Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội và khoa học -công nghệ thì xu thế toàn cầu hóa, hội nhập và dân chủ hóa cũng là một trong những yêu cầu luôn được xã hội đề ra và đòi hỏi cấp thiết. Nhà nước không chỉ đơn thuần là một bộ máy quyền lực đứng trên nhân dân và cai trị nhân dân, mà hơn nữa, còn phải có trách nhiệm đảm bảo và phục vụ các lợi ích cho nhân dân. Một trong số đó được thể hiện qua các hoạt động cung ứng dịch vụ công cho xã hội của Nhà nước.
Công chứng là một trong số những hoạt động dịch vụ hành chính công, tức là thực hiện dịch vụ của Nhà nước, nhân danh Nhà nước – như tác giả TS. Tuấn Đạo Thanh trong “Pháp luật công chứng – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã đưa ra bản chất rằng: “Hiểu một cách đơn giản nhất “công chứng” chính là việc “công” quyền đứng ra làm “chứng”.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản về công chứng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ: “Hoàn thiện chế định công chứng, xác định rõ phạm vi của công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng, xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này”. Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, nhiều văn bản pháp luật về công chứng được ban hành, trong đó phải kể đến Luật Công chứng được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2006, tiếp đến là Luật Công chứng được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 20/6/2014 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015.
Công chứng đóng vai trò là thiết chế quản lý các hợp đồng, giao dịch, chứng nhận tính xác thực và hợp pháp của những văn bản, có giá trị thi hành không chỉ đối với các bên giao kết, mà còn đối với các bên có liên quan khác, qua đó, Nhà nước có thể kiểm tra, giám sát, điều tiết một cách khách quan, công minh và hiệu quả các quan hệ xã hội thông qua những hợp đồng, giao dịch này. Công chứng có thể coi là “lá chắn” phòng ngừa hữu hiệu, đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, tiết kiệm thời gian, chi phí cho xã hội, giảm thiểu “gánh nặng” pháp lý cho Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự.
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng đó, việc thực hiện pháp luật về công chứng một cách đúng đắn và chặt chẽ sẽ như mặt ràng buộc về pháp lý, đồng thời cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu cho các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật về công chứng. Kể từ khi Luật Công chứng được ban hành, hoạt động công chứng trong cả nước nói chung cũng như trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng đã có những chuyển biến mạnh mẽ, số lượng công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng tăng lên rõ rệt, ngoài các Phòng công chứng do Nhà nước thành lập còn có các Văn phòng công chứng do Công chứng viên thành lập. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật về công chứng và đi đầu là chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, cũng làm phát sinh nhiều vấn đề, như sự phát triển “nóng” của các tổ chức hành nghề công chứng; sự cạnh tranh không lành mạnh; vấn đề kiểm soát hoạt động của Công chứng viên và chất lượng các văn bản công chứng v.v… Chính vì vậy, việc nghiên cứu về việc thực hiện pháp luật về công chứng để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động công chứng là một yêu cầu cấp thiết, trước mắt cũng như lâu dài. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Từ thực tiễn việc thực hiện pháp luật công chứng ở địa phương, trên cơ sở nghiên cứu lý luận về nhà nước và pháp luật, tác giả lựa chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính với mong muốn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về công chứng từ thực tiễn trên địa bản thành phố Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Pháp luật về công chứng nói chung đã được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn. Rất nhiều những tình huống pháp lý cụ thể về công chứng được đề cập trong nhiều bài viết ở các tạp chí chuyên ngành luật như tạp chí Luật học, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, nhiều công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạp chí bàn luận về vấn đề này, trong đó có thể kể đến các công trình khoa học như:
Luận án tiến sĩ Luật học “Nghiên cứu pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay”, mã số: 62.38.01.01 của tác giả Tuấn Đạo Thanh năm 2008. Trên cơ sở so sánh quy định của pháp luật công chứng một số quốc gia trên thế giới với pháp luật công chứng Việt Nam, Đề tài đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về công chứng, từ đó đưa ra một số luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật công chứng Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực công chứng (Qua thực tế tại thành phố Hải Phòng)” của tác giả Ninh Văn Chinh năm Bên cạnh các vấn đề có tính lý luận và khoa học về lĩnh vực công chứng, luận văn đã nêu lên thực trạng pháp luật về công chứng và đánh giá kết quả thực hiện pháp luật công chứng tại thành phố Hải Phòng, quá trình hình thành tổ chức và hoạt động của công chứng tại Hải Phòng, những vướng mắc và khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng ở Hải Phòng. Từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng, nâng cao hiệu quả của hoạt động công chứng của cả nước nói chung, thành phố Hải Phòng nói riêng như: thực hiện hệ thống hóa pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, phân biệt rõ hoạt động công chứng và chứng thực, thành lập trung tâm lưu trữ, thông tin công chứng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sự cần thiết phải đưa các giao dịch thông qua công chứng, xây dựng cơ chế bảo đảm giá trị của văn bản công chứng và các chế định pháp luật liên quan đảm bảo cho hoạt động công chứng được thực hiện hiệu quả, xây dựng lộ trình, định hướng phát triển công chứng và xây dựng đội ngũ công chứng viên chất lượng cao, phẩm chất tốt.
Luận văn thạc sĩ “Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp” của tác giả Phạm Thị Mai Trang năm 2011. Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công chứng và xã hội hóa công chứng, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của các Phòng Công chứng, Văn phòng công chứng và phân tích các yêu cầu khách quan và thực tiễn xã hội hóa công chứng ở Việt Nam, đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện xã hội hóa công chứng ở Việt Nam, nâng cao hiệu quả thi hành Luật Công chứng, góp phần thực hiện mục tiêu cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước nói chung, cải cách tư pháp nói riêng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Luận văn thạc sĩ “Những khía cạnh pháp lý của việc công chứng các thỏa thuận tài sản của vợ chồng” của tác giả Lại Thị Hồng năm 2012. Ngoài những vấn đề lý luận chung về công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng, Luận văn đã khái quát được những trường hợp phát sinh yêu cầu công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng, yêu cầu công chứng theo quy định của pháp luật và ý chí tự nguyện của vợ chồng, công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng theo yêu cầu của bên thứ ba có liên quan đến giao dịch về tài sản với vợ chồng, áp dụng pháp luật để công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thực tiễn, công chứng thỏa thuận nhập tài sản riêng của vợ chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng, công chứng thỏa thuận (cam kết) tài sản riêng của vợ chồng… Đồng thời nêu lên được những vướng mắc, bất cập trong việc công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng như: vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng; vướng mắc phát sinh trong việc áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình, Luật Nhà ở, Luật Đất đai; một số tồn tại trong việc áp dụng Luật Công chứng và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật là cơ sở pháp lý để công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Nhà ở, đất đai, công chứng và một số kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động công chứng. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Luận văn thạc sĩ “Đánh giá thực trạng công tác công chứng, chứng thực các giao dịch về đất đai trên địa bàn Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” của tác giả Hà Lan Hương năm 2013. Đề tài đã làm rõ cơ sở khoa học của hoạt động công chứng, chứng thực khi người sử dụng đất thực hiện các quyền theo pháp luật đất đai trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan đến việc công chứng, chứng thực khi người sử dụng đất thực hiện các quyền sử dụng đất; nghiên cứu, đánh giá thực trạng về công chứng, chứng thực tại địa bàn Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội và đưa ra một số giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định của pháp luật đất đai liên quan đến công chứng, chứng thực các hợp đồng, giấy tờ khi người sử dụng đất thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật đất đai, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, hạn chế các tranh chấp, khiếu nại phát sinh từ các hoạt động công chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch về đất đai…
Luận văn thạc sĩ “Thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thanh Hà năm 2014. Mục đích của Luận văn là tổng hợp những kiến thức lý luận về thực hiện pháp luật về công chứng; trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn việc thi hành Luật Công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội để đánh giá những mặt được, chưa được của hoạt động công chứng trên một số phương diện như: công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, thủ tục công chứng dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật. Từ đó đưa ra một số luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
Luận văn thạc sĩ “Hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thực trạng và giải pháp” của tác giả Đỗ Thị Loan năm 2015. Luận văn tập trung luận giải cơ sở lý luận; phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động công chứng ở tỉnh Bắc Giang; rút ra những bài học kinh nghiệm để phát huy những mặt mạnh, hạn chế những tồn tại nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực công chứng; trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, giải pháp thực hiện có hiệu quả hoạt động công chứng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới của Bắc Giang nói riêng, cả nước nói chung. Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động công chứng trong điều kiện chúng ta đang đẩy mạnh xã hội hóa công chứng cũng như các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về hoạt động công chứng, thực hiện mục tiêu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Luận văn thạc sĩ “Tổ chức và hoạt động của các văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả Lê Phương Nga năm Điểm đóng góp chủ yếu và mới mẻ của Đề tài là những nghiên cứu thực tiễn các quy định pháp luật và thực hiện các quy định pháp luật đó trên địa bàn thành phố Hà Nội. Qua đó thấy được những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế để đưa ra một số đề xuất về quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng của Việt Nam nói chung, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các Văn phòng công chứng tại thành phố Hà Nội nói riêng.
Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về chứng thực của Ủy ban nhân dân phường -từ thực tiễn Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” của tác giả Hà Thị Hồng năm 2016. Luận văn đã nêu lên những vấn đề khái quát chung về chứng thực và quản lý nhà nước về chứng thực; cơ sở pháp lý của hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân phường; những thành tựu đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về chứng thực của Ủy ban nhân dân phường từ thực tiễn Quận Thanh Xuân; sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chứng thực của Ủy ban nhân dân phường; định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về chứng thực của Ủy ban nhân dân phường và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chứng thực của Ủy ban nhân dân phường như: hoàn thiện thể chế về chứng thực, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân phường thực hiện hoạt động chứng thực, cải thiện chế độ đãi ngộ đối với công chức tư pháp thực hiện chứng thực, đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị, tổ chức tốt công tác tuyên truyền phổ biến giao dục pháp luật, tăng cường công tác thanh, kiểm tra hoạt động chứng thực và quán triệt thực hiện nghiêm túc quy chế “một cửa” tại Ủy ban nhân dân phường. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Nguyễn Cao Nguyên năm 2017. Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp luật về công chứng, quản lý nhà nước về công chứng; đánh giá kết quả quản lý nhà nước về công chứng, phân tích các yêu cầu khách quan trong việc quản lý nhà nước về công chứng ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong quản lý nhà nước về công chứng; đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng.
Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Mai Hải Yến năm 2017. Luận văn đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận – pháp lý quản lý nhà nước về công chứng như khái niệm, đặc điểm, vai trò, phương thức, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công chứng; phân tích tình hình hoạt động công chứng; vai trò quản lý nhà nước về công chứng trên văn bản quản lý, tổ chức thực hiện thanh, kiểm tra, đánh giá những ưu điểm, hạn chế quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; đề xuất nhu cầu, xây dựng phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập và giải quyết vấn đề công chứng ở nhiều góc độ khác nhau, có nhiều nội dung liên quan đến hoạt động công chứng, song những nghiên cứu đó mới chỉ phân tích, đánh giá vấn đề công chứng ở một số phương diện nhất định, hoặc ở một góc nhìn khác, nhưng đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu về việc thực hiện pháp luật về công chứng trên các phương diện như công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng và thủ tục công chứng, đặc biệt trong phạm vi một địa phương cụ thể: Thành phố Hà Nội. Song, các công trình trên vẫn là nguồn tài liệu quý giá, có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu đề tài “Thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
3.1 Mục đích
Luận văn tổng hợp những kiến thức lý luận về việc thực hiện pháp luật về công chứng trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn việc thực hiện Luật Công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm đưa ra một số luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ
Đánh giá những kết quả đạt được, làm rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và về hoạt động công chứng trên cả nước nói chung.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua, những giải pháp chủ yếu để từng bước hoàn thiện pháp luật công chứng trong thời gian tới.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu và phân tích những tồn tại, bất cập của pháp luật công chứng và thực hiện pháp luật về công chứng để đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng trong thời gian tới.
- Về thời gian: Các tài liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2015 đến nay.
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng cơ sở lý luận của phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; quan điểm của về việc xây dựng hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp và việc thực hiện các quy định của pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn việc thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
6. Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của luận văn
Là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, khoa học về lý luận và thực tiễn việc thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn có một số đóng góp khoa học sau đây:
- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn việc thực hiện pháp luật về công chứng; làm sáng tỏ một cách có hệ thống, khoa học các quan điểm trong việc thực hiện pháp luật về công chứng.
- Phân tích thực trạng việc thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm phát huy những ưu điểm, hạn chế những tồn đọng.
- Đề xuất những giải pháp nâng cao về việc thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về công chứng.
- Chương II: Thực trạng việc thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Chương III: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
1.1. Khái quát về thực hiện pháp luật
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển năng động của xã hội. Điều 8 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Trong điều kiện đổi mới, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định vai trò hàng đầu của pháp luật trong quản lý xã hội. Khi đặt ra các quy phạm pháp luật, nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đáp ứng lợi ích của nhân dân và sự tiến bộ của xã hội. Mục đích đó chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế.
Theo giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội thì: “Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [28,349]. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
1.1.2. Đặc điểm quá trình thực hiện pháp luật
- Thực hiện pháp luật có những đặc điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, Thực hiện pháp luật phải bằng hành vi. Hành vi là phương thức tồn tại của con người, được hình thành trên cơ sở nhận thức và được biểu hiện bằng hành động hoặc không hành động trên thực tế. Coi thực hiện pháp luật bằng hành vi vì như vậy mới có cơ sở để gắn với chế độ trách nhiệm, trách nhiệm pháp lý của chủ thể.
Thứ hai, Thực hiện pháp luật phải đảm bảo các yêu cầu theo quy định pháp luật. Thực hiện pháp luật trước hết và cơ bản là thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý được pháp luật quy định đối với chủ thể. Việc thực hiện pháp luật trên từng lĩnh vực của đời sống pháp lý là khác nhau, từ đó, Pháp luật cũng phải điều chỉnh cho từng lĩnh vực một cách riêng biệt.
Thứ ba, Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích cụ thể. Mục đích thực hiện pháp luật của chủ thể sẽ tùy thuộc từng lĩnh vực và từng hình thức thực hiện pháp luật một cách riêng biệt. Mục đích trước hết đó là nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật.
