Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nội dung các quy định về thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trên cơ sở đối chiếu với chế định thừa kế theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Những nội dung cơ bản của pháp luật thừa kế của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
2.1.1. Nhóm các quy phạm pháp luật quy định chung về thừa kế
Không như pháp luật về thừa kế của Việt Nam được quy định chung trong Bộ luật dân sự năm 2005. Bộ luật dân sự Lào năm 1990 bao gồm cả quy định, chế định thừa kế (quy định chung, thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc). Trong quá trình thực hiện Bộ luật dân sự năm 1990, thấy cần thiết tách ra một văn bản riêng. Quốc hội Lào đã căn cứ vào Hiến pháp năm 1991 và thông qua Luật thừa kế, kế thừa một số quy định của Bộ luật dân sự và bổ sung vào năm 2008. Hiện tại Luật thừa kế năm 2008 của Lào bao gồm 3 chương với 67 Điều. Như vậy, pháp luật thừa kế của Lào năm 2008 gồm có Luật thừa kế và các văn bản hướng dẫn thi hành, quy định cụ thể như sau:
Những vấn đề chung về thừa kế theo Luật thừa kế năm 2008 bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:
Về thời gian, địa điểm mở thừa kế:
- Thời gian mở thừa kế
Theo Luật thừa kế mới được bổ sung hiện nay của Lào, quy định tại Điều 6 thì thời điểm mở thừa kế là “Bắt đầu từ ngày chủ tài sản đã chết trở đi, nếu mà chủ tài sản ấy đã bị tòa án tuyên bố là người đó đã chết sẽ lấy từ ngày bản án có hiệu lực”. Như vậy, cũng như quy định của hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam thì thời điểm mở thừa kế phải bắt buộc sau khi người chủ tài sản đó chết. Trong trường hợp không thể xác định được thời, giờ người ấy chết thì căn cứ vào bản án của Tòa án, ngày bản án có hiệu lực.
Việc xác định thời điểm mở thừa kế là rất quan trọng, kể từ thời điểm đó, xác định được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản thừa kế còn có những gì và đến thời điểm chia di sản thì còn được bao nhiêu sau khi đã trừ các chi phí cần thiết theo quy định. Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định những người thừa kế của người đã chết, vì người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người chủ tài sản chết (con của người thừa kế). Mặt khác, thời điểm mở thừa kế còn là căn cứ để xác định thời điểm bắt đầu khởi kiện và thời hiệu từ chối nhận di sản thừa kế trong mối quan hệ thừa kế.
Chính bởi mối liên hệ với các vấn đề khác trong quan hệ thừa kế mà khi chia thừa kế, điều kiện đầu tiên là phải chú trọng tới thời điểm mở thừa kế. Vậy thời điểm mở thừa kế được xác định khi nào? Thời điểm mở thừa kế chỉ phát sinh khi có sự kiện là cái chết của chủ tài sản. Do đó, có thể thấy rằng cái chết của chủ sở hữu chính là căn cứ để xác định thời điểm mở thừa kế. Cái chết đó có thể là cái chết sinh học bình thường, hoặc cái chết do Tòa án quyết định, tức là cái chết pháp lý. Cái chết sinh học thì ai cũng biết, cũng thừa nhận trên thực tế, chúng ta không cần tìm hiểu thêm. Còn cái chết pháp lý có nhiều trường hợp như người biệt tích do chiến tranh, tai nạn, rủi ro. Sở dĩ có quy định này vì trên thực tế có nhiều trường hợp biệt tích do đi chiến tranh, do tai nạn, rủi ro không thể xác định được họ còn sống hay đã chết. Nếu không có sự xác định của Tòa án bằng một quyết định thì sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người có liên quan về mặt lâu dài. Do đó, pháp luật quy định khi có đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố một người đã chết. Việc tuyên bố một người đã chết do tòa án thực hiện, dựa trên yêu cầu của những người có quyền lợi liên quan tới người bị tuyên bố chết. Việc tuyên bố phải theo một trình tự, thủ tục nhất định. Trước hết phải có thông báo tìm kiếm người mất tích trong thời gian luật định, cách thức thông báo có thể bằng các phương tiện thông tin đại chúng. Chỉ khi làm theo đúng các bước trình tự thủ tục theo quy định và có căn cứ xác đáng rằng không có một dấu hiệu nào chứng tỏ người đó còn sống thì Tòa án mới được tuyên bố người đó đã chết bằng một quyết định. Và thời điểm quyết định này có hiệu lực chính là thời điểm mở thừa kế. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Cần chú ý thêm một điều ở đây là pháp luật thừa kế quy định nếu khi người bị Tòa án tuyên bố đã chết quay trở về thì mọi tài sản của người đó phải được trả lại cho chủ sở hữu nếu người đó có yêu cầu. Tuy nhiên, luật cũng quy định một hạn mức thời gian nhất định là trong vòng ba năm đối với tài sản và sáu năm đối với bất động sản [18; Đ5].
- Về địa điểm mở thừa kế:
Tại Điều 7 Luật thừa kế Lào quy định về địa điểm mở thừa kế “Địa điểm mở thừa kế là nơi mà chủ tài sản đã chết. Nếu mà chủ tài sản ấy ở nhiều nơi và không thể xác định rõ ràng là ở đâu thì phải căn cứ vào địa điểm của tài sản đó đứng ở đâu. Việc mở thừa kế cần phải có người thừa kế là hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai và cán bộ Tòa án (nếu có), Chủ tịch xã”. Về mặt câu chữ có thể thấy rằng pháp luật Lào quy định khác Việt Nam khi dùng cụm từ “ là nơi chủ tài sản chết”; còn pháp luật Việt Nam sử dụng cụm từ “Là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản”[23, K2; Đ.633]. Nhưng về mặt nội dung thì chúng ta thấy giống nhau. Vì nơi cuối cùng cư trú cũng chính là nơi người đó chết và ngược lại. Pháp luật Việt Nam quy định “Nếu không xác định được nơi cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần di sản”, còn pháp luật Lào lại quy định phải căn cứ vào tài sản đó ở đâu. Có nghĩa là nếu tài sản có nhiều nơi thì có thể lấy một trong những nơi đó làm địa điểm mở thừa kế. Mà không bắt buộc phải là tất cả những nơi có tài sản. Như vậy, cho chúng ta thấy pháp luật Lào cũng như pháp luật Việt Nam đều có cái nhìn chung về quan điểm địa điểm mở thừa kế. Pháp luật Lào cũng quy định thêm tại địa điểm mở thừa kế phải có đủ các thành phần cần thiết bao gồm hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai, trong trường hợp có yêu cầu theo quy định của pháp luật thì có thêm cán bộ của Tòa án và Chủ tịch xã.
Việc pháp luật quy định địa điểm mở thừa kế như trên vì khi chia di sản thừa kế các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành các công việc như kiểm kê ngay tài sản của người đã chết (trong trường hợp cần thiết) hoặc xác định những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, xác định xem có người nào từ chối quyền nhận di sản thừa kế hay không, ngoài ra còn có nhiều trường hợp xảy ra tranh chấp ngay tại địa điểm mở thừa kế nên việc có mặt của cơ quan có thẩm quyền là điều cần thiết.
- Di sản thừa kế
Di sản của một người chết dưới góc độ chung nhất, được hiểu là toàn bộ tài sản và quyền sở hữu hợp pháp của người chết để lại. Tài sản của một người chỉ được coi là di sản khi người đó chết. Kể từ thời gian đó, di sản được điều chỉnh theo pháp luật thừa kế. Tài sản của người chết: Là các tài sản được xác lập dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. Cụ thể tài sản bao gồm tài sản thuộc thu nhập hợp pháp của người để lại thừa kế như các khoản lãi do buôn bán, tiền lương, tiền thưởng, tiền trúng sổ số, các loại tài sản được tặng, cho, thừa kế, các loại tư liệu sinh hoạt như áo quần, xe cộ, vật dụng cá nhân khác; nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn góp vào các cửa hàng, công ty dùng để kinh doanh. Tài sản riêng của người chết thể hiện rất phong phú như tiền bạc, kim khí đá quý được dùng để làm đồ trang sức hoặc dùng để làm của để giành. Nhà ở được Nhà nước cho cấp hợp pháp, do mua bán mà có; nhà ở do được thừa kế tặng cho được sang tên trước bạ hợp pháp; tài sản cũng có thể là các loại máy móc, sáng kiến khoa học kỹ thuật, cây cối mà người đó được giao sử dụng đất tròng và hưởng hoa lợi trên đất đó…tài sản riêng của người chết bao giờ cũng được xác định rõ về thể loại và giá trị. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
- Tài sản của người chết trong khối tài sản chung của người khác:
Khi xác định phần tài sản này của người chết có nhiều vấn đề phức tạp xảy ra, vì do nhu cầu góp vốn để kinh doanh, nên có khối tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người. Nếu một trong số đồng sở hữu chết thì di sản của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đóng góp trong khối tài sản chung. Song việc xác định di sản thừa kế trong trường hợp này không phải dễ dàng, bởi nó liên quan đến quyền và nghĩa vụ về tài sản của các đồng sở hữu trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị kinh tế. Nhiều khi do sự che dấu của các đồng sở hữu hoặc các đồng sở hữu không tích cực cung cấp những chứng cứ để xác định số vốn mà người chết đã góp vào nên rất khó xác định chính xác phần tài sản riêng trong phần chung với những người còn sống khác, nhất là những người có cái chết đột ngột, họ chưa bao giờ nói cho những người thân trong gia đình, họ hàng biết số tài sản mà họ góp vào đó để kinh doanh.
Đối với tài sản chung của vợ chồng thì đó là tài sản chung hợp nhất, kể cả khi hai người không còn sống với nhau mà chưa li dị. Nó bao gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác của vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản mà vợ chồng và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung như tài sản được cho, tặng, hay quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định pháp luật Lào thì vợ chồng đều có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản chung. Tại Điều 12 Luật thừa kế của Lào quy định “Trong trường hợp vợ hoặc chồng đã chết còn vợ, … tài sản chung của vợ, chồng phải chia đôi cho vợ hoặc chồng còn sống. Còn ½ là chia cho con ngang nhau”. Như vậy, phần tài sản chung của người chết là vợ hoặc chồng trong khối tài sản đó sẽ được chia cho các người thừa kế khác theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Việc xác định tài sản của người chết trong khối tài sản chung với vợ chồng thường dễ dàng hơn so với tài sản chung với người khác.
- Quyền tài sản do người chết để lại:
Đây là loại di sản khá phức tạp và đa dạng, quyền tài sản thực chất là quyền dân sự được phát sinh từ những quan hệ hợp đồng hoặc quan hệ bồi thường thiệt hại mà trước khi chết họ tham gia vào quan hệ này, có thể là do nhu cầu mua bán, kinh doanh…Ví dụ như quyền đòi nợ, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, chuộc lại tài sản đã thế chấp, cầm cố, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…Ngoài các quyền đó còn có quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng đất, quyền thực hiện yêu cầu thực hiện hợp đồng cũng được coi là di sản. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Về quyền tác giả: Ngoài việc thừa kế các quyền về nhân thân ra thì quyền về tài sản của tác giả được Nhà nước bảo hộ một thời gian nhất định từ khi tác giả chết. Trường hợp người thừa kế của tác giả chết trước khi hết thời hạn bảo hộ, thì người thừa kế của người đó được hưởng các quyền về thừa kế cho đến hết thời gian bảo hộ.
Quyền sở hữu công nghiệp: Đây là một loại tài sản có tính chất đặc thù, nên những quy định về thừa kế đối với quyền sở hữu công nghiệp cũng có những đặc điểm rất riêng của nó.
Quyền sở hữu đất: Đây là một loại quyền dân sự đặc biệt, nhất là khi xem xét ở góc độ thừa kế, ở các quyền tài sản nêu trên thì dù ở mức độ này hay mức độ khác đều được thể hiện rõ là những quyền dân sự thông thường là quyền sở hữu hợp pháp của người để lại di sản thừa kế. Đối với quyền sử dụng đất nằm trong khái niệm di sản thừa kế thì phải hiểu đó là một trường hợp ngoại lệ. Đất đai là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia nên để sử dụng đúng mục dích, hiệu quả thì Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã tạo mọi điều kiện cho cá nhân, tổ chức đầu tư công sức vào sản xuất. Nhà nước cũng trao các quyền cơ bản cho mỗi công dân khi sử dụng đất trong đó có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất.
Việc quy định về tài sản do người chết để lại là di sản thừa kế, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, tăng cường tinh thần trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên, cần chú ý thêm rằng có một số quyền mà người thừa kế không được hưởng khi nó gắn liền với nhân thân của người chết như là tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp các khoản khác. Vì các quyền này nó gắn với công việc cần thực hiện mà chỉ người để lại di sản mới có thể làm, người thừa kế không thể làm thay.
- Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu quá thời hạn trên mà chủ thể không yêu cầu người thừa kế thực hiện thì họ mất quyền khởi kiện.
Đối với những người thừa kế: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế, bác bỏ quyền thừa kế là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Thời gian kiện lấy thừa kế “Thời gian kiện của di chúc là trong vòng 3 năm sau khi người lập di chúc đã chết. Trừ trường hợp người thừa kế chưa đủ 18 tuổi hay là có các lý do khác” đã quy định tại Điều 18 và Điều 40 Luật thừa kế Lào năm 2008.
Đối với các chủ nợ của người để lại di sản: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Quy định thời gian đòi nợ “Chủ nợ cho quyền đòi nợ với người thừa kế hay là người quản lý di chúc hoặc là viết đơn khởi kiện lên Tòa án chỗ mở di chúc trong vòng 3 năm bắt đầu từ ngày mở di chúc. Nếu mà chủ nợ không đòi nợ trong vòng 3 năm thì sẽ mất quyền đòi nợ, trừ trường hợp có các lý do khác” [18, Đ57].
