Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng pháp luật chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Quan hệ thừa kế là quan hệ giữa người có quyền hưởng di sản và những người không có quyền hưởng di sản. Việc hưởng di sản còn có thể dựa trên thoả thuận giữa những người có quyền hưởng di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Nhưng trên thực tế, sự thỏa thuận của các đương sự thường gặp phải một số rào cản nhất định, nhiều trường hợp các bên không thể thỏa thuận thống nhất ý chí về thanh toán, phân chia di sản và một trong các thừa kế đã thực hiện việc khởi kiện ra Tòa án.
Tuy số lượng các vụ tranh chấp về thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở được giải quyết có phần triệt để nhưng nhìn chung thì chất lượng xét xử các vụ án thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Tòa án nhân dân các cấp còn có nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau. Hơn nữa, do tính chất phức tạp của vụ việc dẫn đến tình trạng các vụ án thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở còn tồn đọng chưa thể giải quyết được hoặc còn bị khiếu kiện nhiều lần.
Thứ nhất: Các tranh chấp về phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở rất phổ biến trong các tranh chấp về thừa kế. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là phương thức phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Phân chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho dù theo di chúc hoặc theo pháp luật là phân chia hiện vật hay phân chia theo giá trị có thể chỉ áp dụng phương thức này mà không sử dụng được phương thức kia. Nguyên nhân là do diện tích nhà ở và đất ở quá nhỏ, nếu chia ra thành nhiều phần thì giá trị sử dụng bị giảm sút hoặc không thể sử dụng được. Việc chia theo giá trị di sản thừa kế là nhà ở và đất ở còn xảy ra trong trường hợp chia di sản nhân có sự kiện có người thừa kế mới.
Việc phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở nhằm bảo vệ quyền thừa kế của những người có quyền thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật nhưng không phải bao giờ việc phân chia các di sản này cũng thuận lợi vì có thể có rất nhiều sự kiện phát sinh sau khi di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được chia cần được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong chương này, học viên sử dụng một số bản án phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở điển hình, để phân tích nhằm làm rõ tính phức tạp của loại tranh chấp này, để từ đó có những đánh giá, nhận xét và chỉ ra những điểm chưa thật phù hợp của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân các cấp giải quyết những tranh chấp về chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Đồng thời qua đó để có những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quy định về chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam trong những năm trước mắt và lâu dài.
Căn cứ vào bản: “Thống kê thụ lý, giải quyết các tranh chấp về thừa kế” của Toà án nhân dân Tối cao, số liệu thống kê từ năm 2006 đến năm 2013, để thấy được những tranh chấp về thừa kế mà Toà án các cấp đã thụ lý và giải quyết nhiều đến mức nào. Tuy nhiên, cho đến nay chưa thể thống kê được số lượng những tranh chấp về chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở, nhưng Bản thống kê dưới đây cũng phản ảnh phần nào những tranh chấp về thừa kế, trong đó có tranh chấp về chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam trong 8 năm trở lại đây (Từ khi Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực).
- BẢNG 2.1: THỐNG KÊ THỤ LÝ, GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ
Căn cứ vào số liệu thống kế, nhận thấy số lượng các vụ tranh chấp về thừa kế tăng theo từng năm và tính phức tạp cũng tăng theo. Căn cứ vào số liệu thống kế các vụ đã xử hoặc giải quyết tuy đã nhiều, nhưng số vụ án còn lại với số lượng cũng rất lớn theo tỷ lệ 5247 vụ đã xử so với 1946 vụ án còn lại chưa giải quyết được do tính phức tạp của tranh chấp. Số liệu thống kê này đã phản ánh khách quan những tranh chấp về quyền thừa kế di sản, trong đó có chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam trong 8 năm trở lại đây. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Trong chương 2 luận văn, học viên nghiên cứu, phân tích kết hợp giữa lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc chia di sản là nhà ở và quyền theo di chúc, theo pháp luật, hạn chế phân chia di sản và các yếu tố khác có liên hệ hữu cơ với việc chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở như: Chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế; chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở có di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng và thời hiệu khởi kiện về thừa kế…
2.1. Chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo di chúc
Việc chia di sản theo di chúc được quy định tại khoản 1 Điều 684 Bộ luật Dân sự năm 2005 là: “Việc phân chia được thực hiện phân chia theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác” [23, Điều 684]. Ngoài ra, tại các khoản 2 và khoản 3 Điều 684 quy định về phân chia di sản theo hiện vật và người được chia di sản là hiện vật được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó, đồng thời phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản. Nếu di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị tài sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.
Việc phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo di chúc là phân theo nội dung của di chúc mà người lập di chúc đã lập. Người thừa kế được chỉ định thừa kế theo di chúc là người hoặc những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản, có thể là người không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản, chủ thể được thừa kế theo di chúc còn là pháp nhân, nếu người để lại di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở chỉ định hưởng di sản theo di chúc.
Căn cứ theo quy định tại Điều 684 Bộ luật Dân sự, thì việc phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở cũng được thực hiện theo ý nguyện của người để lại di chúc. Nếu ý nguyện của người lập di chúc đã thể hiện rõ ràng người được thừa kế là ai, nhà ở được hưởng được xác định rõ địa điểm có ngôi nhà (làng, xã, huyện, diện tích ngôi nhà, hình thức ngôi nhà, số nhà, bản đồ địa chính mà ngôi nhà tồn tại trên lô đất số mấy, bản đồ địa chính…), Diện tích đất là bao nhiêu, thuộc lô đất nào? Bản đồ địa chính và lô đất mà ngôi nhà đang tồn tại… Trong trường hợp này, người thừa kế di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở nhận di sản thừa kế một cách bình thường. Tuy nhiên, có trường hợp di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở, theo quy định tại khoản 1 Điều 684 Bộ luật Dân sự, thì phần của từng người thừa kế được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc. Việc chia đều di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở trong nhiều trường hợp rất khó khăn do diện tích nhà, do vị trí và hướng nhà, do nhà có nhiều tầng, nhà ít tầng, phần nhà được chia thuận lợi cho giao thông, thương mại và phần nhà được chia không thuận tiện cho giao thông, thương mại hoặc phần nhà, phần đất được chia có địa giới liền kề với những địa giới khác, mà bản thân người được chia không ưng ý cũng xảy ra những bất hoà, xung đột về những lợi ích ngoài di sản là nhà ở và đất ở được chia. Các cụ có câu: “Đánh nhau chia gạo, chào nhau ăn cơm”, đã thể hiện rõ trong các tranh chấp chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam trong những năm qua và hiện nay. Học viên đã lâu năm với công việc thực tiễn trong ngành Toà án, đã có những nhận xét khách quan về những tranh chấp trong việc “chia” này. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Thông thường thì nhà ở là vật chia được, nếu thoả mãn quy định tại Điều 177 Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định về vật chia được và vật không chia được:
- Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu.
- Vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu. Khi cần phân chia vật không chia được thì phải trị giá thành tiền để chia [23, Điều 117].
Tuy nhiên, có những vật theo tính chất là vật chia được nhưng vật khi phải phân chia trong hoàn cảnh cụ thể thì xác định vật đó là vật không chia được. Những vật như vậy thường gặp trong những hoàn cảnh cụ thể như diện tích của một ngôi nhà là vật chia được nhưng ngôi nhà đó có diện tích nhỏ nếu chia diện tích nhà cho những người thừa kế thì ngôi nhà đó không thể sử dụng được. Một ví dụ điển hình cho trường hợp này: Di sản thừa kế của ông A có ngôi nhà 30 mét vuông nhưng có 8 người được chỉ định thừa kế ngôi nhà này và mọi người đều yêu cầu chia diện tích nhà (chia hiện vật). Nếu theo yêu cầu của những người thừa kế, diện tích ngôi nhà được phân chia thì mỗi suất thừa kế được chia 4 mét vuông. Mỗi người thừa kế được 4 mét vuông, sau đó còn phải xây tường ngăn cách các phần được thừa kế của mỗi người thì tính chất của nhà ở bị phá vỡ. Như vậy, trong trường hợp này, ngôi nhà là di sản thừa kế coi như vật không chia được thì những người thừa kế phải thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật. Nếu không thoả thuận được thì ngôi nhà có diện tích 30 mét vuông được bán để chia tiền (theo khoản 2 Điều 685). Nhưng di sản thừa kế là nhà ở không chia được trong trường hợp này lại đang có tránh chấp, thì không thể bán được. Đây là một thực tế ở Việt Nam. Nếu có bán thì người mua cũng dè chừng vì tính phức tạp của quan hệ giữa những người thừa kế ngôi nhà đó với nhau. Hơn nữa, người thừa kế nhà ở trong trường hợp này có thể có người ngoài diện thừa kế theo pháp luật nhưng được chỉ định thừa kế theo di chúc, có tranh chấp với người thuộc diện thừa kế theo pháp luật và được chỉ định thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo di chúc.
Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người thừa kế theo ý chí tự nguyện của người để lại di sản thể hiện trong di chúc. Theo Điều 649 Bộ luật Dân sự 2005 thì di chúc phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc bằng văn bản bao gồm: di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có công chứng; di chúc bằng văn bản có chứng thực. Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2003, Luật Nhà ở 2005 và Luật Đất đai năm 2013 không quy định di chúc để lại thừa kế quyền sử dụng đất phải là hình thức nào, như vậy hình thức của di chúc để lại tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở cũng tương tự như di chúc để lại các loại tài sản khác. Tuy nhiên Điều 119 Nghị định 181/2004/NĐ-CP thì lại có quy định hợp đồng hoặc giấy tờ khi người sử dụng đất thực hiện quyền thừa kế phải có công chứng hoặc chứng thực, gây ra cách hiểu là di chúc để lại di sản quyền sử dụng đất phải có công chứng hoặc chứng thực. Điều này mâu thuẫn với Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự, do đó Nghị định 181 cần được chỉnh sửa cho phù hợp.
Khi lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc. Khi có ít nhất hai người làm chứng, người lập di chúc có thể nhờ người khác viết di chúc nhưng vẫn phải tự mình ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng, sau đó những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ và họ sẽ cùng ký vào bản di chúc. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Ngoài ra người lập di chúc cũng có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc. Di chúc được lập thuộc những trường hợp quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự tuy không được công chứng, chứng thực nhưng lại có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Di chúc miệng chỉ được chấp nhận trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác (như bị tai nạn rất nặng phải nằm bất động…) mà không thể lập di chúc bằng văn bản. Người di chúc miệng phải thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ, trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. Đây là điểm mới so với Bộ luật Dân sự 1995, vì Bộ luật Dân sự 1995 chỉ quy định “ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ” [20] mà không có thời hạn đi công chứng, chứng thực. Do đó, rất khó để xác định “ngay sau đó” là khoảng thời gian bao nhiêu có thể chấp nhận được. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ, suy ra là nếu sau ba tháng người lập di chúc đã chết hoặc mặc dù còn sống nhưng không còn minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng vẫn có hiệu lực. Người làm chứng trong di chúc miệng cũng cần tuân theo Điều 654 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người lập di chúc chết). Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật. Trường hợp bản di chúc sau cùng bị vô hiệu vì lý do nào đó (chẳng hạn do vi phạm điều kiện có hiệu lực của di chúc) thì di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở được phân chia theo pháp luật.
Di chúc có hiệu lực pháp luật khi thỏa mãn đồng thời những điều kiện: Người lập di chúc phải đảm bảo đủ điều kiện được lập di chúc (là cá nhân, có năng lực chủ thể trong việc lập di chúc); Cũng như để lại các loại tài sản khác ngoài nhà ở, thì người để lại di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở là chủ sở hữu của nhà ở, phần nhà ở hoặc căn hộ chung cư, đồng thời là người có quyền sử dụng diện tích đất ở đó. Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam, sự thật thì người để lại di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở là chủ sở hữu những tài sản này, nhưng lại không có một loại giấy tờ nào chứng minh người để lại thừa kế theo di chúc là chủ sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Tranh chấp di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở trong trường hợp này nếu giải quyết thì rất nan giải và phức tạp. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Ngoài ra, đối với di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý; Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực; Đối với di chúc miệng cần phải đảm bảo đủ điều kiện về trường hợp được lập di chúc miệng và thủ tục lập di chúc miệng.
Người để lại thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo di chúc phải có đủ điều kiện của chủ thể lập di chúc theo qui định tại Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 về người lập di chúc: Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
- Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý [23, Điều 647].
Người thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo di chúc là cá nhân, tổ chức quyền sử dụng đất theo di chúc có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức.
Người thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Có nghĩa là để tham gia vào quan hệ thừa kế thì người thừa kế phải có năng lực chủ thể, tức là người đó phải còn sống. Nếu đứa trẻ sinh ra và còn sống thì sẽ được hưởng thừa kế, nếu sinh ra và chết ngay thì phần di sản đó được chia cho những người thừa kế khác. Người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức đó phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, tức là chúng đã được thành lập và chưa chấm dứt hoạt động.
Theo quy định tại Điều 636 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” [23, Điều 636].
Những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác (ví dụ hai bên thoả thuận được là người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản hoặc người thừa kế sẽ thực hiện nghĩa vụ vượt ra ngoài phạm vi di sản do người chết để lại). Trong trường hợp di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế. Trường hợp di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Sự khác biệt giữa Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 là trong Bộ luật Dân sự 2005 ngoài việc quy định mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận thì còn quy định thêm “trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Điều này tạo ra cơ hội cho những người thừa kế và chủ nợ được thoả thuận việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại một cách tự nguyện, mềm dẻo, không bị cứng nhắc. Chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo di chúc không những chia theo di chúc riêng của cá nhân, mà còn chia theo di chúc chung của vợ chồng (do vợ chồng lập di chúc chung). Dưới đây là một vụ tranh chấp về chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo di chúc chung của vợ, chồng:
Về di chúc chồng của vợ, chồng: Theo Bản án số 1/2011/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2011 giải quyết tranh chấp về thừa kế liên quan đến di chúc chung. Bên nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim Dung, sinh năm 1959; cư trú: Phường Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội; bị đơn: ông Phạm Đăng Ngọc, sinh 1943, cư trú cùng phường Cát Linh.
Theo đơn khởi kiện, ngày 18 tháng 6 năm 2010 chị Phạm Thị Dung trình bày: Bố mẹ chị đã lập di chúc chung ngày 04/03/2002. Tài sản chung của bố, mẹ chị là cụ Phạm Đăng Cống (mất năm 2007) và mẹ là cụ Nguyễn Thị Âu (mất năm 2006). Tài sản chung của hai cụ có: Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
- 98,4 mét vuông đất thuộc thửa số 183, tờ bản đồ số 7G-II-46, trên có nhà bê tông xây gạch, được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10109030184 ngày 12/6/2001.
- 104 mét vuông đất thuộc thửa số 203, tờ bản đồ 7G-II-46 trên có nhà bê tông gạch, có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10109030184 ngày 12/6/2001. Diện tích nhà trên đất này, do anh Bình chi xây dựng nên thuộc quyền sở hữu của anh Bình, chị không yêu cầu chia.
- Nhà đất tại thôn Mỹ, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai – Hà Nội đứng tên cụ Nguyễn Thị Âu. Cụ Âu và cụ Cống đã lập chung di chúc giao cho anh Phạm Đăng Chung trực tiếp quản lý dùng vào việc thờ cúng bố mẹ và các cụ nội, ngoại nên chị không yêu cầu chia thừa kế diện tích đất này.
Ngày 4 tháng 3 năm 2002, cụ Phạm Đăng Cống và cụ Nguyễn Thị Âu lập di chúc chung với nội dung: Hai cụ quyết định bán căn nhà trên thửa đất số 183 (hiện đang có tranh chấp). 50% số tiền bán được sẽ gửi tiết kiệm để các cụ sinh sống, dưỡng già; 50% số tiền còn lại (sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan) sẽ được chia cho các con theo nguyên tắc con trai mỗi người được hưởng 3 phần thì con gái mỗi người được hưởng một phần mà không phân biệt thứ bậc. Sau khi di chúc được lập, các cụ không bán được nhà và đến năm 2006 cụ Âu chết; năm 2007 cụ Cống chết. Các con của hai cụ gồm: Ông Phạm Đăng Chung; ông Phạm Đăng Bình; bà Phạm Thị Liên; bà Phạm Thị Diệp; bà Phạm Thị Chi.
Toà áp dụng các Điều 646, 649, khoản 4 Điều 650, Điều 652, 653, 657, 658, 663, 664, 668 Bộ Luật dân sự để giải quyết.
Toà quyết định sau khi đã xác định giá trị di sản theo giá thị trường tại thời điểm đó là 9.840.000.000 đồng:
- Chia thừa kế theo di chúc cho 03 người con trai của cụ Cống và cụ Âu gồm: ông Phạm Đăng Ngọc, Phạm Đăng Bình, Phạm Đăng Chung mỗi người được hưởng 3 kỷ phần là 756.923.077 x 3 = 2.270.769.230 đồng;
- Chia thừa kế cho 4 người con gái là: bà Phạm Thị Kim Dung, bà Phạm Thị Liên, bà Phạm Thị Diệp, bà Phạm Thị Chi mỗi người được hưởng một kỷ phần trị giá 756.923.077 căn cứ vào cách chia trên, Toà án đã chia bằng hiện vật.
Căn cứ vào bản án trên, nhận thấy chia di sản theo di chúc chung của vợ chồng trong trường hợp cả hai vợ chồng đều đã chết thì không mấy khó khăn. Tuy nhiên, nếu vợ hoặc chồng còn sống mà muốn sửa đổi, bổ sung di chúc thì chắc chắn rằng việc giải quyết các tranh chấp sẽ không đơn giản. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Người thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở là Nhà nước, cơ quan hay tổ chức khác cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản như người thừa kế là cá nhân.
Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Thời hạn thực hiện quyền từ chối là sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế. Việc đưa ra thời hạn từ chối nhận di sản nhiều khi khó thực hiện, vì người thừa kế có thể sẽ từ chối nhận di sản bất kỳ thời điểm nào mà không ai bắt được họ phải nhận (trừ trường hợp họ thuộc đối tượng từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ). Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, những người theo quy định tại khoản 1 không được quyền hưởng thừa kế theo pháp luật di sản thừa kế nói chung và di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở nói riêng (không được chia di sản):
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự, thì những người này vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi vi phạm của những người đó mà vẫn đồng ý cho họ hưởng di sản theo di chúc. Vì vậy, di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở của người chết để lại vẫn được chia cho những người không được quyền hưởng theo pháp luật, nhưng vẫn được quyền hưởng theo di chúc, nếu người có tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở vẫn chỉ định cho họ hưởng theo di chúc.
2.2. Chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở có di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
2.2.1. Nhà ở và quyền sử dụng đất ở là di sản dùng vào việc thờ cúng
Thờ cúng tổ tiên là phong tục của người Việt Nam đã có từ rất xa xưa và hiện nay vẫn được coi trọng. Cơ sở của quan niệm mang tính chất đạo đức và văn hoá, có những quy ước rất chặt chẽ của gia đình, dòng tộc, đồng thời Nhà nước cũng cũng có những quy định pháp luật cụ thể.
Di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định của pháp luật thời thực dân – phong kiến “là phần động sản hay bất động sản trong gia tài dùng vào việc cúng giỗ một người vợ hoặc người chồng người ấy và việc cúng giỗ tổ tiên bên nội người ấy” [30]. Thông thường, di sản dùng vào việc thờ cúng được chuyển giao cho người nối dõi hay được coi là nối dõi người đã chết để sử dụng thu hoa lợi dùng vào việc thờ cúng cho người để lại hương hoả và những người theo quan hệ huyết tộc của người đó. Phần tài sản dùng vào việc thờ cúng không quá 1/5 tổng giá trị tài sản của người để lại di sản đó. Di sản dùng vào việc thờ cúng được coi như trường tồn, do vậy không thể chia thừa kế. Tuy nhiên, di sản dùng vào việc thờ cúng có thể không trường tồn ngoài ý chí của cá nhân do bị tiêu huỷ hay di sản bị trưng dụng do hội đồng gia tộc quyết định hoặc theo quy định của pháp luật [30].
Dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ của công dân được pháp luật thừa nhận và có những quy định bảo vệ.
- Thông tư số 81-TANDTC chỉ hướng dẫn về hướng giải quyết tranh chấp về nhà thờ họ.
Khi Pháp lệnh thừa kế được ban hành (có hiệu lực vào ngày 10 tháng 9 năm 1990), di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định tại Điều 21: “Nếu người lập di chúc có để lại di sản dùng vào việc thờ cúng thì di sản đó được coi như di sản chưa chia”. Điều 21 PLTK có quy định theo nguyên tắc nếu di sản khác của người chết để lại không bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản đó với người khác thì di sản dùng vào việc thờ cúng phải được coi là di sản chưa chia và cũng phải đưa vào khối tài sản thanh toán nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại.
BLDS năm 1995 được ban hành quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng tại Điều 673 và Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành, quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng tại Điều 670. Theo quy định tại các Điều 673 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Điều 670 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì di sản dùng vào việc thờ cúng không được chia thừa kế mà chỉ để dùng vào việc thờ cúng. Điều 670 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lí để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lí để thờ cúng.Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lí di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lí di sản thờ cúng.
Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc người đang quản lí hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng [23, Điều 670].
Căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng: Do người lập di chúc định đoạt phần di sản dùng vào việc thờ cúng và chỉ rõ tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở được dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó là phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
Về giá trị kinh tế của di sản dùng vào việc thờ cúng: Nội dung Điều 670 Bộ luật Dân sự không quy định cụ thể giá trị kinh tế của di sản dùng vào việc thờ cúng chiếm tỉ lệ nhất định nào trong tổng giá trị khối di sản của người chết để lại, do vậy xung quanh vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng (xét về kinh tế) theo tỉ lệ nào trong giá trị di sản của người chết để lại là hợp lí?
Điều 670 Bộ luật Dân sự thì hiểu một phần di sản dùng vào việc thờ cúng là một phần nhỏ trong tổng giá trị tài sản (di sản) do người lập di chúc để lại. Theo cách hiểu này thì một phần di sản dùng vào việc thờ cúng được xác định căn cứ vào cách chia di sản của người chết thành nhiều phần bằng nhau, chọn cách chia thành một trăm phần, theo đó một phần không thể lớn hơn năm mươi phần trăm của tổng giá trị di sản của người lập di chúc để lại. Nếu phần di sản dùng vào việc thờ cúng lớn hơn 1/2 tổng giá trị di sản của người chết để lại thì khi đó là phần lớn mà không thể hiểu là một phần. Cách hiểu này về hình thức tương đối phù hợp với thực trạng của đời sống xã hội. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Cách hiểu thứ hai, phủ nhận cách hiểu thứ nhất ở những căn cứ pháp luật quy định quyền tự định đoạt của chủ sở hữu tài sản. Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản của mình theo di chúc cho người thừa kế, để lại di sản dùng vào việc thờ cúng theo luật định. Như vậy, người lập di chúc có quyền định đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình là nhà ở và quyền sử dụng đất ở sau khi chết để dùng vào việc thờ cúng.
Trường hợp thứ nhất, nếu sự định đoạt đó vi phạm quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự. Nếu người lập di chúc định đoạt phần lớn hoặc toàn bộ di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở dùng vào việc thờ cúng mà xâm phạm đến quyền được hưởng 2/3 suất thừa kế được chia theo pháp luật của cha, mẹ, vợ, chồng, các con dưới 18 tuổi và các con tuy đã thành niên mà không có khả năng lao động thì trước hết tính phần thừa kế cho những người này theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự, phần còn lại là di sản dùng vào việc thờ cúng [30].
Trường hợp thứ hai, quyền của người lập di chúc định đoạt di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở dùng vào việc thờ cúng bị hạn chế trong trường hợp toàn bộ tài sản khác của người đó để lại không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở dùng vào việc thờ cúng (khoản 2 Điều 699 Bộ luật Dân sự).
Với quy định tại Điều 670 Bộ luật Dân sự năm 2005 về di sản dùng vào việc thờ cúng không những rất phức tạp khi áp dụng đối với di sản thông thường khác, mà còn phức tạp hơn khi di sản dùng vào việc thờ cúng được người lập di chúc định đoạt là nhà ở và quyền sử dụng đất ở thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng. Vì vậy, trong việc giải quyết tranh chấp về di sản dùng vào việc thờ cúng là nhà ở và quyền sử dụng đất ở Toà án các cấp gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Sau đây là một tranh chấp về di sản dùng vào việc thờ cúng. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Ông Nguyễn Quang Vinh có hai vợ là bà Phạm Thị Mai và cụ Nguyễn Thị Muôn đều cư trú tại thành Phố H. Ông Vinh chết năm 1997, bà Mai chết năm 1999 và bà Muôn chết năm 1999. Ông Vinh và bà Mai có bốn người con là: ông Hưng, ông Minh, bà Linh và ông Ngọc. Ông Vinh và bà Muôn có một người con chung là bà Hà. Tài sản mà ba cụ để lại có nhà, đất với tổng diện tích 1055m2. Năm 1990, ông Vinh lập di chúc để lại tài sản hương hỏa, giao cho con trai ông Vinh là ông Hưng toàn bộ số tài sản trên để ở và thờ cúng tổ tiên. Nhưng sau khi ông Vinh mất, ông Hưng đã đem bán một phần nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người khác. Nhà thờ cũng bị phá bỏ. Sau khi ông Hưng qua đời, con trai ông Hưng đã phá bỏ nhà cũ và tự phân chia diện tích đất cho anh em mình, thậm chí còn bán một phần đất cho người khác và không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thờ cúng. Tháng 10/2007, các đồng thừa kế gồm: bà Hà, bà Linh, ông Ngọc và ông Minh làm đơn yêu cầu chia thừa kế di sản.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 30/2007/DSST ngày 30/9/2007 của Tòa án nhân dân thành phố H quyết định:
- Bác yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Hà, bà Linh, ông Ngọc và ông Minh.
- Giao cho ông Hưng tiếp tục quản lý toàn bộ số tài sản trên để ở và thờ phụng tổ tiên.
Sau khi nghiên cứu bản án dân sự sơ thẩm số 30/2007/DSST ngày 30/9/2007 của Tòa án nhân dân thành phố H. học viên hoàn toàn nhất trí với quyết định của Toà án thành phố H, với các lý do:
Về di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định tại Điều 670 Bộ luật Dân sự năm 2005. Nhưng điều luật lại không quy định nghĩa vụ thờ cúng được thực hiện như thế nào? Điều 670 Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định: …di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế [23, Điều 670].