Thứ tư, Thực hiện pháp luật được thông qua quan hệ pháp luật. Quan hệ pháp luật là sản phẩm của việc thực hiện pháp luật và ngược lại quan hệ pháp luật là môi trường, điều kiện cần thiết cho quá trình thực hiện pháp luật. Quá trình thực hiện pháp luật được đảm bảo bằng các biện pháp của Nhà nước vì pháp luật là sản phẩm do Nhà nước tạo nên. Trong xã hội, pháp luật thể hiện ý chí số đông Nhân dân. Như vậy, việc pháp luật được tôn trọng và thực thi nghiêm minh là yêu cầu khách quan đặt ra từ chính đời sống xã hội, từ sự mong muốn của Nhà nước cũng như nguyện vọng chung của đa số Nhân dân. Đồng thời, phải có sự đảm bảo của Nhà nước mới làm cho pháp luật có môi trường thực thi bình đẳng, công bằng về quyền, nhiệm vụ pháp lý.
1.1.3. Các hình thức thực hiện pháp luật
- Có bốn hình thức thực hiện pháp luật:
Thứ nhất là Tuân thủ pháp luật. Đây là hình thức thực hiện pháp luật một cách thụ động, thể hiện ở sự kiềm chế của chủ thể để không vi phạm các quy định mà pháp luật không cho phép.
Thứ hai là Thi hành pháp luật. Đây là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động. Chủ thể pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể tham gia thực hiện pháp luật được.
Thứ ba là Sử dụng pháp luật. Đây là khả năng của các chủ thể pháp luật có thể sử dụng khai thác hay không sử dụng, khai thác, hưởng quyền mà luật đã dành cho mình.
Thứ tư là Áp dụng pháp luật. Đây là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên các quy định của pháp luật để giải quyết, xử lí những vấn để cụ thể thuộc trách nhiệm của mình.
1.2. Pháp luật về công chứng Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
1.2.1. Khái niệm công chứng
Công chứng là nghề xuất hiện cách đây hàng ngàn năm ở Hy Lạp, Ai Cập, đặc biệt là ở La Mã với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng (dịch vụ văn tự). Khởi đầu công chứng là một nghề tự do trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi thiết lập các văn tự, khế ước.
Thuật ngữ Notariat (tiếng Pháp, Đức…) hay Notary (tiếng Anh), đều có gốc Latinh là Notarius có nghĩa là ghi chép. “Notarius” trong Luật Anh Cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng. Trong Luật La Mã, “Notarius” là người ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của Tòa án hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng sở hữu. Theo từ điển Luật học của Mỹ, Notarial (công chứng) là hoạt động của công chứng viên.
Công chứng theo Hệ thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon là một nghề tự do. Điểm khác biệt giữa trường phái công chứng Latinh và trường phái công chứng Anglo saxon là trong trường phái công chứng Latinh thì các hợp đồng, giao dịch hợp pháp mới được công chứng viên xác nhận, những hợp đồng, giao dịch bất hợp pháp thì bị từ chối công chứng.
Ở Việt Nam, công chứng thời Pháp thuộc được gọi là “Chưởng khế”, là hoạt động thị thực của các cấp chính quyền, chỉ có thể do Nhà nước thực hiện. Đến năm 1987 thì thuật ngữ “công chứng” chính thức được sử dụng với tên gọi là công chứng Nhà nước, được xác định là một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp các công dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện (Thông tư số 574/QLTPK của Bộ Tư pháp). Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Đến năm 1991, thuật ngữ “công chứng” nhà nước được xác định là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ (Nghị định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng).
Đến năm 1996, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP thay thế Nghị định số 45/HĐBT thì khái niệm công chứng cũng được xác định như khái niệm công chứng nhà nước được quy định tại Nghị định số 45/HĐBT nhưng bổ sung thêm quy định loại trừ giá trị chứng cứ của hợp đồng, giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền chứng thực khi bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
Tuy nhiên, chỉ đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP thay thế Nghị định số 31/CP thì khái niệm công chứng mới được xác định khoa học hơn, tiệm cận hơn với quan niệm chung của thế giới về công chứng. Theo đó, công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP. Tại khái niệm này, lần đầu tiên thuật ngữ pháp lý “công chứng” được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ pháp lý “công chứng nhà nước” được sử dụng trong các văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực công chứng trước đó; chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng, không phải công chứng viên. Tuy nhiên, quy định về chủ thể của hoạt động công chứng theo Nghị định số 75/2000/NĐ-CP lại không phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền công chứng của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990 và chính Nghị định số 75/2000/NĐ-CP (Điều 25).
Ngày 29/11/2006, khi Quốc hội thông qua Luật Công chứng số 82/2006/QH11 thì “công chứng” được xác định là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Theo khái niệm này, công chứng là hành vi của công chứng viên (không còn là hành vi của Phòng Công chứng), điều này phân biệt với chứng thực là hành vi của người đại diện của cơ quan hành chính nhà nước; đối tượng của hoạt động công chứng là các hợp đồng, giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại; văn bản công chứng có giá trị chứng cứ do tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đã được công chứng viên xác nhận; các hợp đồng, giao dịch khác được công chứng viên xác nhận sẽ được coi là hợp pháp (có tính hợp pháp). Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Tuy nhiên, khi Quốc Hội thông qua Luật Công chứng số 53/2014/QH13 thì khái niệm công chứng một lần nữa lại tiếp tục được thay đổi. Theo đó, cho đến nay, hiểu một cách khái quát và chính xác nhất thì:“Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
1.2.2. Chức năng của công chứng
- Một là, chức năng hợp pháp hóa hợp đồng, văn bản:
Hay nói cụ thể hơn là hợp pháp hóa sự kiện, thỏa thuận của các bên thể hiện trong hợp đồng, văn bản. Do hợp đồng, văn bản chỉ là phương tiện truyền tải các sự kiện, thỏa thuận nên chính những sự kiện, thỏa thuận mới là mục đích mà hành vi hợp pháp hóa của công chứng viên hướng tới. Khi xảy ra tranh chấp, để xác định chính xác ý chí của các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng hay tạo lập văn bản, cơ quan tài phán phải trải qua quá trình xác minh, điều tra với một trình tự, thủ tục không đơn giản nhằm làm sáng tỏ sự thật. Đặc biệt, công việc này tạo ra áp lực rất lớn do số lượng tranh chấp ngày càng nhiều, trong khi tính chất cũng ngày càng phức tạp. Nhằm ngăn ngừa vi phạm pháp luật hay tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai, chế định công chứng quy định chức năng hợp pháp hóa hợp đồng, văn bản nhằm tạo ra cho chúng một giá trị pháp lý tương đương với quyết định do cơ quan công quyền ban hành. Do vậy, những văn bản, hợp đồng công chứng cũng sẽ được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của quyền lực nhà nước, giảm thiểu tranh chấp giữa các bên tham gia giao kết. Văn bản công chứng không chỉ đơn thuần có hiệu lực thi hành giữa các bên trực tiếp tham gia giao kết mà nó còn có giá trị thực hiện đối với bên thứ ba có liên quan. Điều này có nghĩa rằng, giá trị pháp lý của văn bản, hợp đồng công chứng cao hơn hẳn văn bản, hợp đồng cùng loại nhưng không được công chứng. Nguồn gốc giá trị pháp lý của văn bản công chứng xuất phát từ quyền năng mà công chứng viên được pháp luật giao phó cũng như tính chất công vụ của hoạt động công chứng.