Như vậy, pháp luật thừa kế của Lào khác pháp luật thừa kế Việt Nam trong việc quy định về thời gian kiện lấy di sản đối với những người thừa kế với nhau. Việt Nam quy định thời gian là 10 năm thay vì 3 năm như của Lào. Mặt khác, pháp luật Thừa kế của Lào chỉ quy định cho trường hợp thừa kế theo di chúc mà không quy định cho trường hợp thừa kế theo pháp luật. Có sự chênh lệch khác nhau về quy định thời gian này xuất phát từ điều kiện kinh tế, văn hóa của mỗi nước. Sở dĩ pháp luật thừa kế Lào quy định 3 năm là vì Lào là một đất nước khá phức tạp về dân số. Trong mỗi gia đình thường có nhiều thành viên (con cái) so với Việt Nam, luật pháp cũng thường thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, nên để thời gian quá lâu là 10 năm như Việt Nam thì có nhiều vấn đề phức tạp sẽ xảy ra.
- Những người không được hưởng di sản
Trong quan hệ thừa kế, những người là vợ, chồng, con của người chết hoặc những người được chỉ định trong di chúc, hay khi đem chia di sản theo pháp luật là những người được hưởng di sản của người chết. Tuy nhiên, trong thực tế và theo quy định của pháp luật thừa kế thì có một số người đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, có những hành vi trái đạo đức xã hội, trái pháp luật, trái tập quán thuần phong mỹ tục của dân tộc Lào, xâm phạm tính mạng sức khỏe, nhân phẩm của bố, mẹ, anh, chị, em, vợ, chồng. Pháp luật thừa kế của Lào đã dành rất nhiều điều từ Điều 47 đến Điều 50 Luật thừa kế Lào đã quy định những hành vi của người thừa kế nếu có thì không được hưởng thừa kế (có thể theo di chúc hoặc theo pháp luật), bao gồm các hành vi sau:
- Người thừa kế ăn cướp, ăn trộm di chúc: Trong nhiều trường hợp họ muốn biết phần thừa kế của mình là bao nhiêu, nếu không đồng ý với di chúc họ sẽ có âm mưu trộm hoặc cướp di chúc nhằm sửa chữa lại hoặc hủy bỏ di chúc, cũng có thể là họ sẽ khống chế để người lập di chúc cho họ hưởng phần nhiều hơn. Luật thừa kế của Lào quy định nếu người thừa kế có hành vi trên thì họ vẫn được hưởng nếu như phần thừa kế của họ là nhiều, còn nếu ít thì người đó sẽ mất quyền thừa kế luôn [18, Đ48].
- Giữa bố, mẹ và con cái nếu có quyết định của Tòa án là không phải bố, mẹ và con của nhau nữa thì cũng mất quyền thừa kế, trừ trường hợp người con chưa thành niên. Nếu bố mẹ không thực hiện theo quyết định của Tòa án thì bố, mẹ cũng không được hưởng di sản của người con [18, Đ49]. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
- Người thừa kế nào đó không thực hiện đúng cách nuôi dưỡng, chăm sóc bố mẹ khi già yếu và đau ốm trong khi mình vẫn có đủ các khả năng. Quy định nhằm cho con cái có nghĩa vụ hiếu thảo đối với bậc sinh thành của mình.
Ở trên là những trường hợp không được thừa kế theo di chúc, còn dưới đây là những trường hợp không được thừa kế theo di chúc cũng như theo pháp luật quy định tại Điều 50 Luật thừa kế Lào:
- Người đã bị Tòa án tuyên bố là đã có hành vi xâm phạm tới sức khỏe tới chủ tài sản làm cho họ bị thương nặng hay là bị chết nhằm mục đích chiếm hữu tài sản đó.
- Người đã phán hay tự mình lập ra di chúc giả để nhằm chiếm đoạt một phần hay toàn bộ tài sản đó.
- Người đáng lẽ ra được thừa kế ở cùng tỉnh, huyện nếu mà biết rằng chủ tài sản đã chết nhưng vẫn vắng mặt trong thời gian tổ chức mai táng mà không có lý do nào. Đây là một quy định đặc biệt mà chỉ ở quốc gia Lào mới có, khác hoàn toàn so với Việt Nam không quy định đây là điều kiện bắt buộc để được hưởng thừa kế. Sở dĩ quốc gia Lào quy định điều kiện này là vì người dân Lào đề cao quy tắc “nghĩa tử là nghĩa tận”, khi người thân trong gia đình chết thì bắt buộc mọi thành viên trong gia đình họ tộc phải có mặt trong khi mai táng, nếu không sẽ bị xã hội lên án trừ khi họ có lý do chính đáng. Đây là tập tục có từ lâu đời được người dân Lào tôn trọng nên pháp luật đã thể chế hóa thành nguyên tắc trong quy định pháp luật thừa kế. Cũng cần nói thêm rằng, pháp luật chỉ bắt buộc khi người đó ở cùng tỉnh hoặc cùng huyện. Còn nếu khác tỉnh thì cũng không bắt buộc.
- Người đã làm cho chủ tài sản thay đổi di chúc hay lập di chúc mới. Quy định này cũng giống như quy định của Việt Nam “Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc sửa di chúc, hủy di chúc…”[23, K1,Đ143].
- Người đã bí mật sai người trong nhóm người thừa kế làm cho chủ tài sản bị thương hay bị mất năng lực hành vi dân sự. Như vậy, khác với quy định ở trên trong việc mất quyền hưởng thừa kế theo di chúc thì hành vi này sẽ không được thừa kế theo di chúc cũng như theo pháp luật. Đây là hành vi không trực tiếp xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản nhưng có hành vi sai khiến người khác trong nhóm người thừa kế làm, nó là hành vi gián tiếp.
- Người đã tự mình làm gây ra chuyện xấu ảnh hưởng đến chủ tài sản và những người thừa kế với Đây là quy định nhằm tôn trọng nguyên tắc đoàn kết trong gia đình họ tộc trong vấn đề chia thừa kế. Nó cũng là quy định mà trong pháp luật thừa kế về Việt Nam không có.
Tuy nhiên, có một điều cần lưu ý tất cả những người kể trên chỉ mất quyền thừa kế thật sự khi chủ tài sản đã lập thành văn bản có tên truất quyền thừa kế của họ, nếu chủ tài sản đã bị chết do hành vì của những người này gây ra thì dù chưa lập văn bản truất quyền thừa kế họ vẫn mất quyền thừa kế. Ngoài ra, những trường hợp không được thừa kế theo di chúc và cả theo pháp luật khi chủ tài sản lập văn bản truất quyền thừa kế của họ phải đủ người làm chứng [18, Đ51].
Trên đây là những trường hợp không được hưởng thừa kế theo di chúc hoặc cả theo di chúc và theo pháp luật. Những người kể trên không có quan hệ thừa kế với người để lại di sản. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
- Người thừa kế từ chối nhận di sản:
Việc định đoạt cho những người nào được hưởng thừa kế là quyền quyết định của người chủ tài sản chỉ định trước khi chết, hoặc di sản được đem chia theo pháp luật thì những người thuộc diện thừa kế của người để lại di sản sẽ được gọi nhận thừa kế thứ tự theo quy định Luật thừa kế. Tuy nhiên, người thừa kế không bắt buộc phải nhận thừa kế, họ có thể từ chối nhận phần di sản của mình (dù trên thực tế rất hiếm trường hợp xảy ra) và có thể để lại cho người khác hoặc một cơ quan tổ chức khác. Phần di sản mà họ từ chối nếu họ muốn cho ai thì phải lập thành văn bản trong đó ghi rõ là để lại phần tài sản đó cho ai, ở đâu, tên gì. Nếu việc từ chối nhận di sản đó không lập thành văn bản, hoặc lập thành văn bản nhưng không nói rõ để lại cho ai thì phần tài sản đó sẽ được đem chia theo pháp luật cho những người được hưởng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc từ chối đó phải tuân theo một thời gian nhất định. Luật thừa kế của Lào quy định trong thời gian 6 tháng từ thời điểm mở thừa kế. Nếu quá thời gian trên họ không có quyền từ chối nhận di sản nữa mà bắt buộc phải nhận phần di sản của mình [18, Đ45].
2.1.2. Nhóm quy phạm pháp luật quy định về thừa kế theo di chúc Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Luật thừa kế giành một phần lớn các điều để quy định về thừa kế theo di chúc. Bao gồm từ Điều 24 đến Điều 67, trong đó từ Điều 24 đến Điều 37 được phân thành một chương, đó là chương 2 quy định về các vấn đề chung như quyền thừa kế theo di chúc, nguyên tắc lập di chúc, hình thức di chúc, các lý do di chúc không được thừa nhận…; từ Điều 38 đến hết Điều 67 được phân thành chương 3 quy định về các vấn đề nhận, ủy quyền, từ bỏ di sản thừa kế…Có thể nói Luật thừa kế Lào rất chú trọng về thừa kế theo di chúc.
Di chúc là một hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc trước khi chết. Tuy nhiên, pháp luật đã quy định di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng. Thừa kế theo di chúc là một trong hai hình thức thừa kế chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống theo ý chí của người đó trước khi chết. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi, quyền bình đẳng cho các thành viên trong gia đình thì ý chí của người chết, tư cách pháp lý của họ phải nằm trong giới hạn theo quy định của pháp luật, khi đó ý chí thể hiện trong di chúc mới được pháp luật công nhận và có hiệu lực. Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.
Thứ nhất, điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp: Theo quy định tại Điều 35 Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định thì một di chúc không được coi là có giá trị sử dụng khi có một trong những yếu tố sau:
- “1/ Người lập di chúc chưa thành niên đến 18 tuổi hay là người lập di chúc là người mất năng lực hành vi dân sự;
- 2/ Di chúc không có mục đích rõ ràng;
- 3/ Di chúc đã được lập do bắt buộc, lừa dối và di chúc giả; 4/ Hoặc là theo quy định tại Điều 31 của Luật thừa kế này”.
Như vậy, từ đó suy ra rằng một di chúc được coi là hợp pháp thì phải có đủ các điều kiện sau:
Về chủ thể lập di chúc: Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định người lập di chúc phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định người đó phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Nghĩa là phải sáng suốt, minh mẫn, có đầy đủ nhận thức và chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Khác với quy định của Việt Nam khi quy định người từ đủ 15 tuổi trở lên đến 18 tuổi cũng có quyền lập di chúc nếu được cha mẹ hoặc người đỡ đầu đồng ý [23, Đ652].
Di chúc phải được lập trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, không phải bị sức ép hay lừa dối từ một chủ thể khác. Điều kiện này là cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền của người lập di chúc “Nhân dân của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào có quyền tặng, chuyển và lập di chúc cho một người hay là nhiều người và cho các cơ quan tổ chức đã có thẩm quyền liên quan…”[18, Đ24]. Tự nguyện được xem là biểu hiện của tự do lập di chúc và là một điều kiện để xem xét tính hợp pháp của di chúc. Tự nguyện được xem là việc thực hiện một việc theo ý của mình, do mình muốn, không phụ thuộc vào bất cứ một chủ thể khác. Về bản chất, tự nguyện của người lập di chúc là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của họ. Sự thống nhất trên chính là sự thống nhất giữa mong muốn chủ quan, mong muốn bên trong của người lập di chúc với hình thức thể hiện ra bên ngoài sự mong muốn đó. Vì vậy, việc phá vỡ sự thống nhất đó chính là đã làm mất đi tính tự nguyện của người lập di chúc. Sự thống nhất này có thể là do các hành vi bị bắt buộc, cưỡng ép, lừa dối…đều là căn nguyên làm mất đi tính trung thực trong việc định đoạt của người lập di chúc. Từ đó sẽ dẫn tới hậu quả vô hiệu của di chúc.
- Hình thức di chúc phải tuân thủ các quy định của pháp luật
Hình thức của di chúc là phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc (nội dung của di chúc) là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc. Vì vậy, di chúc phải được lập dưới một hình thức nhất định. Pháp luật Lào quy định tại Điều 26:“Quan điểm lập di chúc nước Cộng hòa dân chủ nhân Lào”. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Di chúc có thể lập bằng hai cách khác nhau như sau đây:
- 1/ Lập di chúc bằng văn bản
- 2/ Lập di chúc bằng miệng”.
Đây là hai hình thức phổ biến mà pháp luật các nước cũng như Việt Nam đều thừa nhận.
Hình thức di chúc bằng văn bản: Là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (viết tay, đánh máy rồi in ra) phải có công chứng của cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định tại Điều 27 Luật thừa kế Lào thì di chúc bằng văn bản phải do chủ tài sản viết, trong trường hợp do tình hình sức khỏe không thể tự viết được mà nhờ người khác viết thì phải có 3 người làm chứng. Trong di chúc phải có đầy đủ các nội dung về địa điểm, ngày, tháng, năm, loại di chúc. Về thừa kế tài sản phải nói rõ là để lại tài sản cho ai, họ tên gì và họ có quan hệ thế nào với chủ tài sản. Trong trường hợp viết thay, có người làm chứng thì phải nói rõ người thừa kế có quan hệ thế nào với người viết, người làm chứng. Di chúc phải có đầy đủ chữ ký là chủ tài sản, người viết thay, người làm chứng (nếu có). Di chúc phải được bảo vệ để không bị rách nát, mất mát, sửa chữa.
Di chúc bằng miệng: Là hình thức di chúc được thể hiện bằng lời nói. Di chúc bằng miệng khác với di chúc bằng văn bản, di chúc miệng là sự bày tỏ bằng lời nói của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối tài sản của mình cho người khác trước khi chết.