Theo tranh chấp này, ông Hưng và con trai của ông đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng, mà còn phá bỏ nhà thờ, tự ý chia di sản cho những người khác. Mục đích của loại di sản này là dùng vào việc thờ cúng người đã khuất nếu những người nhận di sản không thực hiện được nghĩa vụ này thì nên cho phép những người thừa kế khác có quyền yêu cầu chia di sản và di sản đó có thể được đem phân chia lại hoặc giao cho người khác quản lý thực hiện nghĩa vụ thờ cúng theo đúng ý nguyện của người lập di chúc. Nội dung Điều 770 Bộ luật Dân sự quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng rất “lấp lửng” vì không xác định ai sẽ là chủ sở hữu của loại tài sản là nhà ở và đất ở khi được người lập di chúc chỉ định làm di sản dùng vào việc thờ cúng? Trong trường hợp tất cả người thừa kế theo di chúc đều đã chết, và người đang trực tiếp quản lý di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở dùng vào việc thờ cúng không đồng thời là người thừa kế theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 Bộ luật Dân sự? Hơn nữa, di sản của người chết là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người này khi còn sống bao gồm nhưng tài sản theo quy định tại Điều 163 năm Bộ luật Dân sự năm 2005 (có nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Nhưng đất ở thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, có thể được sử dụng làm di sản dùng vào việc thờ cúng không? Về sự bất cập này, học viên sẽ có kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng khi Bộ luật Dân sự năm 2005 được sửa đổi, bổ sung.
2.2.2. Chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở trong trường hợp có di tặng Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Về di tặng được quy định tại Điều 671 Bộ luật Dân sự, tại khoản 1 quy định: “Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác…” [23, Điều 671]. Như vậy, di tặng là một phần tài sản trong khối di sản thừa kế được trích ra để dành cho người được di tặng theo ý nguyện của người lập di chúc. Người được di tặng có thể là bất cứ ai cá nhân, tổ chức. Theo quy định của pháp luật di tặng phải được ghi rõ trong di chúc nếu không sẽ được hiểu là di sản thừa kế theo di chúc. Chỉ trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản thì phần di tặng sẽ được dùng để thanh toán phần nghĩa vụ còn lại. Đây là điểm khác nhau giữa người được hưởng di tặng và người hưởng thừa kế theo di chúc [30].
Di tặng là nhà ở và quyền sử dụng đất ở, thì về nguyên tắc cũng được dùng để thanh toán các khoản nợ của người chết để lại, phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc cho những người được thừa kế theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự, còn lại để cho người được hưởng di tặng. Tuy nhiên, do Điều 61 không định tính di sản dùng để di tặng, cho nên người lập di chúc có quyền định đoạt nhà ở và quyền sử dụng đất ở thuộc quyền sở hữu của mình cho người được chỉ định trong di chúc hưởng di tặng. Về bản chất của di tặng chỉ có nghĩa là hàm ơn, dùng để làm kỷ niệm… Nhưng Điều 671 Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định về di tặng không nằm trong bản chất truyền thống này. Vì vậy, khi chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất liên quan đến di tặng, Toà án các cấp gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Về di tặng nói chung và di tặng là nhà ở và quyền sử dụng đất ở nói riêng, học viên sẽ có kiến nghị nhằm hoàn thiện Điều 671 Bộ luật Dân sự năm 2005, khi được sửa đổi, bổ sung.
2.3. Chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Về phân chia di sản thừa kế ở Việt Nam trước khi có Pháp lệnh thừa kế năm 1990, đã có hướng dẫn tại Thông tư số 81-HĐTP Toà án nhân dân tối cao ngày 24 tháng 7 năm 1981 quy định về việc bảo vệ quyền hưởng di sản của những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc lần đầu tiên được quy định trong Thông tư số 81 của Tòa án nhân dân tối cao, tiếp đến là Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005. Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc: Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.
Những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đều là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản. Họ không được người để lại di sản cho hưởng hoặc chỉ định bị truất quyền hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng một phần di sản ít hơn hai phần ba suất của người thừa kế theo pháp luật. Nếu họ là những người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Ðiều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, mà họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Ðiều 642 Bộ luật Dân sự năm 2005 hoặc họ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà không có người thừa kế thế vị thì họ không được tính vào nhân suất những người thừa kế theo luật để xác định người được hưởng di sản “không phụ thuộc vào nội dung di chúc”.
Theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự thì cách tính 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nhà ở và quyền sử dụng đất ở có thể được áp dụng như sau đây.
Thứ nhất, lấy tổng di sản gốc hoặc giá trị di sản gốc là nhà ở và quyền sử dụng đất ở (phần di sản còn lại) để chia thừa kế sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại theo thứ tự ưu tiên thanh toán được quy định tại Điều 683 Bộ luật Dân sự gồm mai táng phí cho người đó, các khoản cấp dưỡng còn thiếu, các khoản bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác, các khoản nợ của Nhà nước, của các chủ thể khác; chi phí quản lí, bảo quản di sản… Phần di sản còn lại được hiểu là di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở để chia thừa kế và là phần di sản gốc đem chia cho những người thừa kế gốc tại hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng, được bao nhiêu nhân với 2/3 của suất đó và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được hưởng phần đã được xác định theo cách tính này.
Thứ hai, những người thừa kế gốc tại hàng thừa kế thứ nhất được hiểu là người thừa kế có tên trong hàng đó và có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật. Người thừa kế gốc tại hàng thừa kế thứ nhất là những người thừa kế có quyền hưởng di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Nếu người có tên trong hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự nhưng đã từ chối quyền hưởng di sản hoặc không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự thì bị loại khỏi hàng thừa kế. Những người bị loại khỏi hàng thừa kế thứ nhất không phải là tham số để xác định một suất thừa kế chia theo pháp luật [30]; [33]; [34]. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Mục đích của quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ, vợ, chồng, con của người để lại di sản trước những quyết định bất lợi đối với họ. Trong gia đình cha mẹ có bổn phận chăm sóc, nuôi dưỡng con cái ngược lại các con phải kính trọng, nuôi dưỡng cha mẹ; vợ chồng phải yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau đó là truyền thống tốt đẹp từ lâu đời của dân tộc ta. Bổn phận đối với những con người ấy không chỉ được thực hiện khi người để lại di sản còn sống, mà ngay cả khi họ chết đi thì bổn phận đó được thực hiện bằng việc người để lại di sản để lại một phần tài sản của mình cho cha, mẹ vợ chồng con cái của họ. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự, thì những người này sẽ không có quyền hưởng di sản nếu họ có hành vi theo quy định tại các điểm a, b, c và d (khoản 1 Điều 643).
Điều 669 Bộ luật Dân sự thể hiện vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Đối với di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở càng quan trọng hơn đối với những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Nếu di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở trong trường hợp chia được bằng hiện vật, thì họ có được diện tích nhà, diện tích đất ở giúp cho họ đỡ khó khăn hơn và trong nhiều trường hợp giải quyết được tính cấp bách về nơi ở cho họ. Ngoài ra, nếu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trong trường hợp không thể chia bằng hiện vật (do quá nhỏ), thì phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà họ được hưởng quy ra giá trị (nhận tiền) cũng giúp họ giảm được phần nào khó khăn trong cuộc sống.
2.4. Chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo pháp luật, căn cứ vào Điều 685 Bộ luật Dân sự. Việc phân chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dựng đất ở theo pháp luật trong trường hợp người có tài sản khi chết mà không để lại di chúc, hoặc có để lại di chúc nhưng di chúc không đảm bảo để có hiệu lực pháp luật cho việc thực hiện thừa kế theo di chúc, do đó pháp luật đã quy định một hình thức thừa kế khác là thừa kế theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật đều là những người có ít nhất một trong các mối quan hệ về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Vì vậy: “Nếu thừa kế theo di chúc là nhằm chuyển tài sản của người để lại di sản cho người thừa kế theo sự định đoạt ý chí của người lập di chúc thì thừa kế theo pháp luật là việc phân chia di sản cho người thừa kế theo ý chí của Nhà nước” [30].
- Theo qui định tại Điều 674 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì:
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Vậy, chia di sản thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo pháp luật là việc dịch chuyển nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất từ người chết sang cho người thừa kế được hưởng theo những điều kiện và trình tự hàng thừa kế do pháp luật qui định [23, Điều 674].
Chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo pháp luật cũng phải tuân theo quy định chung về thừa kế theo pháp luật, các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật Dân sự từ Điều 733 đến Điều 735. Ngoài ra, hình thức thừa kế này còn phải tuân theo những quy định về đất đai liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất.
Những trường hợp thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở cũng tuân theo những qui định chung tại Điều 675 Bộ luật Dân sự. Những trường hợp này cũng được áp dụng đối với thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo pháp luật.
Chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo pháp luật, trước hết xác định diện và hàng những người thừa kế theo pháp luật. Diện thừa kế theo pháp luật nói chung và diện thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở nói riêng được hiểu là “phạm vi những người có thể được hưởng di sản do người chết để lại được xác định theo một trong ba quan hệ: Quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản” [35].
