để xác định một chữ ký điện tử nước ngoài là có độ tin cậy tương đương với chữ ký điện tử thông thường theo quy định của pháp luật Việt Nam? Hiện cũng chưa có một văn bản nào thừa nhận những tiêu chuẩn quốc tế, hay các điều ước quốc tế nào mà Việt Nam là thành viên để xác định độ tin cậy của một chữ ký điện tử nước ngoài. Khoản 2 Điều 27 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng quy định “Chính phủ quy định cụ thể về việc thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài” nhưng cho đến nay, sau hơn 10 năm từ khi Luật Giao dịch điện tử ra đời vẫn chưa có một văn bản nào của Chính phủ quy định cụ thể về vấn đề này.
Có thể thấy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn cầu hóa sâu rộng như hiện nay, vấn đề Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử với người nước ngoài cần đặc biệt quan tâm. Chính phủ không những cần thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, chứng thư điện tử nước ngoài mà còn cần quy định chi tiết về lời đề nghị, chấp nhận giao kết, hiệu lực hợp đồng cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt Nam với các thương nhân nước ngoài.
2.5.2. Thủ tục thông báo, đăng ký hoạt động thương mại điện tử và công khai thông tin trên cổng thông tin quản lý hoạt động thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
- Thủ tục thông báo đăng ký hoạt động Thương mại điện tử
Do những khác biệt đặc thù so với hợp đồng truyền thống cũng như sự phát triển mới mẻ của hoạt động Thương mại điện tử ở Việt Nam nên các quy định về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này được đặc biệt quan tâm. Ngay từ khi xây dựng Luật Giao dịch điện tử năm 2005, các nhà làm luật đã dành hẳn một chương để quy định về vấn đề an ninh, an toàn, bảo vệ và bảo mật trong Giao dịch điện tử. Và sau đó, vấn đề này tiếp tục được quy định chi tiết trong các nghị định, thông tư hướng dẫn từng lĩnh vực Thương mại điện tử chuyên ngành.
Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đã quy định các vấn đề an ninh, an toàn, bảo vệ, mật trong Giao dịch điện tử tại Chương IV, trong đó trên cơ sở quyền tự do thỏa thuận, các bên có quyền lựa chọn các biện pháp đảm bảo an toàn phù hợp (Điều 44, 46 Luật Giao dịch điện tử năm 2005). Luật yêu cầu các cơ quan tổ chức cá nhân không được tiến hành bất cứ hành vi nào nhằm cản trở hoặc gây phương hại đến việc bảo đảm an ninh, an toàn trong Giao dịch điện tử.
Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử đã quy định chi tiết vấn đề đảm bảo an toàn giao dịch trong từng lĩnh vực cụ thể. Trong hoạt động bán hàng trên website Thương mại điện tử, Nghị định yêu cầu các bên sở hữu website phải thông báo với Bộ Công Thương về việc thiết lập và thực hiện cung cấp thông tin đầy đủ trên website cũng như nghĩa vụ bảo vệ thông tin cá nhân khách hàng (Điều 27 Nghị định 52/2013/NĐ-CP).
Ngoài ra, tại Mục 3 Chương IV Nghị định 52 – hoạt động của website khuyến mãi trực tuyến, Mục 4 hoạt động website đấu giá trực tuyến cũng quy định trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến mãi trực tuyến; cung cấp dịch vụ đấu giá trực tuyến bao gồm cả thủ tục đăng ký tại Điều 41 và Điều 46.