Đây là hình thức di chúc khó để lại bằng chứng khi tranh chấp xảy ra, mặc dù có người làm chứng. Vì vậy, pháp luật chỉ thừa nhận di chúc miệng có giá trị trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 28 Luật thừa kế Lào, đó là:
Thứ nhất, trong trường hợp người chủ tài sản không thể lập di chúc bằng văn bản như sắp chết, sức khỏe yếu và các lý do bất khả kháng khác thì chủ sở hữu tài sản có thể lập di chúc bằng miệng.
Thứ hai, chủ tài sản phải thể hiện ý chí của mình trước mặt người làm chứng, ít nhất là 3 người và ngay sao đó những người làm chứng phải thông báo cho các cơ quan tổ chức làng, bản biết về những gì người đó trước khi chết đã nói, đồng thời nêu rõ cho cơ quan làng, bản biết lý do chủ tài sản không thể lập di chúc bằng văn bản.
Thứ ba, di chúc miệng chỉ tồn tại trong vòng một tháng nếu sau đó chủ tài sản không chết nữa mà tỉnh táo, bình thường lại thì di chúc miệng sẽ bị xóa bỏ. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Nhìn chung, pháp luật thừa kế của Lào quy định về hình thức văn bản có một vài điểm khác so với quy định với các nước, đặc biệt là Việt Nam. Theo Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam thì “di chúc bằng văn bản có thể có hoặc không có chứng nhận của cơ quan Nhà nước” [23, Đ648]. Về di chúc miệng thì quy định người làm chứng chỉ cần hai người mà không phải ba người như ở Lào. Việc ghi chép lại lời của người chủ tài sản là do người làm chứng viết chứ không như ở Lào người làm chứng chỉ có nghĩa vụ báo với cơ quan tổ chức làng bản để những cơ quan tổ chức này viết ra. Thời gian có hiệu lực di chúc miệng ở Lào cũng quy định thời gian ngắn so với Việt Nam (Lào quy định một tháng, Việt Nam quy định ba tháng) [23, Đ651].
- Nội dung di chúc:
Nội dung di chúc là mặt “bên trong” của di chúc. Nó thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế. Người lập di chúc chỉ định người thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, phân định di sản thừa kế, đưa ra các điều kiện để chia di sản thừa kế…ý chí của người lập di chúc phải phù hợp với ý chí của nhà nước, không vi phạm các điều cấm của pháp luật thừa kế, đạo đức xã hội.
- Thứ hai, hiệu lực pháp luật của di chúc
Xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc là một công việc hết sức quan trọng liên quan đến những người thừa kế nói chung cũng như người thừa kế theo di chúc nói riêng. Bởi vì chỉ khi nào di chúc có hiệu lực thì quyền hưởng di sản của những người thừa kế được xác định trong di chúc mới được pháp luật thừa nhận và bảo đảm quyền thực hiện.
Tại Điều 37 Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định về “di chúc sẽ được để thực hiện khi chủ tài sản đã chết đi”. Quy định này cũng đồng nghĩa rằng di chúc sẽ có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, vì như đã phân tích ở trên thì thời điểm mở thừa kế là khi chủ tài sản chết [18, Đ6].
Luật thừa kế của Lào quy định tại Điều 34 về các điều kiện mà di chúc sẽ có hiệu lực pháp luật một phần hoặc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ trong các trường hợp sau đây: Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
- “1/ Người thừa kế theo di chúc đã chết trước chủ tài sản.
- 2/ Người thừa kế theo di chúc không chịu chấp nhận phần của mình đã có quyền thừa kế theo di chúc.
- 3/ Nếu tất cả các tài sản đã được lập trong di chúc bị mất hay là bị phá sản của chủ tài sản đó.
- 4/ Di chúc đó đã được thông báo là mất quyền sử dụng rồi”.
Như vậy, pháp luật Lào không giống pháp luật Việt Nam, vì pháp luật Việt Nam quy định một điều riêng về hiệu lực một phần hoặc toàn bộ và có một điều riêng về vô hiệu toàn bộ của di chúc. Pháp luật Pháp cũng thừa nhận việc một người không chấp nhận phần thừa kế của mình theo di chúc cũng sẽ làm cho di chúc vô hiệu một phần.
Pháp luật Lào cũng quy định nếu chủ tài sản để lại nhiều bản di chúc thì di chúc cuối cùng sẽ có hiệu lực pháp luật: “Chủ tài sản có quyền thay đổi hay là xóa bỏ di chúc của mình đã lập trong mỗi thời gian và có thể lập di chúc mới. Di chúc mới này sẽ xóa bỏ di chúc cũ có thể một phần nào đó hay là tất cả, do nó sẽ không hợp với di chúc mới lập nên” [18, Đ33].
Hiệu lực của di chúc có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình dịch chuyển di sản từ người đã chết cho những người khác. Nếu việc xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc là cơ sở để xác định tại thời điểm đó những di sản được xác định trong di chúc có còn hay không, thì việc xác định hiệu lực của di chúc sẽ quyết định việc phân chia di sản sẽ tuân theo di chúc hay tuân theo quy định của pháp luật. Đây là vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của những người thừa kế. Vì vậy, khi xác định một di chúc có hiệu lực hay không cần phải hết sức thận trọng, chính xác và phải tuân theo quy định của pháp luật.
- Thứ ba, giới hạn quyền của việc lập di chúc, những người không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Pháp luật cho phép người để lại di sản có quyền để lại tài sản cho ai theo ý chí của mình, có quyền truất quyền thừa kế di sản của những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Nhưng để bảo vệ lợi ích của một số người trong diện những người thừa kế theo pháp luật, phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống từ xưa của cha ông dân tộc Lào, pháp luật Lào đã hạn chế quyền lập di chúc được thể hiện tại Điều 25 Luật thừa kế năm 2008 như sau:
Chủ tài sản chỉ được lập di chúc để lại không quá ½ tài sản thuộc sở hữu của mình cho người con (trong trường hợp chỉ có một đứa con). Nếu trong di chúc để lại quá phần pháp luật quy định trên thì người con đó cũng chỉ được hưởng đến ½ mà thôi, phần còn lại ½ sẽ đem chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất như vợ/chồng, cha mẹ, ông bà nội ngoại…
Chủ tài sản chỉ được lập di chúc để lại không quá 1/3 tài sản của mình cho một người con (trường hợp họ có hai con). Nếu di chúc thể hiện phần di sản để lại quá 1/3 cho một người con thừa kế thì phần vượt quá cũng đem chia theo pháp luật như đã nói ở trên. Ở đây cần lưu ý, pháp luật quy định để lại không quá 1/3 di sản cho một người, một 1/3 khác cho thêm một người con nữa và còn 1/3 còn lại sẽ đem chia cho những người khác.
Trong trường hợp người đó có ba đứa con trở lên thì phần để lại di sản cũng không được quá ¼ . Cũng giống như quy định ở trên, mỗi con chỉ được hưởng không quá ¼ phần tài sản của người chết để lại, không được hưởng phần của mình vượt quy định.” Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Ngoài giới hạn quyền lập di chúc, Luật thừa kế Lào cũng quy định một số người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc như vợ hoặc chồng của người chết. Tại Điều 12 Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định việc phân chia thừa kế giữa chồng còn sống và con “Trong trường hợp vợ hoặc chồng đã chết còn vợ, chồng và con người con đó là có quyền thừa kế tài sản của người chết là ¾ và ¼ là vợ hoặc chồng sẽ được nhận. Còn tài sản chung của vợ, chồng phải chia đôi như ½ là cho vợ hoặc chồng còn ½ là chia cho con ngang nhau. Vợ hoặc chồng có quyền quản lý tài sản của những người con chưa thành niên”.
Pháp luật quy định đó là những người được hưởng theo pháp luật. Nên nếu trong di chúc mà không có tên họ thừa kế thì họ vẫn được hưởng số tài sản theo quy định như trên mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Pháp luật thừa kế của Lào quy định như trên là nhằm đảm bảo quyền lợi cho những người con trong gia đình, tránh tình trạng mâu thuẫn xảy ra khi di chúc của người chết có sự thiên vị giữa các con. Đây là một quy định hoàn toàn mới mẻ và khác biệt so với pháp luật dân sự về thừa kế của Việt Nam. Vì trong luật dân sự Việt Nam không quy định việc giới hạn quyền lập di chúc. Việc để lại di sản cho người con nào là tùy ý chí của chủ tài sản, trừ những trường hợp được hưởng di sản mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc như con chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động, cha, mẹ, vợ, chồng [23, Đ634].
Như vậy, giữa quy định pháp luật thừa kế của Lào và Việt Nam tuy có cách quy định khác nhau nhưng cũng đều nhằm bảo vệ quyền lợi cho những đối tượng do người chủ tài sản quá “lạm quyền” làm mất quyền lợi của một số đối tượng.
Thông báo mở thừa kế theo di chúc, cách tính toán các nghĩa vụ người chết để lại theo di chúc, việc nhận hay từ bỏ di sản theo di chúc.
Tại Điều 38 Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định việc thông báo mở thừa kế theo di chúc như sau: “Người thừa kế theo di chúc có quyền yêu cầu mở thừa kế trong mỗi thời gian trừ các trường hợp người lập di chúc có quy định thời gian mở thừa kế hoặc là các quy định khác. Nhưng trong đó nếu có một hay là hai người chưa thành niên thì phải chờ cho họ tới 18 tuổi, nếu có trường hợp cần thiết thì phải có người đứng đầu để thay mặt hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác. Trong các trường hợp vợ hoặc chồng đã chết, người còn sống đã lập gia đình mới thì các con có quyền yêu cầu chia tài sải đã có”.
Như vậy, theo quy định trên và tuân theo nguyên tắc thời điểm mở thừa kế thì sau khi chủ tài sản chết, người thừa kế có tên trong di chúc có quyền yêu cầu mở thừa kế. Tuy nhiên, yêu cầu đó phải đáp ứng các điều kiện đó là người chết không nói rõ thời điểm nào mở di chúc, trong số những người thừa kế không có thành viên nào dưới 18 tuổi. Nếu có những trường hợp này xảy ra thì phải tuân theo mà không được yêu cầu mở di chúc theo ý chí chủ quan của bất kỳ cá nhân nào. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định trường hợp khi vợ hoặc chồng của người chết đã kết hôn với người khác thì các con có quyền yêu cầu chia di sản mà mình đã có tên trong di chúc. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Về cách tính toán các khoản phải chi trả trước khi đem chia di sản theo di chúc, Luật thừa kế quy định “Trước khi có sự phân chia di chúc phải có cách tính toán của tài sản trong di chúc như sau đây: Nếu mà chủ tài sản đã lấy tài sải của mình cho người khác mượn, gửi, thế chấp; đã bị người khác lừa, bí mật trước khi chết; chi phí tốn kém của chủ tài sản trong khi chết; sau khi tính toán xong hết các chi phí của người chết ấy người thừa kế mới được chia tài sản thừa kế”[18, Đ39].
Quy định này phù hợp với nhiệm vụ phải thực hiện nghĩa vụ mà người chết để lại. Trước hết là các khoản nợ của người chết như mượn, gửi, thế chấp. Song song với những khoản nợ là các khoản người khác còn nợ người chết cũng được thu giữ về. Tiếp theo là các khoản chi phí dùng trong đám tang người chết như chi phí ăn uống, chi phí mai táng khác. được lấy từ phần di sản người chết để lại để thực hiện. Sau khi trả hết các khoản nợ, các chi phí cần thiết thì phần di sản dư ra mới được đem chia cho những người thừa kế theo di chúc. Trong trường hợp nếu như di sản để lại sau khi thực hiện các nghĩa vụ người chết để lại mà không còn để đem chia thì những người thừa kế cũng không có quyền để thừa kế di sản nữa. Trong trường hợp phần di sản để lại ít hơn các khoản nợ và các chi phí mai táng thì các đồng thừa kế có tên trong di chúc cũng không phải thực hiện nghĩa vụ đã vượt quá đó mà phần này do những thành viên trong gia đình góp vào đó để thực hiện nghĩa vụ thay người chết. Trong trường hợp nếu di sản đã đem chia rồi thì chủ nợ thông báo cho một người thừa kế nào đó biết để họ có nghĩa vụ trả nợ, sau đó người này thông báo cho các đồng thừa kế khác để chia nhau trả. Việc quy định thực hiện nghĩa vụ phải lấy trong tài sản của chủ tài sản đó nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho những người không được thừa kế và những người chủ nợ, hạn chế rủi ro xảy ra.
Các khoản trên phải được thanh toán cho những người nào đứng ra thực hiện nghĩa vụ đó. Nếu không biết chi phí một trong các khoản đó mà đem đi chia di sản cho người thừa kế thì người đã thực hiện nghĩa vụ vẫn có quyền đòi lại chi phí các khoản phù hợp theo quy định tại Điều 44 Luật thừa kế Lào năm 2008 như sau:
“Sau khi mở di chúc người nhận di chúc đã có sự đồng ý về phần đã được nhận của mình nhưng sau đó không quyền đòi hỏi và yêu cầu gì hết. Nhưng trừ các trường hợp sau đây.
- Việc chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng và mai táng
- Nuôi dưỡng người trong sự nuôi dưỡng của người chết
- Nợ, công của người đã chết làm trước khi chết
- Sức chăm sóc và quản lý tài sản”
Theo quy định trên thì người được thừa kế sau khi đã đồng ý nhận phần di sản mình được thừa hưởng thì không có quyền khiếu nại về bất cứ một vấn đề gì liên quan đến phần di sản mình được nhận, nhưng các khoản mà người đó đã thực hiện nghĩa vụ thay cho người chết thì vẫn có quyền khiếu nại để đòi lại những gì mình đã bỏ ra. Như vậy, pháp luật luôn bảo vệ quyền lợi của người đã thực hiện nghĩa vụ thay cho người chết trong mọi hoàn cảnh, điều đó nhằm khuyến khích các thành viên trong gia đình không nên trốn tránh trách nhiệm mà mình làm cho người thân sau khi họ chết.
