Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Những tiến bộ to lớn về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin trong những thập niên cuối của thế kỷ XX đã tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển kinh tế – xã hội toàn cầu. Trên nền tảng đó, một phương thức thương mại mới đã ra đời và phát triển nhanh chóng, đó là Thương mại điện tử. Ngày nay, việc kinh doanh Thương mại điện tử thay thế phương thức truyền thống đang dần trở nên phổ biến. Thương mại điện tử đã và đang giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có những bước tiến mới trong quá trình hoạt động sản xuất như tiết kiệm chi phí tìm hiểu đối tác, giao dịch và ký kết hợp đồng, mở rộng thị trường tới rất nhiều khu vực trên thế giới mà không mất quá nhiều chi phí và nhân lực…

Quan hệ hợp đồng Thương mại điện tử có nhiều đặc điểm khác biệt so với các hợp đồng được thiết lập theo các phương thức thông thường khác, từ đó, một khuôn khổ pháp lý về hợp đồng Thương mại điện tử đã được hình thành. Ngày nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh các đạo luật về hợp đồng truyền thống, các nhà lập pháp còn sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh những quan hệ hợp đồng thương mại được giao kết bằng phương tiện điện tử.

Kể từ năm 2005 cho đến nay, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc tạo dựng cơ sở pháp lý cơ bản cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử nói chung và hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng. Khởi đầu là việc ban hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005, đồng thời Chính phủ và các bộ, ban, ngành cũng ban hành rất nhiều những văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành như Nghị định 52/2013/NĐ-CP ban hành ngày 16/05/2013 của Chính phủ về Thương mại điện tử (sau đây gọi tắt là NĐ 52), Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ban hành ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số, Thông tư số 59/2015/TT-BCT ban hành ngày 31/12/2015 của Bộ Công thương quy định về quản lý hoạt động Thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động… Tuy nhiên, khung pháp lý về hợp đồng Thương mại điện tử, đặc biệt là hoạt động giao kết hợp đồng Thương mại điện tử vẫn còn nhiều điểm hạn chế, bất cập. Mặt khác, việc giao kết sử dụng phương tiện điện tử, luôn có sự thay đổi và phát triển nhanh chóng của yếu tố khoa học công nghệ, nên có nhiều vấn đề pháp lý đang và sẽ tiếp tục phát sinh tác động tới mô hình pháp luật điều chỉnh quan hệ giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu để ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhằm nâng cao hiệu quả của các hợp đồng thương mại giao kết qua phương tiện điện tử.

Bên cạnh đó, bối cảnh khi đất nước ta đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, đặc biệt khi Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập và Việt Nam chính thức ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đã đặt ra những thách thức và yêu cầu với Việt Nam về việc thực thi các cam kết của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các hiệp định thương mại song phương và đa phương về Thương mại điện tử nói chung và giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng.

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu chuyên sâu những đặc điểm riêng, những yêu cầu, đòi hỏi về mặt pháp lý cũng như thực trạng các quy định hiện hành về hoạt động giao kết hợp đồng Thương mại điện tử để từ đó đề xuất ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về lĩnh vực này là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình.

2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Hợp đồng thương mại điện tử nói chung hay giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng là những vấn đề pháp lý còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu về khung pháp luật trong lĩnh vực này còn khá hạn chế. Chủ yếu, các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu về pháp luật đối với hợp đồng điện tử nói chung, mà chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Cụ thể, một số bài báo, tạp chí, sách về hợp đồng điện tử có thể kể đến là:

Một số cuốn sách tiêu biểu nghiên cứu về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử:

  • Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử, Nguyễn Thị Mơ, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội, 2006.
  • Hợp đồng điện tử theo pháp luật Việt Nam, TS. Trần Văn Biên, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2012.
  • Pháp luật về hợp đồng thương mại và đầu tư – những vấn đề pháp lý cơ bản, Nguyễn Thị Dung và đồng tác giả, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

Ngoài ra, còn một số bài tạp chí của TS. Trần Văn Biên nghiên cứu về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử như:

  • Những vấn đề pháp lý về giao kết hợp đồng điện tử, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, số 01/2007.
  • Pháp luật hợp đồng điện tử, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, số 20/2010.
  • Về khái niệm hợp đồng điện tử, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và pháp luật, số 08/2010.
  • Đặc điểm hợp đồng điện tử, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và pháp luật, số 05/2012.
  • Chữ ký điện tử trong giao kết hợp đồng điện tử, Tạp chí Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, số 06/2012.

Như vậy, có thể thấy, hiện nay, các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung về pháp luật hợp đồng điện tử hay hợp đồng Thương mại điện tử nói chung, mà chưa đi sâu phân tích nội dung cụ thể là giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Chính vì vậy, việc có một công trình nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu tổng thể về toàn bộ pháp luật giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay là rất quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là việc phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử,

  • Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm mục đích đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử và thực tiễn áp dụng pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử được cấu thành bởi ba yếu tố: thương mại, công nghệ và pháp lý.

  • Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu hoạt động giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở khía cạnh pháp lý.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

  • Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

  • Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài này là: phương pháp phân tích – tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê, phân loại; phương pháp logic.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Luận văn là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về pháp luật giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Nội dung của luận văn hàm chứa nhiều thông tin pháp lý có giá trị tham khảo tốt đối với hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập cũng như hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Trong luận văn này, tác giả đã giải quyết một số vấn đề sau:

6.2 Ý nghĩa của luận văn

  • Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử;
  • Phân tích một cách có hệ thống các qui định pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, về ưu điểm, sự khác biệt cũng như rủi ro khi giao kết hợp đồng này so với hợp đồng được giao kết theo phương thức truyền thống.
  • Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay. Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 03 chương:

  • Chương 1. Những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử và pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
  • Chương 2. Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.
  • Chương 3. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Chương 1 Những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng thương mại điện tử và pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

1.1. Những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại điện tử

1.1.1 Khái quát về hoạt động thương mại điện tử

Hoạt động Thương mại điện tử đã tồn tại từ cuối những năm bảy mươi của thế kỷ trước [28] và hiện đang phát hiện mạnh mẽ cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ của toàn nhân loại. Nửa đầu thế kỷ XX, kỹ thuật số bắt đầu phát triển và từng bước được hoàn thiện. Hình ảnh (kể cả chữ viết, con số, các ký hiệu khác) và âm thanh đều được số hóa thành các nhóm bit điện tử để ghi lại, lưu giữ trong môi trường tự truyền đi và đọc bằng điện tử, tất cả đều với tốc độ ánh sáng. Việc áp dụng kỹ thuật số được coi là cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử nhân loại, cuộc “cách mạng số hóa” thúc đẩy sự ra đời của “nền kinh tế số hóa” và “xã hội thông tin” mà Thương mại điện tử là một bộ phận hợp thành.

Quá trình tin học hóa xã hội bùng nổ rồi nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu sau khi internet ra đời. Trong bối cảnh ấy, hoạt động kinh tế nói chung và thương mại nói riêng cũng chuyển sang dạng “số hóa”, “điện tử hóa”. Khái niệm Thương mại điện tử dần dần hình thành và được ứng dụng ngày càng phổ biến, nhất là trong những năm gần đây. “TMĐT” (tiếng Anh là e-commerce) còn được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như nền kinh tế ảo, nền kinh tế “.com”, thương mại trực tuyến (online trade) thương mại điều khiển học (cybertrande), thương mại phi giấy tờ (paperless commerce), kinh doanh điện tử (electronic business) [17, tr. 13-14]. Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Không chỉ có nhiều tên gọi khác nhau, mà bản thân Thương mại điện tử cũng được nghiên cứu và tiếp cận với những góc độ riêng biệt. Song, cũng như các thuật ngữ pháp lý khác, hoạt động Thương mại điện tử cũng được tiếp cận dưới hai góc độ: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Cách hiểu Thương mại điện tử theo nghĩa rộng có hai đại diện tiêu biểu là UNCITRAL và Ủy ban Châu Âu.

Theo Luật mẫu của UNCITRAL về Thương mại điện tử thì phạm vi điều chỉnh của Luật này là mọi hoạt động thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu và trong khuôn khổ các hoạt động thương mại. Trong đó, thông điệp dữ liệu được hiểu là “thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học hoặc các phương tiện tương tự và bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc fax”.

Ủy ban Châu Âu lại định nghĩa Thương mại điện tử là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền số liệu điện tử dưới dạng chữ, âm thanh và hình ảnh. Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó có hoạt động mua bán hàng hóa qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng. Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính), các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các hoạt động mới (như siêu thị ảo) [17, tr.15].

Như vậy, dù xây dựng thành hai định nghĩa khác nhau, nhưng tựu chung, cả hai tổ chức quốc tế UNCITRAL và Ủy ban Châu Âu đều tiếp cận theo cách hiểu chung nhất, bao quát nhất về hoạt động Thương mại điện tử. Bên cạnh cách tiếp cận theo nghĩa rộng, Thương mại điện tử còn được hiểu theo nghĩa hẹp, mà đại điện là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD).

Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Thương mại điện tử tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua internet dưới dạng số hoá [29]. Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Mặt khác, Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế của Liên hợp quốc (OECD) cũng đưa ra khái niệm Thương mại điện tử như sau: Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như internet [19, tr.2].

Vậy internet là gì? Và tại sao giao dịch thương mại thông qua internet là được gọi là Thương mại điện tử? Internet được định nghĩa là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể Được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau [30]. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP). Kể từ khi hình thành, internet luôn được coi là mạng liên kết rộng lớn nhất, ổn định nhất so với các mạng thông tin khác. Chính vì vậy, sự xuất hiện và phát triển “bùng nổ” của hệ thống mạng internet được coi là cơ sở, điều kiện nền tảng để hình thành phương thức giao dịch thương mại qua các thiết bị điện tử. Vì thế, internet luôn được gắn với Thương mại điện tử, và các giao dịch thương mại qua phương tiện điện tử được kết nối internet cũng được hiểu là Thương mại điện tử.

Ở Việt Nam, khái niệm Thương mại điện tử cũng được tiếp cận theo hai góc độ là nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ở nghĩa rộng, cũng như UNCITRAL và Ủy ban châu Âu, Thương mại điện tử được hiểu là toàn bộ những giao dịch thương mại (mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ) được thực hiện qua các phương tiện điện tử. Các phương tiện điện tử này bao gồm tất cả các thiết bị có thể lưu trữ, truyền dẫn thông tin và liên kết được với nhau qua hệ thống mạng máy tính toàn cầu internet hay các mạng viễn thông khác. Có thể lấy ví dụ các thiết bị điện tử điển hình như: máy vi tính, điện thoại di động, máy fax, telex… Cách tiếp cận thứ hai, theo nghĩa hẹp (đây cũng là cách hiểu khá phổ biến ở Việt Nam), thì Thương mại điện tử là các hoạt động thương mại được thực hiện qua các phương tiện điện tử được kết nối internet. Như vậy, theo cách hiểu này, hoạt động Thương mại điện tử chỉ là các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà sử dụng các phương tiện được kết nối thông qua hệ thống mạng máy tính toàn cầu internet, mà phổ biến và điển hình nhất là máy vi tính và các thiết bị khác có thể kết nối internet như điện thoại di động, ipad… Theo cách hiểu này, hoạt động thương mại thông qua các thiết bị điện tử sử dụng mạng viễn thông khác như máy fax, telex… sẽ không được coi là Thương mại điện tử. Đây cũng được coi là cách hiểu hợp lý, bởi: hoạt động Thương mại điện tử bắt đầu xuất hiện và phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam bắt nguồn và trên cơ sở sự hình thành của hệ thống mạng máy tính toàn cầu internet vào năm 1997 [32]. Cho đến nay, internet vẫn được coi là hệ thống mạng liên kết rộng lớn nhất, phổ biến nhất và phát triển nhất tại Việt Nam. Hệ thống mạng internet được coi là điều kiện cơ bản là nền tảng để hình thành và phát triển một phương thức thương mại mới, là hoạt động thương mại qua các phương tiện điện tử có kết nối internet – Thương mại điện tử. Vì vậy, có thể nói cách hiểu theo nghĩa hẹp, coi Thương mại điện tử là hoạt động thương mại được thực hiện qua các phương tiện điện tử được kết nối bởi mạng máy tính toàn cầu internet, là cách hiểu phổ biển trong thực tiễn tại Việt Nam. Tuy nhiên, quan điểm của tác giả cho rằng, Thương mại điện tử là thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử, bao gồm tất cả các thiết bị có thể lưu trữ, truyền dẫn thông tin và liên kết được với nhau qua hệ thống mạng máy tính toàn cầu internet hay các mạng viễn thông, mạng mở khác như máy vi tính, điện thoại di động, ipad, máy fax, telex….

Tại Việt Nam, từ khi Luật Giao dịch điện tử năm 2005 ra đời, đã có rất nhiều nghiên cứu của các tổ chức cá nhân nhưng vẫn chưa đưa ra được khái niệm thống nhất về Thương mại điện tử. Nghị định số 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 9/6/2006 về Thương mại điện tử – là văn bản ở cấp độ Nghị định đầu tiên đề cập về vấn đề này, nhưng chưa đưa ra được định nghĩa về Thương mại điện tử. Nghị định số 52/2013/NĐ-CP là văn bản hiện hành gần nhất, cũng không đưa ra đưa được định nghĩa Thương mại điện tử mà chỉ quy định về hoạt động Thương mại điện tử (tại Khoản 1 Điều 3). Theo đó: “hoạt động Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”.

Như vậy, cho đến nay, Thương mại điện tử vẫn còn là một khái niệm phức tạp, và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Từ những phân tích trên đây, tác giả xin đưa khái niệm Thương mại điện tử trong phạm vi nghiên cứu trong luận văn của mình: Thương mại điện tử là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện thông tin dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử và được truyền đi bằng mạng máy tính toàn cầu internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.

1.1.2. Khái niệm hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng Công nghệ thông tin, Giao dịch điện tử trở thành một phương thức giao dịch mới được các chủ thể kinh doanh thường xuyên sử dụng. Với những ưu thế so với hợp đồng thương mại truyền thống, các thương nhân có thể tiết kiệm thời gian chi phí và Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử với nhau trên toàn cầu. Chính vì vậy, khái niệm hợp đồng điện tử nói chung và hợp đồng Thương mại điện tử trở nên phổ biến trong khoa học pháp lý. Năm 1996, Luật mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL được ban hành, đã quy định tại Điều 11: “hợp đồng điện tử được hiểu là hợp đồng được hình thành thông qua việc sử dụng các phương tiện truyền dữ liệu điện tử”.

Ở Việt Nam, khái niệm hợp đồng điện tử lần đầu quy định tại Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Theo đó, trên tinh thần kế thừa Luật mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL, Điều 33 quy định: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu được quy định của Luật này”. Trong đó, thông điệp dữ liệu được hiểu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ… (Điều 10 Luật Giao dịch điện tử năm 2005).

Có thể thấy, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 điều chỉnh chung tất cả các loại hợp đồng được thực hiện bằng phương thức điện tử, mà không phụ thuộc vào mục đích giao kết của chúng. Điểm khác biệt căn bản của hợp đồng Thương mại điện tử so với các hợp đồng truyền thống khác là ở mục đích giao kết, khi các thương nhân hướng đến lợi nhuận kinh doanh. Như vậy, về kỹ thuật lập pháp, Luật Giao dịch điện tử điều chỉnh chung mọi hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử, còn điều kiện về hình thức, nội dung của từng loại hợp đồng sẽ do văn bản pháp luật chuyên ngành trực tiếp quy định. Luật Thương mại năm 2005 hiện chưa có điều khoản quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng thương mại.

Tuy nhiên, nghiên cứu từ bản chất hợp đồng và đặc thù Giao dịch điện tử, có thể hiểu: Hợp đồng Thương mại điện tử là những hợp đồng được ký kết giữa thương nhân với thương nhân hoặc thương nhân với các bên có liên quan nhằm mục đích sinh lời bằng cách trao đổi các thông điệp dữ liệu thông qua các phương tiện điện tử có kết nối mạng máy tính toàn cầu internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác. Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

1.1.3. Đặc trưng của hợp đồng thương mại điện tử

Khác với hợp đồng truyền thống, do được giao kết bằng cách truyền các thông điệp dữ liệu điện tử nên bên cạnh những đặc điểm chung vốn có của hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng, hợp đồng Thương mại điện tử có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

  • Tính phi biên giới:

Sử dụng phương tiện điện tử để truyền tải thông tin dưới dạng các thông điệp dữ liệu nên hợp đồng thương mại có thể được giao kết ở bất cứ đâu trên toàn cầu. Chủ thể là thương nhân trong nước hay một thương nhân nước ngoài ở khu vực địa lý nào, tại múi giờ bao nhiêu, có bao nhiêu đối tác liên quan đều có thể Giao kết hợp đồng với nhau thông qua hệ thống mạng. Nhờ vậy, các chủ thể kinh doanh có thể tiết kiệm thời gian, chí phí cũng như giải quyết được khó khăn về khoảng cách địa lý khi kí kết hợp đồng. Đây được coi là ưu điểm vượt trội của hợp đồng điện tử so với hợp đồng truyền thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa thương mại.

  • Tính vô hình và phi vật chất:

Môi trường điện tử là môi trường “số hóa”, môi trường “ảo”, vì vậy hợp đồng Thương mại điện tử mang đặc tính vô hình, phi vật chất, có nghĩa là các hợp đồng này tồn tại, được chứng minh, được lưu trữ bởi các dữ liệu điện tử dưới dạng thuật toán chứ không thể “cầm nắm” hay tiếp xúc vật chất thông qua tri giác được. Tính vô hình và phi vật chất này khiến việc xác định các yếu tố liên quan đến hình thức hợp đồng điện tử hoàn toàn khác biệt so với các hợp đồng truyền thống trước đây. Ví dụ như vấn đề hình thức văn bản của hợp đồng, vấn đề chữ ký của chủ thể khi kí kết, vấn đề lưu trữ bảo vệ hợp đồng tại trụ sở, hay chứng cứ để chứng minh tại Tòa án khi xảy ra tranh chấp… Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

  • Tính hiện đại và chính xác:

Tính hiện đại của hợp đồng Thương mại điện tử thể hiện ở chỗ, hợp đồng được giao kết dựa trên việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, là kết quả của sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ trong thời đại mới. Đó là những công nghệ tiên tiến như công nghệ điện tử, kỹ thuật số, từ tính, quang học, điện từ, các công nghệ truyền dẫn không dây… Việc sử dụng các công nghệ này đem lại độ chính xác cao cho các giao dịch, đặc biệt là những giao dịch mà tất cả các bước đều được thực hiện tự động hóa. Hợp đồng Thương mại điện tử, với tính hiện đại và chính xác như vậy, sẽ là phương thức giao dịch mới và hiệu quả cho các chủ thể pháp luật nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trong nền kinh tế tri thức và trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế [17, tr.23].

  • Tính rủi ro:

Hợp đồng Thương mại điện tử sử dụng các phương tiện ứng dụng khoa học kỹ thuật số, chính vì vậy, bên cạnh các ưu điểm vượt trội so với hợp đồng được giao kết theo phương thức truyền thống, hợp đồng Thương mại điện tử cũng tồn tại một số rủi ro đặc thù. Những rủi ro này xuất phát từ tính phi biên giới, tính vô hình – phi vật chất và tính hiện đại, chính xác. Cụ thể, do hợp đồng Thương mại điện tử có thể xóa bỏ rào cản về khoảng cách địa lý và kết nối tới toàn cầu nên dẫn đến rủi ro: khó có thể xác định được thời gian, địa điểm Giao kết hợp đồng. Tính vô hình, phi vật chất của các thông điệp dữ liệu điện tử lại gây khó khăn khi xác định hình thức của hợp đồng: như hình thức văn bản, vấn đề lưu trữ bản gốc hay chứng cứ tại Tòa án của hợp đồng điện tử. Tính hiện đại và chính xác của công nghệ đòi hỏi hợp đồng Thương mại điện tử phải đáp ứng các yêu cầu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất của phương tiện Giao kết hợp đồng.

  • Luật điều chỉnh:

Những đặc điểm riêng biệt của hợp đồng Thương mại điện tử khiến cho luật điều chỉnh đối với hợp đồng cũng khác với hợp đồng truyền thống. Vì luật chung chưa quy định về thông điệp dữ liệu, trao đổi thư điện tử, chữ ký điện tử… nên không thể giải quyết được những vấn đề đặc thù phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Do đó, nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành các đạo luật riêng quy định từng vấn đề pháp lý cụ thể trong hợp đồng Thương mại điện tử như Luật Giao dịch điện tử, Luật chữ ký điện tử hay Luật mẫu của Ủy ban Liên hợp quốc về Thương mại điện tử. Đây không chỉ là cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các thương nhân khi sử dụng hợp đồng điện tử trong nội bộ của từng quốc gia, mà còn là căn cứ pháp lý quốc tế để điều chỉnh những hoạt động thương mại mang tính toàn cầu.

1.2. Khái quát pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

1.2.1. Khái niệm và cấu trúc pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

  • Khái niệm pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Xuất phát từ nguồn gốc, đặc trưng và bản chất của pháp luật, có thể định nghĩa pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể. [23, tr.98]

Như vậy, có thể khái quát pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử là toàn bộ hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hay thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa các thương nhân với người có liên quan.

Pháp luật trong lĩnh vực Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, được chứa đựng trong hệ thống văn bản pháp luật quốc gia cũng như trong pháp luật quốc tế như Luật mẫu về Thương mại điện tử, Luật mẫu về chữ ký điện tử của UNCITRAL… Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

  • Cấu trúc pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử chủ yếu được cấu thành từ các quy phạm pháp luật thành văn trong các văn bản luật của mỗi quốc gia và các điều ước về thương mại quốc tế …

Ở Việt Nam, pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử được coi là một bộ phận cấu thành của pháp luật hợp đồng thương mại nói riêng và pháp luật về hợp đồng dân sự nói chung. Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại được coi là hệ thống pháp luật chung điều chỉnh hoạt động Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Bộ luật Dân sự là bộ luật gốc điều chỉnh tất cả các vấn đề về quan hệ dân sự nói chung, trong đó có chế định về hợp đồng và Giao kết hợp đồng. Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định về chế định hợp đồng tại Mục 7 Chương XV Phần thứ ba, trong đó đề cập đến những yếu tố cơ bản nhất về chủ thể, hình thức cũng như các điều khoản bắt buộc trong nội dung của một hợp đồng dân sự. Về Giao kết hợp đồng, Bộ luật cũng quy định rất cụ thể, chi tiết về các nội dung mà các bên cần biết khi Giao kết hợp đồng như khái niệm hợp đồng; các nguyên tắc giao kết; trình tự, thủ tục giao kết; thời điểm, địa điểm Giao kết hợp đồng… Đây là những quy định gốc điều chỉnh hoạt động giao kết với các hợp đồng dân sự nói chung, trong đó có hợp đồng Thương mại điện tử.

LTM là văn bản pháp luật điều chỉnh mọi quan hệ phát sinh từ hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Có thể thấy, cùng với Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại năm 2005 chỉ điều chỉnh toàn bộ các loại hợp đồng được giao kết vì mục đích lợi nhuận. Là loại hợp đồng thương mại được giao kết thông qua một phương thức mới, hợp đồng Thương mại điện tử cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005. Theo đó, khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, các bên bắt buộc phải tuân thủ các quy định chung trong Luật Thương mại như các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại, các điều kiện về thương nhân… cũng như các quy định riêng về hình thức, nội dung khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử trong từng lĩnh vực mua bán hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Bên cạnh Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại là văn bản pháp luật chung, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 được coi là văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, trong đó có Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Theo đó, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 điều chỉnh mọi hợp đồng có sử dụng phương thức điện tử. Cụ thể, Luật quy định những nội dung nền tảng nhất như thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử, cũng như các yếu tố liên quan như dữ liệu điện tử, chữ ký điện tử. Giao kết hợp đồng điện tử được quy định tại Chương IV của Luật.

Ngoài ra, ngày 16/05/2013, Chính phủ cũng ban hành Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử. Đây được coi là văn bản quy định chi tiết và cụ thể nhất về hợp đồng Thương mại điện tử nói chung cũng như Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng.

Ngoài các văn bản điều chỉnh trực tiếp, Chính phủ cùng các Bộ, Ban ngành cũng ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn quy định việc Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử trong từng lĩnh vực cụ thể, có thể kể đến như:

  • Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ban hành ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số;
  • Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ban hành ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính;
  • Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ban hành ngày 08/03/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng;
  • Nghị định số 87/2012/NĐ-CP ban hành ngày 23/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục Hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại;
  • Thông tư số 50/2009/TT-BTC ban hành 16/03/2009 về việc hướng dẫn giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán;
  • Thông tư số 47/2014/TT-BCT ban hành 05/12/2014 quy định về quản lý website Thương mại điện tử;
  • Thông tư số 59/2015/TT-BCT ban hành ngày 31/12/2015 quy định về quản lý hoạt động Thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động.

Ngoài ra, khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử với các đối tác trên thế giới, Việt Nam còn phải áp dụng quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan như Luật mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL…

1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử qui định các nội dung cơ bản sau: nguyên tắc Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, trình tự Giao kết hợp đồng, điều kiện Giao kết hợp đồng, hiệu lực Giao kết hợp đồng …

Thứ nhất, về nguyên tắc Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử: là một loại hợp đồng riêng biệt do được thực hiện qua các phương tiện điện tử, nên hợp đồng này phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của hợp đồng dân sự nói chung được quy định trong Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử còn phải đảm bảo các nguyên tắc được quy định tại Điều 5 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 như nguyên tắc: tự do lựa chọn sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch; tự thỏa thuận việc lựa chọn công nghệ để thực hiện giao dịch; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn trong giao dịch điện tử…

Thứ hai, về trình tự Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử: cũng như hợp đồng dân sự nói chung, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử vẫn bao gồm hai bước cơ bản là lời đề nghị Giao kết hợp đồng và chấp nhận Giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, khác với hợp đồng ký theo cách truyền thống, tất cả các lời đề nghị và chấp nhận giao kết này đều được thực hiện bằng các thông điệp dữ liệu thông qua các thiết bị điện tử kết nối mạng. Cụ thể, thời điểm gửi một thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo và người nhận được xem là đã nhận được thông điệp dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ định và có thể truy cập được.

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định 52/2013/NĐ-CP cũng quy định các yếu tố khác biệt của hợp đồng Thương mại điện tử so với các hợp đồng giao kết truyền thống như thời điểm, địa điểm Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, chữ ký số, lưu trữ thông điệp dữ liệu cũng như quy định các yếu tố đảm bảo an toàn, an ninh bảo mật trong giao dịch điện tử, cũng như các phương thức giải quyết tranh chấp, các hành vi vi phạm khi Giao kết hợp đồng điện tử…

1.3. Phân biệt giao kết hợp đồng thương mại điện tử và giao kết hợp đồng truyền thống Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Có thể thấy, khác với hợp đồng giao kết theo cách truyền thống, hợp đồng thương mại điện tử sử dụng các phương tiện điện tử có kết nối mạng để truyền dẫn các thông điệp dữ liệu. Do đó, khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử sẽ phát sinh một số vấn đề mới so với hợp đồng truyền thống về hình thức hợp đồng, chữ ký điện tử hay vấn đề lưu trữ, bảo vệ bản gốc… Cụ thể như sau:

Thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng:

  • Về thời gian giao kết hợp đồng:

Cũng như hợp đồng truyền thống, khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử các bên giao kết cũng phải tuân theo các quy định về đề nghị Giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, việc “gửi” và “nhận” một đề nghị chào hàng hay chấp nhận chào hàng lại không thể hiện dưới dạng văn bản “giấy trắng, mực đen” thông thường mà bằng các thông điệp dữ liệu được mã hóa dưới dạng thuật toán. Chính vì vậy, khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử sẽ đặt ra câu hỏi: Khi nào lời chào hàng bắt đầu có hiệu lực và khi nào chấp nhận chào hàng được coi là đã gửi đi? Điều này gây khó khăn để xác định chính xác thời gian Giao kết hợp đồng. Đây là căn cứ quan trọng, bởi theo thông lệ pháp luật thương mại: thời điểm Giao kết hợp đồng thương mại là yếu tố quan trọng để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng khi hai bên không có thỏa thuận khác.

Trên thế giới, để xác định thời điểm hợp đồng hình thành, một số nước theo hệ thống Common Law như Anh, Mỹ… áp dụng thuyết tống phát (thuyết gửi), coi thời điểm ký kết hợp đồng là thời điểm bên được đề nghị gửi chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng đi. Ngược lại. đa số các nước theo hệ thống Civil Law, trong đó có Việt Nam lại xác định thời điểm ký kết hợp đồng là thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng. Nếu như trong Giao kết hợp đồng truyền thống, ta có thể dễ dàng xác định thời điểm Giao kết hợp đồng (thời điểm gửi hay nhận) thông qua con dấu của bưu điện thì đối với hợp đồng Thương mại điện tử, đây là vấn đề rất phức tạp. Để xác định thời điểm hợp đồng hình thành, dù áp dụng học thuyết nào, yêu cầu quan trọng nhất cũng phải xác định được thời điểm một thông điệp được “gửi” đi bởi người khởi tạo (người chào hàng) hay “đến tay” người tiếp nhận “người được chào hàng”. Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

  • Về địa điểm giao kết hợp đồng:

Khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, người đề nghị và bên được đề nghị có thể trao đổi dữ liệu ở mọi nơi với một thiết bị điện tử có kết nối mạng, mà không nhất thiết phải ở trụ sở hay nơi cư trú của mình. Các bên trong giao dịch Thương mại điện tử tiếp xúc với nhau trong một môi trường ảo, môi trường “số hóa”. Chính vì vậy, trong hợp đồng Thương mại điện tử, không thể căn cứ nơi các bên gặp mặt trực tiếp để giao kết hay trụ sở cơ quan, nơi cư trú của thương nhân để xác định địa điểm Giao kết hợp đồng. Và nếu có xác định một địa điểm như vậy thì sẽ xảy ra trường hợp địa điểm này lại không có mối liên hệ với các chủ thể tham gia, với nơi phát sinh nghĩa vụ hay nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Trên thực tế, một doanh nghiệp ở Việt Nam có thể đặt máy chủ website kinh doanh tại Hoa Kỳ tiến hành ký kết hợp đồng qua mạng với một doanh nghiệp tại Singapore để mua hàng vận chuyển tới Thái Lan. Khi đó vấn đề xác định yếu tố địa điểm Giao kết hợp đồng là không hề đơn giản.

  • Chữ ký điện tử trong hợp đồng

Một hợp đồng bằng văn bản thường phải có chữ ký của các bên nhằm khẳng định sự thỏa thuận đối với các điều khoản trong hợp đồng. Xét về mặt pháp lý, một chữ ký trong hợp đồng chính là cơ sở để xác định những gì các bên đã thỏa thuận. Đồng thời, chữ ký còn có những ý nghĩa khác: thứ nhất, nó có thể sử dụng để xác định chủ thể hợp đồng trong trường hợp chủ thể là cá nhân, xác định người đại diện ký kết hợp đồng trong trường hợp chủ thể là pháp nhân; thứ hai, chữ ký có thể được sử dụng làm bằng chứng cho tính toàn vẹn của một văn bản (ví dụ, trong một văn bản dài, chữ ký không chỉ xuất hiện ở trang cuối mà còn ở từng trang, điều này bảo đảm hợp đồng là một thể thống nhất, tránh sự thay đổi ở bất kỳ phần nào trong hợp đồng, từ đó bảo đảm tính toàn vẹn của văn bản). Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Đối với văn bản hợp đồng, pháp luật các quốc gia thường thống nhất quy định các bên tham gia cùng ký vào một văn bản là điều kiện cần để hợp đồng có giá trị pháp lý. Chữ ký có thể là bất kỳ biểu tượng nào (như ký bằng tay, đóng dấu, điểm chỉ…) được sử dụng hoặc được chấp nhận bởi các bên tham gia với mục đích xác thực nội dung văn bản.

Đối với hợp đồng điện tử, việc tạo lập một chữ ký hay đóng dấu sẽ không thể thực hiện như với hình thức văn bản của hợp đồng thông thường, mà sẽ được ký bằng chữ ký điện tử. Chữ ký điện tử (electronic signature) được định nghĩa là dữ liệu tồn tại dưới dạng điện tử trong hoặc đi kèm với “văn bản điện tử” dùng để xác định bên ký kết “văn bản điện tử” và chỉ rõ sự chấp thuận của bên ký kết về nội dung các thông tin trong “văn bản điện tử” đó (Điều 2 Luật mẫu của UNCITRAL năm 2001 về chữ ký điện tử ).

Chữ ký trong hợp đồng truyền thống là bằng chứng chứng minh sự hiện diện của một chủ thể tại thời gian và địa điểm ký văn bản. Với hợp đồng điện tử, chủ thể giao dịch có thể lập trình sẵn một chương trình trả lời, hay ký kết các giao dịch nhất định. Theo đó, dù không có sự hiện diện của chủ thể thì hệ thống vẫn hoạt động bình thường và hợp đồng vẫn được ký kết. Chữ ký điện tử để an toàn thường do một công ty cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử phát hành hoặc do các bên giao dịch tự tạo ra. Việc sử dụng cách thức này không những đảm bảo yêu cầu về mặt công nghệ, tránh sự sao chép, hay giả mạo chữ ký điện tử mà còn đảm bảo về mặt căn cứ pháp lý thể hiện rõ ý chí tự do khi ký kết hợp đồng.

  • Vấn đề bản gốc và lưu trữ hợp đồng

Trong hợp đồng ký theo cách truyền thống, vấn đề bản gốc và lưu trữ hợp đồng là vấn đề dễ dàng xử lý. Bởi, với hợp đồng thương mại ký bằng văn bản, mỗi bên thương nhân sẽ giữ một hoặc một số bản (được coi là bản gốc) và lưu trữ tại trụ sở của mình. Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Tuy nhiên, với hợp đồng Thương mại điện tử lại nảy sinh vấn đề hoàn toàn khác biệt. Do được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, hợp đồng được soạn ra, gửi đi, được nhận và được lưu trữ hoàn toàn bằng phương tiện điện tử. Những thông điệp dữ liệu được gửi đi thực chất chỉ là những bản copy, còn bản gốc vẫn được giữ lại ở máy tính đã khởi tạo ra hay lưu giữ thông điệp dữ liệu đó. Việc bảo đảm tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu này là điều không phải đơn giản trong một môi trường điện tử có thể dễ dàng sửa đổi. Nếu các thông điệp dữ liệu đó bị sửa đổi thì khó xác định được đâu là bản gốc. Thậm chí, còn có ý kiến khẳng định: “Có thể dễ dàng nhận thấy rằng trên mạng máy tính, không tồn tại bản gốc của hợp đồng vì một số thông tin được đưa vào máy tính và giả thiết rằng văn bản gốc tồn tại dưới hình thức phi vật chất trong bộ nhớ của máy tính thì tất cả những gì các bạn in ra chỉ là những bản copy. Như vậy, cần phải tìm các biện pháp khác để đem lại cho những bản copy này một giá trị pháp lý nhất định, chứ không phải là những biện pháp truyền thống như biện pháp chứng thực văn bản viết” [10, tr.71-72].

Do khó xác định được bản gốc của hợp đồng nên dẫn đến vấn đề lưu trữ nó cũng trở nên khó khăn. Do được “thể hiện” qua các dữ liệu điện tử, thông điệp số có thể được sao, lưu, phát tán trên mạng nên vấn đề lưu trữ, bảo vệ bản gốc là rất quan trọng. Hợp đồng Thương mại điện tử thông thường sẽ được “lưu trữ” trong hệ thống thông tin của các bên, tức là được “lưu trữ” dưới dạng thông điệp số mà không được thể hiện dưới hình thức vật chất có thể “sờ” hay “cầm, nắm” được. Chính vì vậy, muốn giải quyết các vấn đề liên quan đến bản gốc cũng như lưu trữ hợp đồng điện tử cần phải có những biện pháp để đảm bảo thông điệp số được nguyên vẹn và chính xác. Để làm được điều đó, các bên thương nhân cần xây dựng cơ sở kỹ thuật công nghệ hiện đại để tránh những rủi ro có thể phát sinh, cũng như xây dựng hệ thống pháp lý để làm chứng cứ hợp pháp khi xảy ra tranh chấp.

  • Sự tham gia của cơ quan trung gian, tổ chức chứng nhận

Trong Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, ngoài các bên tham gia giao kết (bên đề nghị và bên chấp nhận đề nghị) còn có một chủ thể khác liên quan mật thiết, đóng vai trò quan trọng đảm bảo việc Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Đó là các tổ chức cung cấp dịch vụ mạng và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử. Các tổ chức này thực hiện việc gửi, lưu trữ thông tin giữa các bên tham gia Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, cung cấp những thông tin cần thiết để xác định độ tin cậy của thông điệp dữ liệu trong Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Các tổ chức này không tham gia vào quá trình đàm phán, giao kết hay thực hiện hợp đồng điện tử, mà tham gia với tư cách là người hỗ trợ nhằm đảm bảo tính hiệu quả và giá trị pháp lý cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng Thương mại điện tử. Chừng nào đường truyền internet và hệ thống mạng có trục trặc, chừng nào tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử chưa đi vào hoạt động thì chừng đó việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử sẽ khó có thể thành công và gặp nhiều rủi ro. Với vai trò quan trọng như vậy, các quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý của bên thứ ba này luôn là chế định pháp luật không thể thiếu trong hệ thống pháp luật về Giao dịch điện tử của mỗi quốc gia [10, tr.58]. Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

  • Rủi ro dễ phát sinh khi giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Việc sử dụng phương tiện điện tử để Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, bên cạnh ưu điểm giúp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, nắm bắt cơ hội hay tăng khả năng cạnh tranh thì luôn tồn tại những rủi ro nhất định. Xuất phát từ những hạn chế tiềm ẩn trong môi trường và phương tiện giao kết, các bên thương nhân phải đối mặt với những rủi ro về mặt kỹ thuật, thương mại cũng như về pháp lý.

Thứ nhất, trong môi trường ảo, đôi khi rất khó khăn để xác định năng lực của các đối tác Giao kết hợp đồng. Trên thực tế, doanh nghiệp có thể nhận được đơn chào hàng hay đơn đặt hàng được ký bởi một chữ ký không đảm bảo an toàn, ví dụ như chữ ký gồm các ký tự quá đơn giản, bản quét chữ ký viết tay… Trong những trường hợp đó, nếu các doanh nghiệp không có sự xác nhận hay kiểm tra lại thì rất có khả năng các thông tin liên quan đến hợp đồng bị thay đổi hoặc giả mạo; và như vậy các chủ thể giao kết sẽ phải gánh chịu thiệt hại vật chất từ những rủi ro này.

Thứ hai, là những rủi ro liên quan đến vấn đề lưu trữ chữ ký điện tử. Cũng như chữ ký trong hợp đồng truyền thống, chữ ký điện tử là bằng chứng xác minh sự chấp thuận nội dung hợp đồng của mỗi bên chủ thể của hợp đồng. Do đó, trong bất kỳ trường hợp nào, nếu một chủ thể tiếp cận và sử dụng chữ ký điện tử – đã được doanh nghiệp lưu trữ dưới dạng thông điệp dữ liệu tại máy tính của doanh nghiệp giao kết, thì các bên bắt buộc phải công nhận giá trị pháp lý của nó cũng như hợp đồng được giao kết. Nguy hiểm hơn, bên “sao chép” chữ ký điện tử có thể sử dụng nó để ký các hợp đồng khác nhân danh doanh nghiệp có chữ ký. Điều sẽ ảnh hưởng rất lớn đến danh tiếng, tiền bạc…

Thứ ba, rủi ro về mặt pháp lý. Có thể thấy, nếu tranh chấp xảy ra, bất lợi sẽ thuộc về các doanh nghiệp không có khả năng bảo mật và kiểm soát việc sử dụng các phương tiện điện tử, bởi việc chứng minh hành vi lừa đảo, giả mạo là rất khó khăn và tốn kém. Và như vậy, nếu không có bằng chứng chứng minh thì các doanh nghiệp sẽ là những chủ thể bị thiệt hại nhất, do không có phương thức và điều kiện để bảo vệ chính doanh nghiệp mình.

Kết luận Chương 1 Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

  • Qua việc nghiên cứu Chương này, có thể rút ra những kết luận cơ bản sau:

Thứ nhất, hợp đồng Thương mại điện tử là hợp đồng được giao kết bằng cách trao đổi các thông điệp dữ liệu thông qua các phương tiện điện tử có kết nối mạng máy tính toàn cầu internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, với mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Hợp đồng Thương mại điện tử mang đầy đủ đặc điểm của một hợp đồng thương mại thông thường nhưng có điểm khác biệt về phương thức Giao kết hợp đồng là bằng các phương tiện điện tử có kết nối mạng. Trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử là nhu cầu tất yếu bởi những ưu điểm vượt trội so với hợp đồng được giao kết bằng phương thức truyền thống như chi phí thực hiện thấp, giao kết nhanh chóng và không bị giới hạn bởi thời gian và không gian địa lý…

Thứ hai, sử dụng phương tiện điện tử để Giao kết hợp đồng luôn là vấn đề có tính hai mặt. Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận như giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, nâng cao khả năng cạnh tranh thì Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử cũng bao gồm nhiều rủi ro tiềm ẩn. Vì vậy, nhận diện và kiểm soát rủi ro có thể phát sinh bằng cách nâng cao cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cũng như hiểu biết kiến thức pháp lý là yêu cầu của mỗi doanh nghiệp khi giao kết các hợp đồng thương mại bằng phương tiện điện tử. Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử

One thought on “Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464