- Hai là, chức năng xác nhận tính hợp pháp: Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Có thể nói, đây là một trong những chức năng cơ bản nhất của công chứng nói chung. Hiện nay hệ thống pháp luật của nước ta đang xếp công chứng là chế định bổ trợ tư pháp, tức là công chứng ra đời, tồn tại nhằm phục vụ cho công tác tài phán mà trước hết và chủ yếu là của cơ quan Tòa án. Ngay tại Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp về công tác công chứng, chức năng này đã được khẳng định qua việc quy định mục đích của công chứng là “ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi”. Đây là một trong những nội dung thể hiện trực tiếp nhất, cụ thể nhất chức năng tạo lập nguồn chứng cứ của công chứng. Đặc biệt, chức năng tạo lập nguồn chứng cứ còn được thể hiện thông qua quy định văn bản công chứng, sản phẩm nghề nghiệp của công chứng viên, có giá trị chứng cứ. Điều 1, Nghị định số 45/HĐBT khẳng định: “Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”; trong khi “các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu” được ghi nhận tại Điều 1, Nghị định số 31/CP. Giá trị chứng cứ của văn bản công chứng được coi trọng hơn khi lần đầu tiên giá trị pháp lý trong đó có giá trị chứng cứ của văn bản công chứng được quy định riêng tại một điều luật, cụ thể là tại khoản 2 Điều 5 Luật Công chứng 2014: “Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”.
- Ba là, chức năng tư vấn cho người yêu cầu công chứng và các bên tham gia giao dịch:
Chức năng này được thể hiện ở một số điều luật xác định công chứng viên có nhiệm vụ hướng dẫn trình tự, thủ tục công chứng, giải thích quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch.
Căn cứ một yêu cầu công chứng cụ thể, sau khi xem xét quy định hiện hành của pháp luật có liên quan, công chứng viên tham gia góp ý nhằm giúp người yêu cầu công chứng chọn lựa một phương thức áp dụng pháp luật đơn giản nhất, thuận tiện nhất, dễ thực hiện nhất. Trong một số trường hợp cần thiết, công chứng viên còn đóng vai trò trung gian giúp các bên tham gia giao dịch giải quyết bất đồng (nếu có), đưa ra những phương án hợp lý và hợp pháp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của họ.
Khi tư vấn, công chứng viên phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật cũng như không được phép nghiêng về quyền lợi của bất kỳ bên nào. Trong mọi trường hợp, vai trò trung gian của công chứng viên bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu. Căn cứ vào quy định của pháp luật, công chứng viên phải đưa ra giải pháp có lợi nhất cho các bên. Thậm chí, nếu do vô tình hay thiếu hiểu biết, quyền, lợi ích hợp pháp của một trong các bên tham gia giao dịch bị thiệt hại thì công chứng viên có nghĩa vụ thông tin, cảnh báo cho những cá nhân này biết trước hậu quả pháp lý của giao dịch, hợp đồng. Như vậy, với tư cách người tư vấn, công chứng viên có nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích cho người yêu cầu công chứng, khách hàng của mình và với tư cách một viên chức, công chứng viên còn có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của Nhà nước.
- Bốn là, chức năng lưu trữ và cung cấp nguồn chứng cứ: Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Đây là chức năng quan trọng được ghi nhận trong pháp luật công chứng của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Nếu như chức năng tạo lập và xác nhận nguồn chứng cứ là tiền đề thì chức năng lưu trữ và cung cấp nguồn chứng cứ chính là yếu tố quyết định bản chất bổ trợ tư pháp của công chứng. Có thể khẳng định văn bản công chứng, sản phẩm nghề nghiệp của công chứng viên, phương tiện ghi nhận trung thực, toàn vẹn ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch chính là nguồn chứng cứ chủ yếu được công chứng viên lưu trữ. Chính vì lẽ đó, lưu trữ văn bản công chứng (và văn bản chứng thực) đã được pháp luật công chứng của nước ta ghi nhận từ rất sớm. Điểm 10, Phần I, Thông tư số 858/QLTPK nêu rõ: “Các tài liệu công chứng phải được bảo quản, lưu trữ tại cơ quan công chứng với đầy đủ hồ sơ kèm theo. Việc lưu trữ, bảo vệ các tài liệu công chứng phải bảo đảm không hư hỏng, mất mát và tiện sử dụng khi cần thiết”, trong khi Khoản 4, Điều 16, Nghị định số 45/HĐBT quy định nhiệm vụ của công chứng viên “Lưu giữ các văn bản công chứng”; Điểm 2, Chỉ thị số 1106/CT-CC ngày 19/7/1994 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp triển khai thực hiện Nghị quyết 38/CP của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức trong lĩnh vực công chứng cũng khẳng định: “Tất cả các loại hồ sơ, văn bản đã được công chứng và sổ công chứng phải được lưu trữ, bảo quản đầy đủ, chặt chẽ, lâu dài tại Phòng Công chứng nhà nước, nơi đã giải quyết yêu cầu công chứng đó”. Luật Công chứng năm 2014 đã dành hẳn một chương (Chương V), bao gồm ba điều luật để quy định về “Lưu trữ hồ sơ công chứng”. Căn cứ vào nội dung các điều luật trên, ta thấy lưu trữ văn bản công chứng không chỉ là lưu trữ bản thân văn bản mà bao gồm cả hồ sơ kèm theo. Việc lưu trữ văn bản công chứng cùng hồ sơ đi kèm không chỉ là bảo quản, giữ gìn văn bản, tài liệu ở trong trạng thái tốt nhất mà nó bao gồm cả tra cứu, sử dụng những thông tin đang được lưu trữ ngay trong quá trình tác nghiệp của công chứng viên. Đặc biệt, pháp luật quy định rất chi tiết, cụ thể trình tự cũng như thẩm quyền khai thác thông tin, tài liệu công chứng của cá nhân, tổ chức có nhu cầu.
1.2.3 Các quy định của pháp luật về công chứng Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
- Quy định của pháp luật về tổ chức hành nghề công chứng
Luật công chứng 2014 quy định 02 loại hình tổ chức hành nghề công chứng là Phòng Công chứng và Văn phòng công chứng. Việc thành lập các tổ chức hành nghề công chứng phải phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Khuyến khích phát triển Văn phòng công chứng theo định hướng xã hội hóa, văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ còn Phòng công chứng chỉ được thành lập mới tại những địa bàn chưa có điều kiện phát triển được Văn phòng công chứng.
Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập; là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng. Người đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng là Trưởng phòng. Trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Tên gọi của Phòng công chứng bao gồm cụm từ “Phòng công chứng” kèm theo số thứ tự thành lập và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng được thành lập.
Phòng công chứng sử dụng con dấu không có hình quốc huy. Phòng công chứng được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định thành lập.
Đối với Văn phòng công chứng, phải do hai công chứng viên trở lên thành lập, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. “Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng. Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên. Tên gọi của Văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Văn phòng công chứng phải có trụ sở đáp ứng các điều kiện theo quy định. Văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác. Văn phòng công chứng sử dụng con dấu không có hình quốc huy. Văn phòng công chứng được thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, thay đổi thành viên hợp danh, chuyển nhượng, hợp nhất, sáp nhập” (Điều 22 Luật Công chứng 2014). Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Được thành lập, tổ chức theo 02 mô hình khác nhau, tuy nhiên, Phòng Công chứng và Văn phòng Công chứng đều có các quyền, nghĩa vụ cơ bản được quy định tại Điều 32 và Điều 33 tại Luật Công chứng 2014.
Điểm mới của Luật Công chứng năm 2014 so với Luật Công chứng năm 2006 đó là quy định việc chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng, trong trường hợp không chuyển đổi được thì mới giải thể Phòng công chứng. Quy định này nhằm tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước và công chứng viên, viên chức, người lao động làm việc tại Phòng công chứng được chuyển đổi.
Phòng công chứng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định chuyển đổi thành văn phòng công chứng theo đề nghị của Sở Tư pháp trong các trường hợp: Các địa bàn cấp huyện đã thành lập đủ số tổ chức hành nghề công chứng theo Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và số lượng Văn phòng công chứng nhiều hơn số lượng Phòng công chứng. Các địa bàn cấp huyện chưa thành lập đủ số tổ chức hành nghề công chứng theo Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhưng có ít nhất 02 Văn phòng công chứng đã hoạt động ổn định từ 02 năm trở lên, kể từ ngày đăng ký hoạt động. Việc chuyển đổi được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc Văn phòng công chứng được thành lập từ việc chuyển đổi Phòng công chứng phải kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và tiếp nhận toàn bộ hồ sơ công chứng của Phòng công chứng đó. Bảo đảm chế độ, chính sách đối với công chứng viên, viên chức, người lao động sau khi Phòng công chứng chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về viên chức và pháp luật về lao động. Văn phòng công chứng được thành lập từ việc chuyển đổi Phòng công chứng phải ký hợp đồng lao động với công chứng viên, viên chức, người lao động của Phòng công chứng đó, trừ trường hợp những người này không có nhu cầu tiếp tục làm việc tại Văn phòng công chứng. Bảo đảm tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước đang do Phòng công chứng quản lý, sử dụng được xử lý theo đúng quy định của pháp luật, không bị thất thoát trong quá trình chuyển đổi.
- Quy định pháp luật về công chứng viên
Hiện nay, công chứng ở nước ta đang tồn tại hai loại hình công chứng viên: công chứng viên làm việc trong các Phòng Công chứng nhà nước thì họ là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và công chứng viên làm việc trong các Văn phòng Công chứng thì họ không phải là công chức hay viên chức nhà nước. Mặc dù có hai loại hình hoạt động của công chứng viên đó là làm việc ở hai loại tổ chức hành nghề công chứng khác nhau nhưng về điều kiện bổ nhiệm, địa vị pháp lý, quyền, nghĩa vụ của họ trong hành nghề công chứng hoàn toàn giống nhau. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Về việc bổ nhiệm, Công chứng viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm. So với Luật Công chứng năm 2006, Luật Công chứng năm 2014 quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên. Nếu như Luật Công chứng năm 2006 quy định tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; có bằng cử nhân luật; có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức; có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng (6 tháng); đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng (12 tháng); có sức khoẻ bảo đảm hành nghề công chứng (Điều 13, Luật Công chứng năm 2006) thì đối với Luật Công chứng năm 2014 ngoài các tiêu chuẩn tương tự như Luật Công chứng năm 2006 như phải có bằng cử nhân luật, có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên thì người muốn được bổ nhiệm công chứng viên phải qua thời gian đào tạo nghề công chứng là 12 tháng. Đối với những trường hợp được miễn đào tạo nghề công chứng, Luật Công chứng 2006 không quy định phải qua khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và được miễn tập sự hành nghề công chứng nhưng đến Luật Công chứng năm 2014, các trường hợp này nếu muốn được bổ nhiệm công chứng viên phải tham gia và hoàn thành khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng trong thời gian 03 tháng; đồng thời vẫn phải tập sự hành nghề công chứng trong thời gian 06 tháng. Như vậy, so với quy định trước đây: “Công chứng viên là công chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm…” tại Khoản 1 Điều 29 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP thì rõ ràng nguồn công chứng viên đã được mở rộng hơn rất nhiều. Công chứng viên không cần phải là công chức nhà nước, chỉ cần đáp ứng được các tiêu chuẩn, điều kiện luật định, do đó khắc phục được tình trạng thiếu biên chế, thiếu kinh phí đào tạo, tạo điều kiện cho việc phát triển công chứng viên nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình xã hội hóa.
Về việc bổ nhiệm lại công chứng viên, Luật Công chứng năm 2014 bổ sung quy định về bổ nhiệm lại công chứng viên mà Luật Công chứng năm 2006 không quy định. Quy định rõ hơn về địa vị pháp lý, quyền, trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của công chứng viên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên, cụ thể: Luật Công chứng năm 2006 quy định quyền của công chứng viên là được lựa chọn nơi để hành nghề công chứng, trừ công chứng viên của Phòng công chứng; đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện việc công chứng và một số quyền khác được quy định trong Luật.
Về quyền và nghĩa vụ của Công chứng viên, Luật quy định công chứng viên có các nghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc hành nghề công chứng; tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng; giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng (Điều 22, Luật Công chứng năm 2006). Đến Luật Công chứng năm 2014 quy định công chứng viên có quyền được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề công chứng; tham gia thành lập Văn phòng công chứng hoặc làm việc theo chế độ hợp đồng cho tổ chức hành nghề công chứng; được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của Luật này; đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện việc công chứng; được từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; các quyền khác theo quy định của Luật công chứng 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Công chứng viên có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc hành nghề công chứng; hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng; tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng; giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng; trường hợp từ chối yêu cầu công chứng thì phải giải thích rõ lý do cho người yêu cầu công chứng; giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm; chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình; chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng mà mình là công chứng viên hợp danh; tham gia tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên; chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của tổ chức hành nghề công chứng mà mình làm công chứng viên và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên mà mình là thành viên; các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật công chứng năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Về phạm vi mà công chứng viên được thực hiện, Luật công chứng 2014 cũng đã mở rộng phạm vi công chứng: Bên cạnh nhiệm vụ chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, Luật công chứng năm 2014 giao lại cho công chứng viên quyền công chứng bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại (Khoản 1 Điều 2), công chứng viên cũng được giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản; việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng thực (Điều 77).
- Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thực hiện công chứng
Luật Công chứng năm 2014 dành 01 Chương V quy định thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch. Trong đó mục I, Chương V quy định về thủ tục chung về công chứng. Một số điểm lưu ý trong mục này đó là Luật quy định phạm vi công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản: Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản.
Thời hạn công chứng được xác định kể từ ngày thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng đến ngày trả kết quả công chứng. Thời gian xác minh, giám định nội dung liên quan đến hợp đồng, giao dịch, niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản, dịch giấy tờ, văn bản không tính vào thời hạn công chứng. Thời hạn công chứng không quá 02 ngày làm việc; đối với hợp đồng, giao dịch có nội dung phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc. Đối với địa điểm công chứng, việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng thì việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.
Luật quy định chữ viết trong văn bản công chứng phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, không được viết xen dòng, viết đè dòng, không được tẩy xoá, không được để trống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thời điểm công chứng phải được ghi cả ngày, tháng, năm; có thể ghi giờ, phút nếu người yêu cầu công chứng đề nghị hoặc công chứng viên thấy cần thiết. Các con số phải được ghi cả bằng số và chữ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đối với quy định về lời chứng của công chứng viên, lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch phải ghi rõ thời điểm, địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch đúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng, giao dịch; trách nhiệm của công chứng viên đối với lời chứng; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Lời chứng là một bộ phận cấu thành của văn bản công chứng (Điều 22, Thông tư số 06/2015/TT-BTP). Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Cùng với đó, Luật quy định về người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch. Người yêu cầu công chứng là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự. Trường hợp người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó. Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó. Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được, không nghe được, không ký, điểm chỉ được hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng. Người làm chứng phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng. Người làm chứng do người yêu cầu công chứng mời, nếu người yêu cầu công chứng không mời được thì công chứng viên chỉ định. Trường hợp người yêu cầu công chứng không thông thạo tiếng Việt thì họ phải có người phiên dịch. Người phiên dịch phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, thông thạo tiếng Việt và ngôn ngữ mà người yêu cầu công chứng sử dụng. Người phiên dịch do người yêu cầu công chứng mời và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc phiên dịch của mình.
Việc ký, điểm chỉ trong văn bản công chứng, việc ghi trang, tờ trong văn bản công chứng, sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng, công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch cũng được quy định rõ trong Luật.
Ngoài các quy định chung, mục 1, Chương V quy định cụ thể thủ tục công chứng một số hợp đồng, giao dịch, công chứng bản dịch, nhận lưu giữ di chúc như: công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản, công chứng hợp đồng ủy quyền, công chứng di chúc, công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, công chứng văn bản khai nhận di sản, công chứng văn bản từ chối nhận di sản, công chứng bản dịch…
- Quy định của pháp luật về công tác quản lý nhà nước về công chứng
- Về hệ thống cơ quan quản lý nhà nước bằng pháp luật về công chứng
Thứ nhất, Chính phủ: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa là cơ quan chấp hành vừa là cơ quan điều hành cao nhất của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ có nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về mọi mặt đời sống xã hội. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chứng, tuy nhiên Chính phủ chỉ là chủ thể mang tính đại diện cao nhất, điều hành ở tầm vĩ mô bằng các chính sách, pháp luật, không trực tiếp thực hiện các quyền cụ thể mà giao cho Bộ Tư pháp thực hiện. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Thứ hai, Bộ Tư pháp: Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng có nhiệm vụ, quyền hạn như: Xây dựng và trình Chính phủ chính sách phát triển công chứng; ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng; quy định chương trình khung đào tạo nghề công chứng; ban hành quy chế tập sự nghề công chứng; ban hành quy tắc đạo đức nghề công chứng; bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên; cấp thẻ công chứng viên; hướng dẫn nghiệp vụ công chứng, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về công chứng, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng; tổng kết, báo cáo Chính phủ về công chứng; quản lý về thực hiện hợp tác quốc tế về công chứng.
Thứ ba, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương và có các nhiệm vụ quyền hạn như: thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở đại phương để đáp ứng nhu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng; thành lập, giải thể Phòng Công chứng; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Trưởng phòng Phòng Công chứng; Quyết định thu hồi, cho phép thành lập Văn phòng Công chứng; Tổ chức việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Văn phòng Công chứng; đảo đảm các cơ sở vật chất và phương tiện ban đầu cho Phòng Công chứng; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại tố cáo về công chứng; tổng hợp tình hình và thống kê về công chứng trong địa phương gửi về Bộ Tư pháp.
Thứ tư, Sở Tư pháp: Sở Tư pháp là cơ quan tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý nhà nước về công chứng, có các nhiệm vụ:
Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt đề án phát triển các tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương và tổ chức thực hiện đề án đó sau khi được phê duyệt; tiếp nhận xem xét, kiểm tra hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng Công chứng trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định cho phép thành lập; yêu cầu các tổ chức hành nghề công chứng báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động theo quy định của pháp luật; tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương các biện pháp hỗ trợ phát triển tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật hoặc theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Về các hoạt động quản lý nhà nước về công chứng
Thứ nhất, về hoạt động xây dựng và ban hành văn bản pháp luật về công chứng: Bộ Tư pháp với vai trò là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng có trách nhiệm xây dựng và trình Chính phủ chính sách phát triển công chứng; ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng; thời gian qua, Bộ Tư pháp đã chủ động ban hành, tham mưu Chính phủ ban hành, trình Quốc hội ban hành hệ thống các văn bản liên quan đến hoạt động công chứng. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Thứ hai, về hoạt động tuyên truyền các văn bản về công chứng: Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trực tiếp là Sở Tư pháp) có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến về nội dung, tinh thần của Luật công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó nhấn mạnh những quy định pháp luật về xã hội hóa hoạt động công chứng tới cán bộ, nhân dân và các đối tượng có liên quan trên địa bàn địa phương mình quản lý để mọi người nhận thức chính xác, đầy đủ về ý nghĩa, vai trò của việc xã hội hóa hoạt động công chứng, từ đó, mỗi chủ thể sẽ tự quyết định hành vi của mình, tự giác thực hiện.
Thứ ba, về chỉ đạo, hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ: Thông tư số 06/2015/TT-BTP quy định cụ thể về bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm. Theo đó, thời gian tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm tối thiểu là 03 ngày làm việc/năm (24 giờ/năm). Học viện Tư pháp, Hội công chứng viên, thực hiện bồi dưỡng là tổ chức thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng. Hàng năm, tổ chức thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng có trách nhiệm xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm tập trung vào việc cập nhật, bổ sung kiến thức pháp luật về công chứng và các quy định pháp luật khác có liên quan.Bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng hành nghề công chứng; cách thức giải quyết các vấn đề vướng mắc trong quá trình hành nghề công chứng.
Thứ tư, về sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm trong quản lý nhà nước bằng pháp luật về công chứng: Sau quá trình thực hiện, các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành các hoạt động sơ kết, tổng kết, đánh giá hiệu quả việc thực hiện nhằm tổng hợp, tiếp thu những phản biện, kiến nghị phù hợp để việc thực hiện pháp luật về công chứng đạt hiệu quả cao hơn hoặc cung cấp thông tin cần thiết cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động công chứng.
Thứ năm, về công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động công chứng: Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về công chứng là một khâu không thể thiếu trong quản lý nhà nước. Thông qua kiểm tra, thanh tra, chủ thể quản lý sẽ kịp thời phát hiện hành vi vi phạm pháp luật để áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp nhằm khôi phục lại tối đa trật tự quản lý bị xâm phạm; phát hiện những yếu kém, bất cập để đề ra các biện pháp khắc phục, hoàn thiện thể chế, xây dựng các biện pháp nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện… Kiểm tra việc thực hiện thể chế công chứng là một biện pháp quan trọng để bảo đảm việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về công chứng, khắc phục và phòng ngừa những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.
1.3. Thực hiện pháp luật về công chứng Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
1.3.1. Khái niệm thực hiện pháp luật công chứng
Thực hiện pháp luật là thực hiện pháp luật trên lĩnh vực cụ thể, do đó, khái niệm về thực hiện pháp luật công chứng cũng có đầy đủ các nội dung cơ bản của thực hiện pháp luật nói chung, đồng thời mang trong mình được những phương hướng, mục tiêu cụ thể của Đảng, nhà nước trong xây dựng pháp luật về công chứng. Như vậy, có thể khái quát khái niệm về thực hiện pháp luật công chứng đó là: Thực hiện pháp luật công chứng là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về công chứng trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch, đáp ứng yêu cầu công cuộc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
- Từ khái niệm trên cho thấy, thực hiện pháp luật công chứng có các đặc trưng sau:
Về chủ thể: Thực hiện pháp luật công chứng có rất nhiều chủ thể, bao gồm Nhà nước, các tổ chức và cá nhân tham vào hoạt động này, được pháp luật quy định cho những quyền và nghĩa vụ nhất định như Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, công chứng viên, tổ chức và cá nhân.
Về tính chất: Thực hiện pháp luật công chứng thể hiện tính pháp chế cao, các công chứng viên hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, các quy trình, thủ tục trong hoạt động công chứng được quy định chặt chẽ, cụ thể trong luật đó là: việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp thẻ hành nghề và các hình thức hành nghề của công chứng viên, các thủ tục công chứng, việc thành lập, giải thể, hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng… được quy định chặt chẽ trong luật để không chỉ các công chứng viên thực hiện mà các tổ chức, cá nhân khác phải thực hiện.
Về phạm vi: thực hiện pháp luật công chứng là một lĩnh vực đặc thù, chủ yếu điều chỉnh các mối quan hệ về giao dịch trong lĩnh vực dân sự và kinh tế.
1.3.2. Hình thức thực hiện pháp luật công chứng Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, lý luận chung về nhà nước và pháp luật xác định bốn hình thức thực hiện pháp luật là tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Nhận thức các hình thức thực hiện pháp luật công chứng cũng dựa trên lý luận chung về các hình thức thực hiện pháp luật trên và dựa vào những đặc trưng của lĩnh vực pháp luật cụ thể này. Theo đó, các hình thức thực hiện pháp luật công chứng bao gồm:
Một là, Tuân thủ pháp luật công chứng: là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Những quy phạm pháp luật cấm quy định tại Điều 7 của Luật công chứng 2014 được thực hiện dưới hình thức này. Để hình thức này đi vào cuộc sống, các chủ thể pháp luật công chứng (công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, cơ quan, tổ chức, cá nhân) phải kiềm chế không thực hiện hành vi bị nghiêm cấm. Ví dụ: Luật công chứng quy định nghiêm cấm hành vi Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác. Do vậy, Công chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng bằng hành vi chủ động của mình, khi hành nghề công chứng phải tuân thủ nguyên tắc hành nghề đã được pháp luật quy định. Nếu công chứng viên không tuân thủ nguyên tắc hành nghề, sẽ dẫn tới vi phạm pháp luật.
Hai là, Thi hành pháp luật công chứng: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng hành động tích cực. Những quy phạm pháp luật quy định khoản 2 Điều 17 (Nghĩa vụ của công chứng viên), Điều 33 (Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng) thể hiện dưới hình thức này. Để hình thức này đi vào cuộc sống, các chủ thể công chứng (công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng) cần tích cực, chủ động thực hiện các quy định về nghĩa vụ cụ thể. Ví dụ: Luật công chứng quy định công chứng viên có nghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc hành nghề công chứng có nghĩa là bằng hành vi chủ động của mình, khi hành nghề công chứng, công chứng viên phải tuân thủ nguyên tắc hành nghề đã được pháp luật quy định.
Ba là, Sử dụng pháp luật công chứng: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó, các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép). Ở hình thức này, chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật trao, theo ý thức của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện. Những quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 17 (Quyền của công chứng viên), Điều 32 (Quyền của tổ chức hành nghề công chứng) thể hiện dưới hình thức này. Để hình thức này đi vào cuộc sống, các chủ thể pháp luật công chứng (công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng) có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình. Ví dụ: Luật công chứng quy định tổ chức hành nghề công chứng được “cung cấp dịch vụ công chứng ngoài ngày, giờ làm việc của cơ quan hành chính nhà nước để đáp ứng nhu cầu công chứng của nhân dân”. Thực tế cho thấy, việc áp dụng dịch vụ công chứng ngoài thời gian làm việc hay không sẽ tùy vào chế độ và tình hình riêng của từng cá nhân Văn phòng công chứng. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Bốn là, Áp dụng pháp luật công chứng: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật, cơ quan tổ chức xã hội cũng có thể thực hiện hoạt động này. Áp dụng pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội gồm các chủ thể sau: cán bộ công chứng phụ trách lĩnh vực công chứng của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; công chứng viên hoạt động tại các tổ chức hành nghề công chứng, trong đó các công chứng viên là chủ thể quan trọng. Ví dụ: Khoản 1 Điều 20 Luật Công chứng 2014 có quy định: “Căn cứ vào nhu cầu công chứng tại địa phương, Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nội vụ xây dựng đề án thành lập Phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Đề án nêu rõ sự cần thiết thành lập Phòng công chứng, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện”, như vậy, nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc quyết định, quản lý về việc thực hiện pháp luật.
1.3.3. Nội dung thực hiện pháp luật công chứng
Các quy phạm pháp luật về công chứng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với nội dung rất rộng, liên quan đến tất cả các mặt của lĩnh vực công chứng. Tuy vậy, có thể khái quát nội dung thực hiện pháp luật công chứng trên bốn vấn đề chủ yếu: thực hiện quy định của pháp luật về công chứng viên; thực hiện quy định của pháp luật về tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục công chứng.
Thực hiện quy định của pháp luật về công chứng viên là việc thực hiện các quy định từ Điều 08 đến Điều 17 trong Chương II của Luật Công chứng số 53/2014/QH13, bao gồm các quy định về tiêu chuẩn công chứng viên, đào tạo nghề công chứng, người được miễn đào tạo nghề công chứng, tập sự hành nghề công chứng, người được miễn tập sự hành nghề công chứng, bổ nhiệm công chứng viên, những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên, miễn nhiệm công chứng viên, tạm đình chỉ hành nghề công chứng, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên.
Thực hiện quy định của pháp luật về tổ chức hành nghề công chứng là việc thực hiện các quy định từ Điều 18 đến Điều 33 trong Chương III của Luật Công chứng số 53/2014/QH13, bao gồm các quy định về hình thức tổ chức hành nghề công chứng, phòng công chứng, thành lập phòng công chứng, văn phòng công chứng, thành lập và đăng ký hoạt động phòng công chứng, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng, cung cấp thông tin về nội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng, đăng báo nội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng, quyền của tổ chức hành nghề công chứng, nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, giải thể phòng công chứng, chấm dứt hoạt động văn phòng công chứng.
Thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục công chứng là việc thực hiện các quy định từ Điều 40 đến Điều 61 trong Chương IV của Luật Công chứng số 53/2014/QH13, bao gồm các quy định về công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn, công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản, thời hạn công chứng, địa điểm công chứng, chữ viết trong văn bản công chứng, ký, điểm chỉ trong văn bản công chứng, việc ghi trang, tờ trong văn bản công chứng, sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng, công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch, người được đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, phạm vi áp dụng, công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản, công chứng di chúc, công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, công chứng văn bản khai nhận di sản, công chứng văn bản từ chối nhận di sản, nhận lưu giữ di chúc.
Thực hiện quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về công chứng là việc thực hiện các quy định trong Điều 69 và Điều 70 trong Chương VIII của Luật Công chứng số 53/2014/QH13 bao gồm trách nhiệm, các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong công tác quản lý nhà nước về công chứng. Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công chứng. Ngoài ra, Bộ Ngoại giao, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh là những cơ quan khác tham gia quản lý nhà nước về công chứng với những trách nhiệm nhất định. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
1.3.4. Vai trò của thực hiện pháp luật về công chứng
Vai trò của thực hiện pháp luật công chứng chính là hướng tới sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch, đáp ứng yêu cầu công cuộc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Bằng các hành vi hợp pháp của mình, với những trình tự, thủ tục được pháp luật quy định chặt chẽ, các công chứng viên bảo đảm tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, trong đó bao gồm việc xác định năng lực hành vi dân sự của người tham gia giao dịch, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật, chữ ký là đúng của người tham gia giao dịch. Như vậy, hợp đồng, giao dịch sau khi được công chứng sẽ là hợp đồng đúng quy định của pháp luật, được nhà nước thừa nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện, có giá trị thi hành đối với các bên; quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch được bảo đảm, đúng với nguyện vọng, mong muốn của các bên và phù hợp với quy định của pháp luật. Các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, dù là cá nhân hay tổ chức, dù là có hay không có trình độ, nhận thức, hiểu biết về pháp luật đều được các công chứng viên bảo đảm quyền và lợi ích khi tham gia quan hệ dân sự, kinh tế, góp phần phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, tạo sự ổn định cho các hoạt động giao dịch, hạn chế tối đa hậu quả đáng tiếc và không đáng có xảy ra trong các quan hệ dân sự, làm lành mạnh các quan hệ xã hội, bảo đảm dân chủ, công bằng, giữ vững ổn định trong giao lưu dân sự, đồng thời bảo đảm cho các tranh chấp phát sinh một cơ sở pháp lý đáng tin cậy để giải quyết theo hướng tích cực, tạo lối ra an toàn cho các tranh chấp đó. Các cơ quan xét xử lấy đó làm cơ sở pháp lý để giải quyết vụ tranh chấp được an toàn, nhanh chóng.
Ngoài ra, việc thực hiện pháp luật công chứng đã hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa lĩnh vực công chứng, huy động được sự tham gia của các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực công chứng, các văn phòng công chứng ra đời, từng bước khẳng định được vị thế, đáp ứng nhu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch ngày càng nhiều hơn, đa dạng, phong phú hơn, đòi hỏi phải chặt chẽ về mặt pháp lý, đơn giản về mặt thủ tục hành chính, nhanh chóng, thuận tiện. Xét trên góc độ xây dựng Nhà nước pháp quyền, xã hội công dân và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì công chứng vừa là công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, vừa là công cụ quản lý, vừa là công cụ hỗ trợ quan trọng cho các hoạt động tư pháp và là một trong những điều kiện cơ bản góp phần đẩy nhanh việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
1.3.5. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật công chứng Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
- a, Pháp luật
Hiện nay, các quy định của pháp luật về công chứng không chỉ được quy định trong Luật Công chứng mà còn được quy định trong rất nhiều các đạo luật khác: Bộ luật Dân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản, Luật hôn nhân và gia đình, Luật doanh nghiệp, Luật hộ tịch, Luật kinh doanh bất động sản, Luật cư trú… Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnh việc sửa đổi Luật Công chứng, các luật liên quan đến lĩnh vực công chứng đã và đang được sửa đổi, bổ sung với nhiều quy định mới. Có thể thấy, nếu hệ thống Pháp luật được đảm bảo chặt chẽ sẽ tạo ra khung pháp lý an toàn cho pháp luật về công chứng. Từ đó sẽ siết chặt hơn về việc thực hiện và vận dụng pháp luật, nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật về công chứng.
- b, Công tác tổ chức quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Quản lý nhà nước về công chứng là loại hoạt động quản lý mang tính chất quyền lực hành chính của Nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định thực hiện. Quản lý nhà nước về công chứng nhằm tác động lên quá trình tổ chức và hoạt động công chứng làm cho quá trình này diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật và đạt được mục đích định trước. Cụ thể là góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ khác, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Việc thực hiện đúng quy định, đầy đủ, kịp thời trách nhiệm của mình trong quản lý nhà nước sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả của hoạt động công chứng. Ngược lại, nếu việc thực hiện không đúng quy định, chậm hoặc không đầy đủ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động công chứng.
- c, Điều kiện kinh tế, xã hội
Nền kinh tế, xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của các tầng lớp xã hội. Ngược lại, kinh tế, xã hội chậm phát triển, kém năng động và hiệu quả sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật.
Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, kinh tế đất nước phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định qua các năm, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên, nhu cầu thực hiện các hợp đồng, giao dịch có công chứng ngày càng tăng, yêu cầu, đòi hỏi đối với công chứng viên phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao để xử lý nhanh, bảo đảm chất lượng, số lượng các tổ chức hành nghề công chứng phải nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu, trách nhiệm quản lý nhà nước nặng nề hơn, cần phải tăng cường tranh tra, kiểm tra để bảo đảm các quy định của pháp luật công chứng được thực hiện đúng và chính xác.
- d, Ý thức pháp luật
Các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể pháp luật thông qua sự tác động vào ý thức của họ. Ý thức pháp luật của chủ thể càng cao thì việc thực pháp luật càng đúng đắn, hiệu quả.
Thực tế cho thấy, ý thức pháp luật của người dân ngày càng tăng, hiểu biết về pháp luật cũng tăng lên, trước đây còn bị động trong việc thực hiện các thủ tục công chứng, nay họ đã chủ động tìm hiểu, nghiên cứu trước khi yêu cầu thực hiện thủ tục công chứng, hồ sơ đã được chuẩn bị đầy đủ, chính xác, giao dịch, thời gian thực hiện thủ tục được rút ngắn.
Đối với các công chứng viên, cơ quan quản lý nhà nước, ý thức pháp luật cao giúp cho việc lựa chọn quy phạm pháp luật, ra quyết định và tổ chức thực hiện đúng đắn, hợp lý và chính xác. Do đó, cần phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật của chủ thể pháp luật khi thực hiện thủ tục công chứng.
TIỂU KẾT CHƯƠNG I Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
Thực hiện pháp luật công chứng là quá trình có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về công chứng trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch, hơn hết là vai trò trong công cuộc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế của xã hội.
Việc thực hiện đúng và đầy đủ pháp luật về công chứng sẽ góp phần phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, đồng thời hỗ trợ trong hoạt động quản lý nhà nước được vận hành một cách thường xuyên, liên tục, kỷ cương và trật tự. Thực hiện pháp luật về công chứng được thể hiện, nhìn nhận qua các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đặc thù này, đó là tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên, hơn hết là việc thực hiện các thủ tục, quy trình, hồ sơ công chứng và đặc biệt là sự quản lý của các cơ quan có thẩm quyền.
Nhà nước thực hiện quản lý đối với các tổ chức hành nghề công chứng thông qua việc ban hành thể chế, chính sách pháp luật về công chứng, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động công chứng để kịp thời phát hiện và xử lý đối với các hành vi vi phạm của các tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên, đảm bảo hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng diễn ra lành mạnh, đúng định hướng. Ý thức pháp luật của các chủ thể trong hoạt động thực hiện pháp luật về công chứng cũng chỉ có thể được nâng cao nếu nền kinh tế – xã hội được điều chỉnh bằng hệ thống các quy định pháp lý đầy đủ, rõ ràng cùng với đó là các chế tài tăng nặng tính răn đe. Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chứng tại Hà Nội.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật công chứng tại Hà Nội

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật công chứng tại Hà Nội