Đối với người nhận di sản được thừa kế theo di chúc, pháp luật thừa kế Lào quy định “việc nhận thừa kế sẽ lập lên trong vòng 6 tháng bắt đầu từ ngày mở di chúc. Trong trường hợp một người nào đó không nhận di chúc ấy nhưng đã chuyển cho người khác nhận thay mặt trong thời gian 3 tháng ngoài ra có các lý do khác”. Như vậy, pháp luật chỉ cho phép người được nhận di sản thừa kế trong thời hạn là 6 tháng kể từ ngày mở di chúc, tức là từ ngày người để lại di sản chết hoặc từ ngày mà trong di chúc nói rõ thời điểm mở di chúc. Qúa thời hạn 6 tháng trên, nếu không đưa ra được các lý do chính đáng thì người đó sẽ đương nhiên mất quyền thừa kế và phần di sản đó xử lý theo quy định pháp luật. Nếu người được thừa kế không đến nhận phần di sản của mình mà ủy quyền cho người khác nhận thay (có thể là người cùng thừa kế hoặc người không được thừa kế) thì luật chỉ cho phép thời hạn là 3 tháng mà không phải là 6 tháng như khi đích thân đến nhận. Quy định như vậy nhằm hạn chế sự giả dối trong vấn đề ủy quyền. Và nếu quá 3 tháng mà người nhận thay không đến nhận và không có lý do chính đáng khác thì đương nhiên được xử lý như trường hợp quá 6 tháng. Và phần di sản không đến nhận đó của người thừa kế sẽ được xử lý như sau: “Trước khi có sự phân chia tài sản nhưng người nhận tài sản không đi nhận trong vòng 3 tháng. Sau đó các tài sản ấy có người khác đi nhận thay hay là chuyển cho nhà nước. Trong trường hợp này nếu mà người đó đã kiện hay là đòi hỏi các tài sản đó sẽ được trả lại nếu người đó đã đủ các lý do. Nếu mà người nhận tài sản ấy đã chết là sẽ cho người thừa kế của người đó nhận thay” [18, Đ43]. Theo quy định trên thì người thừa kế có quyền khiếu nại để đòi lại tài sản ấy từ nhà nước hoặc từ một người khác đang quản lý tài sản đó nếu đưa ra được các lý do chính đáng. Nhưng trường hợp người đó chết thì phần di sản đó sẽ được trao cho người được thừa kế thế vị tiếp theo như con, vợ chồng, cha, mẹ… Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Đối với người được thừa kế di sản theo di chúc nhưng lại muốn từ chối quyền nhận di sản của mình thì luật thừa kế cũng cho phép họ có quyền đó nhưng giới hạn trong vòng 6 tháng phải có sự thông báo hoặc lập văn bản cho người khác nhận phần của mình [18, Đ45]. Đối với những người được thừa kế chưa thành niên tức là dưới 18 tuổi khi muốn từ bỏ phần di sản của mình thì phải có sự đồng ý của người giám hộ mà không được tự mình định đoạt. Quy định nhằm hạn chế sự quyết định chưa trưởng thành về mặt suy nghĩ đối với người chưa thành niên, ngăn chặn những âm mưu lừa phỉnh từ phía người lớn đối với trẻ em nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
- Thứ tư, quản lý di chúc và di sản thừa kế
Việc quản lý di chúc và di sản thừa kế có thể do một người nào đó được quy định trong di chúc quản lý hoặc có thể do một trong số những người được thừa kế theo di chúc. Trừ những người sau đây không được quản lý di chúc hoặc di sản thừa kế:
- Người chưa thành nhiên tới 18 tuổi
- Người mất năng lực hành vi dân sự
- Người đã bị Tòa án tuyên bố ra quy định là người phá sản trong thời gian cấm giao dịch.
- Người đã bị Tòa án tuyên bố ra quy định mất quyền cha mẹ, con và người mất quyền thừa kế” [18, Đ53].
Nếu có một sự khởi kiện nào về việc quản lý trên thì “Chủ tịch bản hoặc là ban quản lý phải ra kế hạch quản lý di chúc để bảo vệ những người thừa kế, chủ nợ”. Người quản lý di chúc và di sản thừa kế có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật thừa kế tại Điều 54, đó là:
“1. Lập danh sách và tính toán theo sự thỏa thuận của những người thừa kế. Trong trường hợp một người thừa kế nào đó vắng mặt phải thông báo ngay cho người quản lý biết. Việc lập danh sách người thừa kế ít nhất là phải có mặt 1/3 của người thừa kế trong vòng một tháng”. Sự thỏa thuận giữa những người thừa kế có thể là sự thỏa thuận về cách chia di sản như chia bằng hiện vật, bán lấy tiền rồi chia, ai hưởng cái gì…
“2. Nhận đơn khởi kiện của chủ nợ và phải trả hết nợ cho chủ tài sản trước khi thừa kế theo di chúc”. Luật quy định chủ nợ chỉ có quyền khởi kiện đòi nợ trong vòng 3 năm kể từ ngày mở di chúc. Vì vậy, nếu tại thời điểm mở thừa kế mà có đơn đòi nợ của chủ nợ và sau khi xác minh chính xác, người quản lý di sản có quyền trừ nợ cho chủ nợ rồi phần di sản còn lại mới đem chia cho những người thừa kế. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
“3. Chia di chúc cho những người thừa kế theo phần trong di chúc”. Sau khi đã tính toán trừ chi phí các khoản cần thiết theo quy định, người quản lý di sản mới chia cho những người đã có trong danh sách được lập.
Người quản lý không có quyền đòi công lao với người thừa kế trừ trường hợp họ đã hài lòng tặng cho. Nghĩa là việc quản lý và chia di sản đối với người quản lý thì không được tính công lao trong phần di sản đem chia cho những người thừa kế và không có quyền đòi hỏi gì đối với người thừa kế, trừ trường hợp người thừa kế tự nguyện cho hoặc tặng một phần nào đó di sản mà họ được nhận. Quy định này nhằm hạn chế việc người quản lý đòi hỏi công lao của mình, tìm cách vòi vĩnh lợi ích từ phía người thừa kế, gây nên tình trạng tham nhũng, cửa quyền.
Tóm lại, thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản từ người chết sang cho người con sống theo quyết định của người đó bằng việc thể hiện ý chí của mình trong di chúc. Nhóm các quy phạm pháp luật quy định thừa kế theo di chúc của pháp luật thừa kế Lào ngoài những quy phạm giống nhau, thì tồn tại một số quy phạm điều chỉnh khác nhau so với Việt Nam như về việc quản lý thừa kế, quyền và nghĩa vụ của người quản lý…mỗi một quốc gia đều có những phong tục tập quán và quan niệm riêng. Và chính những quan niệm, tập tục đó đã ảnh hưởng đến việc điều chỉnh những quy phạm thừa kế theo di chúc. Đất nước Lào quan niệm cái chết là một thứ gì đó cần được trân trọng nên pháp luật đã quy định rất chi tiết các vấn đề nhằm bảo vệ ý chí của người chết khi họ thể hiện trong di chúc.
2.1.3. Nhóm quy phạm pháp luật quy định về thừa kế theo pháp luật Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Luật thừa kế Lào quy định thừa kế theo pháp luật ngay chương đầu, từ Điều 9 đến Điều 23. So với quy định thừa kế theo di chúc, thì thừa kế theo pháp luật không được các nhà làm luật quy định chi tiết.
- Diện và hàng thừa kế theo pháp luật
- Diện thừa kế theo pháp luật.
Một trong những vấn đề chính yếu của chế định thừa kế theo pháp luật là việc xác định diện thừa kế (xác định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật hưởng di sản của người chết để lại). Việc xác định diện thừa kế theo pháp luật là việc rất quan trọng, bởi đó là cơ sở để xác định những người có quyền hưởng di sản và đảm bảo quyền lợi ích của các chủ thể khác trong mối quan hệ thừa kế. Mặt khác, việc xác định đúng những trường hợp thuộc diện thừa kế theo pháp luật sẽ ngăn chặn được những hành vi lừa dối, trái pháp luật nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Về diện và hàng thừa kế chỉ được đặt ra trong trình tự thừa kế theo pháp luật. Về diện thừa kế, qua các chế độ xã hội cùng có một đặc điểm chung là chủ yếu do quan hệ hôn nhân và gia đình chi phối. Ngoài ra nó cũng tùy thuộc vào quan hệ sản xuất của từng giai đoạn phát triển xã hội và còn dựa trên những quy định pháp luật của mỗi chế độ xã hội nhất định, mà phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật lại được quy định ở diện, rộng hẹp khác nhau. Diện thừa kế được xác định dựa trên quan hệ hôn nhân, gia đình, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản chi phối.
Diện thừa kế dựa trên quan hệ hôn nhân. Tức là dựa trên quan hệ vợ chồng, quan hệ vợ chồng ở đây phải được xác lập trên cơ sở đúng pháp luật hôn nhân và gia đình. Vợ chồng thuộc diện thừa kế di sản của nhau khi một trong hai người chết trước.
Quan hệ huyết thống: Pháp luật luôn bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người con xét về quan hệ huyết thống với bố, mẹ và nghĩa vụ của người làm con đối với bố, mẹ; quyền thừa kế của con không phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của cha, mẹ đẻ. Các con đẻ của người để lại di sản, không phân biệt con trai hay con gái, con trong giá thú hay con ngoài giá thú (nếu được nuôi trong gia đình), có năng lực hay không có năng lực hành vi dân sự, theo quy định của pháp luật, họ đều thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau vì giữa họ với cha, mẹ đẻ có quan hệ huyết thống với nhau. Vì vậy, việc xác định bố, mẹ và con (xác định quan hệ huyết thống) không những là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của bố, mẹ và con đối với nhau trong quan hệ gia đình, mà còn là cơ sở để xác định diện thừa kế giữa bố, mẹ và con cái trong trường hợp một người chết trước. Quan hệ giữa những người cùng dòng máu (cụ với ông, bà; ông, bà với bố mẹ; bố mẹ với các con; anh chị em ruột…). Tuy nhiên, pháp luật lại không cho phép người con đã được người khác nhận làm con nuôi không được thừa kế di sản của bố mẹ đẻ trừ khi có tên trong di chúc [18, Đ15]. Như vậy, dù có quan hệ huyết thống với nhau nhưng pháp luật lại không thừa nhận tồn tại quan hệ thừa kế một cách đương nhiên. Điều này chứng tỏ không phải mọi quan hệ huyết thống đều thuộc diện thừa kế của nhau.
Quan hệ nuôi dưỡng: Quan hệ nuôi dưỡng là sự thể hiện nghĩa vụ chăm sóc, quan tâm, nuôi dưỡng lẫn nhau giữa những người không cùng huyết thống hay không có quan hệ hôn nhân (cha mẹ nhận nuôi con nuôi), hoặc quan hệ huyết thống. Pháp luật quy định giữa những người có quan hệ huyết thống thì có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau. Nếu vi phạm quy tắc chuẩn mực đạo đức này thì sẽ không thuộc diện những người thừa kế. Quan hệ nuôi dưỡng còn được thể hiện giữa anh, chị, em ruột đối với nhau trong hoàn cảnh mồ côi cha, mẹ hoặc cha, mẹ còn nhưng không có khả năng lao động hoặc đều không có năng lực hành vi dân sự hay quan hệ nuôi dưỡng giữa ông bà nội ngoại với cháu chắt. Quan hệ nuôi dưỡng cũng thể hiện trong quan hệ giữa cha kế, mẹ kế với con riêng của vợ, chồng mình; cha mẹ nuôi với con nuôi. Những quan hệ trên nếu họ đã chăm sóc lẫn nhau thì thuộc diện thừa kế của nhau. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
- Hàng thừa kế theo pháp luật.
Hàng thừa kế là thứ tự những người thuộc diện thừa kế được hưởng di sản theo trình tự tuyệt đối trên nguyên tắc hàng gần loại trừ hàng xa; tùy thuộc vào mức độ thân thích với người để lại di sản không phân biệt địa vị xã hội, độ tuổi, không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, dù cho người đó có bị hạn chế năng lực hành vi hay thậm chí bị mất năng lực hành vi thì người đó vẫn có quyền thừa kế. Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của công dân về quyền thừa kế nên mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế từ người chết và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sản mình nhận được và những người trong cùng một hàng thừa kế được hưởng phần di sản ngang nhau. Vì phạm vi những người thừa kế rộng nên pháp luật chia những người thừa kế thành nhiều hàng thừa kế. Trong đó những người thuộc hàng thứ nhất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống gần gũi nhất so với các hàng khác. Các hàng thứ hai, thứ ba là các hàng dự bị, chỉ được hưởng di sản nếu như không còn ai ở hàng thứ nhất hoặc có nhưng họ đều không nhận hoặc không được quyền nhận.
Trong quan hệ thừa kế, có nhiều người thuộc diện thừa kế theo quy định của pháp luật nhưng không phải tất cả những người đó đều được hưởng di sản cùng một lúc. Căn cứ vào diện thừa kế và mức độ gần gũi với người để lại di sản mà người thừa kế được hưởng di sản theo trình tự nhất định. Việc chia hàng thừa kế có ý nghĩa thiết thực đảm bảo cho những người thừa kế cùng hàng được hưởng những phần di sản bằng nhau. Những người thừa kế được quy định theo thứ tự hàng thừa kế và những người ở hàng thừa kế đầu được hưởng toàn bộ di sản.