- Hàng thừa kế: Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Trên cơ sở diện thừa kế, pháp luật đã quy định ra các hàng thừa kế, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Thứ tự hàng thừa kế được sắp xếp theo nguyên tắc ưu tiên theo quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
Quan hệ vợ, chồng phải là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Tuy nhiên, quan hệ vợ chồng trong những trường hợp sau cũng được công nhận là vợ chồng và được thừa kế di sản của nhau: Một là, quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật) mà chưa đăng ký kết hôn; hai là, nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật), có đủ điều kiện nhưng chưa đăng ký kết hôn (nhưng sau ngày 01/01/2003 mà không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng).
Vợ (chồng) của người chết vẫn được thừa kế tài sản ở hàng thừa kế thứ nhất trong các trường hợp: khi còn sống họ đã chia tài sản chung; họ đã xin ly hôn nhưng bản án hoặc quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật; sau khi một người chết thì đi kết hôn với người khác; nhiều vợ (nhiều chồng) được pháp luật thừa nhận thì những người vợ (chồng) của người này đều được thừa kế ở hàng thứ nhất và ngược lại [28].
Việc nhận nuôi con nuôi được pháp luật thừa nhận thì cha mẹ nuôi và con nuôi được thừa kế di sản của nhau. Theo quy định của pháp luật hiện hành, con nuôi vừa được thừa kế theo pháp luật của cha mẹ nuôi vừa được thừa kế theo pháp luật của cha mẹ đẻ. Cần lưu ý là con nuôi cha mẹ đẻ và con đẻ của cha mẹ nuôi không có quan hệ thừa kế theo hàng.
Con riêng và bố dượng, mẹ kế không thuộc hàng thừa kế nào nhưng theo quy định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự 2005 nếu họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau ở hàng thừa kế thứ nhất và trường hợp này được áp dụng thừa kế thế vị đối với con đẻ của con nuôi. Ở đây có một vấn đề là hiểu thế nào là “có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con”, vậy chỉ có một bên có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng có được công nhận không, hay một bên không trực tiếp chăm sóc, ít quan tâm mà chỉ gửi tiền cho để sinh sống thì có được coi là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng không? Để tránh nhiều cách hiểu khác nhau, pháp luật cần cụ thể hơn về điểm này.
Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Theo Bộ luật Dân sự năm 1995, hàng thừa kế thứ hai không có cháu ruột và hàng thừa kế thứ ba không có chắt ruột của người chết mà người chết là ông (bà) nội, ông (bà) ngoại, cụ nội, cụ ngoại. Việc quy định này có lẽ là do nhà làm luật cho rằng cháu và chắt sẽ được thừa kế thế vị nên không nhất thiết phải đưa vào hàng thừa kế. Đến Bộ luật Dân sự 2005, việc bổ sung này đã tạo ra sự thừa kế triệt để hơn cho những người có quan hệ huyết thống gần gũi.
Khi hàng thừa kế thứ nhất đều đã chết không còn ai, thì các cháu (mà cha mẹ chúng là những người ở hàng thừa kế thứ nhất đã chết) được thừa kế thế vị, mà không phải được thừa kế ở hàng thứ hai.
Nếu những người ở hàng thừa kế thứ nhất đều không còn ai do đều từ chối quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hay không có quyền hưởng di sản (theo Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005), thì các cháu (con của những người ở hàng thừa kế thứ nhất) sẽ được thừa kế ở hàng thứ hai (mà không phải thế chân cha mẹ thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất như thừa kế thế vị). Đây chính là trường hợp cháu sẽ không được thừa kế nếu cháu không được bổ sung vào hàng thừa kế thứ hai.
Nhưng nếu ở hàng thừa kế thứ nhất ngoài những người từ chối quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản, không có quyền hưởng di sản thì vẫn còn những người khác, trong trường hợp này di sản thừa kế sẽ được chia cho những người thừa kế còn lại này, mà các cháu không được thừa kế ở hàng thứ hai.
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Tương tự như trường hợp thừa kế của cháu ở trên, cũng cần lưu ý trường hợp khi hàng thừa kế thứ hai đều không còn ai nhưng do đều đã chết thì chắt được thừa kế thế vị còn nếu do từ chối quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản, không có quyền hưởng di sản thì chắt sẽ thừa kế ở hàng thứ ba [30]. Sau đây là vụ án chia di sản thừa kế có tính phức tạp.
Ông Nguyễn Chí Hòa và bà Vũ Diệu Châu kết hôn từ năm 1982, có 3 người con chung là Nguyễn Chí Danh, Nguyễn Chí Dũng và Nguyễn Chí Hùng. Tài sản chung hợp nhất của ông Hòa và bà Châu có căn nhà ở số 20 Ngõ Văn Hương, Phường Hàng Bột, Quận Đống Đa, Hà Nội. Năm 2002, bà Châu qua đời không để lại di chúc. Năm 2004 ông Hòa kết hôn với bà Lê Thị Hòe. Cả ông Hoà và bà Hoè đều được hưởng lương hưu cho nên các con không cần phải chu cấp nuôi dưỡng. Nay ông Hoà và các con của ông phát sinh mâu thuẫn bố con ông mâu thuẫn sâu sắc cho nên không thể thoả thuận phân chia di sản thừa kế của bà Châu để lại. Vào ngày 25/2/2005, ông Hòa có đơn gửi yêu cầu TAND quận Đống Đa phân chia di sản thừa kế của bà Châu. Ông Hòa đề nghị được chia 1/2 diện tích tầng 01 để làm chỗ ở; anh Danh đề nghị được hưởng kỷ phần thừa kế tại tầng 01, còn các tầng trên thì yêu cầu được thanh toán theo giá trị và công sức đóng góp xây dựng; anh Dũng yêu cầu tiếp tục được ở lại ngôi nhà số 20 Ngõ Văn Hương và yêu cầu được thanh toán công sức đóng góp xây dựng ngôi nhà; anh Hùng cũng đề nghị được hưởng kỷ phần bằng hiện vật, mà không chấp nhận thanh toán theo giá trị. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Tại bản án số 25/2005/DSST, TAND Quận Đống Đa, Hà Nội đã ra quyết định:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Chí Hòa về chia di sản thừa kế.
- Bà Vũ Diệu Châu chết không để lại di chúc, hàng thừa kế thứ nhất của bà Châu gồm 4 người là ông Hòa (chồng bà), và 3 người con trai là anh Danh, anh Dũng và anh Hùng.
- Ngôi nhà số 20 Ngõ Văn Hương được định giá là 3.588.000.000 đồng. Đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông Hòa và bà Châu. Nên di sản mà bà Diệu để lại có trị giá 1.794.000.000 đồng được chia làm 4 phần bằng nhau và mỗi kỷ phần được hưởng là 448.500.000 đồng.
- Chia hiện vật cụ thể: Chia ngang ngôi nhà. Chia cho anh Hùng diện tích của tầng 1 là 8,6m2. Toàn bộ diện tích nhà đất anh Hùng được chia có giá trị là 2.400.000 đồng. So với kỷ phần được hưởng, anh Hùng phải thanh toán cho những người đồng thừa kế 1.951.500.000 đồng. Cụ thể là thanh toán cho ông Hòa số tiền là 1.054.500.000 đồng, và anh Danh, anh Dũng mỗi người 448.500.000 đồng
- Chia cho ông Hòa diện tích còn lại của tầng 1 là 8m2. Toàn bộ diện tích nhà đất của ông Hòa được hưởng là 1.188.000.000 đồng, so với tài sản được sở hữu của ông Hòa và kỷ phần thừa kế ông được hưởng thì ông còn thiếu 1.054.500 đồng, số tiền này ông được nhận thanh toán từ anh Hùng.
Anh Nguyễn Chí Danh không đồng ý với quyết định của Toà án, vì vậy anh đã có đơn kháng cáo vào ngày 24/11/2005, yêu cầu cho anh được hưởng di sản bằng hiện vật và cho rằng cách chia hiện vật theo chiều ngang như bản án sơ thẩm là không hợp tình, hợp lý. Ngày 25/11/2005 anh Nguyễn Chí Hùng cũng có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu xác định 1/2 ngôi nhà số 20 ngõ Văn Hương thuộc sở hữu của vợ chồng anh, với lý do là vợ chồng anh đã có công tu sửa. Việc chia cho ông Hòa một phần tầng 01 là không hợp lý vì ông Hòa không có nhu cầu thực sự ở ngôi nhà đó!
Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định:
- Bác đơn kháng cáo của anh Nguyễn Chí Danh và của anh Nguyễn Chí Hùng.
- Công nhận bản án dân sự sơ thẩm. Vì xét thấy việc định giá tài sản, cách phân chia di sản trong bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Đây là vụ việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật là nhà ở. Xét thấy Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định đúng đắn vụ việc. Nhận thấy đề nghị của anh Danh yêu cầu hưởng di sản bằng hiện vật tại nhà số 20 nói trên là không có cơ sở. Thực tế, anh Danh đã có nơi ở ổn định và cũng không đang chung sống tại ngôi nhà số 20, ngõ Văn Hương nói trên. Về phía anh Hùng anh cũng không chứng mình được là anh có công tu sửa. Phương thức chia cắt ngang ngôi nhà trên như trong bản án sơ thẩm đã quyết định là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì nếu chia dọc thì diện thích quá hẹp và không thể sử dụng được vào việc ở và lãng phí. Trên cơ sở định giá do Tòa án và Toà án quận Đống Đa chia hiện vật cho những người đang trực tiếp quản lý, sử dụng và có nhu cầu thực sử dụng nhà ở là di sản thừa kế. Căn cứ vào qui định tại khoản 2 Điều 685 Bộ luật dân sự năm 2005:
Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật, nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Tuy rằng pháp luật quy định cụ thể về hình thức phân chia di sản, nhưng còn tùy thuộc vào từng trường hợp trường hợp Tòa án chỉ có thể phân chia bằng hiện vật hoặc chỉ có thể phân chia bằng giá trị di sản. Với vụ việc trên, Toà án nhân dân quận Đống Đa đã căn cứ vào tình hình thực tế của di sản thừa kế là nhà ở, căn cứ vào nhu cầu thực tế của người thừa kế để quyết định phù hợp. Việc quyết định này đã giải quyết thoả đáng việc chia di sản thừa kế là nhà ở, có xem xét đến thực trạng di sản và nhu cầu sử dụng thực tế của người thừa kế.
Đối với quyền sử dụng đất ở, từ Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Đất đai năm 1993 đến Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 đều quy định quyền được để lại thừa kế của cá nhân và cá nhân là thành viên hộ gia đình. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng có thể trở thành chủ thể được để lại thừa kế quyền sử dụng đất ở.
Theo Luật Đất đai năm 1993 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được để lại thừa kế quyền sử dụng đất. Nhưng Luật Đất đai năm 2003 đã quy định cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài (người có quốc tịch Việt Nam, người gốc Việt Nam sinh sống lâu dài ở nước ngoài) có quyền để thừa kế nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở nếu thuộc đối tượng quy định tại Điều 121 Luật Đất đai năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Theo qui định trong Luật Sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai thì đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được để lại thừa kế quyền sử dụng đất đã mở rộng rất nhiều so với trước. Như vậy, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở tại Việt Nam để ở thì được nhận thừa kế nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở. Như đã phân tích tại phần trên về phương thức phân chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở có thể phân chia bằng hiện vật hoặc phân chia giá trị. Riêng đối với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng trên thì được hưởng giá trị nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.
- Theo Bản án số 44/2011/DS-ST, ngày 19/9/2011 giải quyết tranh chấp về chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở có di chúc.
- Nguyên đơn: Ông Lộc Quang Sơn, sinh 1957, Trú tại số 84, phố Đồng Xuân, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội;
- Bị đơn: 1) Bà Lộc Thị Triều, sinh 1946, thường trú số 10, Nguyễn Khang, Cầu Giấy, Hà Nội;
- Lộc Thị Đức, sinh 1952, trú tại số 32, Hà Trung, Hoàn Kiếm, Hà Nội;
- Lộc Thị Hoa, sinh 1954, trú tại 51, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Di sản là nhà đất tại số 84, phố Đồng Xuân, Hà Nội là của bố, mẹ ông Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Lộc Quang Sơn. Vào ngày 04 tháng 05 năm 1993, bố, mẹ ông Sơn đã lập di chúc có chứng thực của Phòng Công chứng số 1 thành phố Hà Nội. Nội dung di chúc có viết:
Chúng tôi là đồng sở hữu một phần ngôi nhà số 84, phố Đồng Xuân. Phía ngoài diện tích chính là 46,56 mét vuông; diện tích phụ 12,48 mét vuông; ngõ đi chung của hai nhà là 15,2 mét vuông. Sau khi vợ chồng chúng tôi đều đã qua đời, toàn bộ nhà nói trên và mọi vật dụng khác, chúng tôi cho con trai Lộc Quang Sơn (tức Hùng) được thừa kế toàn bộ.
Các bị đơn thừa nhận bản di chúc của bố, mẹ họ được lập vào ngày 04/05/1993 tại Phòng Công chứng số 1 là đúng, nhưng ông Sơn chỉ được thừa kế toàn bộ ngôi nhà với điều kiện ông phải thanh toán cho bốn người em gái mỗi người 50 chỉ vàng 99,9. Ông Sơn chưa thực hiện, cho nên các bà không đồng ý cho ông Sơn đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các bà nói, mỗi bà đã nhận được đủ 50 chỉ vàng 99,9 nhưng số vàng này không phải của ông Sơn, mà của bố, mẹ họ cho ông.
Toà quyết định: Thừa nhận ông Lộc Quang Sơn (tức Hùng) được sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà và diện tích đất ở tại số 84 phố Đồng Xuân. Buộc ông Sơn có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lộc, bà Hoà, bà Đức mỗi người 50 chỉ vàng 99,9 tương đương với số tiền là 7.720.000 đồng/chỉ vàng x 50 chỉ = 236.000.000 đồng (theo giá vàng được đăng trên báo Hà Nội Mới ngày 16/9/2011).
Theo kết quả giải quyết tranh chấp trên nhận thấy: Ông Lộc Quang Sơn được hưởng di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở của bố, mẹ ông để lại theo di chúc. Còn các em gái của ông, bố mẹ cũng cho hưởng di sản theo di chúc nhưng với số lượng vàng cụ thể. Vì vậy, chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở có những tình huống linh hoạt, theo ý chí của người lập di chúc. Những người em của ông Sơn cũng được thừa kế một phần giá trị nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo di chúc của bố, mẹ ông.
2.5. Chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở có người thừa kế mới hoặc người bị bác bỏ quyền thừa kế và thừa kế thế vị Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
2.5.1. Trường hợp có người thừa kế mới
Người thừa kế mới ở đây được hiểu là những người thừa kế xuất hiện sau khi di sản đã được phân chia. Những người này có thể là:
Con của người để lại di sản, đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống vào sau thời điểm phân chia di sản chỉ dành duy nhất một phần cho người này nhưng sau đó lại xuất hiện việc sinh đôi, sinh ba….
Hoặc sau khi đã phân chia di sản xong thì xuất hiện thêm người con hoặc cha, mẹ của người để lại di sản lúc này mới được Tòa án công nhận.
Con hoặc cha, mẹ của người để lại di sản bị Tòa án tuyên là đã chết trước đây nay quay trở về hay có tin tức xác thực là còn sống vào sau thời điểm phân chia di sản thừa kế.
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 687 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì:
Trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Quy định này tạo sự dễ dàng, thuận lợi trong việc phân chia di sản thừa kế khi người thừa kế mới xuất hiện sau thời điểm phân chia di sản thừa kế. Trên thực tế có nhiều trường hợp, các hiện vật đã phân chia cho người thừa kế, nếu yêu cầu chia lại sẽ rất phức tạp và khó thực hiện. Ngoài ra, việc xác định giá trị tài sản thừa kế để quy đổi thành tiền cho người thừa kế mới chỉ nhằm đảm bảo được quyền hưởng di sản của họ. Nhưng quy định này tồn tại bất cập. Nếu di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì ngoài giá trị vật chất còn mang ý nghĩa tinh thần đối với người thừa kế. Nhà ở và quyền sử dụng đất ở trong nhiều trường hợp định giá bằng tiền không có nhiều ý nghĩa, vì tiền không thể mua được những lợi ích xã hội khác mà nhà ở mang lại.
Trong trường hợp những người thừa kế để lại một suất thừa kế chia theo pháp luật cho người thừa kế cùng hàng đã thành thai ra đời còn sống thì được hưởng. Nhưng bào thai được sinh ra hai người hoặc ba người thì những người đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới (hoặc những người thừa kế mới) khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó được hưởng tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận. Như vậy, người thừa kế mới không được nhận di sản hiện vật là nhà ở và quyền sử dụng đất ở, mà chỉ được nhận phần giá trị tương ứng với phần nhà ở và phần đất ở được chia theo pháp luật mà cá nhân họ được hưởng. Pháp luật cũng cho phép những người thừa kế cùng nhau thoả thuận để có thể chia di sản theo phương thức thoả thuận nhưng thoả thuận không được trái với pháp luật, trái đạo đức xã hội (khoản 1 Điều 687 Bộ luật Dân sự năm 2005). Với những bất cập như đã phân tích, học viên sẽ có kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở trong trường hợp có người thừa kế mới tại chương 3.
2.5.2. Trường hợp có người bị bác bỏ quyền thừa kế Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 687 Bộ luật Dân sự năm 2005:
Trong trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Quy định trên là quy định trong trường hợp di sản thừa kế đã chia và người thừa kế đã nhận phần di sản mình được hưởng.
