Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Mê Linh
Mê Linh là huyện nằm ở phía Bắc của thành phố Hà Nội. Huyện có diện tích đất tự nhiên 14.251 ha, dân số xấp xỉ 193.727 người, có 16 xã và 2 thị trấn. Huyện đang trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh. Mê Linh cũng là huyện đầu tiên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng chung quy hoạch đô thị Mê Linh đến năm 2020 (tại Quyết định số 208/2004/QĐ-TTg ngày 13/12/2004). Đây là điều kiện cơ bản để huyện Mê Linh phát triển kinh tế – xã hội.
Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân trong huyện đã nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi toàn diện các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tốc độ phát triển kinh tế hàng năm tăng 20,8%, trong đó: Công nghiệp – xây dựng tăng 25,1%/năm, dịch vụ tăng trên 15,6%/năm, nông nghiệp tăng 1,7%/năm. Cơ cấu các ngành kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp – xây dựng – nông nghiệp – dịch vụ. Thu ngân sách tăng cao (bình quân tăng 42,9%/năm). Chi ngân sách tăng bình quân mỗi năm 33%, trong đó thực hiện chi ngân sách tiết kiệm, ưu tiên chi đầu tư phát triển, có trọng tâm, trọng điểm, đúng chương trình mục tiêu. Huyện đã thu hút được 339 dự án, tổng diện tích đất được phê duyệt là 2.334 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 39 nghìn tỷ đồng, trên 363 triệu USD. Đến nay, huyện đã thu hồi được 627 ha đất, giao cho 203 dự án, hầu hết các dự án được giao đất đã đi vào sản xuất.
Lĩnh vực văn hoá – xã hội được huyện quan tâm, đầu tư. Các trường học được đầu tư xây dựng theo hướng kiên cố hoá, xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia; chất lượng giáo dục mũi nhọn và giáo dục toàn diện có tiến bộ. Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao (có 15 Trạm xá xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia). Thực hiện tốt các chính sách xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo: Bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho 2.000 lao động; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm 1,27%. Toàn huyện đã xây dựng được được 499 nhà Đại đoàn kết và nhà cho hộ nghèo, sửa chữa và xây mới 175 nhà tình nghĩa với kinh phí trên 6,1 tỷ đồng. Hệ thống các thiết chế văn hoá từ huyện đến cơ sở từng bước được quan tâm đầu tư. Năm 2010, 80% gia đình đạt tiêu chuẩn Gia đình văn hoá, tăng 7% so với năm 2005; số làng, tổ dân số văn hoá ước đạt 67%, tăng 16% so với năm 2005.
Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được quan tâm, chỉ đạo. Tỷ lệ giải quyết đơn thư của công dân cấp huyện và cấp xã đạt trên 80%. Các vụ việc phức tạp, đông người đã được xử lý kịp thời vì vậy không tạo thành các “điểm nóng”. An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, an ninh nông thôn cơ bản ổn định.
Để phát triển kinh tế – xã hội của huyện trong những năm tới, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010 – 2015) đã thông qua 5 nhiệm vụ trọng tâm và 2 khâu đột phá. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Với truyền thống đoàn kết, thống nhất, với phương châm “Đổi mới và trách nhiệm”, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Mê Linh quyết tâm phấn đấu, hoàn thành các mục tiêu kinh tế – xã hội đề ra.
Xuất phát từ các đặc điểm kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục… ở huyện Mê Linh đã có tác động không nhỏ tới việc thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật về hộ tịch nói riêng.
Nhìn chung, công tác đăng ký, quản lý hộ tịch được quan tâm, đầu tư thích đáng. Trình độ dân trí ngày một nâng cao, do đó các quy định của pháp luật được người dân thực hiện khá nghiêm túc.
Thực hiện pháp luật của công dân cùng một lúc chịu sự tác động theo những mức độ, tần suất khác nhau của rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, các nhân tố kinh tế và phi kinh tế. Xã hội không chỉ là sự vận hành của hệ thống kinh tế mà còn là một tổng thể phức hợp của các mối quan hệ đa dạng, sự tương tác lẫn nhau của các nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế, kinh tế và văn hóa. Các nhân tố phi kinh tế tác động đến pháp luật trong một chỉnh hợp thống nhất và đa dạng, đan xen nhau. Mỗi một hành vi của cá nhân có thể cùng lúc chịu sự điều chỉnh của các yếu tố đạo đức, pháp luật, phong tục, tập quán, lối sống, tâm lý; tôn giáo, tín ngưỡng, đoàn thể mà cá nhân đó là thành viên. Các yếu tố tác động đến THPL của công dân rất đa dạng, bao gồm: các yếu tố cơ bản như: điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá; đạo đức; phong tục, tập quán, nghệ thuật, các loại quy tắc xã hội khác; yếu tố lợi ích; thói quen, nếp nghĩ, lối sống; hệ thống chính sách, pháp luật; thái độ, cách thức phục vụ, thực thi pháp luật của các cơ quan và cá nhân công quyền; khả năng tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý; điều kiện và môi trường tự nhiên; địa lý; khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng; kỹ thuật, khoa học và công nghệ; tâm sinh lý; tính cách; lối sống, lối tư duy… Do địa bàn huyện Mê Linh đang trong quá trình phát triển công nghiệp hóa đan xen giữa tư duy nông nghiệp và công nghiệp mà phần lớn là nông nghiệp nên trình độ văn hóa của người dân còn thấp, Ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, nhất là đối với lĩnh vực hộ tịch người dân chưa hiểu được tầm quan trọng của các giấy tờ hộ tịch nên hay làm mất các loại giấy tờ này, đến khi cần đến thì không đáp ứng được các quy định của pháp luật để cấp lại thì lại gây rối mất trật tự và cho rằng cán bộ gây khó dễ. Bên cạnh đó, địa bàn huyện Mê Linh đang trong quá trình công nghiệp hóa, phần lớn thanh niên trong độ tuổi lao động đều đi làm công nhân tại các khu công nghiệp, do vậy, các thủ tục hành chính được ủy quyền cho ông bà đi làm. Những người này do lớn tuổi nhận thức và hiểu biết của họ không đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số người đi làm thủ tục khai sinh cho cháu không thể viết được tờ khai vì ít chữ, mắt kém… cán bộ hướng dẫn nhiều lần vẫn không làm được gây tâm lý khó chịu và mất thời gian, ảnh hưởng đến việc giải quyết các hồ sơ cho công dân khác. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Để cho các quy định, các nguyên tắc của pháp luật được thực hiện, được tôn trọng trong cuộc sống cần phải áp dụng hàng loạt biện pháp cần thiết. Nhưng để đưa ra những giải pháp cần thiết thì cần phải nhận diện được các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật của mỗi cá nhân, đến những hành vi hợp pháp, hành vi vi phạm pháp luật của họ. Quy định pháp luật không thể tự động hóa thực hiện theo kiểu “mệnh lệnh – phục tùng” hay chỉ đơn thuần dựa vào sự áp chế của các chế tài pháp luật.
Con người ta không thể nhớ hết, biết hết các quy định pháp luật song nếu hiểu được sự cần thiết của chúng cùng với lối sống phù hợp đạo đức, ý thức trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng, họ sẽ tự kiềm chế gây ra những hành vi vi phạm pháp luật. Điều quan trọng trong giáo dục, phổ biến pháp luật do vậy chính là việc làm sao nâng cao được khả năng nhận thức pháp lý và gây dựng được tình cảm, niềm tin pháp lý ở mỗi cá nhân. Nếu để người dân thờ ơ trước pháp luật thì khó lòng tạo dựng một tình cảm, thái độ đúng đắn đối với pháp luật và việc thực hiện các hành vi hợp pháp. Giáo dục để hình thành sự tôn trọng pháp luật ở mọi nơi, mọi lúc.
2.2. Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
2.2.1. Tình hình triển khai thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh
Đăng ký và quản lý hộ tịch là lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống của nhân dân. Trong thời gian vừa qua, với sự phân cấp thẩm quyền mạnh mẽ, cùng với cải cách hành chính và cải cách tư pháp đã làm cho công tác hộ tịch ở huyện Mê Linh đạt kết quả cao. Điều đó góp phần làm tốt công tác quản lý nhà nước về dân số, phản ánh được thực trạng dân số. Từ đó cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền có thể đưa ra những chính sách đúng đắn và hợp lý về dân số.