Theo quy định tại Điều 10 Luật thừa kế Lào năm 2008 thì hàng thừa kế được chia như sau đây:
- Con (con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú) của người đã chết.
- Vợ, chồng của người đã chết
- Hàng thừa kế theo dòng họ thứ nhất như: Bố, mẹ ông nội, bà nội,ông ngoại, ba ngoại của người đã chết.
- Hàng thừa kế theo dòng họ thứ hai như: Anh, chị, em, cậu, dì
- Nhà nước. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Như vậy, khác với Việt Nam quy định hàng thừa kế thứ nhất gồm bố, mẹ, con, vợ, chồng của người đã chết. Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định vợ, chồng, con cái của người đã chết là hàng thừa kế đương nhiên. Sau khi tài sản được phân chia theo pháp luật theo quy định, ví dụ tại Điều 13 Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định “Trong trường hợp vợ hoặc chồng không con đã chết, còn vợ, chồng và những người thừa kế theo hàng thứ nhất đã còn sống sẽ có sự phân chia như sau đây: Vợ hoặc chồng đã còn sống sẽ được hưởng 1/3 của tài sản người đã chết (không phải tài sản chung vợ, chồng) và còn 2/3 là chia cho những hàng thừa kế thứ nhất ngang nhau”; di sản khi đem chia cho hàng thừa kế thứ nhất thì vợ hoặc chồng không được hưởng trong phần đó nữa.
- Xét hàng thừa kế theo quy định Luật thừa kế Lào năm 2008 có một số vấn đề cần phân tích như sau:
Về con của người để lại di sản: Không như ở Việt Nam quy định con ngoài giá thú đều được hưởng di sản, pháp luật của Lào quy định con ngoài giá thú chỉ hưởng di sản khi người con đó được đưa về nuôi trong gia đình cùng với người cha. Sở dĩ có quy định này là nhằm mục đích ngăn chặn khi người cha không thừa nhận đứa con của mình và việc cùng được sống trong một gia đình như vậy khi hưởng thừa kế sẽ không gây nên tình trạng gen gét giữa các con với nhau.
Quốc gia Lào chỉ quy định hai hàng thừa kế, nếu những người có quan hệ đặc biệt với người chết mà không hưởng hết phần di sản thì hàng thừa kế thứ hai mới được hưởng…điểm đặc biệt nữa là sau hàng thừa kế thứ hai là di sản sẽ thuộc về Nhà nước mà không phải là cháu chắt, cô dì trong họ tộc được hưởng. So với quy định các nước thì đây là điểm khác biệt. Ví dụ như pháp luật dân sự Việt Nam quy định di sản sẽ chia cho các hàng thừa kế kể cả cô, chú, dì, dượng, cố, cụ nội ngoại…nếu không có ai thì mới để cho nhà nước quản lý.
Việc quy định con cái, vợ, chồng không thuộc vào một hàng thừa nào chứng tỏ pháp luật thừa kế Lào rất đề cao quan hệ này nên đã không xem những đối tượng này ngang hàng thừa kế với cha, mẹ, anh, chị, em khác hoàn toàn với quy định Việt Nam.
- Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
Theo Điều 9 Luật thừa kế năm Lào 2008 quy định những trường hợp sẽ được chia thừa kế theo pháp luật bao gồm:
Chủ tài sản không lập di chúc. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
- Những tài sản đó đã được chuyển thành của Nhà nước do người thừa kế đã chết.
- Người thừa kế không nhận những khối tài sản đó.
- Những tài sản đó đã thừa trong những khối tài sản đã thừa kế.
Xét trường hợp thứ nhất: Chủ tài sản không lập di chúc. Có thể do điều kiện sức khỏe, hoặc do chết đột ngột như do tai nạn rủi ro, bệnh đột tử mà cái chết đến bất thình lình nên người để lại di sản không kịp lập di chúc bằng văn bản hoặc bằng miệng. Hoặc cũng có thể do ý chí của người chết không muốn để lại di chúc mà muốn để cho pháp luật can thiệp vào vấn đề phân chia di sản của mình; trường hợp này có thể do người chết không muốn gây bất hòa gì trong gia đình, hoặc có lý do khác nên không muốn thể hiện ý chí của mình bằng di chúc. Ngoài ra pháp luật xem các trường hợp di chúc không có giá trị thì cũng xem như là chủ thể không lập di chúc vậy. Và đương nhiên trong trường hợp này không thể biết được ý chí của người để lại di sản, do đó nó sẽ được đem chia theo pháp luật.
Xét trường hợp thứ hai: Do người thừa kế chết nên di sản đó được chuyển cho nhà nước. Người thừa kế chết ở đây có nghĩa là vợ, chồng, con của người chết; hàng thừa kế thứ nhất và hàng thừa kế thứ hai tất cả đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người chủ tài sản thì trong trường hợp này sẽ không còn ai thừa kế nên đem cho nhà nước canh giữ.
Trường hợp người thừa kế không nhận khối tài sản đó: Ở đây cần lưu ý nếu một người từ chối nhận di sản thừa kế thì phải lập thành văn bản, trong đó nói rõ là phần tài sản đáng lẽ mình được hưởng sẽ để lại cho ai, tên gì, ở đâu và chỉ được khước từ quyền nhận di sản của mình trong vòng 6 tháng. Nhưng có những trường hợp họ không muốn để lại cho ai, cũng không lập thành văn bản thì phần tài sản đó sẽ được đem chia theo pháp luật xét theo hàng thừa kế. Những khối tài sản thừa: Có nghĩa rằng sau khi đem chia theo di chúc (trong phạm vi quy định của pháp luật) mà di sản vẫn chưa hết, hoặc là những phần di sản mà người để lại di chúc đã lập vượt quá theo quy định, ví dụ trường hợp có một người con thì chỉ được quyền để lại ½ di sản cho người con đó nhưng người chết lại lập di chúc để lại hết di sản của mình cho người con thì phần vượt quá đó sẽ được đem chia theo pháp luật.
Vấn đề thừa kế theo pháp luật, Luật thừa kế của Lào năm 2008 chưa quy định rõ ràng. Tại Điều 9 Luật thừa kế Lào không quy định những trường hợp được chỉ định trong di chúc nhưng lại không có quyền hưởng di sản.
- Cách chia di sản thừa kế theo pháp luật Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Tại Điều 12 Luật thừa kế Lòa quy định đối với trường hợp người chết có con như sau: Nếu người vợ hoặc chồng chết thì phần di sản họ sẽ được chia theo pháp luật như sau (khi không để lại di chúc): Đối với phần tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi. Người vợ hoặc chồng còn sống sẽ được hưởng một nửa, còn nửa kia sẽ thuộc về con cái, trong trường hợp có nhiều con thì chia các phần bằng nhau, nếu chỉ có một con thì người con đó được hưởng hết luôn một nửa số tài sản chung của cha, mẹ mình để lại. Đối với phần di sản là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ chết đó thì được chia theo tỷ lệ 3:1, tức là các con của người đó sẽ được hưởng ¾ số tài sản riêng của người đó, còn vợ hoặc chồng của người chết chỉ được hưởng ¼ số tài sản riêng đó. Các con của người chết được chia di sản bằng nhau, kể cả đứa con đang mang thai trong bụng mẹ trong trường hợp người bố chết, nếu có một con thì người con đó được nhận hết ¾ số tài sản riêng của bố hoặc mẹ để lại. Trong trường hợp có con chưa thành niên hoặc con đang mang thai thì bố hoặc mẹ còn sống quản lý phần tài sản đó cho con.
Nhưng nếu người chết mà chưa (chưa mang thai) hoặc không có con thì pháp luật lại có quy định chia di sản theo cách khác, đó là: Về tài sản chung của vợ chồng, nó không phải chia đôi như trường hợp có con mà người vợ hoặc chồng còn sống được quyền nhận hết. Còn tài sản riêng thì chia theo tỷ lệ 2:1, tức là người còn sống được hưởng 1/3 phần tài sản riêng đó, còn lại 2/3 nữa sẽ đem chia cho hàng thừa kế thứ nhất gồm cha, mẹ, ông, bà nội ngoại [18, Đ13].
Đồng thời pháp luật cũng quy định cho trường hợp nếu người chết không có con cũng không không còn hàng thừa kế thứ nhất (chết hoặc mất tích vào thời điểm mở thừa kế) thì về tài sản chung của vợ chồng người còn sống sẽ được hưởng hết; còn tài sản riêng sẽ chia theo tỷ lệ 1:1, tức là người vợ hoặc chồng còn sống được nhận một nửa còn nửa kia đem chia cho hàng thừa kế thứ hai. Những người trong hàng thừa kế thứ hai được hưởng ngang nhau.
Như vậy, qua cách chia di sản theo pháp luật ở trên chúng ta thấy phần di sản mà người vợ hoặc chồng còn sống sẽ được gia tăng dần nếu hàng người thừa kế gần mình không còn.
Ví dụ cho cách chia tài sản theo quy định trên: A và B là hai vợ chồng. Hai vợ chồng ông bà có một căn nhà chung trị giá 500 triệu kíp và ông A có một mảnh đất được cha mẹ ông tặng cho trước khi kết hôn trị giá 400 triệu kíp, tài sản không nhập vào tài sản chung của vợ chồng. Ông A chết vào tháng 10 năm 2010 và không để lại di chúc.
Giả sử vợ chồng ông bà A, B có hai đứa con chung là C và D thì di sản sẽ được chia như sau: Về ngôi nhà trị giá 500 triệu kíp là tài sản chung của vợ chồng nên nó sẽ được chia đôi. Bà B được nhận 250 triệu kíp, C và D mỗi người được nhận 125 triệu kíp. Còn tài sản riêng là mảnh đất trị giá 400 triệu kíp sẽ được chia nhau sau đây: Hai người con C và D sẽ được nhận tổng cộng ¾ trị giá mảnh đất đó, tức là mỗi người được nhận 150 triệu kíp; còn bà B sẽ được nhận 150 triệu kíp đối với phần tài sản trị giá mảnh đất này. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Trường hợp giả sử ông bà A, B không có con. Khi ông B chết thì phần di sản trên sẽ được chia như sau: Về tài sản chung là ngôi nhà trị giá 500 triệu kíp sẽ thuộc về bà B hết. Còn phần tài sản riêng là mảnh đất trị giá 400 triệu kíp sẽ được chia như sau: Bà B sẽ nhận được 1/3 trị giá tài sản tức là 133 triệu kíp, còn lại 2/3 giá trị tài sản, tức là 270 triệu kíp sẽ chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất bao gồm những người còn sống là cha, mẹ, ông bà nội ngoại. Mỗi người được hưởng phần bằng nhau. Giả sử hàng thừa kế thứ nhất chết hết không còn ai thì phần di sản sẽ được chia cho hàng thừa kế thứ hai. Cách chia như sau: Phần tài sản chung sẽ vẫn thuộc hoàn toàn về bà B, nhưng đồng thời bà B sẽ được hưởng phần tài sản riêng là ½ tức là 200 triệu kíp, còn 200 triệu kíp sẽ chia cho anh, chị em, cậu…mỗi người hưởng phần bằng nhau.
Như vậy, qua ví dụ trên chúng ta thấy khi còn đầy đủ hàng thừa kế thì cách chia di sản sẽ khác đối với khi một trong các thành viên đáng lẽ được hưởng thừa kế không còn. Và số di sản mà người chồng hoặc vợ còn sống được hưởng sẽ tăng dần lên.
Đối với sự phân chia di sản giữa các con khi tài sản được chia theo pháp luật thì thực hiện theo Điều 15 Luật thừa kế của Lào, được quy định như sau: đối với con chung của cả hai vợ chồng thì tài sản riêng và tài sản chung của bố hoặc mẹ để lại các con này được hưởng các phần bằng nhau; đối với con riêng, con ngoài giá thú của người chết nếu được nuôi trong gia đình thì được hưởng phần bằng nhau đối với tài sản chung của bố hoặc mẹ để lại mà thôi, không được hưởng phần tài sản riêng. Đối với con nuôi thì lại được hưởng cả phần tài sản chung và cả phần tài sản riêng của bố hoặc mẹ nuôi để lại. Giá trị phần được hưởng tính ngang hàng với con riêng của người chết. Tuy nhiên, con nuôi không được hưởng di sản của bố mẹ đẻ mình khi di sản được đem chia theo pháp luật, trừ trường hợp khi bố hoặc mẹ đẻ chết để lại di chúc mà trong di chúc có tên của mình thì mới được hưởng. Như vậy, con nuôi của người khác thì không được quyền đương nhiên hưởng di sản của bố mẹ đẻ mình mặc dù xét về quan hệ huyết thống là rất gần gủi. Pháp luật cũng tôn trọng và bảo vệ hành vi chăm sóc nuôi dưỡng bố, mẹ tới khi chết bằng cách quy định cho phép con đẻ hoặc con nuôi của người chết nếu ai chăm sóc bố mẹ tới khi chết thì sẽ được hưởng thêm một phần tài sản ngoài phần mà mình đã được hưởng.
- Một số trường hợp thừa kế đặc biệt Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Mỗi quốc gia gắn với những tập quán, nét văn hóa riêng, do đó mà pháp luật cũng có những nét riêng không giống nhau. Các trường hợp thừa kế đặc biệt là một ví dụ, bao gồm những trường hợp sau:
- Thừa kế giữa người đứng đầu trong gia đình và người phục vụ:
Tại Điều 17 Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định “Nếu người đứng đầu trong gia đình (như người được thuê canh giữ tài sản chẳng hạn) mà chết, nếu trong vòng ba năm trở lên không có người thừa kế và không để lại di chúc thì người phục vụ đó được hưởng và ngược lại người chủ trong gia đình đó cũng được thừa kế di sản của người phục vụ”.