Trường hợp người được hưởng di sản lại không phải là người có quyền hưởng di sản và bị bác bỏ quyền thừa kế theo một bản án có hiệu lực pháp luật. Người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế là người đã nhận di sản chia theo di chúc hoặc chia theo pháp luật. Người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế không được hưởng phần nhà ở và phần đất ở, và người này phải chuyển giao phần nhà và diện tích đất ở cho những người thừa kế khác có quyền hưởng để họ chia theo pháp luật hoặc người này có nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở nhận được tại thời điểm phân chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thoả thuận khác [23, Điều 687].
Phần di sản mà người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế hoàn trả sẽ được đem chia cho những người thừa kế theo pháp luật trong hàng thừa kế có quyền hưởng di sản.
2.5.3. Chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người thừa kế thế vị
Theo nguyên tắc chung, người thừa kế là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng nhằm bảo vệ quyền thế vị của các cháu nội, ngoại, các chắt nội ngoại của người để lại di sản, Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định thừa kế thế vị:
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống [23, Điều 677].
Như vậy, thừa kế thế vị là việc các con (cháu, chắt) được thay vào vị trí của bố hoặc mẹ (ông, bà) để hưởng di sản của ông, bà (hoặc cụ) trong trường hợp bố hoặc mẹ (ông hoặc bà) chết trước hoặc chết cùng ông, bà (hoặc cụ). Những người thừa kế thế vị được hưởng phần di sản mà bố, mẹ mình (hoặc ông, bà) đáng lẽ được hưởng nếu còn sống, được chia đều di sản với những người thừa kế khác. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Thừa kế thế vị chỉ xuất hiện trong quan hệ thừa kế theo pháp luật. Điều này cũng dễ hiểu vì trong thừa kế theo di chúc khi mà người được hưởng thừa kế di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì phần di chúc liên quan đến người đó sẽ không còn hiệu lực. Quy định về trường hợp thừa kế thế vị nhằm bảo vệ quyền lợi của các cháu, chắt khi cha, mẹ của họ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông, bà; những người có quan hệ huyết thống trực hệ trong phạm vi gần gũi cho đến đời thứ ba. Những người thừa kế cùng hưởng thế vị từ một người thì phải chia đều nhau phần di sản mà người cha hoặc mẹ, ông hoặc bà của họ nếu còn sống sẽ được hưởng.
- Mặt khác, pháp luật cũng quy định:
Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Ðiều 676 và Ðiều 677 của Bộ luật này [23, Điều 678].
Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Ðiều 676 và Ðiều 677 của Bộ luật này [23, Điều 677].
Đây là quy định cho thấy sự bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử giữa con riêng của vợ và con riêng của chồng với các con chung của họ, sự phân biệt giữa mẹ kế, cha dượng với mẹ đẻ, cha đẻ. Nếu họ đã tự nguyện coi nhau như những người thân trong gia đình thể hiện ở việc quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng con riêng chồng, vợ cũ với cha dượng, mẹ kế; mẹ kế, cha dượng coi con riêng như con đẻ của mình thì cũng là căn cứ để xác định người thừa kế thế vị.
2.6. Hạn chế phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Việc chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở được thực hiện kể từ khi xác định được khối di sản này của người chết hiện vẫn còn để chia và có người hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên, khi đã xác định được các yếu tố trong quan hệ pháp luật thừa kế là chủ thể có quyền hưởng, di sản còn để chia thừa kế và người thừa kế không từ chối quyền hưởng nhưng việc chia di sản chưa được thực hiện vì các lí do theo quy định tại Điều 686 Bộ luật Dân sự. Điều 686 Bộ luật Dân sự quy định về hạn chế phân chia di sản: “Trong trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia…” [23, Điều 686]. Theo quy định trên, việc hạn chế phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở xảy ra trong trường hợp:
- Theo định đoạt của người lập di chúc đã được thể hiện rõ di sản chỉ được chia sau một sự kiện hoặc sau thời hạn một năm, hai năm kể từ ngày người để lại di sản chết.
- Theo thoả thuận của tất cả những người có quyền hưởng di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Theo quy định trên, nếu có một hoặc một số người có quyền thừa kế không thoả thuận được với những người thừa kế khác trong việc xác định thời hạn phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì không thể hạn chế phân chia.
Ngoài hai trường hợp trên, hạn chế phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở còn được xác định trong trường hợp nếu loại di sản này được chia ngay sau khi đã hội tụ đủ các yếu tố trong quan hệ thừa kế, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì theo yêu cầu của người còn sống là vợ hoặc chồng của người để lại di sản, Toà án xác định phần di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia các loại di sản này trong một thời hạn nhất định. Thời hạn hạn chế phân chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở không quá ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, cũng tương tự như chia các loại di sản khác [23, Điều 686].
Trường hợp pháp luật quy định có thể có trong cuộc sống, nếu di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở được chia ngay sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người vợ hoặc người chồng còn sống và gia đình. Trong trường hợp ngôi nhà ở là di sản thừa kế, người vợ hoặc người chồng còn sống cùng các thành viên khác trong gia đình còn cần sử dụng vào việc ở, có kèm theo kinh doanh, làm dịch vụ nhỏ để có thu nhập bảo đảm cuộc sống; nếu chia ngay ngôi nhà đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của các thành viên trong gia đình và người chồng hoặc người vợ còn sống của người để lại di sản đó; vì họ chưa có điều kiện về thời gian để tạo lập nơi ở khác. Tuy nhiên, phần thừa kế của mỗi người được hưởng từ ngôi nhà đó đã được toà án xác định và người vợ hoặc người chồng của người để lại ngôi nhà là di sản thừa kế đó vẫn do người vợ hoặc người chồng còn sống quản lí với tư cách người quản lí di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở chưa chia. Người quản lí di sản này có các quyền và nghĩa vụ của người quản lí di sản thừa kế chưa chia theo quy định tại các Điều 638, Điều 639 và Điều 640 Bộ luật Dân sự. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Sự hạn chế phân chia di sản nói chung và di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở nói riêng bị chấm dứt trong trường hợp hết thời hạn hạn chế phân chia di sản mà Toà án đã xác định hoặc bên còn sống là vợ hoặc chồng của người để lại di sản đã kết hôn với người khác, thì những người thừa kế có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế.
2.7. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Thời hiệu khởi kiện về thừa kế được quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự. Thời hiệu này được áp dụng đối với thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Đồng thời, các chủ nợ của người để lại di sản có quyền yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Pháp luật không phân biệt thời hiệu khởi kiện về thừa kế đối với loại tài sản gì. Như vậy, thời hiệu khởi kiện về thừa kế di sản là nhà ở và đất ở cũng áp dụng quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự.
Theo Điều 161 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì thời gian không tính vào thời kiệu khởi kiện là sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan; chưa có người đại diện nếu người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hay chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chừa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản là ba năm, đây là thời hạn được bổ sung tại Bộ luật Dân sự năm 2005, trong Bộ luật Dân sự năm 1995 không quy định thời hạn này. Điều này không những gây khó khăn cho việc xác minh, thu thập chứng cứ của toà án, mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế (nếu để quá lâu việc lưu giữ chứng từ thực hiện nghĩa vụ không đảm bảo). Tuy nhiên, khi quy định thời hiệu khởi kiện là ba năm cũng gây ra những bất cập nhất định: Một là, thời hiệu khởi kiện thực hiện nghĩa vụ chung đã hết nhưng khi con nợ chết, thời hiệu khởi kiện lại được tính thêm ba năm (vì được tính từ thời điểm mở thừa kế) tức là thời hiệu khởi kiện thực hiện nghĩa vụ được kéo dài thêm; Hai là, trong trường hợp khi chưa đến hạn thực hiện nghĩa vụ nhưng con nợ chết thì thời hiệu sẽ được tính từ khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ hay từ khi mở thừa kế. Do đó, cần phải có quy định rõ ràng hơn để tạo thuận lợi cho Toà án, người có quyền lợi liên quan dễ xử lý.
Theo Nghị quyết 02/2004 thì việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện liên quan đến thừa kế được quy định như sau: Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
- Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 1/7/1996, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế”:
- Thời hiệu khởi kiện là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế;
Đối với trường hợp thừa kế đã mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990 (sau ngày 10/9/2000 hết thời hiệu).
Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 1/7/1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 1/7/1996 đến ngày 1/1/1999 (ngày Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 có hiệu lực thi hành) không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Khoản 2 Điều 39 Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 27/7/2006 về Giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia có quy định:
Thời gian từ ngày 01 tháng 7 năm 1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực (01/9/2006) không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.
Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 1/7/1996 thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 648 của Bộ luật Dân sự năm 1995: “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế” [20, Điều 648].
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.
Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1996 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:
- Thời hiệu khởi kiện là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
- Đối với trường hợp thừa kế đã mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990 (sau ngày 10/9/1993 hết hiệu lực). Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Nếu nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được phát sinh trước ngày 01/7/1991 có liên quan đến nhà ở thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia thì thời gian từ ngày 01 tháng 7 năm 1996 đến ngày 01/9/2006 không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia (theo Nghị quyết 1037/2006/NQ-UNTVQH11 ngày 27/7/2006).
Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 01/7/1996 (ngày Bộ luật Dân sự năm 1995 có hiệu lực) thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.
- Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế (Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.
Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền… Thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.
Khi thực hiện đề tài luận văn chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam, nhận thấy khoản 9 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về: “Chi phí cho việc bảo quản di sản”, không thật rõ ràng, cho nên trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về khoản chi phí này, Tòa án rất khó quyết định vì thiếu quy định của pháp luật. Sau đây là một minh chứng.
Bản án số 29/2011/DS-ST, ngày 27/7/2011: Nguyên đơn bà Trương Thị Bản, sinh năm 1926. Cư trú tại 27 phố Lê Lợi, thị xã Hà Đông (Bà Bản ủy quyền cho con ruột là ông Nguyễn Tiến Hỷ tham gia phiên tòa).
Bị đơn ông Trương Gia Hải, sinh năm 1943, cư trú tại số ngõ số 20 Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội.
Vợ chồng cụ Trương Gia Sứng và cụ Kim Thị Chính (vợ cả) có một người con chung là Trương Thị Bản. Cụ Sứng có người vợ thứ hai là Nguyễn Thị Xuyến và có hai người con chung là ông Trương Gia Hải và bà Trương Thị Nhân. Về di sản, có một ngôi nhà cổ lợp ngói 5 gian gắn liền với quyền sử dụng đất ở là 414,69 mét vuông tại xóm Sở, Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội. Sau khi cụ Sứng chết, cụ Xuyến và ông Hải quản lý nhà ở và diện tích đất ở nói trên. Năm 1965 cụ Xuyến chết, ông Hải tiếp tục quản lý khối tài sản trên. Vào năm 1968, ông Hải đã bán 1.010 mét vuông. Khi ông Hải bán đất, cụ Chính và cụ Bản có biết nhưng không có ý kiến gì. Còn 5 gian nhà cổ, ông Hải đã phá bỏ vào năm 1998, để xây nhà mái bằng 1 tầng và công trình phụ như hiện nay. Nay bà Bản yêu câu chia hiện vật là ngôi nhà cổ 5 gian gắn với quyền sử dụng đất là 415,69 mét vuông; còn 1.010 mét vuông đất cũng là di sản của bố mẹ bà để lại nhưng ông Hải đã bán từ năm 1968, nên bà không yêu cầu chia. Ông Hải không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà Bản. Vì cho rằng từ năm 1951, cụ Sứng đã mua nhà đất tại thị xã Hà Đông để chung sống với mẹ con bà Bản. Còn nhà đất hiện nay mà ông đang quản lý là của cụ Sứng đã tặng cho mẹ con ông. Năm 1952, cụ Sứng chết. Đội Cải cách ruộng đất đã chia lại nhà và đất trên cho cụ Xuyến (mẹ của ông). Năm 1960, cụ Xuyến đã đứng tên kê khai đất trong bản đồ địa chính xã Mai Dịch. Năm 1986, ông Hải đã kê khai và đứng tên trong bản đồ địa chính xã phần diện tích nhà đất cho đến nay. Ông Hải đề nghị trả lại đơn kiện của nguyên đơn và đình chỉ giải quyết vụ án.
Tại Bản án sơ thẩm số 12/DSST ngày 0/6/1996, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm quyết định: Ngôi nhà 5 gian diện tích 55,5 mét vuông cùng các công trình trên diện tích 423 mét vuông là di sản thừa kế của 3 cụ: Cụ Sứng, cụ Chính và cụ Xuyến. Tính công duy trì tài sản cho ông Hải là 5%. Bác yêu cầu của bà Bản xin nhận thừa kế bằng hiện vật. Bác yêu cầu của ông Hải xin chia khối tài sản tại số 27 Lê Lợi, Hà Đông. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 223/DSPT ngày 22/8/1996, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Ngôi nhà 5 gian, diện tích 55,5 mét vuông là di sản thừa kế của cụ Sứng và cụ Xuyến. Không chia hiện vật cho bà Bản.
Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 34/DS-GĐT ngày 01/02/1999, Tòa Dân sự Tòa án nhân dân Tối cao đã quyết định: Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 223/DSPT ngày 22/8/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ việc cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo hướng xác định di sản thừa kế là ngôi nhà 5 gian gắn liền với diện tích đất 426 mét vuông, trong đó có công duy trì, tôn tạo của cụ Xuyến và ông Hải.
Sau đó, tại bản án dân sự phúc thẩm số 197/DSPT ngày 4/9/1999, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định: Xác định di sản thừa kế của cụ Sứng và 02 người vợ là cụ Chính và cụ Xuyến gồm 426 mét vuông đất ở cùng ngôi nhà ngói 05 gian trên đất tổng trị giá là 204.220.000 đồng. Trích công sức duy trì tài sản cho cụ Xuyến và ông Hải là 25% với số tiền là 51.055.000 đồng. Chia cho bà Bản 84 mét vuông đất ở, ông Hải 342 mét vuông đất ở và phải chịu trách nhiệm trị giá nguyên vật liệu ngôi nhà 5 gian mà ông Hải đã dở bỏ là 4.000.000 đồng.
Sau đó, tại bản án phúc thẩm số 105/DSPT ngày 2/6/2001, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định chia cho bà Bản 55.074.499 đồng (thừa kế của cụ Chính) và 9.179.038 đồng (thừa kế của cụ Xứng), với tổng số tiền là 64.253.582 đồng. Ông Hải được sử dụng toàn bộ 415,69 mét vuông đất và có nghĩa vụ thanh toán cho bà Bản 64.253.582 đồng.
Bà Bản tiếp tục khiếu nại yêu cầu chia thừa kế bằng hiện vật và còn yêu cầu chia thừa kế 1.010 mét vuông đất mà ông Hải đã bán từ năm 1968.
Sau đó, tại bản án dân sự sơ thẩm số 29/DSST ngày 30/9/2003 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định: Trích công sức duy trì tài sản cho cụ Xuyến và ông Hải 25%; chia cho bà Bản hưởng 728.745.090 đồng và 83,1 mét vuông đất.
Bà Bản tiếp tục có đơn kháng cáo với lý do: Tòa trích công sức duy trì, bảo quản tài sản cho ông Hải 25% trên tổng giá trị di sản thừa kế là quá nhiều. Nhưng tại bản án dân sự phúc thẩm số 209/DSPT ngày 03/12/2004,
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định: Trích công sức duy trì tài sản cho cụ Xuyến và ông Hải là 35%.
Cuối cùng bản án lại bị hủy và hậu quả bà Bản không được thừa kế.
Thông qua tranh chấp về chia di sản thừa kế trên đây, nhận thấy tính phức tạp của tranh chấp về chủ thể hưởng di sản, về di sản không xác định chính xác, về chi phí duy trì, bảo quản di sản. Vụ án xét xử đi, xét xử lại sơ thẩm – phúc thẩm; sơ thẩm – phúc thẩm – giám đốc thẩm trong nhiều năm… Riêng về việc trả thù lao cho người quản lý, duy trì di sản chưa chia pháp luật chưa có định mức cho nên không có tính nhất quán xác định khoản tiền này giữa các cấp Tòa án và giữa các Tòa án. Vì vậy, khi Bộ luật dân sự năm 2005 được sửa đổi, bổ sung thì nên có quy định thật cụ thể mức tiền này chiếm bao nhiêu phần trăm trên giá trị di sản được duy trì, bảo quản và với thời gian là bao nhiêu để xác định khoản tiền này trả công cho người duy trì, bảo quản di sản thừa kế chưa chia. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Kết luận chương 2
Chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở là việc gặp rất nhiều những khó khăn, vướng mắc. Bởi vì, nhà ở và quyền sử dụng đất ở là những tài sản có giá trị lớn, quan trọng không những xét về góc độ kinh tế, mà còn hàm chứa rất nhiều ý nghĩa về đời sống và xã hội. Hơn nữa, kể từ thời điểm mở thừa kế cho đến khi chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở thông thường là một khoảng thời gian nhất định, thậm chí là một khoảng thời gian dài… Sự biến động của di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở cũng thường có những thay đổi do nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra. Việc áp dụng pháp luật hiện hành để giải quyết những tranh chấp trong việc chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dung đất ở cũng còn có những vướng mắc nhất định. Vướng mắc không những do chính quy định của pháp luật, mà còn do ý thức của các chủ thể trong quan hệ thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Tại chương 2 này, học viên đã phân tích việc chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam. Thông qua các vụ tranh chấp điển hình để nhằm làm nổi bật tính đặc thù của việc xác định di sản thừa kế và chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Qua đó có căn cứ đánh giá tổng thể các tranh chấp về thừa kế nhà ở, quyền sử dụng đất ở và chia di sản thừa kế là nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được giải quyết như thế nào trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam. Luận văn: Thực trạng chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp chia di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất ở

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật chia di sản nhà ở và quyền sử dụng đất ở