Trong thời gian vừa qua, công tác hộ tịch của huyện Mê Linh luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Mê Linh và sự hướng dẫn về chuyên môn của Sở Tư pháp, thành phố Hà Nội. Nhìn chung, công tác hộ tịch được thực hiện tốt, hiệu quả đăng ký hộ tịch ngày càng đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Ủy ban nhân dân huyện Mê Linh đã tích cực cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế “một cửa” trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch, huyện đã tổ chức triển khai đưa Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư 15/2015/TT-BTP vào cuộc sống, với những quy định mang tính cải cách mạnh mẽ, sâu rộng và khá triệt để về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết đăng ký hộ tịch, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc giải quyết đăng ký hộ tịch cho người dân, đồng thời đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác hộ tịch tại địa phương. Trên cơ sở đó, công tác đăng ký hộ tịch của huyện Mê Linh dần đi vào nề nếp.
Về thủ tục giấy tờ trong đăng ký hộ tịch đã được đơn giản hóa phù hợp với chủ trương loại bỏ cơ chế xin cho, chuyển một số hoạt động tư pháp sang cơ chế dịch vụ công. Về hình thức các biểu mẫu hộ tịch có sự thay đổi, các biểu mẫu trước đây có tên là “Đơn” nay đổi thành “Tờ khai” thể hiện sự bình đẳng giữa người có yêu cầu đăng ký và cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch. Các thủ tục, biểu mẫu hộ tịch, thời hạn và lệ phí giải quyết được Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện niêm yết công khai, minh bạch, rõ ràng tại địa điểm tiếp công dân của bộ phận một cửa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc đăng ký hộ tịch. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Ví dụ như trước đây một bộ hồ sơ đăng ký khai sinh cho trẻ mới sinh gồm có: tờ khai đăng ký khai sinh, giấy chứng sinh, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn thì nay thủ tục và giấy tờ được đơn giản đi rất nhiều cụ thể:
- Thủ tục đăng ký khai sinh Trình tự thực hiện
- Người có yêu cầu đăng ký khai sinh nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền.
- Người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra ngay toàn bộ hồ sơ, đối chiếu thông tin trong Tờ khai và tính hợp lệ của giấy tờ trong hồ sơ do người yêu cầu nộp, xuất trình.
- Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, người tiếp nhận hồ sơ viết giấy tiếp nhận, trong đó ghi rõ ngày, giờ trả kết quả; nếu hồ sơ chưa đầy đủ, hoàn thiện thì hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn thiện theo quy định; trường hợp không thể bổ sung, hoàn thiện hồ sơ ngay thì phải lập thành văn bản hướng dẫn, trong đó nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần bổ sung, hoàn thiện, ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên của người tiếp nhận.
- Nếu hồ sơ sau khi đã được hướng dẫn mà không được bổ sung đầy đủ, hoàn thiện thì người tiếp nhận từ chối tiếp nhận hồ sơ và lập văn bản từ chối tiếp nhận hồ sơ, trong đó ghi rõ lý do từ chối, ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên của người tiếp nhận.
Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức Tư pháp – Hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức Tư pháp – Hộ tịch cập nhật thông tin khai sinh theo hướng dẫn để lấy Số định danh cá nhân (đối với các địa phương đã triển khai cấp Số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh), ghi nội dung khai sinh vào Sổ đăng ký khai sinh, cùng người đi đăng ký khai sinh ký tên vào Sổ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy khai sinh cấp cho người được đăng ký khai sinh.
- Lưu ý:
Trường hợp người yêu cầu nộp giấy tờ là bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản sao được chứng thực từ bản chính thì người tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu xuất trình bản chính; nếu người yêu cầu chỉ nộp bản chụp và xuất trình bản chính thì người tiếp nhận hồ sơ kiểm tra, đối chiếu bản chụp với bản chính và ký vào bản chụp xác nhận về việc đã đối chiếu nội dung giấy tờ đó, không được yêu cầu người đi đăng ký nộp bản sao có chứng thực giấy tờ đó.
Trường hợp pháp luật quy định xuất trình giấy tờ khi đăng ký hộ tịch, người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ xuất trình, đối chiếu với thông tin trong Tờ khai và trả lại cho người xuất trình, không được yêu cầu người đăng ký hộ tịch nộp thêm bản sao giấy tờ đó. Người tiếp nhận có thể chụp 01 bản giấy tờ xuất trình hoặc ghi lại thông tin của giấy tờ xuất trình để lưu hồ sơ.
Người tiếp nhận có trách nhiệm tiếp nhận đúng, đủ hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật hộ tịch, không được yêu cầu người đăng ký hộ tịch nộp thêm giấy tờ mà pháp luật hộ tịch không quy định phải nộp.
Cách thức thực hiện: Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
- Người có yêu cầu đăng ký khai sinh trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện việc đăng ký khai sinh;
- Người thực hiện việc đăng ký khai sinh có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính.
Thành phần hồ sơ:
Giấy tờ phải xuất trình:
- Hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc các giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng để chứng minh về nhân thân của người có yêu cầu đăng ký khai sinh;
- Giấy tờ chứng minh nơi cư trú để chứng minh thẩm quyền đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ của trẻ đã đăng ký kết hôn thì phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn (trong giai đoạn Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc chưa được xây dựng xong và thực hiện thống nhất trên toàn quốc).
- Trường hợp gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính thì phải gửi kèm theo bản sao có chứng thực các giấy tờ phải xuất trình nêu trên.
Giấy tờ phải nộp:
- Tờ khai đăng ký khai sinh theo mẫu.
- Bản chính Giấy chứng sinh; trường hợp không có Giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh;
- Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi thì phải có biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập.
- Trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản xác nhận của cơ sở y tế đã thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ.
- Văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật trong trường hợp ủy quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh.
Số lượng hồ sơ: 01 bộ Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
- Thời hạn giải quyết: Ngay trong ngày tiếp nhận yêu cầu, trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo.
- Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân
Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:
- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em;
- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi đối với trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi.
Cơ quan phối hợp: Không.
- Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy khai sinh
Lệ phí:
- Không quá 000 đồng.
- Miễn lệ phí đối với trường hợp khai sinh đúng hạn, người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật.
Mẫu đơn, mẫu tờ khai: Tờ khai đăng ký khai sinh
Căn cứ pháp lý:
- Luật hộ tịch năm 2014;
- Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch;
- Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch;
- Thông tư số 179/2015/TT-BTC ngày 13/11/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2.2.2. Những kết quả đã đạt được trong thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Cấp ủy, chính quyền các xã đã triển khai thực hiện tương đối tốt các quy định của pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch đáp ứng được các nhu cầu của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Hiện tại, cả huyện Mê Linh có 33 công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã, Phòng Tư pháp huyện là 03 chuyên môn và 03 lãnh đạo. Công chức Tư pháp -Hộ tịch từng bước được đào tạo chuẩn hóa về công tác chuyên môn nghiệp vụ, đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch phần lớn được ổn định, tham mưu tích cực cho Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp xã, đáp ứng được nhu cầu chính đáng của công dân. Nhiều địa phương được sự quan tâm đúng mức của cấp ủy đảng và chính quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho công chức Tư pháp – Hộ tịch thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, từ đó công tác tư pháp cấp xã ngày càng đi vào nề nếp, đảm bảo tính chính xác và thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Về đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch: Hiện nay Uỷ ban nhân dân các xã đã bố trí 02 công chức Tư pháp có trình độ từ trung cấp luật trở lên, cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện làm việc tương đối đầy đủ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Về hoạt động chứng thực, hộ tịch: Qua việc trực tiếp kiểm tra hồ sơ, sổ sách lưu tại các xã được thanh tra cho thấy, Uỷ ban nhân dân đã triển khai thực hiện đúng thẩm quyền, trong các việc: đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử, nhận nuôi con nuôi, thay đổi, cải chính hộ tịch xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và trong việc chứng thực các hợp đồng giao dịch dân sự liên quan đến quyền của người sử dụng đất. Về trình tự thủ tục cơ bản đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, đã góp phần đưa chính sách pháp luật vào cuộc sống, nhằm ổn định tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, phục vụ và đáp ứng các nhu cầu hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Về hồ sơ, sổ sách được lưu đầy đủ và được bảo bảo quản cẩn thật, sắp xếp khoa học: một số xã đã lập các danh mục giấy tờ cần thiết để lưu trong hồ sơ,tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu, thống kê, tổng hợp số liệu, công tác báo cáo, luôn được thực hiện đúng quy định, đảm bảo thời hạn, chất lượng theo yêu cầu.Nhìn chung công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tại một số địa phương về cơ bản đã triển khai thực hiện tốt Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 05/2015/TT- BTP của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật hộ tịch. Việc đăng ký khai sinh (đúng hạn, quá hạn, đăng ký lại); thay đổi, cải chính hộ tịch cơ bản được thực hiện đúng quy trình, thủ tục chặt chẽ, đảm bảo cơ sở pháp lý theo quy định; việc lưu trữ đầy đủ, ngăn nắp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Một số địa phương có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch, cũng như tăng cường cán bộ cho công tác Tư pháp từ cấp huyện đến cấp xã (nhất là cấp xã) như Tam Đồng, Liên Mạc, Thanh Lâm… làm cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở địa phương được kịp thời, chặt chẽ, thuận lợi, khoa học và đạt hiệu quả.
Việc bố trí, đào tạo cán bộ Tư pháp – Hộ tịch (nhất là cấp xã) có trình độ chuyên môn từ Trung cấp Luật trở lên, kinh qua công tác Tư pháp nhiều năm, có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn, kịp thời nắm bắt các quy định của pháp luật, cùng với việc trang bị cơ sở vật chất đầy đủ tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ Tư pháp hộ tịch làm việc có hiệu quả.
Trong sáu tháng đầu năm 2016 thực hiện Luật hộ tịch và phần mềm đăng ký khai sinh, huyện Mê Linh đã đạt được một số kết quả cụ thể sau:
Kết quả đăng ký nuôi con nuôi tổng số trên địa bàn huyện là: 01 trường hợp Kết quả đăng ký khai mới tổng số trên địa bàn huyện là: 1592 trường hợp, trong đó có 888 Nam và 704 Nữ, dăng ký đúng hạn là 1563 trường hợp, quá hạn 29 trường hợp.
- Kết quả đăng ký khai sinh lại là: 714 trường hợp.
- Đăng ký khai tử mới 423 trường hợp, trong đó 358 trường hợp khai tử đúng hạn, 65 trường hợp quá hạn.
- Đăng ký lại khai tử là 20 trường hợp.
- Đăng ký kết hôn mới tổng số là 712 cặp trong đó kết hôn lần đầu là 647 cặp. Đăng ký lại kết hôn là 33 cặp.
- Kết quả đăng ký khai sinh, khai tử có yếu tố nước ngoài tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện là 0 trường hợp.
Kết quả đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện là 03 cặp. Các việc hộ tịch khác được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện tổng số là: 06 trường hợp, trong đó thay đổi hộ tịch là 01 trường hợp, cải chính hộ tịch là 05 trường hợp.
Các việc hộ tịch khác được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã trên địa bàn huyện là 43 trường hợp, trong đó: 14 trường hợp thay đổi hộ tịch, 15 trường hợp cải chính hộ tịch, 11 trường hợp điều chỉnh hộ tịch, 03 trường hợp bổ sung hộ tịch.
Kết quả ghi vào sổ các thay đổi hộ tịch khác là 61 trường hợp, trong đó: đăng ký nhận cha, mẹ, con là 15 trường hợp, đăng ký giám hộ 06 trường hợp, chấm dứt thay đối việc giám hộ là 07 trường hợp, xác định cha mẹ con là 09 trường hợp, thay đổi quốc tịch 09 trường hợp, ly hôn 20 trường hợp, hủy hôn nhân trái pháp luật 11 trường hợp, chấm dứt việc nuôi con nuôi 12 trường hợp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người Việt Nam ở trong nước là 423 trường hợp, để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam là 03 trường hợp, để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài là 05 trường hợp, để sử dụng vào mục đích khác là 177 trường hợp [23].
Các kết quả trên đã phản ánh được rõ nét thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Thủ tục được thực hiện nhiều nhất vẫn là các sự kiện hộ tịch cơ bản: sinh, tử, kết hôn. Các thủ tục mang tính phức tạp hơn như nuôi con nuôi, giám hộ… hầu như là không có hoặc có rất ít. Điều này cũng phản ánh được phần nào đặc thù của huyện Mê Linh chủ yếu là làm nông nghiệp, nhu cầu, hiểu biết của người dân thực hiện pháp luật về hộ tịch còn hạn chế. Tỉ lệ đăng ký hộ tịch quá hạn khá nhiều. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch, nhất là các trường hợp đăng ký khai tử quá hạn, thông thường người dân không đi đăng ký khai tử ngay và có thói quen đốt các giấy tờ của người đã chết, đến khi cần làm thủ tục gì liên quan đến người đã chết thì mới đi khai tử, lúc này hồ sơ, giấy tờ không còn nên việc đăng ký khai tử gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, đặc thù thứ hai trong thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh đó là tính chất mùa vụ đặc thù của vùng nông nghiệp cùng với sự dịch chuyển lao động trẻ sang các ngành nông nghiệp nên trừ các sự kiện hộ tịch yêu cầu đúng người đăng ký như kết hôn, nhận cha mẹ con… theo quy định của pháp luật thì hầu hết các sự kiện hộ tịch khác đều được ủy quyền cho ông, bà, thậm chí là cụ nội, cụ ngoại thực hiện, do đó tình trạng sai sót thông tin trong tờ khai khiến cán bộ Tư pháp hộ tịch phải hướng dẫn và kiểm tra cụ thể, việc này cũng phần nào ảnh hưởng đến thời gian giải quyết hồ sơ của người dân, cùng với đó việc hướng dẫn tuyên truyền các quy định của pháp luật về hộ tịch, và tuyên truyền đăng ký khai sinh, khai tử trực tuyến cho các đối tượng này không đạt hiệu quả. Nhưng về cơ bản ý thức chấp hành pháp luật của người dân cao, không có vấn đề phát sinh nổi cộm.
Đội ngũ cán bộ, công chức Tư pháp – Hộ tịch ở huyện Mê Linh ngày càng được củng cố, nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Uỷ ban nhân dân huyện Mê Linh thường xuyên mở các lớp tập huấn, hội nghị trao đổi các khó khăn, vướng mắc trong công tác hộ tịch. Điều này góp phần quan trọng nâng cao chất lượng hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh. Đảm bảo các sự kiện hộ tịch được đăng ký kịp thời, đúng quy định của pháp luật, không còn tình trạng cấp tùy tiện các giấy tờ hộ tịch hoặc cấp sai thẩm quyền như trước đây. Tuy nhiên, mặt bằng chung ở huyện Mê Linh hiện nay đội ngũ Công chức Tư pháp – Hộ tịch đa số là người lớn tuổi, năng lực, trình độ chuyên môn nhất là trình độ tin học còn nhiều hạn chế, ngại cập nhật các quy định của pháp luật, hay làm việc theo cảm tính… điều này cũng gây ảnh hưởng lớn tới tiến độ, hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Bên cạnh đó, việc lưu trữ sổ hộ tịch những năm về trước khi có Luật Hộ tịch chưa được quan tâm, nên dữ liệu hộ tịch của người dân không được lưu giữ. Như xã Liên Mạc hiện nay chỉ lưu được sổ hộ tịch từ năm 2000 trở về đây. Mà hiện tại Luật Hộ tịch quy định không cấp lại bản chính giấy khai sinh, trong khi các lĩnh vực khác như cấp chứng minh thư, căn cước công dân, thủ tục về thừa kế đất đai… đều đòi hòi giấy khai sinh, mà bản thân người dân cũng không giữ được các giấy tờ hộ tịch của mình, nên các thủ tục đăng ký lại khai sinh tăng đột biến, mà thủ tục này đòi hỏi phải có các giấy tờ chứng minh về họ tên, ngày tháng năm sinh, quan hệ cha mẹ con như, sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, học bạ, bằng cấp… việc này là rất khó khăn vì người dân thường là không còn giấy tờ gì. Vì vậy, cán bộ tư pháp gặp nhiều khó khăn trong việc xác minh để làm hồ sơ đăng ký lại khai sinh.
Tuy nhiên, nhìn chung công tác tác thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh ngày càng được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho công tác hộ tịch cũng được đầu tư thỏa đáng. Đó là yếu tố tiên quyết để nâng cao hiệu quả thực hiện công tác này.
2.2.3. Những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh
- Hạn chế
Hiện tại công tác đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn còn những hạn chế, yếu kém nên đã ảnh hưởng đến chất lượng công tác đăng ký và quản lý hộ tịch từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý dân cư, quản lý xã hội; cũng vì vậy mà công tác hộ tịch chưa đóng góp được nhiều cho việc dự báo để hoạch định, xây dựng và thực thi chính sách về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước.
- Những hạn chế, yếu kém trong công tác hộ tịch thể hiện trên những mặt sau đây:
Những vi phạm về ghi chép sổ Hộ tịch theo quy định tại Điều 58 Luật Hộ tịch năm 2014, điều 11, 12 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP:
Do thiếu nghiên cứu các quy định về ghi chép sổ hộ tịch của Công chức Tư pháp – Hộ tịch một số cấp xã thuộc huyện đã vi phạm các quy định tại điều 58 đó là: Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Theo quy định, vào ngày 31/12 hàng năm đều phải khóa sổ và việc khóa sổ phải do Công chức Tư pháp – Hộ tịch ghi rõ vào cuối trang, tổng số sự kiện hộ tịch đã đăng ký. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký xác nhận và đóng dấu nhưng một số cấp xã chưa thực hiện nghiêm túc, thậm chí có một số đơn vị có thực hiện việc khóa sổ nhưng do công chức Tư pháp – Hộ tịch ký xác nhận là sai từ đó dẫn đến việc lấy số thứ tự từ năm trước sang năm sau, không lấy số thứ tự theo từng năm và không đóng giáp lai giữa các trang từ trang đầu đến trang cuối của các năm.
Do một số công chức Tư pháp – Hộ tịch thiếu cẩn thận, cẩu thả nên khi tiếp nhận, giải quyết các việc đăng ký hộ tịch không vào sổ ngay, để nhiều trường hợp mới vào sổ dẫn đến tình trạng ngày đăng ký trước thì vào sổ sau, ngày đăng ký sau lại vào số trước. Ví dụ trường hợp đăng ký khai sinh số thứ tự 310, đăng ký ngày 27/7/2016 nhưng vào sổ trước các số thứ tự 208, 209 đăng ký khai sinh ngày 25/7/2016, cũng chính nguyên nhân này dẫn đến việc chủ quan khi chừa trang trống để vào sổ các trường hợp tồn đọng chưa vào do đó tại sổ hộ tịch các loại còn bỏ trống nhiều trang liên tiếp.
Công chức Tư pháp – Hộ tịch thực hiện chưa đúng theo quy định việc sửa chữa sai sót do ghi chép vào sổ hộ tịch, phải gạch bỏ sai sót, viết lại xuống dòng và phải thể hiện ở cột ghi chú rõ nội dung sửa chữa, họ tên, chữ ký người sửa chữa, ngày, tháng, năm sửa chữa, đóng dấu của Uỷ ban nhân dân xã vào phần đã sửa chữa. Kết quả kiểm tra sổ hộ tịch năm 2015 của các xã, thị trấn thuộc huyện Mê Linh như sau:
UBND xã Tiến Thịnh
- Sổ đăng ký khai sinh: Đúng
- Sổ Kết hôn: Đúng
UBND xã Chu Phan
- Sổ đăng ký khai sinh quyển 1, 2:
- Số 30: Phần Ngày sinh bằng chữ và số không khớp nhau: Mục ngày sinh bằng số là 25/12/2014 trong khi đó ngày sinh bằng chữ lại ghi: Ngày hai mươi lăm, tháng mười hai, năm hai nghìn không trăm mười lăm.
- Số 42: Phần Họ tên cha ghi không rõ Diễn hay Diễm.
- Số 119: Phần Ngày đăng ký khai sinh không khớp.
- Số 125, 168, 191, 199, 241, 249, 257, 276, 287: Thiếu mục năm sinh cha, mẹ (Các trường hợp đăng ký lại việc sinh lưu ý bổ sung năm sinh bố, mẹ). Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
- Số 176, 177: Thông tin khai sinh bị bỏ trống.
- Số 235: Sai họ tên của mẹ.
Sổ đăng ký kết hôn
- Số 5: Mục Ngày tháng đăng ký là ngày 12/01/2014 trong khi sổ lại là sổ của năm 2015.
- Số 41: Sửa đổi tên người chồng chưa đóng dấu xác nhận.
Sổ đăng ký khai tử: Đúng.
- Lưu ý: Từ năm 2016 sổ được sử dụng trong năm. Không sử dụng năm tiếp theo.
- UBND xã Tam Đồng [22, tr3]
Sổ đăng ký khai sinh quyển 1: Chưa khóa sổ.
- Số 01: Phần Ngày sinh bằng chữ và số không khớp nhau: Mục ngày sinh bằng chữ là 26/01/1974 trong khi đó ngày sinh bằng chữ lại ghi: Ngày hai mươi sáu, tháng năm, năm một nghìn chín trăm bảy mươi tư.
- Số 02: Người đi đăng ký Khai sinh và người ký khác
- Số 03: Thiếu phần thông tin
- Số 17: Thiếu quốc tịch
- Số 26: Ngày đăng ký khai sinh là ngày 03/02/2005 trong khi đây là sổ năm 2015.
- Số 85: Ngày sinh số và chữ không khớp nhau 26/6/1986 – 26/6/1987.
- Số 132: Thiếu họ tên mẹ.
- 178: Ngày sinh bằng số và chữ không khớp nhau: 28/10/1979 – 28/10/1955.
- 189: Họ tên mẹ: Bùi Thị Hằng – Bùi Thị Thu Hằng; Người đi khai sinh và ký khác nhau.
Sổ đăng ký khai sinh quyển 02
- Số 207: Họ tên cha: Nguyễn Văn Bằng – Nguyễn Văn Cống.
- Số 245: Me: Nguyễn Thị Tuyết Loan –
- Số 270: Cha: Nguyễn Chung Chưởng – Nguyễn Chưởng.
- Số 271: Đăng ký đúng hạn – đăng ký quá hạn.
- Số 287: Họ tên người đi khai sinh: Kiều Thị Hương – Kiều Thị Thúy Hương.
- Số 297: Họ tên cha: Phạm Như Quỹ – Phạm Như Lũy.
- Số 309: Ghi sai năm sinh của cha mẹ.
- Số 312: Ngày tháng năm sinh số và chữ không khớp: 13/3/2015 – 13/3/1988.
- Số 317: Ngày tháng năm đăng ký: 29/9/2015 – 29/8/2015.
- Số 339: Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hoa – Nguyễn Thị Hoa Hậu.
- Số 341: Ngày tháng năm sinh số và chữ: 23/8/2015 – 23/8/1979.
- Số 362: Thiếu ghi ngày sinh bằng chữ.
- Số 394: Họ tên mẹ (chữ quá xấu khó dịch).
Sổ đăng ký khai sinh quyển 03
- Số 403: Ngày tháng năm sinh số và chữ không khớp: 26/11/2015 – 26/12/2015.
- Số 405: Họ tên mẹ, chỉnh lại và xác nhận.
- Số 409: Họ và tên mẹ : Bùi – Nguyễn. Điều chỉnh và xác nhận.
- Số 416: Ngày tháng năm sinh bằng số và chữ không khớp nhau: 03/12/2015 – 09/12/2015.
Sổ đăng ký kết hôn, khai tử: Đúng.
- UBND xã Liên Mạc [22, tr4]
- Đề nghị chốt tất cả các loại sổ hộ tịch theo quy định.
- Không sử dụng nhiều màu mực trong sổ.
Sổ đăng ký khai sinh quyển 01
- Số 02: Thiếu năm sinh bố, mẹ .
- Số 11: Thiếu năm sinh mẹ.
- Không có số đăng ký khai sinh số 26 (25 rồi đến 27).
- Số 35: Ngày tháng năm đăng ký: 06/02/2015 – 07/02/2015.
- Số 49: Thiếu ngày tháng năm sinh bằng chữ.
- Số 58: Thiếu họ tên mẹ.
- Số 69, 77: Thiếu năm sinh Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
- Số70, 72: Gạch phần ghi thông tin người cha (con ngoài giá thú???) => sai quy định pháp luật.
- Số 82: Họ tên cha: Nguyễn Văn Nhâm – Nguyễn Văn Nhân.
- Số 85: Thiếu năm sinh bố mẹ.
- Số 92: Thiếu họ tên mẹ.
- Số 98: Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thảo – Kiều Văn
- số 102: Thiếu năm sinh mẹ.
- Số 110: Ngày tháng năm sinh số và chữ lệch: 17/4/2015 – 17/10/2015.
Sổ đăng ký khai sinh quyển 02
Đề nghị bổ sung nơi đăng ký ở tất cả các trang thành: Uỷ ban nhân dân xã Liên Mạc.
- Số 226: Ngày đăng ký: 14/9/2015 – 14/2/2014.
- Số 229: Họ tên mẹ: Kiều Thị Cao – Kiều Thị Cao (Huệ).
- Số 235: Họ tên mẹ: Đoàn Thị Phương – Phượng.
- Số 240: Chưa Xác nhận phần sửa họ tên mẹ.
- Số 251, 325: Thiếu năm sinh mẹ.
- Số 381: Chỉ có ở 1 sổ, Khai sinh năm 2006 đã đăng ký lại???
Sổ đăng ký kết hôn, khai tử: Xã nộp 1 quyển trả lại đề nghị chốt sổ.
UBND xã Tiến Thắng
Sổ đăng ký khai sinh quyển 01
- Số 83: Phần Họ và tên ghi không rõ Đỗ Việt Tiến hay Đỗ Viết Tiến.
- Số142: Ngày sinh bằng số và chữ không khớp nhau: 20/4/2015 – 24/4/2015.
- 200: Họ và tên bố: Nguyễn Văn Lợi – Đỗ Văn Lợi; Người đi khai sinh và người ký: Đỗ Văn Lợi – Lê Hữu Trí.
- Số 12, 85, 162, 173, 181, 193, 195, 196, 197, 200: Người đi đăng ký khai sinh và người ký khác nhau.
Sổ đăng ký khai sinh quyển 02
- Số 229,256, 367: Thiếu chữ ký người đi khai
- Số 240, 245, 263, 269, 292, 298, 306, 310, 334, 335, 357, 359, 373:
Người đi đăng ký Khai sinh và người ký khác nhau.
- Số 257: Bổ sung năm sinh mẹ.
- Số 265: Bổ sung năm sinh bố mẹ.
- Số 313: Họ tên khai sinh ghi không rõ: Nguyễn Danh Anh Tuấn – Nguyễn Dan Anh Tuấn.
- số 346: Ngày tháng năm sinh bằng số và chữ không khớp: 29/7/2015 – 29/9/2015.
Những vi phạm về trình tự, thủ tục đăng ký các việc hộ tịch
- Vi phạm về đăng ký khai sinh theo quy định tại điều 16 Luật hộ tịch
Theo quy định tại điều 16 luật hộ tịch thì người đi khai sinh phải nộp giấy chứng sinh do cơ sở y tế nơi trẻ em sinh ra cấp. Nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế thì được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trường hợp không có người làm chứng thì người đi khai sinh phải cam đoan về việc sinh là có thật. Tuy nhiên khi làm cam đoan việc sinh là có thật thì người cam đoan nêu lý do là trẻ em sinh ra tại Trung tâm y tế của huyện hoặc Trạm y tế của xã, nhưng giấy chứng sinh bị thất lạc, công chức Tư pháp – Hộ tịch vẫn tiếp nhận, đăng ký khai sinh, không yêu cầu người đi khai sinh đến Trung tâm y tế, Trạm y tế nơi cấp giấy chứng sinh để xin cấp lần 2 hoặc tiến hành thẩm tra xác minh tại nơi sinh để xác định việc sinh, ngày tháng sinh chính xác của đứa trẻ. Việc làm này đã dẫn đến tình trạng đăng ký khai sinh sai ngày, tháng sinh của đứa trẻ, thậm chí tạo điều kiện cho việc cố tình làm sai lệch các sự kiện trên của người đi khai sinh. Nhiều trường hợp chỉ lưu bản phô tô giấy chứng sinh mà không lưu bản chính theo quy định. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Một số vi phạm do thiếu cẩn thận không đối chiếu với giấy chứng sinh nên đã đăng ký về ngày, tháng, sinh của đứa trẻ sai với ngày tháng sinh tại giấy chứng sinh (ví dụ: cháu Trần Thị Yên Linh – sinh ngày 22/10/2008 tại giấy chứng sinh nhưng tại sổ đăng ký khai sinh thì sinh ngày 28/10/2008, trường hợp cháu Bùi Kim Ngân sinh ngày 26/5/2009 tại sổ đăng ký khai sinh lại là ngày 26/4/2009).
Một số trường hợp giấy chứng sinh đã bị tẩy xóa, sửa chữa tên của người mẹ hoặc ngày tháng năm sinh của trẻ nhưng vẫn cho đăng ký khai sinh, không yêu cầu người đi khai phải cung cấp giấy chứng sinh không bị tẩy xóa, sửa chữa hay tiến hành thẩm tra xác minh tại cơ sở y tế nơi đã cấp giấy chứng sinh đó trước khi cho đăng ký khai sinh.
Rất nhiều trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ em nhưng không lưu một giấy tờ nào, chỉ thể hiện tại sổ đăng ký khai sinh.
Theo quy định tại điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định về đăng ký lại việc sinh thì những trường hợp đã đăng ký nhưng sổ bộ hộ tịch và bản chính giấy khai sinh đã mất, bị hư hỏng không sử dụng được thì mới cho đăng ký lại, trường hợp đăng ký lại tại cấp xã không phải nơi đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây thì tờ khai phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã đã đăng ký còn sổ hộ tịch không (trừ trường hợp đương sự xuất trình được bản sao đã cấp hợp lệ trước đây). Trong quá trình thực hiện đối với một số trường hợp như đăng ký lại việc sinh của “Đặng Duy Vũ, sinh ngày 01/02/2004, Đặng Oanh, sinh ngày 28/3/2002 trước đây đã đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Mạc. Cả 2 trường hợp độ tuổi còn nhỏ sinh năm 2002, 2004 thì việc mất sổ đăng ký tại xã Liên Mạc không thể xảy ra, nhưng do cán bộ Tư pháp – Hộ tịch không cập nhật các quy định của pháp luật mà cho rằng cứ mất bản gốc giấy khai sinh là đăng ký lại được nên vẫn cho đương sự đăng ký lại khai sinh.
Trường hợp đăng ký lại khai sinh của Uỷ ban nhân dân xã Tự Lập thiếu chặt chẽ, tại giấy CMND, hộ khẩu do đương sự cung cấp chỉ có năm sinh, không theo nguyên tắc nếu không có giấy tờ chứng minh ngày, tháng, năm sinh thì lấy theo ngày 01 tháng 01 chứ không tùy tiện lấy theo một ngày tháng sinh bất kỳ mà không có căn cứ để xác định ngày, tháng sinh như trên là đúng.
Riêng đối với các xã được thanh tra thuộc huyện Mê Linh nhận thấy công chức Tư pháp – Hộ tịch trình độ chuyên môn, nghiệp vụ yếu, thiếu nghiên cứu văn bản pháp luật, giải quyết rất tùy tiện. Đa số giải quyết hồ sơ đăng ký hộ tịch chỉ ghi vào sổ, không lưu trữ hồ sơ. Giải quyết đăng ký khai sinh quá hạn cho nhiều trường hợp mà trước đây đã đăng ký khai sinh tại xã và sổ hộ tịch vẫn còn lưu (nếu theo quy định chỉ cấp bản sao từ sổ khai sinh).
Một số cấp xã giải quyết cho đăng ký lại việc sinh chỉ lưu 1 tờ khai, ngoài ra không lưu loại giấy tờ nào khác. Có trường hợp lại có lưu thêm bản chính giấy khai sinh trước đây vào hồ sơ nhưng cấp giấy khai sinh sai với ngày, tháng sinh theo giấy khai sinh trước (ví dụ trường hợp ông Nguyễn Ngọc Hoàng được Uỷ ban nhân dân xã cấp giấy khai sinh ngày 05/4/1990 thể hiện ngày, tháng, sinh của ông Hoàng là ngày 19/02/1979 nay cấp lại giấy khai sinh thì sinh ngày 15/5/1979). Trường hợp này đáng ra phải yêu cầu ông Nguyễn Ngọc Hoàng đến phòng Tư pháp huyện Phong Điền để xin cải chính ngày,tháng, sinh nếu ngày tháng sinh đó sai với ngày, tháng sinh thực tế. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Vi phạm về thủ tục, trình tự, thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định tại điều 17 và điều 18 Luật Hộ tịch
Khi đăng ký kết hôn bên nam nữ nộp tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình giấy CMND, nhưng trong quá trình giải quyết, Uỷ ban nhân dân một số xã lại yêu cầu đương sự làm thêm đơn xin đăng ký kết hôn, nếu không làm đơn thì làm theo mẫu Tờ khai xác nhận tình trạng hôn nhân. Việc yêu cầu này là thừa thủ tục không cần thiết đã gây phiền hà cho nhân dân.
Một số đơn vị thiếu thận trọng đã sử dụng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân quá thời hạn, thậm chí có trường hợp cấp giấy chứng nhận kết hôn cho những trường hợp thường trú khác địa phương nhưng không lưu giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của địa phương nơi thường trú của người đó. Cũng có trường hợp cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho đương sự trước ngày mà địa phương khác xác nhận tình trạng hôn nhân cho người ở địa phương họ (ví dụ trường hợp của bà Liểu, ông Bôn, ngày xác nhận độc thân của bà Liểu là 08/5/2008, ngày cấp chứng nhận kết hôn cho bà Liểu và ông Bôn là ngày 04/5/2008).
Hoặc có trường hợp đăng ký kết hôn, không có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của 2 người theo quy định đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, Uỷ ban nhân dân xã vẫn cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai trường hợp trên.
- Vi phạm về đăng ký khai tử theo quy định tại điều 32, 33, 34 Luật Hộ tịch
Theo quy định tại điều 32 về thẩm quyền đăng ký khai tử là Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Tuy nhiên, một số cấp xã vẫn đăng ký khai tử cho những trường hợp người chết trước đây có đăng ký thường trú tại địa phương đã chuyển đến địa phương khác sinh sống và chết tại địa phương nơi người đó đang cư trú.
Thời hạn đi khai tử là 15 ngày thế nhưng có rất nhiều trường hợp chết đã lâu, có trường hợp chết từ những năm 1973 về trước nhưng vẫn cấp giấy chứng tử đúng hạn và rất cụ thể phút, giờ, ngày, tháng, năm chết mà đáng ra những trường hợp này chỉ cần xác nhận đã chết, những trường hợp này thì phải cho đăng ký khai tử quá hạn mới đúng quy định.
Đa số cấp xã cấp giấy chứng tử không lưu loại giấy tờ nào theo quy định nên không thể kiểm tra việc giải quyết đúng hay sai được.
- Vi phạm về thay đổi, cải chính hộ tịch theo quy định
Theo quy định tại Điều 26 Luật Hộ tịch, phạm vi thay đổi hộ tịch gồm:
- Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự.
- Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi.
Điều 27. Thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Quy định của Luật Hộ tịch rất rõ ràng như thế song trong quá trình thực hiện còn xảy ra sai sót rất lớn, nhất là các xã. Việc thực hiện thay đổi, cải chính rất tùy tiện, thiếu chính xác. Thiết lập hồ sơ đơn giản, thu thập chứng cứ sơ sài, thậm chí không có cơ sở chứng cứ để chứng minh việc thay đổi, cải chính là đúng. Quá trình giải quyết thiếu phối hợp với các cơ quan có liên quan như Công an, ngành giáo dục các cấp dẫn đến tình trạng sau khi ban hành quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch, các cơ quan liên quan không đồng tình, phản ứng quyết liệt, không thực hiện theo quyết định đó.
Ngoài những trường hợp đã giải quyết trên, còn tồn tại một số vi phạm cụ thể như: Nhiều cấp xã giải quyết cho thay đổi cải chính hộ tịch sai thẩm quyền (ví dụ Uỷ ban nhân dân xã cho phép thay đổi cải chính đối với bà Nguyễn Thị Chi sinh năm 1973); ban hành quyết định cho phép thay đổi cải chính hộ tịch nhưng thiếu ghi số, ngày, tháng, năm ban hành; hồ sơ lưu trữ thiếu thủ tục, thậm chí không lưu hồ sơ, không lưu quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch vào hồ sơ, không lưu bản phô tô giấy khai sinh đã được cho phép thay đổi cải chính và thiếu ghi chú vào cột ghi chú của sổ đăng ký khai sinh. Theo quy định khi giải quyết cho phép thay đổi cải chính hộ tịch phải gửi thông báo đến cấp huyện nếu cấp xã thực hiện và ngược lại gửi cấp xã nếu cấp huyện thực hiện nhưng nhiều đơn vị không gửi.
- Ngoài ra trong quá trình thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh còn tồn tại một số hạn chế sau:
Việc triển khai, xây dựng thực hiện pháp luật về hộ tịch ở một số xã chưa nghiêm túc thực hiện dẫn đến tình trạng một số cán bộ tự đề cao quyền hạn của mình, buông lỏng quản lý Nhà nước, còn biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời dân, không chịu lắng nghe ý kiến của nhân dân, chưa thực hiện tốt những nội dung của pháp luật về hộ tịch, có tư tưởng cục bộ gây mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
Một bộ phận nhân dân chưa nhận thức đúng đắn vấn đề đăng ký hộ tịch gắn với kỷ cương, quyền lợi, gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, chưa chủ động, kịp thời đăng ký các sự kiện hộ tịch nhất là việc khai tử, đến khi có chế độ mới đi đăng ký, hoặc việc công dân không có ý thức bảo quản, giữ gìn các giấy tờ hộ tịch như giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn… khi làm lại không đáp ứng được các quy định của pháp luật, cán bộ không đăng ký cho thì gây mất trật tự an ninh nơi công sở, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, chính quyền.
Vai trò quản lý Nhà nước của một số cấp chính quyền cơ sở yếu, bên cạnh đó một bộ phận nhân dân cố tình không chịu hiểu chủ trương, chính sách pháp luật dẫn đến tình trạng vi phạm luật.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch còn phức tạp. Mặc dù công tác hộ tịch có vị trí, vai trò quan trọng đối với quản lý nhà nước và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân nhưng cho đến nay, ngoại trừ các quy định mang tính nguyên tắc trong Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình…, văn bản điều chỉnh trực tiếp trong lĩnh vực hộ tịch quá nhiều nên gây khó khăn cho cơ quan hộ tịch khi áp dụng (khó nhớ, khó áp dụng), người dân cũng khó phân biệt hộ tịch của mình sẽ được áp dụng theo văn bản nào. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Việc phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch chưa triệt để. Chính vì vậy, đã dẫn đến chồng chéo chức năng quản lý và đăng ký; cũng do việc phân cấp chưa triệt để nên từng cấp chủ yếu lo việc đăng ký, ít quan tâm đến nhiệm vụ quản lý, đặc biệt là công tác kiểm tra, chỉ đạo đối với cấp dưới, từ đó không kịp thời uốn nắn những sai sót (nếu có), đồng thời dẫn đến đùn đẩy nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn lên cấp trên.
Sự quan tâm và đầu tư cho công tác hộ tịch chưa đồng đều ở các địa phương.
Một số địa phương vẫn còn coi nhẹ công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, có địa phương chỉ tổ chức triển khai khi có những văn bản mới mà không định kỳ tổ chức bồi dưỡng về nghiệp vụ hộ tịch; chính vì không được kịp thời bồi dưỡng nghiệp vụ nên số công chức mới thay không đáp ứng được yêu cầu công việc.
- Chưa tạo điều kiện tốt nhất để bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch của công dân cụ thể là:
Quy định về thủ tục đăng ký các loại việc hộ tịch còn quá nhiều loại giấy tờ khác nhau, lệ thuộc vào nơi cư trú đã dẫn đến trường hợp công dân không đáp ứng đủ thì không được đăng ký;
Cán bộ trực tiếp giải quyết công việc hộ tịch tự đặt thêm thủ tục giấy tờ khi người dân có yêu cầu đăng ký hộ tịch khi hồ sơ đăng ký hộ tịch chưa đầy đủ, cán bộ hộ tịch không hướng dẫn một lần mà mỗi lần chỉ hướng dẫn một nội dung nên người dân phải đi lại nhiều lần mới được giải quyết…
Áp dụng quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân một cách máy móc nên một số trường hợp quyền lợi của người dân giải quyết sai quy định, thậm chí có trường hợp không được giải quyết.
Tùy tiện trong việc đăng ký hộ tịch cho công dân; chưa bảo đảm độ chính xác khi cấp giấy tờ hộ tịch.
Tình trạng đăng ký không kịp thời, chưa đầy đủ và thiếu chính xác trong đăng ký hộ tịch vẫn còn tồn tại ở một số địa phương. Sự tùy tiện trong việc đăng ký, cấp giấy tờ hộ tịch được thể hiện như đăng ký sai thẩm quyền, có nhiều trường hợp một người được đăng ký khai sinh 2 lần hoặc đăng ký khai tử 2 lần… Quy định về lưu sổ hộ tịch chưa được thực hiện nghiêm túc – Hạn chế trong cải cách thủ tục hành chính. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Mặc dù, việc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh hộ tịch bước đầu đã phát huy hiệu quả; tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong đăng ký hộ tịch đôi khi lại có tác động ngược lại, đặc biệt là tiến độ xử lý hồ sơ.
Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa đồng bộ. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa đồng bộ đã dẫn đến tình trạng cùng một tiêu chí, nhưng mỗi ngành có một số liệu thống kê báo cáo khác nhau, điều này đã gây khó khăn cho Nhà nước trong việc hoạch định chính sách. Cơ chế thông báo những thay đổi liên quan đến hộ tịch của từng cá nhân cũng chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, nhiều trường hợp không thông báo nên không kịp thời cập nhật những thay đổi về hộ tịch liên quan trong sổ hộ tịch.
Phương thức đăng ký hộ tịch còn mang tính chất thủ công, mức độ áp dụng công nghệ thông tin còn hạn chế.
Việc vừa phải nhập thông tin vào sổ đăng ký hộ tịch giấy sau đó lại nhập vào phần mềm là rườm rà, chưa khoa học, cần có biện pháp để chỉ nhập 01 lần vào phần mềm sau đó in luôn thành sổ để lưu như vậy sẽ không phải mất thời gian nhập 02 lần như hiện nay.
Mặc dù việc đăng ký hộ tịch bằng điện tử đã được triển khai ở một số địa phương, nhưng mức độ còn rất hạn chế. Phương thức đăng ký hộ tịch hiện nay chủ yếu vẫn thực hiện theo phương pháp thủ công (ghi bằng tay, lưu bằng sổ giấy). Do chưa có Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, nên việc lưu sổ giấy dễ dẫn đến bị hỏng, bị mất, từ đó không đáp ứng được yêu cầu thống kê số liệu cũng như yêu cầu cấp giấy tờ hộ tịch cho người dân. Hơn nữa, phương thức đăng ký hộ tịch này không phù hợp với định hướng xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.
Công tác thống kê số liệu đăng ký hộ tịch còn yếu, chưa bảo đảm độ chính xác của số liệu.
Nhận thức của người dân đối với quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch còn hạn chế nên việc đăng ký quá hạn còn chiếm tỷ lệ tương đối cao. Nhất là đối với khai tử, ý thức của người dân còn thấp, chỉ khi nào được hưởng chế độ phải dùng đến Trích lục khai tử thì người dân mới đi khai tử, nhiều trường hợp không khai tử, ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hộ tịch.
- Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh
Mê Linh là huyện giáp nội thành Hà Nội, tuy nhiên, mặt bằng chung là nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn. Bên cạnh đó việc xây dựng một số khu công nghiệp như Khu công nghiệp Quang Minh cũng góp phần tạo cơ hội việc làm cho người dân, nhưng đây cũng chính là một nguyên nhân gây khó khăn trong việc tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về hộ tịch nói riêng và các quy định pháp luật nói chung, bởi phần lớn thanh niên trong độ tuổi lao động đi làm ăn xa, các thủ tục hành chính chủ yếu do ông bà, cha, mẹ… những người lớn tuổi thực hiện nên việc tiếp thu các hướng dẫn từ phía cán bộ là rất hạn chế.
Các văn bản quy định của pháp luật thường xuyên thay đổi, nhiệm vụ tư pháp cấp xã ngày càng tăng, càng phức tạp, đòi hỏi công chức Tư pháp – Hộ tịch (TP – HT) phải đầu tư rất nhiều thời gian để nghiên cứu văn bản pháp luật mới đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Những hạn chế trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch đã nêu trên do một số nguyên nhân cơ bản sau đây:
- Một là, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo chưa đồng bộ
Một số địa phương, lãnh đạo Ủy ban nhân dân chưa thực nhận thức được tầm quan trọng của công tác hộ tịch nên không quan tâm, đầu tư cho công tác này (kể cả về cơ sở vật chất, con người, phương tiện làm việc, kinh phí triển khai…). Đăng ký hộ tịch là trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân, nhưng có nơi còn phó mặc, khoán trắng cho Tư pháp, không quan tâm, đầu tư cũng như không có sự chỉ đạo kiểm tra.
- Hai là, chưa có bước đột phá trong xây dựng thể chế
Việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch trong thời gian qua chỉ mang tính chắp vá bằng cách sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế những văn bản cũ. Chỉ đến năm 2016, Luật Hộ tịch chính thức có hiệu lực mới tạo được sự đồng bộ tuy nhiên do mới triển khai nên nhiều nội dung, biểu mẫu hộ tịch chưa được điều chỉnh thống nhất trong lĩnh vực hộ tịch.
- Ba là, đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau và không ổn định
Hiện nay, ở các xã, phường, thị trấn, công chức Tư pháp – Hộ tịch ngoài việc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) phải đảm nhiệm hơn 45 đầu việc, trong đó có việc đăng ký và quản lý hộ tịch. Trong khi đó, trên thực tế, tính chất chuyên môn của công tác hộ tịch và các công tác tư pháp khác (công tác văn bản, tuyên truyền pháp luật, hòa giải…) rất khác nhau, không phù hợp với việc ghép chung một cách cơ học hai loại nhiệm vụ này trong cùng một chức danh Tư pháp – Hộ tịch. Cũng chính vì phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, nên công chức Tư pháp – Hộ tịch không có thời gian đầu tư cho việc nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như cập nhật kịp thời những văn bản mới; cũng từ nguyên nhân này mà đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch không được chuyên nghiệp. Mặt khác, công chức Tư pháp – Hộ tịch là vị trí dễ bị thay đổi theo nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân nên chuyên môn bị hạn chế do không được bồi dưỡng nghiệp vụ kịp thời. Đây chính là nguyên nhân làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch.
Bốn là, việc phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch chưa triệt để (vẫn còn nhiều cấp có thẩm quyền đăng ký hộ tịch); việc quy định về ghi sổ và cấp giấy tờ hộ tịch chưa khoa học (không có sổ hộ tịch chung và cũng không có một loại giấy tờ hộ tịch chung cấp cho cá nhân trong đó tích hợp mọi thông tin về hộ tịch của cá nhân).
Những tồn tại, hạn chế trên đây, một số có nguyên nhân từ cơ chế chính sách về hộ tịch chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ nên việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch vào thực tiễn chưa có sự thống nhất, dẫn đến việc giải quyết các vấn đề về đăng ký, quản lý hộ tịch ở một số địa phương còn nhiều lúng túng, sai sót. Nhất là theo khoản 3, Điều 48 Nghị định 158/2005/NĐ-CP, quy định “Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khai sinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên…” hoặc tại điểm h khoản 5 mục II Thông tư 01/2008/TT-BTP về thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cũng nêu “Đối với những người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên mà trong các hồ sơ, giấy tờ đã ghi thống nhất về ngày, tháng sinh, thì xác định theo ngày, tháng sinh đó. Trường hợp ngày, tháng sinh ghi trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất, thì xác định theo ngày, tháng sinh trong hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên”. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
“Vận dụng” các quy định nêu trên, hầu hết công chức tham mưu giải quyết các vấn đề về hộ tịch từ cấp xã đến cấp huyện (nhất là cấp xã) đều xem những giấy tờ như Thẻ căn cước thời Mỹ ngụy, các giấy tờ liên quan đến chế độ chính sách của nhà nước như Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh, chứng nhận Gia đình Liệt sĩ, các giấy tờ liên quan của cá nhân về hưởng chế độ chính sách của nhà nước do cơ quan có thẩm quyền cấp trước đây… là loại “giấy tờ được lập đầu tiên”. Tuy nhiên, qua tham khảo ý kiến của phòng chức năng Sở Tư pháp thì những loại giấy tờ liên quan nêu trên chỉ là những loại giấy tờ dùng để tham khảo, bổ sung, củng cố hồ sơ chứ không được xem đó là loại “giấy tờ được lập đầu tiên” để làm căn cứ giải quyết các vấn đề về hộ tịch cho cá nhân. Do vậy, việc hiểu loại“giấy tờ được lập đầu tiên” là chưa rõ ràng, thống nhất nên dẫn đến việc giải quyết các vấn đề hộ tịch ở một số địa phương, cơ sở sai nguyên tắc, thiếu chặt chẽ và không đúng quy định.
Năm là, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính chưa gắn với đặc thù của công việc hộ tịch, chưa ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Chưa có cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử kết nối giữa các cơ quan hộ tịch ở trong nước với nhau, cũng như với các Cơ quan đại diện để chia sẻ và kết nối thông tin phục vụ cho việc tra cứu, xác minh thông tin về hộ tịch của cá nhân là nguyên nhân gây tốn kém về kinh phí, không bảo đảm độ chính xác về thông tin, kéo dài thời hạn giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch của công dân Việt Nam.
Sáu là, quá tải về công việc, chưa có cơ chế chính sách phù hợp là những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong thực hiện yêu cầu quản lý Nhà nước về hộ tịch cũng như giải quyết đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở Sở Tư pháp.
Hiện tại, trung bình mỗi xã có 02 công chức Tư pháp – Hộ tịch; trong khi đó chức năng của Công chức Tư pháp – Hộ tịch cũng như khối lượng công việc là rất lớn, đặc biệt ở các xã đông dân, công chức Tư pháp – Hộ tịch quản lý nhiều mảng công việc khác nhau như: hộ tịch (khai sinh, khai tử, kết hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi, cải chính hộ tịch…), công chứng, chứng thực, bồi thường Nhà nước, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, kiểm soát thủ tục hành chính, kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền phổ biến pháp luật…; để làm tốt nhiệm vụ quản lý, thì riêng các việc thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tuyên tuyền, kiểm tra… đối với từng lĩnh vực đã chiếm khá nhiều thời gian, trong khi đó còn phải đảm nhiệm yêu cầu trực tiếp giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nên đã xao nhãng nhiệm vụ quản lý (khi cơ sở vướng mắc không chỉ đạo mà chuyển hồ sơ lên xin ý kiến Bộ Tư pháp, cũng vì tập trung giải quyết những vụ việc cụ thể mà Bộ Tư pháp không tập trung, đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô như việc xây dựng và hoàn thiện thể chế…). Bên cạnh đó, các tổ chức đoàn thể (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…) chưa phát huy được vai trò của mình trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của chị em, nên vẫn còn nhiều chị em mong muốn lấy chồng nước ngoài để được “đổi đời”. Ủy ban nhân dân các cấp chưa có chương trình, chính sách xã hội cụ thể trong việc tạo công ăn, việc làm, thu nhập ổn định để chị em yên tâm với cuộc sống hiện tại cũng là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng số lượng chị em kết hôn với công dân nước ngoài.
2.3. Bài học kinh nghiệm trong thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
Qua quá trình thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện Mê Linh có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là: Phải đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng. Đây là nhân tố quyết định và đảm bảo cho thắng lợi việc thực hiện Luật hộ tịch. Qua tổng kết đã cho thấy ở địa phương, đơn vị nào cấp uỷ Đảng nhận thức đúng vai trò lãnh đạo trực tiếp toàn diện và thực hiện nghiêm túc các Nghị định của Chính phủ, Thông tư các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật về hộ tịch thì ở đó đạt được kết quả tốt. Còn ở đơn vị nào, địa phương nào chưa thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ Đảng thì ở đó kết quả thấp.
Hai là: Phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn ngang tầm nhiệm vụ, có tâm. Cán bộ phải thực sự gần dân, trọng dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân thì công việc mới đạt hiệu quả vì cán bộ là “cái gốc của mọi công việc”. Cán bộ đảng phải có năng lực lãnh đạo, tầm bao quát và tư duy chính trị sắc bén, là trung tâm đoàn kêt của đội ngũ cán bộ; công chức chính quyền phải có năng lực quản lý và điều hành với chuyên môn vững vàng, cán bộ MTTQ và các đoàn thể phải có năng lực vận động, lôi cuốn, thu hút quần chúng, biết khơi dậy tìêm năng và điều hoà lợi ích của tất cả các tầng lớp nhân dân trên địa bàn. Phải thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là công bộc của dân”. Cán bộ công chức phải công tâm, khách quan, biết lắng nghe ý kiến của dân, giải quyết công việc thấu tình đạt lý, mọi công việc phải được giải quyết triệt để, tận gốc không để dân phải thắc mắc, khiếu kiện. Không để vụ việc từ chỗ dễ giải quyết phải trở thành “điểm nóng”.
Ba là: Phải đổi mới và nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục quy định của pháp luật về hộ tịch, về quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ công dân. Thông qua tuyên truyền làm chuyển biến tư tưởng, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân từ đó thống nhất trong hành động. Công tác tuyên truyền phải được duy trì thường xuyên, liên tục vớí nhiều hình thức phong phú, coi trọng biểu dương điển hình tiên tiến, nội dung ngắn gọn, dễ nhớ, dễ làm, từ đó thu hút sự quan tâm, kích thích tính tự giác, tích cực của người dân vào các công việc chung của cộng đồng, tôn trọng pháp luật và có ý thức tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.
Bốn là: Đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, củng cố an ninh quốc phòng nâng cao đời sống nhân dân vì kinh tế phát triển mới đảm bảo cho các hoạt động khác, đảm bảo cho các quyền của dân về văn hoá, xã hội, trật tự trị an được thực hiện. Kinh tế phát triển mới có điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao dân trí. Thực tế chứng minh ở xã, thị trấn nào mà điều kiện kinh tế xã hội phát triển, tỷ lệ hộ nghèo thấp, trình độ dân trí cao thì xã, thị trấn đó thực tốt hơn các quy định của pháp luật, nhất là trong quá trình cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hộ tịch tiến tới đăng ký khai sinh trực tuyến thì càng đòi hỏi nhân dân có trình độ và có phương tiện như máy ảnh, điện thoại, máy vi tính để truy cập và thực hiện việc đăng ký các thủ tục trực tuyến.
Kết luận chương 2
Từ phân tích trên, trong chương 2 luận văn đã khái quát hóa tình hình thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh. Phân tích thực trạng; Tổng hợp và phân tích được số liệu về kết quả đăng ký hộ tịch, tình hình đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn…. Qua đó, luận văn đã phân tích thực trạng đảm bảo thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh. Từ việc phân tích thực trạng trên, luận văn đã đưa ra được các nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch và đánh giá được các nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém đó. Từ thực trạng và những hạn chế, tồn tại ở chương 2, luận văn đưa ra những giải pháp và một số kiến nghị ở chương 3. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