Tìm hiểu quy định pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước chúng ta không thấy có quy định này. Và đương nhiên là không thừa nhận mối quan hệ thừa kế giữa người phục vụ (người đi ở) và người chủ. Vì trong thời gian thuê mướn họ làm việc tại gia đình mình, họ đã được trả công theo thỏa thuận. Nên sau khi một trong hai bên chết thì sự thỏa thuận đó chấm dứt, theo đó các mối ràng buộc khác cũng chấm dứt từ đây (trừ việc trả tiền trong thời gian thuê trước đó), không được thừa kế di sản của nhau. Dù họ không có người thừa kế nào nữa thì tài sản ấy cũng sẽ thuộc về Nhà nước nếu không được lập tên trong di chúc cho quyền hưởng di sản. Ngoài ra sẽ được thực hiện theo quy định thừa kế trong các trường hợp đã quy định trên. Đây là một trong những quy định có nét riêng của quốc gia Lào. Vì ở Lào có truyền thống rất coi trọng những người ở phục vụ trong gia đình và ngược lại người phục vụ cũng rất coi trọng và có mối quan hệ thân thiết với chủ nhà, mặc dù xét về huyết thống họ không có mối liên quan. Họ chỉ như là những người có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Do đó, khi chủ nhà chết đi mà không có người thân thuộc hàng thừa kế chia theo pháp luật hay không được định đoạt trong di chúc thì trong một thời hạn nhất định (là 3 năm) người phục vụ này được hưởng hết toàn bộ di sản của chủ. Và ngược lại chủ nhà cũng được hưởng hết di sản khi người phục vụ trong gia đình mình chết nếu họ không còn hàng thừa kế nào trong thời gian như đã nói trên. Có thể nói, quy định này tồn tại hai mặt tích cực và tiêu cực. Mặt tích, cực thể hiện ở chỗ pháp luật tôn trọng mối quan hệ “chủ, tớ” trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau, cho phép họ có quyền thừa kế di sản của nhau nhằm làm phát triển hơn nữa của cải vật chất hiện có. Về mặt hạn chế thì đây là quy định không cần thiết (theo ý kiến chủ quan của tác giả) vì mối quan hệ này chỉ dựa trên đồng tiền, rất ít khi có sự tồn tại tình cảm thật sự. Vì đó là mối quan hệ giữa một người làm công ăn lương và một người cần người làm. Nếu họ có hành vi chăm sóc lẫn nhau đi chăng nữa thì cũng chỉ tính lợi ích cho bản thân mình mà không chăm sóc một cách vô tư như những quan hệ nuôi dưỡng giữa những người có cùng huyết thống. Nếu xét về mặt chủ quan thì mối quan hệ này không thể hơn mối quan hệ giữa cha, mẹ kế với con riêng của chồng hoặc vợ. Vì mối quan hệ giữa cha, mẹ kế với con riêng cũng tồn tại sự chăm sóc lẫn nhau. Mà pháp luật không thừa nhận sự thừa kế toàn bộ di sản mối quan hệ giữa cha, mẹ kế với con riêng nhưng lại thừa nhận mối quan hệ thừa kế này thì nên chăng cần xem xét lại.
- Thừa kế tài sản của những người đang trong tù:
Có một số trường hợp trong thời gian đang chấp hành hình phạt thì bị chết bất ngờ. Do đó, tại Điều 19 Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định: “Tài sản của người vào nhà tù do có trước đó có quyền tặng, chuyển hoặc lập di chúc cho những người mà mình muốn để lại di sản. Nếu trường hợp họ chết mà chưa lập di chúc hay chưa chuyển, tặng cho ai thì tài sản đó sẽ do nhà tù canh giữ”. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Đây cũng là điểm khác biệt nữa của pháp luật thừa kế của Lào với pháp luật Việt Nam không quy định cho trường hợp này mà trường hợp này sẽ được thực hiện theo như các trường hợp khác. Nếu họ lập di chúc thì thực hiện theo di chúc. Nếu chết mà không lập di chúc thì di sản sẽ đem chia theo pháp luật cho những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng. Trừ trường hợp không còn ai thì mới do nhà nước canh giữ. Pháp luật Lào lại quy định ưu tiên cho nhà tù (Nhà nước) được quyền canh giữ di sản nếu họ chưa lập di chúc. Nếu so sánh với quy định của Việt Nam và một số nước sẽ thấy sự khác biệt. Như vậy, trường hợp này không thuộc một trong những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật khi người để lại di sản không lập di chúc như quy định tại Điều 9, Luật thừa kế Lào. Thêm một điểm nữa để thấy Pháp luật thừa kế của Lào rất coi trọng và ưu tiên cho nhà nước trong việc thừa kế di sản của công dân Lào.
- Người thừa kế thay đổi nhau:
Tại Điều 21 Luật thừa kế Lào năm 2008 quy định người thừa kế thay đổi nhau: “Nếu mà người thừa kế theo pháp luật đã chết trước chủ tài sản thì những người thừa kế khác có thể thay đổi nhau (như con của người chết và theo hàng thừa kế) để nhận tài sản ấy”.
Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam quy định vấn đề này với tên điều luật là “Thừa kế thế vị” [23, Đ677]: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống…”. Mang nội dung như sự quy định về thừa kế thế vị nhưng pháp luật thừa kế của Lào không quy định rõ ai chết, ai được hưởng như pháp luật Việt Nam, mà chỉ nói chung chung khi một người chết thì người khác được hưởng theo hàng thừa kế, và ở đây luật cũng chỉ quy định cho thừa kế theo pháp luật mà không quy định cho thừa kế di chúc. Điều này cũng đúng vì người được chỉ định thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì phần di sản liên quan đó không có hiệu lực thi hành.
2.1.4. Nhóm quy phạm pháp luật quy định về thừa kế quyền sử dụng đất
Hiến pháp năm 1991 của Lào quy định rằng đất đai là nguồn tài nguyên quý giá được Nhà nước thống nhất quản lý. Đồng thời Nhà nước cũng trao cho mỗi công dân có quyền sử dụng và định đoạt quyền sử dụng đất đai. Một trong các quyền định đoạt đó chính là quyền để lại thừa kế và quyền được thừa kế quyền sử dụng đất đai. Trên tinh thần đó pháp luật thừa kế Lào quy định cho phép người người có quyền sử dụng đất đai được có quyền để lại đất cho người thừa kế bằng những quy định cụ thể, rõ ràng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho quyền của họ. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản, nên khi người có quyền sử dụng đất chết thì việc dịch chuyển quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất là một dạng đặc thù, nên ngoài sự điều chỉnh chung của pháp luật dân sự, Luật thừa kế, còn có Luật đất đai, Luật hôn nhân gia đình điều chỉnh. Do vậy, quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất có những điểm khác biệt như về di sản, người để lại thừa kế, người được thừa kế, trình tự thủ tục, thừa kế quyền sử dụng đất. Luật đất đai của Lào được ban hành năm 1990 thuộc Bộ luật dân sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào sau đó được bổ sung năm 2003, bao gồm 87 Điều là cơ sở quan trọng để nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ với Nhà nước Lào, đồng thời mở rộng các quy định thừa kế về đất đai. Cũng như ỏ Việt Nam, quyền thừa kế đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
Về người để lại quyền sử dụng đất: Theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 Luật đất đai Lào năm 2003 thì “Công dân Lào được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Còn người được thừa kế thì có quyền sử dụng hợp pháp, có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất là bất kỳ ai, dù người đó nằm trong hay ngoài diện thừa kế theo pháp luật. Người thừa kế quyền sử dụng đất cũng như thừa kế các loại tài sản khác nên có thể là pháp nhân, tổ chức nhà nước và các chủ thể khác, kể cả người nước ngoài. Tuy nhiên, các đối tượng trên cần phải tuân theo các quy định pháp luật liên quan.
- Trình tự thủ tục quyền sử dụng đất:
Theo quy định tại Điều 58 Luật đất đai của Lào năm 2003 nước Cộng hòa nhân chủ nhân dân Lào quy định về trình tự, thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất như sau:
Người nhận thừa kế nộp một bộ hồ sơ gồm có:
- Di chúc, biên bản chia thừa kế, bản án, quyết định giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất của Tòa án có hiệu lực;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Trong thời hạn 4 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, làm trích sao hồ sơ địa chính, gửi số liệu địa chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính, chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp phải cấp giấy mới chứng nhận.
- Nhóm quy phạm pháp luật về thủ tục đảm bảo thực hiện quyền thừa kế của công dân:
Nếu như nhóm quy phạm pháp luật quy định những vấn đề chung về thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thừa kế quyền sử dụng là quy phạm nội dung, thì có thể nói nhóm quy phạm về thủ tục là quy phạm về hình thức. Nó bảo đảm cho các quy phạm nội dung sẽ được thực thi, áp dụng vào đời sống. Nó cho biết các quy phạm nội dung của luật pháp được thực hiện bằng cách nào, theo trình tự thủ tục nào. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Để đảm bảo thực hiện quyền thừa kế của công dân, Nhà nước Nhân dân cách mạng Lào đã ban hành các quy phạm pháp luật về thủ tục, bao gồm thủ tục hành chính và thủ tục tố tụng. Mục đích chung của các quy phạm trong lĩnh vực này là nhằm giúp cho quyền thừa kế của công dân được triển khai trên thực tế.
Pháp luật Lào đã quy định nhiều loại thủ tục hành chính để công dân trong nước cũng như nước ngoài thực hiện quyền năng đối với di sản của mình, trong đó có thủ tục công chứng, chứng thực di chúc (được quy định trong luật công chứng), thủ tục khiếu nại, tố cáo khi có hành vi vi phạm tài sản của cơ quan Nhà nước liên quan đến di sản của người hưởng thừa kế (Luật khiếu nại tố cáo), thủ tục đăng ký tài sản là bất động sản như di sản thừa kế, quyền sử dụng đất (Luật đất đai)…
Bên cạnh những quy định về thủ tục hành chính, các quy định về thủ tục tố tụng đóng vai trò không thể thiếu được trong việc bảo đảm thực hiện quyền thừa kế của công dân khi di sản của họ bị tranh chấp hoặc bị xâm phạm. Thủ tục tố tụng ở đây chủ yếu là tố tụng dân sự. Pháp luật tố tụng dân sự quy định, trong các giao dịch dân sự thông thường, khi tài sản bị tranh chấp hoặc bị người khác xâm phạm, nếu không hòa giải được họ có quyền khởi kiện đến Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình. Bộ luật tố tụng dân sự quy định quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, các yêu cầu liên quan đến di sản thừa kế của công dân. Thủ tục giải quyết các vụ việc, vụ án được quy định một cách thống nhất và rõ ràng, đơn giản mà chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp.
Tóm lại, pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất là bộ phận quan trọng trong pháp luật thừa kế của quốc gia Lào. Những quy định này đã góp phần quan trọng trong việc ổn định và phát triển đời sống xã hội.
2.2. Đánh giá pháp luật thừa kế của Lào trên cơ sở đối chiếu với pháp luật thừa kế của Việt Nam Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
2.2.1. Sự giống nhau
Bất cứ một quốc gia nào khi thể chế hóa những chính sách đường lối lên thành những quy định luật pháp cũng nhằm mục đích phục vụ lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự công bằng trong xã hội. Pháp luật thừa kế của Lào cũng như của Việt Nam cũng không nằm ngoài mục đích trên. Do đó, cùng điều chỉnh về một vấn đề thừa kế nên có rất nhiều điểm giống nhau. Tác giả chỉ đề cập tới các vấn đề nổi trội mà không đi sâu vào các chi tiết nhỏ.
- Thứ nhất, giống nhau về mục đích, chính sách, hình thức
Mục đích và chính sách của Nhà nước đều nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của người để lại di sản cũng như người thừa kế, giúp tăng cường sự đoàn kết gắn bó giữa các thành viên trong gia đình, tạo sự kế thừa phát triển các tiềm năng về của cải vật chất xã hội trước khi chủ tài sản không thể tiếp tục quản lý nó.
Hình thức của pháp luật thừa kế của hai quốc gia đều được quy định trong khoảng 3 đến 4 chương. Mỗi chương là một vấn đề cụ thể của thừa kế.
- Thứ hai, giống nhau về các quy định trong nội dung
Đó là các quy định về thời gian, địa điểm mở thừa kế, thời hạn yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ, các quy định về cách thức thừa kế là thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Trong thừa kế theo pháp luật đều có sự giống nhau trong quy định về các trường hợp được và không được thừa kế theo pháp luật, cách phân chia di sản cho vợ, chồng, con cái, cha mẹ và các thành viên trong cùng hàng thừa kế. Trong thừa kế theo di chúc; pháp luật thừa kế hai quốc gia đều quy định các quyền được thực hiện của người lập di chúc, các hình thức di chúc có hiệu lực và mất hiệu lực; các trường hợp di chúc không có hiệu lực như bị cưỡng ép, lừa dối khi lập di chúc….; trường hợp không được thừa kế theo di chúc, cách tổ chức bảo quản, thực hiện di chúc, thừa nhận sự có hiệu lực của di chúc miệng trong một thời gian nhất định…
- Thứ ba, giống nhau về đối tượng điều chỉnh
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật thừa kế không gì khác chính là di sản thừa kế. Di sản thừa kế do người chết để lại và mong muốn tài sản đó được tiếp tục bảo quản, phát triển nên cần đến sự điều chỉnh của pháp luật thừa kế nói riêng.