- Công khai thông tin trên Cổng thông tin quản lý hoạt động Thương mại điện tử
Việc công khai thông tin trên Cổng thông tin quản lý hoạt động Thương mại điện tử của Bộ Công thương lần đầu tiên được đề cập tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử. Theo đó, Nghị định yêu cầu website Thương mại điện tử bán hàng bắt buộc phải thực hiện công khai thông tin đăng ký (Điều 59 Nghị định 52/2013/NĐ-CP ). Đồng thời, Nghị định cũng quy định về Cổng thông tin quản lý hoạt động Thương mại điện tử tại Mục 4 Chương IV với 04 điều bao gồm: Điều 64 về Chức năng của Công thông tin quản lý hoạt động Thương mại điện tử, Điều 65 Danh sách các website Thương mại điện tử đã thực hiện thủ tục thông báo và đăng ký, Điều 66 Danh sách các thương nhân, tổ chức đánh giá tín nhiệm website Thương mại điện tử và Điều 67 Danh sách các website Thương mại điện tử khuyến cáo người tiêu dùng thận trọng. Đặc biệt với việc công bố các website Thương mại điện tử có dấu hiệu vi phạm, khoản 2 Điều 67 Nghị định 52 đã ghi rõ “Bộ Công Thương quy định chi tiết về cơ chế tiếp nhận, công bố thông tin phản ánh của tổ chức, cá nhân về các website Thương mại điện tử quy định tại Khoản 1 Điều này”. Đồng thời, Bộ Công Thương cũng ban hành Thông tư 12/2013/TT-BCT và sau này là Thông tư 47/2014/TT-BCT quy định về quản lý website Thương mại điện tử. Thông tư quy định việc công bố thông tin phản ánh đối với một website Thương mại điện tử trên Cổng thông tin Quản lý hoạt động Thương mại điện tử (Khoản 4 Điều 31) được thực hiện qua các bước sau: Website Thương mại điện tử có trên 5 (năm) ý kiến phản ánh từ các tổ chức, cá nhân khác nhau về một hoặc nhiều hành vi nêu tại Khoản 1 Điều này sẽ nhận được thông báo của Bộ Công Thương yêu cầu giải trình về những ý kiến phản ánh nói trên. Sau thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải trình của Bộ Công Thương, nếu thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website Thương mại điện tử không phản hồi hoặc không giải trình được về các ý kiến phản ánh, thì website đó sẽ bị đưa vào danh sách website Thương mại điện tử bị phản ánh về việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Việc khai báo phản ánh thông tin sẽ được kiểm tra rà soát song song với sự giải trình thỏa đáng của doanh nghiệp sở hữu website Thương mại điện tử. Như vậy, quy định này giúp hạn chế tối đa việc các đối thủ lợi dụng để hạ thấp uy tín nhằm cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo quy trình công khai thông trên Công thông tin điện tử được minh bạch và chính xác nhất [33]. Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
Ngày 31/12/2015 Bộ Công thương tiếp tục ban hành Thông tư 59/2015/TT-BCT quy định về quản lý hoạt động Thương mại điện tử qua ứng dụng di động. Thông tư cũng quy định về hoạt động công bố thông tin trên Cổng thông tin quản lý hoạt động Thương mại điện tử tại Chương III, bao gồm việc Công bố danh sách các ứng dụng di động vi phạm quy định của pháp luật (Điều 21) và Tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh về ứng dụng di động có dấu hiệu vi phạm này (Điều 22).
Kết luận Chương 2
- Từ việc nghiên cứu thực trạng pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, có thể rút ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử cũng như giao kết trong hợp đồng thương mại nói chung đều dựa trên các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự và bao gồm hai quá trình đề nghị giao kết và chấp nhận Giao kết hợp đồng. Quá trình Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử được quy định trong Luật Giao dịch điện tử cũng như trong từng Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành ở mỗi lĩnh vực cụ thể.
Thứ hai, do giao kết bằng phương tiện điện tử kết nối mạng nên quá trình đề nghị hay chấp nhận Giao kết hợp đồng cũng có những điểm khác biệt so với hợp đồng thông thường. Cụ thể, những vấn đề có thể dễ dàng xác định trong hợp đồng truyền thống như thời điểm, địa điểm Giao kết hợp đồng, chữ ký, chứng cứ chứng minh, bản gốc hợp đồng…lại trở nên đặc biệt phức tạp trong hợp đồng Thương mại điện tử.
Chính những khác biệt này, nên Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể chi tiết để các doanh nghiệp có cơ sở áp dụng thống nhất và đầy đủ nhất.
Thứ ba, về cơ bản Luật Giao dịch điện tử, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử cũng các văn bản dưới luật khác có liên quan đã quy định tương đối đầy đủ về khung pháp luật Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Từ các quy định cơ bản như việc thừa nhận giá trị pháp lý tương đương của hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử, giá trị của chữ ký số, đến những quy định chi tiết về thời điểm, địa điểm Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như bảo mật thông tin cá nhân… đều được luật hóa khá đầy đủ.
Thứ tư, bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian qua, thì khung pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử cũng còn tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định đòi hỏi cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện. Chẳng hạn như vấn đề Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử với các thương nhân nước ngoài, vấn đề giải quyết tranh chấp về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, vấn đề công bố thông tin trên Cổng thông tin điện tử… Đây là những vấn đề nếu không được giải quyết kịp thời có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng cũng như hoạt động thương mại nói chung. Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử