Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng pháp luật đấu thầu trong các dự án đầu tư mua sắm công tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật đấu thầu trong các dự án đầu tư mua sắm công
Kinh nghiệm từ các định chế tài chính quốc tế cho thấy, đấu thầu cạnh tranh là phương thức kiểm soát vốn hiệu quả và đảm bảo chất lượng hàng hóa dịch vụ sau đấu thầu. Tuy nhiên, để đạt được các mục đích này, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và cơ chế kiểm soát chặt chẽ, nhằm tránh những cơ chế tùy tiện ngay từ những khâu bắt đầu như phê duyệt dự án, kế hoạch đấu thầu… cho đến giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện các gói thầu trên thực tế. Đặc biệt, trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, chưa bao giờ ngân sách lại thiếu hụt trầm trọng đến thế, tổng nguồn thu ngân sách không đủ trang trải cho các khoản chi thường xuyên và trả nợ, toàn bộ chi đầu tư phải dựa vào nguồn vốn vay của Chính phủ, dẫn đến nợ công ngày càng gia tăng và các ngưỡng trần nợ công lần lượt bị phá vỡ.
Trong khi đó, kỷ luật đầu tư công vẫn cứ chưa nghiêm, các hình thức xử lý vi phạm còn quá nhẹ nhàng, đồng thời năng lực quản lý đầu tư của một số địa phương còn nhiều hạn chế. Qua thực tế cho thấy, ngày càng có nhiều công trình dù mới hoàn thành nhưng sử dụng không hiệu quả, chất lượng kém và nhanh chóng xuống cấp. Như gần đây, công trình Tòa nhà Trung tâm hành chính Đà Nẵng, dù được dự toán ban đầu khoảng 880 tỷ đồng nhưng khi quyết toán đã tăng hơn 2.100 tỷ. Tuy nhiên, điều đáng nói là sau gần 2 năm hoạt động, giới chức thành phố lại nghĩ đến di dời Trung tâm sang một nơi khác vì một số hạn chế nhất định của nó. Hoặc hàng loạt dự án đầu tư tai tiếng của Vinalines trước đây, mà nổi tiếng nhất là ụ nổi 83M giờ cũng chỉ là đóng sắt vụn. Những vụ việc trên minh chứng rằng, nguồn vốn đầu tư công hiện nay đang được sử dụng một cách thiếu hiệu quả, hay nói cách khác tiền thuế của nhân dân không được trân trọng, khiến dư luận hết sức bức xúc và nghi ngại về trách nhiệm của những người có thẩm quyền quyết định đầu tư.
Trong các nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, cũng phải nói đến cơ chế pháp luật mà xét riêng ở góc độ lựa chọn nhà thầu vẫn tồn tại không ít khó khăn, bất cập về cơ chế giám sát, dẫn đến tâm lý quan ngại của nhiều nhà đầu tư, nhất là lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng. Bởi hệ thống pháp luật đấu thầu hiện nay dù không thiếu các văn bản hướng dẫn song vẫn thiếu một cơ chế kiểm soát cạnh tranh công bằng, minh bạch và mang lại hiệu quả. Chính khoản trống này đã dung túng cho các “nhóm lợi ích” thường xuyên thấp thoáng sau những dự án đầu tư mua sắm công, bắt tay dàn xếp, thông đồng làm cho các quy định của pháp luật đấu thầu chỉ là các thủ tục mang tính hình thức. Qua nghiên cứu thực thi pháp luật cho thấy, cả chủ đầu tư và nhà thầu luôn có những giải pháp thích ứng nhằm đối phó với các quy định của Luật Đấu thầu mà phổ biến là các cách thức như sau:
Đối với chủ đầu tư hoặc bên mời thầu: thường có những cách ứng xử sau đây:
- Thứ nhất, gây khó khăn cho nhà thầu: nhằm hạn chế số lượng nhà thầu tham gia tối đa, một số chủ đầu tư bằng mọi cách tạo ra những khó khăn cho các nhà thầu như: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Đăng thông tin sai lệch về địa điểm bán HSMT, như trường hợp 4 gói thầu của Ban Quản lý dự án Quảng Ngãi vừa qua, đăng báo mời thầu ngày 9/11/2016 nhưng mãi đến ngày 14/11/2016, rất nhiều nhà thầu phản ánh vẫn chưa mua được hồ sơ. Khi đến địa điểm phát hành hồ sơ (số 64 Phạm Văn Đồng, TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, điện thoại liên hệ là 055.2222118) thì Trụ sở này đang trong quá trình sửa chữa, không có một cán bộ nào trực và cũng không hề có thông tin chỉ dẫn, liên lạc với số điện thoại trên cũng không thể được. Trả lời phóng viên Báo Đấu thầu ngày 14/11, ông Nguyễn Vương (Phó Giám đốc Ban QLDA) cũng thừa nhận rằng, hiện vẫn có nhiều nhà thầu chưa mua được HSMT vì trong thời gian qua, người được giao bán HSMT có lúc bận đi xuống địa bàn triển khai dự án, có lúc thì HSMT chưa photo kịp nên các nhà thầu phải chờ đợi.
Cố tình lẫn tránh, không bán hoặc trì hoãn thời gian bán HSMT để nhà thầu dù có mua được hồ sơ nhưng cũng không đủ thời gian chuẩn bị. Đây là hành vi xảy ra khá phổ biến trong hoạt động đấu thầu hiện nay, mặc dù hành vi này đã vi phạm các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý đấu thầu. Như trường hợp 14 nhà thầu mới đây phải gửi đơn kiện Ban Quản lý công trình Quận Hải Châu TP.Đà Nẵng lên Báo đấu thầu sau khi nhiều ngày liền chờ đợi vẫn không mua được HSMT gói thầu xây dựng Trường Tiểu học Lê Đình Chinh; hoặc gói thầu khác, thi công xây lắp thuộc Dự án đường trục chính nối KCN ô tô Chu Lai Trường Hải đến KCN Tam Anh, Ban QLDA hạ tầng Quảng Nam đã cản trở nhiều nhà thầu đến mua HSMT được Báo Đấu thầu thông tin ngày 06/9/2016. Thậm chí, còn có trường hợp Bên mời thầu hoặc người của Nhà thầu đứng ra thương lượng với các nhà thầu khác và sẳn sàng gửi lại tiền tàu xe đến mua hồ sơ.
- Thứ hai, thông thầu (giữa Chủ đầu tư/Bên mời thầu với Nhà thầu)
Thông thầu, nói theo kiểu dân gian là “đi đêm dấm dúi với nhau”, tức là những hành vi không được minh bạch, tuy nhiên nó lại là hiện tượng tương đối phổ biến trong hoạt động đấu thầu. Bởi giải pháp này tỏ ra khá an toàn, kín đáo và mang lại sự thành công cao nhất so với các giải pháp khác.
Để thực hiện giải pháp này, thông thường Bên mời thầu sẽ lập HSMT dựa trên những lợi thế cạnh tranh của nhà thầu được xác định trước, thông qua các tiêu chuẩn đánh giá nhằm hạn chế khả năng cạnh tranh của các nhà thầu khác tham gia mà tác giả sẽ phân tích rõ hơn ở phần sau. Chiêu thức này dù không còn gì mới mẽ, song cho đến nay nó vẫn được áp dụng thường xuyên trong các dự án đầu tư mua sắm công và trở thành một thách thức lớn cho các nhà hoạch định chính sách. Hậu quả của những hành vi này là sẽ làm cho suất đầu tư tăng lên hoặc chất lượng đầu tư giảm xuống nhằm đảm bảo các khoản hoa hồng tối đa cho những bên liên quan. Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Trên thực tế, sẽ không quá khó để nhận thấy rằng bóng dáng các hành vi này thường được thể hiện thông qua một số gói thầu trúng với giá sát sao, thậm chí trùng khớp với giá phê duyệt dự toán, đây được xem là một chuyện hoàn toàn rất khó xảy ra trong môi trường cạnh tranh khi áp dụng phương thức đấu thầu rộng rãi. Hơn nữa, đa số trường hợp giá phê duyệt gói thầu là một ẩn số mà các Nhà thầu rất khó xác định được. Chẳng hạn như hàng loạt gói thầu mua sắm hóa chất tại Bệnh viện Thanh Nhàn vừa công bố kết quả, theo đó, Công ty CP Giải pháp y tế Hà Nội trúng cùng lúc 4 gói thầu mua sắm hóa chất với giá hoàn toàn trùng khớp giá gói thầu (mặc dù giá phê duyệt các gói thầu lẽ đến từng con số như gói Hóa chất cho máy B121 trị giá 6.706.677.063 đồng; Gói hóa chất NT pro BNP với giá 5.733.705.600 đồng; Gói hóa chất Pro-Calcitonin với giá 5.430.297.600 đồng và Gói hóa chất cho máy Cobas E601 cùng vật tư tiêu hao cho máy miễn dịch, với giá 8.840.494.377 đồng). Điều đáng ngạc nhiên là cả 4 gói thầu trên đều áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi nhưng giá trúng thầu vẫn trùng khớp đến từng con số thì quả thật đó là những “kỳ tích” trong hoạt động đấu thầu.
Cũng cần nói thêm rằng, đối với pháp luật các nước, thông đồng giữa công chức mời thầu với nhà thầu lại thuộc phạm vi của nguyên tắc xung đột lợi ích mà không thuộc các hành vi thông thầu (bid rigging) như pháp luật đấu thầu của Việt Nam.
Theo định nghĩa của OECD, “gian lận thầu (bid rigging) là một hình thức đặc biệt của hành vi thông đồng giữa các doanh nghiệp đấu thầu nhằm ấn định giá trong các hợp đồng mua sắm, dự án”, Glossary of Industrial Organisation Economics and Compettition Law, item 17, p.16. Gian lận thầu là một thực tế bất hợp pháp ở tất cả các nước thành viên OECD và có thể bị điều tra và xử phạt theo quy định của pháp luật về cạnh tranh. Ở các nước khác, gian lận thầu còn được xem là một tội phạm hình sự.
Theo Hội đồng cạnh tranh và tiêu dùng của Australia (ACCC), “gian lận thầu, còn được gọi là thông thầu, xảy ra khi hai hay nhiều đối thủ cạnh tranh đồng ý không cạnh tranh thực sự với nhau, cho phép một trong những thành viên sẽ chiến thắng trong đấu thầu. Những người tham gia có thể lần lượt là người ‘chiến thắng’ bằng cách đồng ý không đấu thầu.
Trong khi đó với pháp luật Việt Nam, xung đột lợi ích chưa được minh thị rõ thành những điều khoản cụ thể trong pháp luật về đấu thầu (như phân tích ở mục 1.3.2), song với khái niệm thông thầu tại khoản 3, điều 89 của Luật Đấu thầu 2013: “Thỏa thuận để một hoặc nhiều bên chuẩn bị hồ sơ dự thầu cho các bên tham dự thầu để một bên thắng thầu”, có thể hiểu rằng hành vi thông thầu không bị giới hạn với bất kỳ một chủ thể nào, mà sẽ bao gồm cả công chức mời thầu của Chủ đầu tư lẫn Tư vấn.
- Thứ ba, ưu ái trong đánh giá HSDT: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Theo nhận định chung của những người từng tham gia, Tư vấn đấu thầu muốn nhà thầu nào trúng sẽ được trúng, ngược lại muốn nhà thầu nào rớt thì cũng có cách để loại ngay. Sở dĩ có kết luận như trên vì hầu hết các trường hợp nhà thầu tham gia vẫn thường để xảy ra sai sót trong quá trình lập HSDT. Đây là một lỗi khách quan, bởi HSDT được cấu thành từ rất nhiều văn bản khác nhau bao gồm các đơn từ, bảo lãnh ngân hàng, văn bản, văn bằng, hợp đồng chứng minh năng lực, hồ sơ nhân sự, kỹ thuật và báo cáo tài chính… Do đó, dù một lỗi nhỏ nhưng nếu Tư vấn đấu thầu “không thương” thì HSDT cũng có thể bị loại bỏ, đặc biệt là vi phạm các điều kiện tiên quyết mà trước đây Bên mời thầu thường xuyên lạm dụng để loại bỏ các Nhà thầu không thân quen.
Chẳng hạn, khi tham gia một gói thầu cung cấp nội thất cho công trình trụ sở cơ quan nhà nước tại TP.HCM vào năm 2014, tác giả đã phát hiện rằng Tư vấn đấu thầu đã cài điều kiện tiên quyết về tư cách hợp lệ của nhà thầu, “Nhà thầu đã đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia”. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Luật Đấu thầu 2013 vừa mới có hiệu lực nên chắc chắn đa phần các nhà thầu đều chưa kịp đăng ký trên cổng thông tin mạng đấu thầu quốc gia. Mà lộ trình đăng ký thông tin này, mãi đến năm 2015 Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC, ngày 8/9/2015 mới được ban hành, cho phép Nhà thầu đăng ký chậm nhất đến ngày 30/6/2016. Do đó, nếu không phát hiện kịp thời thì Tư vấn mời thầu sẽ loại đi rất nhiều nhà thầu không phải thân quen.
Ngoài ra, một việc đáng tiếc khác khi Thông tư 05/2010/TT-BKHĐT, ngày 10/02/2010 của Bộ Kế hoạch & Đầu tư ban hành quy định không rõ về thời điểm hiệu lực của bảo lãnh dự thầu, cũng đã trở thành điều kiện để các Tư vấn triệt hạ các nhà thầu. Bởi, trong một số trường hợp các Ngân hàng phát hành Thư Bảo lãnh chỉ sơ suất thiếu thời điểm theo mẫu quy định của HSMT đã dẫn đến một số nhà thầu chết oan do lỗi của các ngân hàng (xem Phụ lục 3). Trong những trường hợp này, nếu Tư vấn đấu thầu thân quen cũng sẽ có cách cho qua hoặc tìm cách giúp Nhà thầu bổ sung, thay thế hồ sơ dự thầu. Chính vì thế, Tư vấn đấu thầu có vai trò không kém phần quan trọng mà tác giả sẽ quay lại phân tích tiếp ở phần sau.
2.1.2 Đối với Nhà thầu Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Để có được hợp đồng, các nhà thầu cũng không ngần ngại áp dụng nhiều chiêu thức không chính thống nhằm đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu, các chiêu thức phổ biến này như sau:
Thứ nhất, làm giả hồ sơ dự thầu: rất nhiều nhà thầu đã bất chấp mọi thủ đoạn và sẵn sàng làm giả các tài liệu, văn bản trong hồ sơ bao gồm từ hồ sơ năng lực, hợp đồng lao động với nhân viên, các bằng cấp chứng chỉ, báo cáo tài chính… cho đến các hợp đồng chứng minh kinh nghiệm thực tế, tất cả đều có thể làm giả nhằm mục đích đáp ứng HSMT.
Với hành vi này, trong quá trình chấm thầu, tác giả cũng phát hiện nhiều hồ sơ giả mạo như hợp đồng chứng minh năng lực không có trên thực tế (Nhà thầu đã nhờ các đối tác quen biết ký kết hợp thức hóa cho nhau hoặc thay đổi một số trang trong hợp đồng rồi giáp lại để thành hợp đồng gốc, sau đó sao y, chứng thực để chứng minh hợp đồng đã được kiểm chứng). Đối với các nhân sự chủ chốt (chỉ huy trưởng, giám sát trưởng) thường được vay mượn để làm đẹp HSDT. Các hợp đồng lao động với nhân viên cũng thường được ký lại nhưng một số trường hợp năm ký hợp đồng lại có trước năm cấp giấy CMND của nhân viên dẫn đến bất hợp lý; các biên bản nghiệm thu công trình, các quyết định bổ nhiệm chỉ huy trưởng cũng không khớp với thời gian trong hợp đồng thi công… Thậm chí có cả trường hợp còn giả mạo luôn con dấu của cơ quan nhà nước như trong một gói thầu cung cấp màn hình LED gần đây, tác giả đã phát hiện Nhà thầu làm giả con dấu và chữ ký của cơ quan BHXH Quận 2 để xác nhận các nhân sự của nhà thầu có tham gia BHXH.
- Thứ hai, tìm cách tiếp cận Chủ đầu tư và Tư vấn đấu thầu:
Ở góc độ khác, sau khi nắm bắt các thông tin gói thầu, bằng mọi khả năng có thể, nhà thầu sẽ luôn tìm mọi cách tiếp cận các thành viên của Chủ đầu tư hoặc Tư vấn mời thầu, bởi Tư vấn mời thầu cũng có vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là đối với những gói thầu mà chủ đầu tư không đủ điều kiện năng lực để tự đứng ra tổ chức.
Thông qua các mối quan hệ quen biết đã lâu hoặc dưới sự dẫn dắt của những người thân quen, người có uy tín, địa vị trong xã hội, thậm chí là các quan chức cấp cao từ trung ương hoặc cơ quan chủ quản của Chủ đầu tư, tác động làm ảnh hưởng đến kết quả lựa chọn nhà thầu. Cũng cần nói rằng, phía sau những cuộc gặp gỡ trên là cái gật đầu chấp nhận tỷ lệ phần trăm cho các bên để đổi lấy quyết định được trúng thầu. Con đường này luôn tỏ ra hiệu quả nhất và được nhiều nhà thầu chấp nhận trong thực tế hiện nay. Bởi từ Chủ đầu tư đến các đơn vị Tư vấn đánh giá HSDT, Tư vấn quản lý dự án, giám sát… đều được chăm sóc một cách tận tình, mọi hoạt động hối lộ đều được diễn ra một cách thầm lặng và có quy tắc, chính vì thế sẽ rất khó phát hiện được những hành vi vi phạm này. Do đó, có thể nói rằng phần lớn các cuộc đấu thầu hiện nay chủ yếu là đấu về “mối quan hệ” hoặc “đấu về lợi ích” mà chưa phản ánh đúng bản chất của hoạt động đấu thầu, đó là đấu về năng lực kinh nghiệm.
- Thứ ba, thông thầu: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Khác thông thầu với chủ đầu tư, trong trường hợp này khi các giải pháp trên trở nên bế tắc, các nhà thầu sẽ tự tìm cách liên kết với nhau trở thành liên minh trong đấu thầu. Các nhà thầu sẵn sàng làm quân xanh quân đỏ, theo cách đó dù nhà thầu nào trúng thì các nhà thầu còn lại cũng đều hưởng lợi. Đây cũng là cách thức xảy ra phổ biến không riêng gì Việt Nam mà các hình thức này được pháp luật nước OECD, luật cạnh tranh Úc, Ấn độ, Canada… tóm lược thành các hình thức phổ biến như sau:
- Xoay thầu (Bid rotation): tất cả các bên đều nộp thầu nhưng luân phiên nhau là người trả giá thấp theo một cách có hệ thống để lần lượt trúng thầu.
- Phân chia thị trường: các nhà thầu đồng ý không cạnh tranh nhau trong khu vực địa lý được chỉ định.
- Thầu phụ (Subcontracting): một bên đồng ý không nộp thầu hoặc chấp nhận làm quân xanh, quân đỏ để được làm thầu phụ.
- Đấu thầu Cover (Complementary bidding): khi một bên cạnh tranh đồng ý thực hiện ít nhất một trong các cách sau:
Đồng ý nộp giá thầu cao hơn giá nhà thầu đã được sắp đặt, hoặc nộp giá thầu quá cao để có thể được chấp nhận, hoặc đối thủ cạnh tranh cố ý nộp HSDT với các điều khoản không thể chấp nhận được theo yêu cầu của HSMT. Chẳng hạn như không có Bảo lãnh dự thầu như gói thầu xếp xe ô tô tự động của một Tòa nhà văn phòng tại TP.HCM mà tác giả tham gia. Bởi công nghệ xếp xe này tương đối mới ở Việt Nam nên có rất ít nhà thầu cung cấp. Nhưng theo quy định Luật Đấu thầu, nếu không đủ 3 nhà thầu tham gia sẽ là một tình huống khó xử theo phương thức đấu thầu rộng rãi. Tuy nhiên, dường như có một sự sắp xếp trước của các nhà thầu, trong buổi mở thầu có đúng 3 nhà thầu đến tham gia, trong đó hai Nhà thầu không có bảo lãnh dự thầu và điều này chắc chắn sẽ bị loại vì vi phạm điều kiện tiên quyết. Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Ngoài các trường hợp trên, ở Việt Nam còn xuất hiện trường hợp nhà thầu còn tìm cách liên danh với doanh nghiệp lớn có đầy đủ uy tín, năng lực kinh nghiệm, thậm chí là vay mượn cả hồ sơ năng lực của doanh nghiệp lớn này “làm vỏ bọc” để tham gia đấu thầu. Sau khi trúng thầu sẽ trả một phần chi phí bảo lãnh và phần công việc sẽ do đơn vị nhỏ thực hiện. Vì thế, hậu quả của các trường hợp này sẽ dẫn đến giá gói thầu nâng cao trong khi tiến độ thi công ì ạch và chất lượng không xứng tầm.
Thứ tư, gây khó khăn cho các nhà thầu khác: có lẽ đây cũng là cách ứng xử duy nhất ở Việt Nam mà gần đây xuất hiện nhiều trong lĩnh vực đấu thầu. Như Báo Đấu thầu thông tin, gói thầu xây lắp công trình đường Tôn Đức Thắng kéo dài, tỉnh Vĩnh Phúc do Ban QLDA&XDHT huyện Bình Xuyên làm bên mời thầu. Vụ việc sẽ đáng chú ý khi một Nhà thầu từ Hà Nội trên đường đi nộp HSDT đã bị lực lượng “xã hội đen” khống chế, cản trở dẫn đến nhà thầu nộp muộn hồ sơ 15 phút so với thời điểm mở thầu,53 vì thế bên mời thầu đã không chấp nhận hồ sơ theo quy định tại khoản 3, Điều 14, Nghị định 63/2014/NĐ-CP: “Hồ sơ dự thầu được gửi đến bên mời thầu sau thời điểm đóng thầu sẽ không được mở, không hợp lệ và bị loại”.
Một vụ việc khác có tính nghiêm trọng hơn, khi hai công ty, Công ty CP Xây dựng công trình 1 và Tổng công ty Xây dựng đường thủy bị cướp HSDT ngay trước cổng trụ sở của Bên mời thầu vào sáng ngày 20/6 khi tham gia gói thầu xây dựng mới cầu Trường Cửu. Do dự án này sử dụng nguồn vốn vay của ADB, vì thế ADB đã yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định ra quyết định hủy gói thầu đồng thời không tiếp tục để Ban QLDA làm bên mời thầu cho các gói thầu sau. Một vụ tương tự khác xảy ra Đắk Lắk, khi khi liên danh nhà thầu Công ty CP Phát triển nông nghiệp nông thôn Hà Tĩnh và Công ty CP xây dựng số 1 Việt Nam (Hà Nội) bị cướp HSDT ngay trước cổng Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk khi đang nộp HSDT gói thầu sửa chữa, nâng cấp hệ thống kênh chính EaKeo (số hiệu DL01-XL01), trị giá gói thầu hơn 81 tỷ đồng trong khi các nhà thầu địa phương lại nộp hồ sơ thuận lợi hơn.
Qua những vụ việc trên, mặc dù pháp luật đã quy định rõ thành những hành vi bị cấm tại Điều 89 của Luật Đấu thầu 2013, song những hành vi này vẫn thản nhiên xảy ra trên thực tế, cho thấy rằng lĩnh vực đấu thầu khẩn thiết phải có những biện pháp trừng phạt cứng rắn hơn mới bảo đảm được cạnh tranh trong đấu thầu.
Suy cho cùng, những hành vi tiêu cực trên đều xuất phát từ lợi ích của cá nhân, tổ chức tham gia trong quá trình lựa chọn nhà thầu và khi nó đã trở thành gốc rễ ăn sâu trong nhận thức của những người có liên quan đến các công việc trên. Hay nói cách khác, tham nhũng và lợi lộc đã trở thành những vấn nạn tiềm ẩn trong đầu tư mua sắm công khi công quỹ và tài sản chung của nhà nước thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nhà nước làm đại diện nên dễ dàng phát sinh các ý định để tham nhũng, đặc biệt là ở các dự án có vốn đầu tư lớn. Để thấy nạn tham nhũng này, theo nghiên cứu của tổ chức Towards Transparency, chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam 2015 đang đứng 112/168 nước trên thế giới và có tính ổn định liên tục từ 2012 cho đến nay. Trong khi đó, ông Phan Văn Sáu, Tổng Thanh tra Chính phủ phát biểu tại phiên họp làm việc với tỉnh Quảng Nam về kiểm tra, giám sát công tác phòng chống tham nhũng, đánh giá rằng tình hình tham nhũng hiện nay đang diễn biến phức tạp, nghiêm trọng nhưng công tác phát hiện và xử lý các vi phạm tham nhũng trên đang có dấu hiệu giảm dần. Nguyên nhân là do công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy địa phương chưa quyết liệt, việc xử lý của các cơ quan tố tụng chưa nghiêm và công tác phối hợp cũng chưa tốt. Chính những nguyên nhân này đã dung túng cho hành vi tham nhũng leo thang và trở thành rào cản đối với các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Tham nhũng trong mua sắm công cũng không phải là quá cá biệt đối với Việt Nam, mà nó trở thành một vấn đề bức bối chung của các nước trên thế giới. Theo tính toán của Ủy ban Châu Âu, mỗi năm, các nước thành viên bị thất thoát khoảng 120 tỷ Euro (tương đương 163 tỷ Đôla Mỹ) do tham nhũng trong mua sắm công, hoặc Tổ chức OECD ước tính, số tiền thất thoát do tham nhũng trong mua sắm công hàng năm là khoảng 2.000 tỷ USD. Do đó, tham nhũng là một vấn đề chung mang tính toàn cầu mà “không ở đâu cái giá phải trả cho tham nhũng lại rõ rệt như trong lĩnh vực mua sắm công”. Mối nguy hại này đã hối thúc TI ban hành “Sổ tay chống Tham nhũng trong Mua sắm công” nhằm đưa ra các phương pháp tăng cường minh bạch và liêm chính trong Chính phủ đồng thời thúc đẩy cộng đồng xã hội tham gia giám sát, (TI group, Các chuẩn mực về minh bạch của APEC trong hoạt động mua sắm công ở Việt Nam, tr.8).
2.2 Những nguyên nhân dẫn đến thực trạng: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, song bên cạnh những nguyên nhân khách quan, pháp luật đấu thầu vẫn tồn tại một số bất cập và tỏ ra chưa sát với yêu cầu thực tế. Các nhóm lợi ích tuy có dè chừng nhưng với quy định của pháp luật hiện nay vẫn có cơ hội hoạt động trong các dự án đầu tư mua sắm công. Ở phạm vi đề tài này, tác giả phân tích một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng trên như sau:
2.2.1 Yêu cầu về công khai, minh bạch trong đấu thầu:
Minh bạch, công khai là những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đấu thầu, nó không chỉ là mục tiêu mà còn là điều kiện để ngăn ngừa và phòng chống tham nhũng. Công khai, minh bạch hiểu một cách nôm na là không “che đậy, giấu giếm”, không bí mật vì lợi ích của một cá nhân hoặc tổ chức nào đó mà cần thể hiện, bày tỏ các nội dung thông tin theo quy định cho mọi người có liên quan.
Để thực hiện tốt mục tiêu này, Luật Đấu thầu Việt Nam đòi hỏi các gói thầu phải được đăng tải công khai đồng thời trên Báo đấu thầu và Cổng thông tin đấu thầu quốc gia về kế hoạch lựa chọn nhà thầu; thông báo mời thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu nhằm bảo đảm mọi nhà thầu đều có cơ hội tiếp cận các thông tin bình đẳng như nhau. Bên cạnh đó, “đối với các nhà thầu không được lựa chọn, trong thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu phải nêu rõ lý do nhà thầu không trúng thầu”, (khoản 3, Điều 42, Luật Đấu thầu 2013). Ngược lại, đối với các nhà thầu muốn tham gia, “phải đăng ký thông tin trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia mới thỏa điều kiện tư cách hợp lệ của nhà thầu”, (khoản 1, Điều 5, Luật Đấu thầu 2013). Đây là những bước cải tiến rất quan trọng trong pháp luật đấu thầu, nhằm tăng cường và bảo đảm nguyên tắc công khai minh bạch trong các thủ tục về đấu thầu.
Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng pháp luật đấu thầu cho thấy, sự thiếu minh bạch vẫn có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào trong quy trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, thể hiện ở các khâu sau: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Chuẩn bị HSMT: ngay từ khi chuẩn bị hồ sơ mời thầu, các thông số kỹ thuật của HSMT đã được cấu thành từ những thông số kỹ thuật của một hoặc một số nhà thầu nào đó, mặc dù Luật Đấu thầu đưa ra quy định hết sức khách quan, “hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng”, (khoản 2, Điều 12, Nghị định 63/2014/NĐ-CP), hoặc “hồ sơ mời thầu không được nêu yêu cầu cụ thể về nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa trong hồ sơ mời thầu”, (khoản 6, Điều 89, Luật đấu thầu), tuy nhiên, sau khi mua HSMT, các nhà thầu đều có thể suy đoán rằng HSMT đang được định hướng cho một loại sản phẩm nào đó, nói chính xác hơn là đang định hướng một nhà thầu nào.
Phát hành HSMT: quảng bá thông tin mời thầu được xác định là một khâu quan trọng trong pháp luật các nước và định chế tài chính quốc tế. Sự quảng bá càng rộng rãi, càng công khai sẽ là điều kiện cần thiết để thu hút tối đa số lượng nhà thầu. Tuy nhiên, các Bên mời thầu hiện nay vẫn luôn tìm cách hạn chế các thông tin, thậm chí cố tình đăng sai lệch nhằm giảm áp lực cạnh tranh như tác giả đã phân tích.
Đánh giá HSDT: theo nghiên cứu của ADB và OECD, đánh giá HSDT và xác định đơn vị trúng thầu thường bị thao túng bởi các động cơ tham nhũng. Chẳng hạn, đối với quy định về làm rõ HSDT, Tư vấn đánh giá thường sẳn sàng cho phép các nhà thầu thân quen bổ sung làm rõ hồ sơ, trong khi những quyền hạn này đối với các nhà thầu khác dường như bị tước mất. Thậm chí trong trường hợp nhà thầu thân quen không đáp ứng được yêu cầu, Bên mời thầu cũng có thể cứu vãn bằng cách lợi dụng quy định cho phép làm rõ HSDT nhằm bổ sung, thay thế và việc này có thể dẫn đến làm thay đổi bản chất năng lực của HSDT. Đây là một hành vi bị cấm trong đấu thầu, tuy nhiên trên thực tế các đơn vị Tư vấn thường thực hiện một cách khá tinh vi và trong một số trường hợp còn được sự đồng ý của cả Chủ đầu tư nên những hành vi như thế này rất khó được phát hiện.
Bên cạnh đó, phương pháp đánh giá HSDT cũng là một vấn đề cần đáng nói khi pháp luật hầu hết các nước (25 nước được nghiên cứu theo báo cáo của ADB/OECD trong quyển Curbing corruption in public procurement in Asia and the Pacific) đều áp dụng hai loại tiêu chuẩn để lựa chọn nhà thầu: (i) tiêu chuẩn tích cực (positive criteria) được áp dụng để xác định giá nhà thầu có lợi thế nhất, trong khi (ii) tiêu chuẩn tiêu cực (negative criteria) lại liên quan đến tính hợp lệ của nhà thầu. Cả hai tiêu chuẩn này đều có thể bị lạm dụng để trao hợp đồng cho một nhà thầu hoặc tùy tiện loại bỏ các đối thủ cạnh tranh. Đối với Luật Đấu thầu 2013 của Việt Nam, một trường hợp tương tự khi luật hiện hành cho phép sử dụng đồng thời 2 phương pháp để đánh giá về năng lực kỹ thuật của nhà thầu (phương pháp chấm điểm và phương pháp tiêu chí đạt/không đạt quy định tại khoản 4, Điều 39, Nghị định 63/2014/NĐ-CP). Trong đó, phương pháp chấm điểm theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới cho rằng tiềm ẩn nhiều ý chí chủ quan, tùy tiện và ảnh hưởng đến tính khách quan của quá trình đánh giá.
Suy cho cùng, những hành vi thiếu minh bạch trên đều xuất phát từ việc thiếu vắng một cơ chế giám sát chặt chẽ và thường xuyên của các cơ quan quản lý hoạt động đấu thầu, điều này đã dẫn đến một cơ chế đấu thầu tùy tiện, khép kín và bóp méo tính cạnh tranh. Ngoài những phạm vi trên, tính không minh bạch còn thể hiện ngay từ những khâu đầu tiên khi xin chủ trương đầu tư và công khai sử dụng ngân sách chính phủ để đầu tư gói thầu. Theo công bố của Tổ chức Hợp tác Ngân sách Quốc tế (IBP), chỉ số Công khai ngân sách (OBI) của Việt Nam năm 2015 chỉ đạt 18/100 điểm, thấp hơn nhiều so với điểm trung bình toàn cầu là 45 điểm và thấp hơn rất nhiều so với hầu hết các nước trong khu vực (Indonesia (59 điểm), Malaysia (46), Thái Lan (42), đặc biệt là Philippines thuộc nhóm các nước có mức công khai ngân sách đáng kể (đạt 62 điểm)).
Một trong những nguyên nhân dẫn đến OBI của Việt Nam thấp là do việc phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước chưa công khai, chưa minh bạch và hạn chế người dân tham gia vào những vấn đề về ngân sách. Qua đó, hạn chế các cơ hội giám sát của cộng đồng và các thể chế giám sát khác trong quy trình ngân sách. Có lẽ cũng chính vì thế mà gần đây Chính phủ đã đề xuất Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải công khai báo cáo tài chính nhà nước cấp tỉnh (bắt đầu thực hiện từ 2018), cho thấy một bước tiến quan trọng trong việc minh bạch, công khai về ngân sách quốc gia.
2.2.2 Nguyên nhân trong quá trình lập HSMT: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Theo quy định của Luật Đấu thầu, để đảm bảo cạnh tranh công bằng và minh bạch,“hồ sơ mời thầu phải quy định rõ về tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, bao gồm tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm; tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật; phương pháp xác định giá thấp nhất; tiêu chuẩn xác định giá đánh giá. Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng”, (Khoản 2, Điều 12, Nghị định 63/2014). Đây là điểm pháp lý rất quan trọng nhằm đảm bảo tính minh bạch và củng cố lòng tin của các nhà thầu. Bởi trên thực tế, không ít Bên mời thầu đã lợi dụng các tiêu chuẩn đánh giá nhằm loại bỏ hoặc hạn chế cạnh tranh từ các nhà thầu không thân quen. Những hành vi này thường thông qua các tiêu chuẩn đánh giá như sau:
- Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kinh nghiệm và kỹ thuật:
Các tiêu chuẩn đánh giá này như một loạt điều kiện nhằm sàn lọc Nhà thầu có đủ năng lực kinh nghiệm của trước khi đi tiếp vào vòng trong (vòng đánh giá về tài chính). Do đó, ở vòng đánh giá này HSDT phải đáp ứng tối thiểu các điều kiện do Bên mời thầu đề ra, bao gồm các tiêu chí đánh giá về năng lực, kinh nghiệm thực hiện các gói thầu tương tự trên thực tế; các tiêu chí đánh giá về năng lực của cán bộ kỹ thuật dự kiến thực hiện gói thầu; tiêu chí đánh giá về kỹ thuật, năng lực tài chính…
Tuy nhiên, sẽ không phải là vấn đề đáng nói nếu như các tiêu chí được xây dựng dựa trên một khung quy chuẩn do Nhà nước ban hành, có cơ sở khoa học và được kiểm chứng bằng những gói thầu cụ thể. Nhưng thực tế cho thấy, các tiêu chí này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Bên mời thầu mà không được trải nghiệm bởi bất kỳ cơ sở thực tiễn nào. Trong khi đó, những khuôn mẫu HSMT do Bộ Kế hoạch & Đầu tư ban hành cũng chỉ nhằm định hướng, mang tính định khung để thống nhất áp dụng trên phạm vi toàn quốc nên không thể theo sát với từng đặc điểm kỹ thuật của mỗi gói thầu. Do đó, pháp luật đấu thầu hiện nay đang trao quyền cho Bên mời thầu “căn cứ vào từng gói thầu cụ thể, khi lập hồ sơ mời thầu phải cụ thể hóa các tiêu chí làm cơ sở để đánh giá về năng lực kỹ thuật”, (khoản 3, Điều 12, Nghị định 63/2014/NĐ-CP). Theo đó, đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, các tiêu chí này có thể dựa trên công suất, hiệu suất, thiết bị, đặc tính, thông số kỹ thuật, tiêu chuẩn sản xuất, công nghệ; chi phí vận hành, duy tu bảo dưỡng… Đối với gói thầu xây lắp, có thể lựa chọn các yếu tố như kinh nghiệm thực hiện các gói thầu tương tự về quy mô, tính chất kỹ thuật, điều kiện địa lý; trình độ cán bộ chuyên môn chủ chốt; năng lực tài hính của nhà thầu…(khoản 4, Điều 12, Nghị định 63/2014/NĐ-CP). Do vậy, tiêu chí đánh giá HSMT dường như là một vấn đề hiện đang còn “để ngỏ”. Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Chính sự mở cửa này đã tạo cho Tư vấn mời thầu nhiều cơ hội hơn, và trong nhiều trường hợp, Tư vấn mời thầu sẽ “cài cắm” một số thông số đặc thù nhằm triệt tiêu khả năng cạnh tranh của các nhà thầu không thân quen. Chẳng hạn gần đây, trong vai trò Nhà thầu tham gia gói thầu xây lắp trụ sở Ngân hàng BIDV tại Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, tác giả nhận thấy rằng Bên mời thầu đã đưa ra một số yêu cầu khá đặc biệt về số lượng xe bơm bê tông tự hành (10 chiếc) trong khi mặt sàn xây dựng của trụ sở này chỉ khoảng 330m2. Về chuyên môn cho thấy, với diện tích mặt sàn tương tự ở các công trình khác thì số lượng xe yêu cầu được cho là quá nhiều và trên mức cần thiết. Bên cạnh đó, HSMT cũng không tuân thủ quy định về thẩm định HSMT trước khi ban hành cũng như tư cách hợp lệ của nhà thầu khi tham gia (Phụ lục 4 – Bảng dữ liệu đấu thầu, mục CDNT 4.1(d) và 4.1(e)) tại Điều 13, Nghị định 63/2014/NĐ-CP: “Hồ sơ mời thầu phải được thẩm định theo quy định tại Điều 105 của Nghị định này trước khi phê duyệt ban hành”;
Khoản 1, Điều 5, Luật đấu thầu 2013 về tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư: “Nhà thầu, nhà đầu tư là tổ chức có tư cách hợp lệ khi đã đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia;”. Trong khi đó, Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC, ngày 08 tháng 09 năm 2015 quy định lộ trình áp dụng bắt buộc nhà thầu phải có tên trên hệ thống đấu thầu quốc gia kể từ ngày 01/7/2016.
Qua gói thầu này, làm tác giả không thể liên tưởng đến gói thầu “dự án nâng cấp, cải tạo đường vào thị trấn Châu Hưng” (huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu) đăng trên Báo Pháp luật TP.HCM, do Trung tâm Dịch vụ đô thị Bạc Liêu làm chủ đầu tư. Bên mời thầu đưa ra tiêu chí Nhà thầu phải sở hữu xe cẩu trên 250 tấn để loại bỏ hầu hết các nhà thầu khác. Bởi theo các nhà thầu cùng tham gia, ai cũng biết rằng Công ty Khang Long đang sở hữu đúng xe cẩu trục như HSMT yêu cầu. Trong khi đó, các thiết bị khác như máy lu bánh sắt, máy lu bánh lớp, máy rải đá, máy bóc xúc, xe tưới… lại không được quan tâm đúng mức. Đặc biệt hơn, Nhà thầu này cũng trúng với mức giá sát với giá gói thầu được phê duyệt (giá phê duyệt là 3,7 tỉ đồng, nhà thầu này trúng với giá 3,6 tỉ đồng).
Những hành vi trên đã trở nên rất phổ biến trong hoạt động đấu thầu hiện nay. Dù không là mới mẽ, song đến nay nó vẫn là một thách thức lớn cho các nhà hoạch định chính sách lẫn các cơ quản quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu.
- Hệ số quy đổi giá đánh giá trong đấu thầu: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Trước khi nghiên cứu khái niệm này, cần khẳng định rằng đấu thầu không phải là việc lựa chọn nhà thầu có giá thấp nhất như phương thức đấu giá. Mà đấu thầu là kết quả của quá trình xem xét, đánh giá các giải pháp được đề xuất thông qua so sánh chất lượng và chi phí thực hiện để xác định đơn vị được trúng thầu. Do đó, có thể nói rằng, pháp luật đấu thầu không chỉ là những quy phạm mang tính bắt buộc mà còn thể hiện ở tính khoa học pháp lý của các quy phạm đó.
Một trong những điểm khoa học nói trên đó là Luật Đấu thầu đòi hỏi Bên mời thầu phải xác lập và công khai các tiêu chuẩn đánh giá HSDT sao cho vừa mang tính khoa học, vừa đảm bảo tính công bằng, minh bạch nhưng phải phù hợp với điều kiện gói thầu thực tế. Trong đó, tiêu chuẩn xác định “giá đánh giá” là vấn đề mang tính quan trọng nhất. Bởi theo quy định của luật đấu thầu, “đối với các HSDT đã vượt qua bước đánh giá về kỹ thuật thì sẽ căn cứ vào giá đánh giá để so sánh, xếp hạng. Nhà thầu có giá đánh giá thấp nhất sẽ được xếp hạng thứ nhất”, (khoản 2, Điều 39, Luật đấu thầu) và được đề nghị trúng thầu “nếu như giá đề nghị trúng thầu không vượt quá giá gói thầu được phê duyệt”.
Như vậy, cần khẳng định rằng “giá đánh giá” không phải là “giá dự thầu” mà là “giá dự thầu sau khi đã được sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch, trừ đi giá trị giảm giá (nếu có), cộng với các yếu tố để quy đổi trên cùng một mặt bằng cho cả vòng đời sử dụng của hàng hóa, công trình”, tức cùng một điều kiện cạnh tranh như nhau, (Điều 4, Luật đấu thầu). Phương pháp đánh giá này được giới chuyên môn đánh giá hiệu quả nhất và được áp dụng rộng rãi ở các nước hiện nay.
Trên thực tế, đối với các gói thầu mua sắm hàng hóa cho thấy, không thể phủ nhận rằng những hàng hóa xuất xứ từ các nước khác nhau tất yếu sẽ dẫn đến chất lượng và giá cả khác nhau. Chẳng hạn, các hàng hóa có xuất xứ từ EU, G7 thông thường sẽ có chất lượng và giá cả cao hơn những nước khác. Bên cạnh đó, chính sách thuế nhập khẩu từ các nước này vào Việt Nam cũng cao hơn, ngoại trừ Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do (FTA).
Từ thực tế nói trên, Tư vấn mời thầu phải có nhiệm vụ xây dựng công thức quy đổi giá cho tất cả hàng hóa xuất xứ từ những nước khác nhau về chung cùng một mặt bằng giá để so sánh. Các yếu tố quy đổi này có thể bao gồm: chi phí cần thiết để vận hành, bảo dưỡng, chi phí liên quan đến xuất xứ hàng hóa, tiến độ, chất lượng của hàng hóa, uy tín của nhà thầu thông qua tiến độ và các yếu tố khác (khoản 2, Điều 39, Luật đấu thầu). Đặc biệt, đối với những gói thầu có quy mô lớn, khi giá máy móc, thiết bị chiếm tỷ trọng gần như là tuyệt đối trong tổng mức đầu tư, việc xác định một công thức phù hợp là một vấn đề không hề đơn giản.
Cho đến nay, hệ số quy đổi này vẫn chưa được pháp luật quy định rõ ràng mà tùy thuộc vào tính chất của từng gói thầu, Tư vấn mời thầu sẽ dựa vào các điều kiện kỹ thuật, tài chính và thương mại để thiết lập công thức sao cho phù hợp nhất (xem Phụ lục 5A). Chẳng hạn như ở gói thầu “cung cấp thiết bị cho giải pháp tăng tốc bảo mật hệ thống website Báo Thanh Niên điện tử”, đơn vị tư vấn đề ra công thức như sau: (xem Phụ lục 5B) Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Trong đó:
- GDT : là giá dự thầu sau khi sửa đổi hiệu chỉnh sai lệch
- GĐCi: là giá điều chỉnh về một mặt bằng giá, được xác định theo công thức sau:
Trong đó, xuất xứ được xác định theo hệ số K có tính đến từng nhóm nước ưu tiên, tùy thuộc vào quan điểm Tư vấn mời thầu mà công thức này có nhiều cách thức xác định khác nhau. Trong gói thầu này, Tư vấn mời thầu xác định như sau:
- Ở các gói thầu khác, Tư vấn mời thầu thường đưa ra công thức chuyển đổi giá đánh giá như sau:
Trong đó: K = 1,3 cho các nước sản xuất từ Asia; K = 1,2 cho các nước EU, G7 nhưng gia công lắp ráp ở Trung Quốc và K =1 cho các nước EU, G7.
Các hệ số (k) này hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm, kinh nghiệm và khả năng nhận thức của đơn vị Tư vấn. Mỗi Tư vấn khác nhau cũng sẽ có những sản phẩm khác nhau. Chính vì thế, công thức xác định giá đánh giá đang tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và trong nhiều trường hợp, công thức này mang tính rất chủ quan sẽ loại bỏ một số Nhà thầu dù đủ khả năng đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng hàng hóa.
Vấn đề này, mặc dù Cục quản lý đấu thầu cũng nhận thức rõ trong Kết luận kiểm tra số 5580/BKHĐT-QLĐT về gói thầu máy phát điện của Đài phát thanh truyền hình An Giang và Ngân hàng VietinBank: “việc đưa ra hệ số này không có khoa học (như căn cứ vào kinh nghiệm thực hiện trước đây, các công bố, nghiên cứu đã được công nhận về chất lượng liên quan đến xuất xứ hàng hóa…) dẫn đến không đảm bảo công bằng đối với hàng hóa có xuất xứ khác nhau, đặc biệt là hàng hóa sản xuất trong nước” (trang 4, Phụ lục 6). Thế nhưng, những kết luận này cho đến nay vẫn chưa có biện pháp nào giải quyết tốt hơn trên thực tế.
Trong khi đó, thẩm định và phê duyệt HSMT dù pháp luật quy định rõ trong Luật đấu thầu năm 2013 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP, thế nhưng, những điểm pháp lý này vẫn chưa được chú trọng một cách nghiêm túc trên thực tế, hoặc dù có thẩm định nhưng kết quả cũng hết sức qua loa, theo kiểu hình thức. Có ý kiến cho rằng nên thành lập một Hội đồng khoa học kinh tế – kỹ thuật tập hợp những chuyên gia giỏi, chuyên gia sâu về lĩnh vực máy móc, thiết bị công nghệ liên quan, như thế sẽ nâng cao tính khoa học và tính thuyết phục trong công thức xác định giá đánh giá. Tuy nhiên, với số lượng gói thầu triển khai rất nhiều và thời gian nghiên cứu xây dựng cũng không phải là tối ưu, ngoại trừ một số dự án mang tính đặc biệt. Do đó, chính “lỗ hỏng” pháp lý này đã trở thành cơ hội cho các bên thao túng và dẫn đến hoạt động đấu thầu kém chất lượng như hiện nay.
2.2.3 Năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia lựa chọn nhà thầu: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Như phân tích trên, đấu thầu là hoạt động mang tính chuyên nghiệp, bài bản, đòi hỏi người hành nghề phải hội đủ những tiêu chuẩn nhất định về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực tư vấn. Bởi đây là đội ngũ trực tiếp có vai trò quyết định chất lượng của hoạt động đấu thầu khi pháp luật đấu thầu đang tin cậy và giao phó một số quyền năng cho chính đội ngũ này. Bên cạnh đó, hầu hết các chủ đầu tư đều không đáp ứng các điều kiện năng lực nên thường thuê Tư vấn để thực hiện thay các công việc liên quan đến toàn bộ quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu.
Song bên cạnh các Công ty tư vấn đáp ứng được các điều kiện năng lực kinh nghiệm, hiểu biết pháp luật đầy đủ thì trong nhiều trường hợp cũng xuất hiện các Công ty tư vấn chưa đáp ứng được yêu cầu, hạn chế kiến thức pháp luật, thậm chí thấp kém về đạo đức đã sẳn sàng đứng ra dàn xếp, thông đồng và thực hiện các hành vi môi giới dẫn đến chất lượng hoạt động đấu thầu chưa đạt các mục tiêu mong muốn.
Cần nói thêm rằng, về chất lượng đội ngũ đấu thầu, trong một thời gian dài Nghị định 85/2009/NĐ-CP quy định điều kiện năng lực cá nhân tham gia mời thầu một cách rất đơn giản, chỉ cần “am hiểu pháp luật đấu thầu; có kiến thức về quản lý dự án và có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu của gói thầu”, (khoản 1, Điều 9, Nghị định 85/2009/NĐ-CP ) là có thể tham gia mà bất chấp quy mô, tính chất, giá trị gói thầu là bao nhiêu. Đối với thành viên “tổ chuyên gia”, mặc dù có yêu cầu cao hơn nhưng cũng chỉ buộc phải trải qua lớp học 03 ngày (điều kiện để cấp chứng chỉ đấu thầu theo quy định tại khoản 3, Điều 5, Nghị định 85/2009/NĐ-CP) và có tối thiểu 3 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan. Vì thế khi lập HSMT, hầu hết các Bên mời thầu đều không thể tự mình thiết lập các đặc tính kỹ thuật của hồ sơ mà phải nhờ từ chính các Nhà thầu tham gia, tư vấn giúp HSMT. Với hành vi này, Tư vấn vừa vi phạm nguyên tắc xung đột lợi ích, vừa vi phạm nguyên tắc cạnh tranh dẫn đến kết quả đấu thầu không công bằng và đảm bảo minh bạch như thời gian qua. Thậm chí có Tư vấn còn không nắm vững quy định pháp luật, kiến thức nghề nghiệp không đầy đủ dẫn tới chất lượng HSMT, công tác chấm thầu và lựa chọn nhà thầu không được đảm bảo.
Với Luật Đấu thầu năm 2013, mặc dù mới được sửa đổi nhưng nhìn chung vẫn không mang lại một bước cải cách nào đáng kể. Cụ thể, khoản 1, Điều 16, Luật Đấu thầu 2013 quy định rằng: “Cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu phải có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu và có trình độ chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm, ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của gói thầu”. Trong khi đó, khoản 2, Điều 7, thông tư 03/2016/TT-BKHĐT vẫn tiếp tục quy định “thời lượng của mỗi khóa đào tạo đấu thầu cơ bản tối thiểu là 24 tiết học tương đương 03 ngày”. Chỉ đối với cá nhân thuộc tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp, doanh nghiệp, đơn vị hoạt động tư vấn đấu thầu thì đòi hỏi trình độ đại học trở lên và phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu.
Ngoài các hạn chế về chuyên môn, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cũng là vấn đề cần đáng nói trong lĩnh vực tư vấn hoạt động đấu thầu. Bởi một số đơn vị tư vấn, dù đáp ứng được các yêu cầu về năng lực chuyên môn, song cũng chủ yếu hoạt động vì mục đích môi giới, đứng ra dàn xếp, thông đồng giữa Chủ đầu tư với các Nhà thầu, lồng ghép các tiêu chí hoặc yêu cầu quá đáng nhằm “giăng bẫy” các nhà thầu khác trong quá trình thiết lập hồ sơ. Bên cạnh đó, không thực hiện đúng các quy định về đảm bảo cạnh tranh như không cho phép các Nhà thầu khác quyền được bổ sung làm rõ HSDT hoặc nếu có cũng là đánh đố vì không nhà thầu nào đáp ứng kịp thời gian. Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Chính những nguyên nhân trên làm cho hoạt động đấu thầu chưa thật sự mang lại hiệu quả, bởi kinh nghiệm và trình độ của Tư vấn đấu thầu đôi khi còn thấp hơn cả các Nhà thầu tham gia. Cộng thêm các công tác nghiệm thu dễ dãi đã góp phần làm cho chất lượng hàng hoá dịch vụ sau đấu thầu không tương xứng với chi phí đầu tư.
2.2.4 Trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước về hoạt động đấu thầu:
Một trong những biện pháp quyết tâm phòng chống tham nhũng được thể hiện trong Luật Đấu thầu đó là tăng cường phân cấp quản lý cho các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương về nhiệm vụ theo dõi, quản lý hoạt động đấu thầu, cụ thể:
Bộ Kế hoạch và Đầu tư “chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu trên phạm vi cả nước” (Điều 83, Luật Đấu thầu 2013).
Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu, (Điều 84, Luật Đấu thầu 2013).
Đối với Người có thẩm quyền, có trách nhiệm“cử cá nhân hoặc đơn vị có chức năng quản lý về hoạt động đấu thầu tham gia giám sát, theo dõi việc thực hiện của chủ đầu tư, bên mời thầu trong quá trình lựa chọn nhà thầu.”, (khoản 1, Điều 126, Nghị định 63/2014/NĐ-CP). Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Bên cạnh đó, kiểm toán, dù không phải là cơ quan được giao nhiệm vụ trực tiếp giám sát các thủ tục đầu tư mà chỉ là một gói thầu phục vụ cho việc quyết toán dự án. Song với trách nhiệm giám sát tài chính của mình, kiểm toán cũng có vai trò kiểm tra tính chấp hành các thủ tục lựa chọn nhà thầu trong quá trình Chủ đầu tư thực hiện dự án.
Như vậy, với một quy trình kiểm soát chặt chẽ như trên, vấn đề đặt ra là liệu cơ chế giám sát này có phát hiện kịp thời và chấn chỉnh các hành vi tiêu cực xảy ra trong thực tế hay không? Câu trả lời nếu không né tránh sẽ là Không, mà hầu hết các vụ án nghiêm trọng đều bắt nguồn từ việc khiếu nại, khiếu kiện của các nhà thầu hoặc thông qua giám sát cộng đồng và các kênh truyền thông báo chí. Chẳng hạn như những nghi vấn tham nhũng và sai phạm của Ban Quản lý dự án PMU Đông Tây trước đây lại bắt nguồn từ một vụ án điều tra ở Nhật theo yêu cầu của Tòa án Quận hạt Tokyo vào năm 2008; hay vụ án PMU18 lại bắt nguồn từ một vụ việc khác có liên quan đến cá độ bóng đá. Trong khi đó, khiếu kiện Chủ đầu tư và Bên mời thầu lại là một điều tối kỵ trong cách suy nghĩ của các nhà thầu, bởi chắc chắn rằng sẽ để lại một điều tiếng không tốt. Chính vì thế, trong đa số trường hợp các Nhà thầu đều lặng lẽ trôi qua để giữ mối quan hệ tốt đẹp và còn gặp lại ở những gói thầu khác. Do đó, cơ chế bảo đảm minh bạch trong đấu thầu một lần nữa đã giảm đi tính hiệu quả.
Bên cạnh đó, quy phạm về trách nhiệm kiểm tra, giám sát của người có thẩm quyền dường như chưa phải là một quy định mang tính bắt buộc, bởi “Người có thẩm quyền quyết định và chỉ đạo việc giám sát, theo dõi hoạt động đấu thầu đối với các gói thầu khi thấy cần thiết”, (khoản 2, Điều 126, Nghị định 63/2013/NĐ-CP). Với những quy phạm mang tính tùy nghi như trên, có thể hiểu rằng không phải bất cứ gói thầu nào cũng được tiến hành theo dõi, giám sát. Những quy định thế này sẽ vừa rất khó thực hiện, vừa tạo khe hở cho một số đối tượng cố ý lợi dụng để thực hiện các hành vi vi phạm. Trên thực tế việc “không cần thiết” có lẽ cũng xảy ra nhiều, khi các chủ đầu tư thường được cấp trên ủy quyền “chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu” nhằm đơn giản hóa các thủ tục đầu tư dự án. Hơn nữa, cơ chế “kiểm tra” cũng không phải được tiến hành một cách thường xuyên mà chỉ tiến hành “theo kế hoạch định kỳ hoặc đột xuất khi có vướng mắc, kiến nghị hoặc yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, người có thẩm quyền của cơ quan kiểm tra”, (khoản 1, Điều 125, Nghị định 63/2014). Do đó, với cơ chế này, các Chủ đầu tư và Tư vấn mời thầu sẽ còn nhiều cơ hội tạo ra những luật chơi riêng hoặc hình thành những quy trình đấu thầu đầy khép kín.
So với các tổ chức tài chính quốc tế, một cơ chế giám sát sẽ hoàn toàn khác biệt khi sự kiểm soát dường như đã luôn sẵn sàng ở bất cứ giai đoạn nào trong quy trình đấu thầu. Cụ thể, tất cả các hồ sơ trước khi ban hành đều phải được kiểm soát một cách kỹ lưỡng, mặc dù bên vay đã sử dụng các mẫu hồ sơ quy định từ các tổ chức này ban hành. Theo hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới, trong quyển Guilines Procurement of Goods, Works, and Non-consulting Services 2011, quy trình kiểm tra này được thể hiện ở các giai đoạn như sau: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Giai đoạn đăng tải thông tin mời thầu (Notification and Advertising): “Bên vay phải chuẩn bị và nộp lên Ngân hàng một Thông báo đấu thầu chung. Ngân hàng sẽ sắp xếp để đăng tải thông báo này trên báo điện tử Kinh doanh Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDB online) và trên trang web liên kết bên ngoài của Ngân hàng”, mục 7, tr.11;
Chuẩn bị phát hành HSMT: “trước khi mời thầu, Bên vay phải nộp lên cho Ngân hàng nhận xét bản dự thảo hồ sơ mời thầu, bao gồm thư mời thầu; chỉ dẫn cho nhà thầu, trong đó mô tả căn cứ để đánh giá hồ sơ dự thầu và trao thầu; các điều kiện hợp đồng và thông số kỹ thuật cho công trình xây lắp, cung cấp hàng hóa, hoặc lắp đặt thiết bị, v.v. Bên vay cũng phải sửa đổi các tài liệu nói trên khi Ngân hàng có yêu cầu. Các sửa đổi tiếp theo phải được Ngân hàng ra quyết định không phản đối trước khi phát hành”, Phụ lục 1, tr.38;
Công bố kết quả lựa chọn nhà thầu: “trước khi chính thức trao quyết định thầu, Bên vay phải cung cấp cho Ngân hàng một báo cáo chi tiết vào thời điểm phù hợp để Ngân hàng đủ thời gian xem xét về việc đánh giá và so sánh các hồ sơ dự thầu”, Phụ lục 1, tr.38; hoặc trong trường hợp hủy thầu “Cần phải có quyết định không phản đối của Ngân hàng trước khi loại bỏ tất cả mọi hồ sơ dự thầu, để mời thầu lại”, mục 2.64, tr.26.
Với quy trình giám sát như trên, có lẽ sẽ phòng ngừa được tối đa các hành vi tiêu cực trong hoạt động đấu thầu, đồng thời bảo đảm thu hút được tối đa số lượng nhà thầu tham gia, vì thế sẽ đảm bảo nguồn vốn đầu tư được hiệu quả. Thiết nghĩ, đây sẽ là một quy trình mẫu cho pháp luật đấu thầu Việt Nam, nhằm góp phần cải thiện chất lượng hoạt động đấu thầu và đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn có hạn của Nhà nước được hiệu quả.
2.2.5 Trách nhiệm thẩm định HSMT và phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Thẩm định HSMT là một điều kiện bắt buộc trong quy trình đấu thầu. Quy định này được minh thị rõ trong rất nhiều điều khoản của Nghị định 63/2013/NĐ-CP: “Hồ sơ mời thầu phải được thẩm định theo quy định tại Điều 105 của Nghị định này trước khi phê duyệt”. Theo đó, các nội dung cần phải thẩm định bao gồm: kiểm tra các tài liệu là căn cứ để lập hồ sơ; kiểm tra sự phù hợp về nội dung so với hồ sơ thiết kế, dự toán của gói thầu, yêu cầu về đặc tính, thông số kỹ thuật của hàng hóa; thời gian thực hiện dự án… đây là những công việc bắt buộc phải thực hiện trước khi phê quyệt và ban hành hồ sơ.
Tuy nhiên, đối với quy định về “trách nhiệm của đơn vị thẩm định” trong Nghị định 63/2013/NĐ-CP, dường như không phải là một trách nhiệm bắt buộc phải thi hành mà chỉ thực hiện “khi có yêu cầu” trong trường hợp các cơ quan sau làm chủ đầu tư:
- “Sở KH&ĐT sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định HSMT và kết quả lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu thuộc dự án do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là chủ đầu tư khi được yêu cầu”, (khoản 2, Điều 104);
- “Cơ quan, tổ chức được Bộ trưởng; Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương; người đứng đầu doanh nghiệp giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm thẩm định HSMT và kết quả lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, doanh nghiệp là chủ đầu tư khi được yêu cầu”, (khoản 4, Điều 104);
Như vậy, với quy định như trên có thể hiểu rằng không phải bất cứ HSMT và kết quả lựa chọn gói thầu nào cũng được tiến hành kiểm tra, thẩm định – đây cũng là một quy phạm mang tính tùy nghi khiến việc áp dụng pháp luật thiếu tính nhất quán, gia tăng quyền lực và tất yếu sẽ ảnh hưởng đến tính minh bạch khi các tổ chức trên làm chủ đầu tư. Trong khi đó, thẩm định HSMT và kết quả lựa chọn nhà thầu lại là hai khâu đặc biệt quan trọng như tác giả đã phân tích ở phần trên. Những quy định tương tự thế này, không chỉ làm suy giảm chất lượng hoạt động đấu thầu mà còn xói mòn tính tuân thủ pháp luật và thiếu tính nhất quán trong các quy trình đầu tư. Mặt khác, xét về quan hệ công việc thì các cơ quan thẩm định này là những đơn vị trực thuộc hoặc được Chủ đầu tư thuê mướn nên rất khó đảm bảo được tính minh bạch, khách quan như các mục tiêu pháp luật đề ra.
Theo các tổ chức tài chính quốc tế, thẩm định HSMT là một quy định hết sức nghiêm ngặt đối với các dự án giải ngân từ nguồn vốn vay của World bank, ADB và JICA. Tất cả những khâu được xem là nhạy cảm bao gồm kế hoạch đấu thầu, các thông số kỹ thuật, tiêu chuẩn đánh giá, quá trình xét chấm thầu và trao quyết định trúng thầu… đều phải được thẩm tra một cách kỹ lưỡng trước khi ban hành. Mặc dù Bên mời thầu tuyệt đối phải sử dụng các mẫu hồ sơ chuẩn, hợp đồng và các tài liệu khác có liên quan của các tổ chức trên ban hành và chỉ được điều chỉnh các thông số phù hợp với gói thầu khi có sự đồng ý của các tổ chức trên. Trong trường hợp, những điều kiện liên quan không có trong hồ sơ ban hành, Bên vay phải sử dụng những tiêu chuẩn chung được quốc tế công nhận nhưng cũng phải được tổ chức trên chấp nhận. Ngay cả kết quả đấu thầu, cũng phải nộp trước báo cáo đánh giá trong một khoảng thời gian thích hợp trước khi công bố kết quả.
2.2.6 Các biện pháp chế tài trong pháp luật hiện nay:
Từ thực tế cho thấy, vi phạm pháp luật đấu thầu vẫn thường xuyên xảy ra trong các dự án đầu tư mua sắm công, mặc dù pháp luật đấu thầu đã trải qua nhiều lần sửa đổi. Để lý giải cho kết luận này sẽ có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, song biện pháp chế tài quá nhẹ nhàng, chưa đủ sức răn đe và thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật được cho là nguyên nhân mang tính cơ bản nhất. Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Ở góc độ khác, phát hiện vi phạm pháp luật đấu thầu trong đa số trường hợp không phải là một việc dễ dàng bởi bản chất đầy bí ẩn của nó. Các nhóm lợi ích vẫn luôn tìm cách cấu kết với nhau tạo thành một vòng tường khép kín, cùng bảo vệ, bao che một cách có hệ thống, nhưng nếu lở bị phát hiện thì một thông điệp cuối cùng sẽ là “hứa rút kinh nghiệm” khi dấu hiệu vi phạm chưa đủ cấu thành tội phạm. Những biện pháp chế tài nhẹ nhàng sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm ngày càng có tính chất nghiêm trọng hơn như thi công trước mới tổ chức đấu thầu như gói thầu sửa chữa cầu Tạ khoa ở tỉnh Sơn La hoặc cản trở, cướp giật hồ sơ dự thầu trước các Ban quản lý dự án các tỉnh. Điều này đã dấy lên một bối cảnh mất an toàn trong môi trường cạnh tranh và cản trở cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Theo tính toán của Ngân hàng thế giới, tham nhũng trong các dự án đầu tư mua sắm công có thể làm tăng chi phí từ 20% trở lên, trong khi đó tổ chức TI lại cho rằng thiệt hại trong các dự án đầu tư mua sắm công thường chiếm khoảng 10% đến 25% và trong một số trường hợp có thể cao đến mức 40%-50% giá trị hợp đồng. Những con số này dẫn đến số tiền tham nhũng mỗi năm hơn 1 ngàn tỷ đô la Mỹ. Một hướng điều tra khác của tổ chức OECD, ước tính số tiền thất thoát bình quân trong mua sắm công mỗi năm chiếm khoảng 2.000 tỷ USD. Điều đáng nói hơn nữa là những thiệt hại này do tham nhũng gây ra ở các quốc gia không chỉ chỉ dừng lại ở những thất thoát về tiền bạc mà còn dẫn đến sa sút môi trường cạnh tranh, chất lượng công trình đầu tư thấp kém và quan trọng hơn hết là xói mòn lòng tin trong công chúng.
Theo pháp luật đấu thầu Việt Nam hiện nay, có 3 hình thức xử lý chính về các vi phạm trong hoạt động đấu thầu, gồm: (Điều 90, Luật đấu thầu; Điều 121, Nghị định 63/2014/NĐ-CP)
- Cảnh cáo, phạt tiền theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch đầu tư;
- Cấm tham gia hoạt động đấu thầu;
- Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu mà cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật về hình sự. Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Ngoài ra, đối với các vi phạm gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Đối với cán bộ, công chức còn bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Trong các hình thức trên, “truy cứu trách nhiệm hình sự” là biện pháp chế tài lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 với mức hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù vừa có hiệu lực từ tháng 7 năm 2016. Quan điểm pháp luật này đã tiệm cận với một số luật các nước về đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu mà tác giả sẽ phân tích tiếp ở Chương sau. Có như thế mới đủ sức răn đe, chấn chỉnh và phòng ngừa chung cho những hành vi tiêu cực thường xảy ra trong lĩnh vực đấu thầu.
Tuy nhiên, đối với hình thức xử lý hành chính, nhìn chung các quy định hiện nay tại Nghị định 50/2016/NĐ-CP (vừa mới có hiệu lực ngày 15/07/2016) không có một thay đổi nào đáng kể so với Nghị định 155/2013/NĐ-CP trước đây về nội dung lẫn khung phạt vi phạm. Theo đó, mức phạt cao nhất được giới hạn ở mức 40.000.000 đồng cho cả hành vi quan trọng nhất là “đánh giá hồ sơ dự thầu không đúng tiêu chuẩn dẫn đến thay đổi kết quả lựa chọn nhà thầu” hoặc “cho phép nhà thầu làm rõ hồ sơ dự thầu dẫn đến làm thay đổi bản chất hồ sơ”, tại khoản 5, Điều 20, Nghị định 50/2016/NĐ-CP. Vì thế đây không phải là một biện pháp chế tài thích đáng nhằm chấn chỉnh các hành vi vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu. Trong khi đó, lợi ích mang lại từ những hành vi phi pháp này là rất lớn. Vì thế các đơn vị Tư vấn vẫn luôn sẵn sàng chấp nhận đánh đổi các rủi ro để thu được những khoản lợi lớn hơn nhiều so với thù lao tư vấn đấu thầu. Do đó, các mức chế tài hiện nay nhất thiết cần phải nghiên cứu đánh giá lại mới đảm bảo được mục tiêu về cạnh tranh.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Nghiên cứu thực tiễn áp dụng luật đấu thầu cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng hoạt động đấu thầu kém hiệu quả như hiện nay. Nhưng suy cho cùng, các nguyên nhân chính đều xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia trong quá trình đấu thầu mà trước hết phải kể đến những nguyên nhân xuất phát từ chủ đầu tư. Bởi nếu Chủ đầu tư có nghiêm túc, chấp hành đúng pháp luật, công tâm và liêm chính thì các bên sẽ khó hòng thực hiện các hành vi tiêu cực. Qua các dẫn chứng trên cho thấy, một số Bên mời thầu dù là các cơ quan quản lý nhà nước nhưng vẫn không chấp hành đúng pháp luật (thi công trước mới đấu thầu, trúng thầu với giá khớp dự toán), thậm chí còn thực hiện những hành vi lẫn trốn, cản trở Nhà thầu tiếp cận hồ sơ.
Đối với các đơn vị tư vấn, nếu Chủ đầu tư không bật đèn xanh thì Tư vấn mời thầu – đơn vị làm thuê dù có muốn cũng không dám trỗ tài. Trong khi đó, cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm trong Luật Đấu thầu chưa chặt chẽ, một số quy phạm còn thể hiện ở tính tùy nghi “khi cần thiết” nên chưa kịp thời phát hiện các hành vi tiêu cực. Bên cạnh đó, các biện pháp chế tài xử lý vi phạm hiện nay chưa đủ mạnh và chưa đầy đủ làm cho quy trình đấu thầu đôi khi chỉ là các thủ tục mang tính hình thức.
Ngoài các hạn chế trên, cũng cần kể đến vai trò, trách nhiệm của các Cơ quan quản lý nhà nước, Người có thẩm quyền trong các nhiệm vụ được pháp luật giao. Sự buông lỏng của cả hệ thống giám sát đã dẫn đến thất thoát nguồn vốn nhà nước, mất tính cạnh tranh trong hoạt động mua sắm công, ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa dịch vụ sau đấu thầu và quan trọng hơn hết là mất niềm tin công chúng vào quá trình thực thi pháp luật. Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.
Để kết thúc Chương này, tác giả xin mượn lời của TS.Nguyễn Việt Hùng, Nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý đấu thầu thuộc Bộ KH&ĐT để thay cho lời kết:“Chừng nào những tiêu cực trong đấu thầu chưa được xử lý thích đáng thì những mục tiêu công khai, minh bạch và hiệu quả kinh tế của Luật Đấu thầu cũng sẽ nằm trên giấy”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp Luật Đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công