2.2.2. Sự khác nhau Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
- Về mặt hình thức
Nói đến hình thức trong quy định pháp luật thừa kế ở đây là nói đến tính kỹ thuật lập pháp thể hiện trong việc đặt tên điều luật, vấn đề chia tách các phần thích hợp, tính ngắn gọn nhưng dễ hiểu của từng quy phạm…
- Thứ nhất, đánh giá về tính ngắn gọn dễ hiểu của quy định về thừa kế.
Pháp luật thừa kế của Việt Nam được quy định chung trong Bộ luật dân sự 2005 (được thông qua tại Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7, ngày 14-6-2005. Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01-01-2006. Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10) dựa trên Bộ luật dân sự năm 1995, tại phần thứ tư của bộ luật. Vì được quy định chung, nên pháp luật thừa kế của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực cũng như ngày hết hiệu lực phụ thuộc vào quy định chung cho cả Bộ luật dân sự. Tại phần thứ tư của Bộ luật dân sự năm 2005, pháp luật về thừa kế được quy định trong 56 điều với bốn chương cụ thể. Chương đầu nói về vấn đề chung của thừa kế, chương thứ hai nói về thừa kế theo di chúc, chương thứ ba nói về thừa kế theo pháp luật và chương cuối nói về việc thanh toán và phân chia di sản thừa kế.
Khác với Việt Nam, pháp luật thừa kế của Lào thuộc pháp luật dân sự nhưng lại được quy định trong một đạo luật riêng gọi là Luật thừa kế năm 2008. Bộ luật dân sự năm 1990 được thông qua tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân cách mạng Lào đã thông qua ngày 10/7/1990 và tại khoản 2, Điều 53 Hiến pháp 1991 để bổ sung Luật thừa kế vào năm 2008. Vì được quy định thành một đạo luật riêng nên vấn đề có và hết hiệu lực của luật thừa kế không phụ thuộc vào Bộ luật dân sự giống như của Việt Nam. Luật thừa kế của Lào hiện nay bao gồm 67 điều, được phân thành các điều mở đầu và 3 chương tiếp theo. Các điều mở đầu nói về mục đích, định nghĩa, chính sách thừa kế, thời gian, địa điểm mở thừa kế và trường hợp người bị Tòa án tuyên bố là đã chết quay trở về; chương đầu nói về thừa kế theo pháp luật, chương thứ hai là thừa kế theo di chúc và chương cuối nói về việc nhận, sự ủy quyền thừa kế theo di chúc. Trong từng chương lại có sự phân chia thành từng phần nhỏ.
Như vậy, qua những đặc điểm trên xét về mặt khách quan và chủ quan thấy pháp luật thừa kế của Lào được xem trọng hơn ở Việt Nam. Nó không bị phụ thuộc vào các đạo luật khác. Tuy nhiên, xét về tính kỷ thuật lập pháp trong việc phân chia bố cục và tính ngắn gọn dễ hiểu thì có lẽ Luật thừa kế của Lào chưa bằng với Việt Nam vì tính ngắn gọn dễ hiểu, các điều trong cùng nội dung được phân thành bố cục rõ ràng tạo sự liền mạch trọng quá trình tiếp cận và hiểu rõ từng vấn đề một của pháp luật thừa kế Việt Nam. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
- Thứ hai, về việc đặt tên và sắp xếp các điều luật.
Các quy định trong Bộ luật dân sự năm 1990 của Lào có một số điểm khác biệt so với pháp luật về thừa kế của Việt Nam trong việc đặt tên và sắp xếp các điều luật. Ví dụ về thời gian và địa điểm mở thừa kế Luật thừa kế của Lào quy định tại hai điều luật khác nhau (Điều 6 và Điều 7), trong khi Việt Nam chỉ quy định tại Điều 633 của Bộ luật dân sự năm 2005; trong quy định về hình thức di chúc thì tại Điều 26 Luật thừa kế Lào đặt tên “Quan điểm lập di chúc của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” trong khi Việt Nam chỉ quy định là “Hình thức của di chúc”[23, Đ649] hoặc Điều 5 Luật thừa kế Lào sắp xếp tại phần mở đầu là chưa hợp lý so với Việt Nam lại được quy định tại Điều 83 Bộ luật dân sự 2005 và áp dụng chung cho các quan hệ dân sự khác khi một người được tuyên bố là đã chết nhưng trở về, mà không đưa vào phần riêng của pháp luật thừa kế…qua một vài điểm so sánh cũng có thể nhận thấy Luật thừa kế của Lào chưa có tính khoa học bằng Việt Nam trong việc đặt tên và sắp xếp các điều luật, còn mang tính quá cụ thể gây nên sự rườm rà, dài dòng trong quy định thừa kế.
- Về mặt nội dung
Đây là phần chủ yếu mà dưới góc nhìn của pháp luật thừa kế Việt Nam sẽ cho chúng ta thấy sự khác biệt cũng như những điểm còn thiếu sót đối với pháp luật thừa kế Lào. Và để có cái nhìn cụ thể, chi tiết, chúng ta sẽ đi vào từng vấn đề một.
Xác định di sản người chết để lại: Nếu pháp luật thừa kế Việt Nam định nghĩa “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”[23, Đ634] thì Lào lại quy định “Di sản là tài sản của người chết, quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ của người chết để lại”. Rõ ràng có sự khác biệt về hai định nghĩa này vì nếu như Việt Nam quy định rõ tài sản của người chết bao gồm có phần tài sản trong khối tài sản chung của người đã chết thì Lào lại không có quy định rõ như thế. Theo ý kiến chủ quan của tác giả thì việc quy định như Việt Nam là không cần thiết thì xét cho cùng thì đã quy định là tài sản và quyền sở hữu tài sản của họ thì tức là gồm những tài sản riêng mà họ có cũng như phần tài sản đang nằm chung phần với người khác. Một vấn đề nữa là Việt Nam không quy định di sản bao gồm nghĩa vụ của người chết để lại nhưng Lào lại quy định rõ. Việc không quy định rõ của Việt Nam đã xảy ra nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tế. Nên cần quy định rõ như quốc gia Lào là điều cần thiết. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Xác định người thừa kế: Pháp luật dân sự của việt Nam ghi nhận quyền thừa kế của cá nhân, tổ chức tại Điều 638 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:
- Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
- Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế ”.
Thứ nhất, hiểu như thế nào về (người còn sống vào thời điểm mở thừa kế), đặc biệt trong trường hợp những người thừa kế chết mà không xác định được ai chết trước, ai chết sau. Thực tế chỉ ra rằng, có nhiều trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau chết cách nhau một khoảng thời gian rất ngắn, vụ việc tranh chấp thừa kế một thời gian dài sau đó mới phát sinh, do vậy việc xác minh thời điểm chết của từng người rất khó khăn, phức tạp trong quá trình giải quyết vụ án (có lẽ, trong những trường hợp này, căn cứ pháp lý duy nhất có thể tin cậy được là giấy chứng tử, nhưng trong nhiều trường hợp giấy chứng tử lại không ghi cụ thể giờ, phút chết của cá nhân). Điều 644 Bộ luật dân sƣ̣ năm 2005 quy định: trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết trong cùng một thời điểm hoặc được coi là chết trong cùng một thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước, thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc: nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về các đương sự. Trong cùng nội dung này, luật dân sự Pháp lại áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý: “Đối với những người dưới 15 tuổi thì người nhiều tuổi hơn được suy đoán là chết sau; trên 60 tuổi thì người ít tuổi hơn được suy đoán là chết sau; nếu đàn ông và đàn bà không chênh nhau quá 3 tuổi thì đàn ông được suy đoán là chết sau đàn bà”. Vấn đề ở chỗ: trường hợp nào được coi là sinh ra và còn sống? Đứa trẻ ra đời có thể chỉ sống được 30 phút, 01 giờ, 7giờ, 24 giờ, 7 ngày… sau đó mới chết. Việc xác định khi nào đứa trẻ đó được coi là người thừa kế có ảnh hưởng rất lớn đối với kỷ phần thừa kế của những người khác. Điều luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên có nhiều cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng.
Thứ hai, quyền thừa kế của các tổ chức (pháp nhân) đã sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản. Theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, các pháp nhân cùng loại có thể bị chấm dứt khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách. Nhưng trong những trường hợp này, pháp nhân không chấm dứt tuyệt đối mà quyền và nghĩa vụ của nó được chuyển giao cho các pháp nhân khác. Vậy, những pháp nhân này có được thừa kế không? Pháp nhân cũng có thể bị chấm dứt theo quy định về giải thể hoặc phá sản. Khi này, pháp nhân chấm dứt “tuyệt đối”. Sau khi pháp nhân chấm dứt, một thời gian sau mới phát sinh vụ việc tranh chấp thừa kế mà pháp nhân đó được chỉ định là người thừa kế và tại thời điểm mở thừa kế pháp nhân chưa bị giải thể hoặc phá sản thì ai, cơ quan nào sẽ thay mặt pháp nhân để nhận di sản hay khi này tài sản được coi là tài sản vô chủ và thuộc về nhà nước? Mặt khác, theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, pháp nhân đã bị giải thể, bị tuyên bố phá sản có thể được thành lập lại theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Vậy, trường hợp pháp nhân đó bị giải thể, bị tuyên bố phá sản trước thời điểm mở thừa kế, nhưng sau thời điểm mở thừa kế lại được thành lập lại thì pháp nhân đó có được quyền thừa kế di sản không?
Cũng theo pháp luật dân sự Việt Nam thì con đang mang thai có quyền thừa kế nếu được thành thai trước khi người chồng chết và được sinh ra mà còn sống vào thời điểm mở thừa kế [23, Đ634].
Trong khi pháp luật Lào không có quy định về người thừa kế ở một điều luật cụ thể nào mà thông qua các quy định về điều kiện hưởng thừa kế để hiểu về định nghĩa hưởng thừa kế. Tuy nhiên, pháp luật Lào không quy định rõ điều kiện người thừa kế là cơ quan, tổ chức được hưởng di sản phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Còn vấn đề con chưa sinh ra thì pháp luật Lào chỉ quy định tại Điều 16 Luật thừa kế Lào năm 2008 nói rằng con đang mang thai có quyền hưởng thừa kế mà không bắt buộc là phải sinh ra và còn sống tại thời điểm mở thừa kế như của Việt Nam
- Xác định thời thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế:
Tại Ðiều 636 Bộ luật dân sự năm 2005 Việt Nam quy định “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”. Nhưng đối với Luật thừa kế của Lào thì không có một điều luật nào quy định rõ về vấn đề này mà được hiểu ngầm thông qua các quy định về thời điểm mở thừa kế, nghĩa vụ của người nhận di sản là quan trọng vì từ thời điểm đó mà bắt buộc người nhận di sản thực hiện đồng thời những quyền cũng như nghĩa vụ của mình, nếu xác định sai hay hiểu sai thì sẽ gây ra các hậu quả về sau như thực hiện không đúng thời gian về quyền từ chối nhận di sản, nghĩa vụ trả nợ cho người chết…từ đó dẫn tới những mâu thuẫn, tranh chấp có thể xảy ra, hoặc hết thời hạn từ bỏ quyền. Do tầm quan trọng của nó nên chăng pháp luật Lào cũng cần có một điều luật quy định rõ như Việt Nam.
- Những trường hợp thừa kế theo pháp luật:
Pháp luật Lào quy định các điều kiện thừa kế theo pháp luật tại Điều 9 Luật thừa kế Lào năm 2008 so với Điều 675 của Bộ luật dân sự năm 2005 Việt Nam thì Lào quy định chưa đầy đủ các lý dó như trường hợp lập di chúc nhưng di chúc không hợp lệ, trường hợp có tên trong di chúc nhưng không đủ điều kiện hưởng. Nếu coi việc di chúc lập nhưng không hợp lệ như trường hợp không lập di chúc thì không phù hợp, do vậy cần quy định rõ như Việt Nam.
- Quy định về hàng thừa kế: Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Nếu như pháp luật thừa kế Việt Nam quy định tại Ðiều 676 về hàng thừa kế theo pháp luật được quy định như sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Thì Lào lại quy định có sự khác biệt như sau [18, Đ10]:
- “Con (con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú) của người đã chết
- Vợ, chồng của người đã chết
- Hàng thừa kế theo dòng họ thứ nhất như: Bố, mẹ ông nội, bà nội,ông ngoại,ba ngoại của người đã chết.
- Hàng thừa kế theo dòng họ thứ hai như: Anh, chị, em cậu,dì.
- Nhà nước”.
Như vậy, Lào không quy định con cái, vợ, chồng thuộc hàng thừa kế với cha mẹ như của Việt Nam mà là quy định ở hàng thừa kế đặc biệt trước hết; trong khi ông bà chỉ hàng thừa kế thứ hai theo luật Việt Nam thì Lào lại để ông, bà lên hàng thừa kế thứ nhất ngang hàng với cha, mẹ nhưng anh, chị em lại không được hưởng thừa kế ngang hàng với cha, mẹ, ông, bà mà lại thuộc hàng thừa kế thứ hai cùng với cậu, cô, chú… Điều này nghe có vẻ bất hợp lý nếu xét theo mức độ gần gũi về mặt tình cảm trong gia đình. Nhưng mỗi quốc gia có một văn hóa tập tục khác nhau. Ở Lào rất xem trọng quan hệ huyết thống theo hàng dọc, tức là cha mẹ rồi đến ông bà…nên việc quy định như trên cũng là phù hợp với bản sắc văn hóa của quốc gia Lào. Mặt khác, quốc gia Lào cũng đề cao quan hệ con cái, vợ chồng nên pháp luật quy định đó là hàng thừa kế đặc biệt mà không xếp chung vào hàng thừa kế với những thành viên khác. Đây cũng là một phần do học tập kinh nghiệm quy định của Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp và một số quốc gia khác
- Quy định thời hạn khởi kiện trong vấn đề thừa kế:
Đối với vấn đề thời hạn về quyền khởi kiện để đòi nợ đối với người để lại di sản, pháp luật thừa kế Việt Nam quy định thời hiệu có quyền khởi kiện để yêu cầu người chết thực hiện nghĩa vụ là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế [23, Đ645]. Nhưng về thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 đối với quy định Việt Nam [23, Đ645]. Còn Lào chỉ quy định có ba năm kể từ thời điểm người lập di chúc chết. Đây là sự khác biệt rất lớn quy định về thời hiệu đối với những người thừa kế với nhau. Lào chỉ quy định 3 năm nhưng ngoại trừ các lý do khác như do người thừa kế chưa đủ 18 tuổi và quy định thời hiệu này chỉ áp dụng cho trường hợp thừa kế theo di chúc, còn trong trường hợp thừa kế theo pháp luật thì pháp luật thừa kế của Lào không có sự điều chỉnh. Trong khi Việt Nam quy định chung là 10 năm bất kể trường hợp nào dù thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật. Vấn đề này nên chăng Lào nên xem xét quy định Việt Nam để kéo dài thời hiệu khởi kiện cho những người thừa kế, đồng thời phải có quy định cho trường hợp thừa kế theo pháp luật khi người chết không để lại di chúc nhằm phù hợp với tình hình xã hội hiện nay.
- Đối chiếu về quy định chia di sản theo pháp luật: Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Nếu ở Việt Nam quy định việc chia di sản theo pháp luật giữa những người cùng hàng thừa kế thì được hưởng phần bằng nhau [23, Đ676], mà hàng thừa kế thứ nhất bao gồm cha, mẹ, vợ, chồng, con cái nếu người thừa kế nào đó chết thì người kế tiếp được hưởng thừa kế thế vị thì ở Lào lại quy định di sản đó chỉ có người vợ hoặc chồng còn sống và con của họ được hưởng, trừ trường hợp không còn chồng hoặc vợ và con thì di sản mới đem chia cho hàng thừa kế thứ nhất, mà hàng thừa kế thứ nhất ở đây có cha, mẹ, ông bà nội ngoại… [18, Đ12]. Mặt khác, pháp luật thừa kế Lào cũng quy định rằng di sản đó người con hoặc các con được hưởng là ¾ trên tổng giá trị di sản còn vợ hoặc chồng còn sống được hưởng ¼; tài sản chung sẽ chia đôi, người vợ hoặc chồng còn sống hưởng một nửa còn nửa kia đem chia cho con. Trong trường hợp nếu vợ hoặc chồng chết mà không có con thì người vợ hoặc chồng còn sống được hưởng 1/3 trên tổng giá trị di sản còn 2/3 chia cho hàng thừa kế thứ nhất [18, Đ12], còn tài sản chung của vợ chồng thì người con sống hưởng hết luôn. Rõ ràng có sự rất khác biệt nhau về quy định chia di sản. Pháp luật Lào quy định rất chi tiết trong vấn đề chia di sản cho các thành viên trong gia đình và có sự khác nhau trong từng trường hợp, trong khi Việt Nam quy định rất đơn giản và mang tính chung cho tất cả các trường hợp.
Về chia di sản cho các con, ngoài những quy định giống nhau thì pháp luật thừa kế của Lào có những quy định khác như không quy định quyền thừa kế cho con ngoài giá thú nếu người con đó không được nuôi trong gia đình, nhưng Việt Nam lại quy định con ngoài giá thú đều có quyền hưởng thừa kế bất cứ người con đó do ai nuôi, sinh sống ở đâu hay việc không thừa nhận quyền thừa kế giữa cha mẹ kế với con riêng [18, Đ15] trong khi Việt Nam lại thừa nhận quyền thừa kế đó nếu họ có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau [23, Đ679] và pháp luật Lào cũng không thừa nhận quyền thừa kế của con nuôi đối với cha mẹ đẻ trừ trường hợp có tên trong di chúc nhưng Việt Nam không quy định về vấn đề này nên mặc nhiên được hiểu con nuôi có quyền hưởng di sản thừa kế của bố mẹ đẻ.
Như đã nói ở phần trước việc pháp luật Lào quy định như vậy cũng xuất phát từ phong tục quan niệm trong quan hệ huyết thống. Đây chính là đặc điểm yêu cầu mà khi tham khảo luật các nước khác thì phải tính đến sự phù hợp cho quốc gia mình.
- Quyền của người lập di chúc
Tại Ðiều 648 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định quyền của người lập di chúc gồm: Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Trong khi tại Điều 24 Luật thừa kế của Lào quy định: “Nhân dân của nước cộng hòa dân chủ nhân Lào có quyền tặng, chuyển và lập di chúc cho một người hay là nhiều người và cho các cơ quan tổ chức đã có thẩm quyền liên quan, và làm chỗ thờ cúng cho anh, chị em và những người khác”. Nhưng bên cạnh đó lại có sự giới hạn quyền của người lập di chúc theo Điều 25 Luật thừa kế Lào: “Nếu chủ tài sản có một người con thì người lập di chúc không cho vượt quá 1/2 của tất cả tài đã có; nếu chủ tài sản còn hai người con thì người lập di chúc không cho vượt quá 1/3 của tất cả những tài sản đã có; nếu chủ tài sản có ba người con trở lên thì người lập di chúc không cho vượt quá 1/4 của tất cả tài sản đã có. Việc tặng, chuyển và lập di chúc đã vượt quá những trường hợp nêu trên tài sản đã vượt quá ấy sẽ đưa ra chia sẻ cho những người thừa kế theo pháp luật”.
Như vậy, có sự khác biệt rất lớn giữa quy định của Lào đối với Việt Nam. Việt Nam quy định quyền của người lập di chúc rất cụ thể nhưng lại không hạn chế quyền của người lập di chúc, nghĩa là người để lại di sản muốn cho ai bao nhiêu tùy ý. Tuy nhiên, luật cũng quy định những đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động [23, Đ669] với phần di sản được hưởng là 2/3 suất khi đem chia theo pháp luật. Pháp luật Lào không đưa ra rõ các quyền của người lập di chúc như ở Việt Nam mà quy định chung chung nhưng lại có sự giới hạn quyền người để lại di sản. Mặt khác Lào cũng không quy định các trường hợp được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Điều đó có nghĩa rằng người để lại di sản phải chia di sản cho các con theo quy định pháp luật mà không hoàn toàn được tự do thực hiện ý chí của mình cách tuyệt đối nhưng lại có quyền để lại hoặc không để lại di sản cho vợ, chồng hoặc cha, mẹ và đương nhiên khi không có tên trong di chúc thì các đối tượng trên cũng không được hưởng di sản (Tài sản riêng). Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý một điều là các đối tượng trên nếu không có tên trong di chúc thì phần di sản bị thừa sau khi chia theo di chúc (nhưng tuân theo quy định pháp luật) sẽ được chia theo pháp luật.
Sỡ dĩ Lào quy định có sự khác biệt so với Việt Nam như trên là do mong muốn người cha, người mẹ khi chia di sản cho các con phải có sự công bằng, tránh tình trạng gây mâu thuẫn giữa anh, em do sự thiên vị của cha mẹ. Tuy nhiên, cũng sẽ hạn chế khi có người con đối xử rất tốt với cha mẹ nhưng muốn để lại hết di sản cho người con đó thì lại không được. Đồng thời trong trường hợp nếu cha, mẹ, vợ hoặc chồng không có tên trong di chúc thì cũng gây nên sự phẫn nộ trong gia đình.
- Các vấn đề về di chúc Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
Nếu như Việt Nam quy định vợ chồng có thể lập di chúc để định đoạt di sản chung của mình [23, Đ664] và những trường hợp di chúc bằng văn bản không có công chứng chứng thực nhưng lại có hiệu lực giống như di chúc có công chứng chứng thực, đó là các trường hợp nguy cấp quá như: Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực; di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó; di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó; di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị; di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó; di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó”[23, Ð660,] thì pháp luật thừa kế Lào lại quy định di chúc bằng văn bản phải có công chứng của cơ quan có thẩm quyền và không đưa ra các trường hợp ngoại trừ, cũng không quy định vợ chồng có quyền được lập di chúc để định đoạt di sản. Về di chúc miệng, nếu Việt Nam quy định di chúc miệng chỉ được lập trước ít nhất hai người làm chứng và sau ba tháng người đó khỏe mạnh lại thì di chúc đó hết hiệu lực [23, Đ651] thì pháp luật thừa kế Lào quy định di chúc miệng phải lập trước ít nhất 3 người và sau một tháng nếu khỏe mạnh thì di chúc miệng sẽ hủy bỏ.
Ngoài ra pháp luật thừa kế Việt Nam cũng quy định người được lập di chúc gồm có những người chưa thành niên đến dưới mười tám tuổi nếu có sự đồng ý của cha, mẹ [23, Đ647] nhưng pháp luật thừa kế Lào lại quy định người lập di chúc không bao gồm đối tượng trên; về tổ chức thực hiện di chúc thì pháp luật thừa kế Lào quy định: Việc tổ chức người thực hiện di chúc, gồm: “Chủ tài sản một người nào đó đã có quy định rõ trong di chúc hay là một người nào đó đã có quyền thừa kế theo di chúc do tòa án nhân dân tuyên bố quy định trong trường hợp chủ tài sản không được tổ chức về việc này hay là người đã tổ chức đã chết, mất tích… [18, Đ36].
Khác với Việt Nam việc tổ chức công bố di chúc không bao gồm chủ tài sản, đó là “Trong trường hợp di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại cơ quan công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc; trong trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc; nếu người để lại di chúc không chỉ định hoặc có chỉ định nhưng người được chỉ định từ chối công bố di chúc thì những người thừa kế còn lại thỏa thuận cử người công bố di chúc”[23, Đ672]. Có lẽ quy định này Lào nên xem xét lại vì chủ tài sản khi công bố di chúc thì đã chết nên không thể tham gia để tổ chức việc thực hiện di chúc. Một lý do nữa là thời điểm công bố di chúc là thời điểm mở thừa kế, mà pháp luật quy định việc mở thừa kế chỉ thực hiện sau thời điểm người để lại di sản chết. Do đó, đây là quy định “thừa” trong Luật thừa kế của Lào, khi sửa đổi cần xem xét lại. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
- Thừa kế kế vị:
Tại Ðiều 677 Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam quy định về thừa kế thế vị như sau: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.
Nhưng pháp luật thừa kế của quốc gia Lào không quy định về vấn đề này, mà quy định “Những người thừa kế thay đổi nhau”[18, Đ21]: “Nếu mà người thừa kế theo pháp luật đã chết trước chủ tài sản thì những người thừa kế khác có thể thay đổi nhau (như con của người chết và theo hàng thừa kế) để nhận tài sản ấy”. Ở một góc độ nào đó thì quy định này chính là thừa kế thế vị nhưng Luật thừa kế của Lào không nói rõ như của Việt Nam, mà chỉ dừng lại ở quy định điểm chung là theo hàng thừa kế, tức là nếu con của người để lại di sản chết trước chủ tài sản thì phần di sản đó đem chia cho hàng thừa kế tiếp theo mà không phải đương nhiên cháu của họ được hưởng như quy định Việt Nam.
Trên đây là những điểm khác biệt cơ bản giữa pháp luật thừa kế của Lào đứng trên phương diện so sánh với pháp luật thừa kế Việt Nam, ngoài ra cũng còn nhiều điểm khác biệt nhỏ nữa như các thứ tự ưu tiên thanh toán về nghĩa vụ người chết để lại, quyền của người thực hiện di chúc, những trường hợp không được thừa kế hay mất quyền thừa kế, về quản lý thừa kế…những điểm khác này liên quan đến văn hóa truyền thống của quốc gia.
Từ những điểm khác nhau trên, trong quá trình từng bước sửa đổi, hoàn thiện về pháp luật thừa kế đòi hỏi quốc gia Lào phải tham khảo các quy định tiến bộ của Việt Nam để từ đó có những điều chỉnh phù hợp. Tuy nhiên, trong quá trình tiếp thu phải có sự chọn lọc để giữ gìn được nét văn hóa truyền thống tốt đẹp mà từ xa xưa người dân Lào đã xem trọng và lấy đó như những chuẩn mực để đối xử với nhau nhằm quan hệ giữa con người với con người được tốt đẹp. Có những quy định phù hợp với đất nước con người Việt Nam nhưng nếu đem áp dụng cho người dân Lào thì rất khó để xem đó là một quy định thật sự tiến bộ phù hợp.
Kết luận chương 2
Qua phân tích ở trên, chúng ta thấy pháp luật thừa kế của Lào đã quy định rất chi tiết các vấn đề về thừa kế phù hợp với tập quán quốc gia mình. Có được những quy phạm pháp luật khá hoàn thiện này, ngoài việc dựa trên những đánh giá khách quan, chủ quan qua những vụ tranh chấp xảy ra trên thực tế suốt một thời kỳ dài, còn phải kể đến những kinh nghiệm học hỏi được từ pháp luật các nước đi trước, trong đó pháp luật thừa kế Việt Nam đóng vai trò quan trọng.
Tuy nhiên, những quy định trên cũng chưa thể khắc phục được tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng khi xét xử do một số quy định chưa phù hợp với thực tế. Yêu cầu phải hoàn thiện hơn nữa những thiếu sót mà trong quá trình xây dựng luật, cơ quan lập pháp chưa định liệu hết những tình huống xảy ra trên thực tế. Ở chương 3 tác giả sẽ làm sáng tỏ vấn đề này. Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào