Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai – từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận tại Điều 30 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam năm 2013. Đây là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như là một phản ứng của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc thực hiện quyền khiếu nại là một hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, công chức nhà nước. Giải quyết khiếu nại (GQKN) là trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, giải quyết tốt khiếu nại của công dân nhằm phát huy dân chủ xã hội; góp phần đấu tranh chống quan liêu tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan nhà nước, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy kinh tế phát triển.

Trong quá trình xây dựng phát triển và bảo vệ đất nước, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác Giải quyết khiếu nại của công dân qua đó đã ban hành nhiều văn bản, pháp luật quy định về vấn đề này. Chính sách, pháp luật về Giải quyết khiếu nại ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khiếu nại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Trong những năm gần đây, tình hình khiếu nại có chiều hướng gia tăng, trong đó khiếu nại về đất đai luôn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số đơn thư khiếu nại đây là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội, đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đất đai là tài sản quý giá, vừa là tư liệu sản xuất vừa là điều kiện cần thiết trong đời sống xã hội ở nước ta, Theo Hiến pháp năm 2013, “người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ”. Người sử dụng đất (SDĐ) có các quyền chung như: được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình; được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm Quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai. Chính vì vậy lĩnh vực đất đai luôn là một lĩnh vực quan trọng phát sinh nhiều mâu thuẫn tranh chấp, khiếu nại, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến vấn đề thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng. Việc giải quyết các khiếu nại trong lĩnh vực này là hết sức khó khăn, phức tạp; không ít các vụ việc trở thành điểm nóng, dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người vượt cấp, gây mất ổn định chính trị, tình hình trật tự an toàn xã hội. Tính phức tạp của khiếu nại về đất đai không chỉ bắt nguồn từ những xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế, từ hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền, sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách mà còn do những hạn chế của hệ thống pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai.

Từ thực tiễn trên cần thiết phải có những nghiên cứu về thực trạng pháp luật Giải quyết khiếu nại để minh chứng làm căn cứ hoàn thiện hệ thống pháp luật về Giải quyết khiếu nại đất đai trên cơ sở đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân, tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết ngày càng tốt hơn các vụ khiếu nại về đất đai hiện nay trên địa bàn quản lý.

Vĩnh Phúc là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ của Thủ đô, gần sân bay quốc tế Nội Bài, là cầu nối giữa các tỉnh phía Tây Bắc với Hà Nội và đồng bằng châu thổ sông Hồng, do vậy có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế khu vực và quốc gia. Là địa phương đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, Vĩnh Phúc cũng có nhu cầu lớn về SDĐ làm cho giá trị Quyền sử dụng đất trên địa bàn cũng tăng lên nhanh chóng. Điều này đã dẫn đến một thực tế là khiếu nại về đất đai tại Vĩnh Phúc cũng đang diễn ra hết sức phức tạp, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ trên cơ sở pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai để tháo gỡ những vướng mắc cho người dân góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người Sử dụng đất.

Xuất phát từ bối cảnh đó tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai – từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài Luận văn cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp – Luật Hành chính, nhằm tìm kiếm những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai ở Việt Nam hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Pháp luật Giải quyết khiếu nại nói chung và pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Hiện nay đã có một số lượng lớn các bài viết, công trình nghiên cứu về Giải quyết khiếu nại và pháp luật Giải quyết khiếu nại, Giải quyết khiếu nại về đất đai, trong đó có một số công trình tiêu biểu sau:

  • Phạm Văn Long (2005), “Việc thực hiện thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan thanh tra nhà nước trong giải quyết khiếu nại hành chính”, Đề tài khoa học cấp Bộ;
  • Ngô Mạnh Toan (2005), “Xây dựng quy trình giải quyết khiếu nại hành chính“, Đề tài khoa học cấp cơ sở;
  • Nguyễn Tuấn Khanh (2008), “Việc áp dụng pháp luật để giải quyết khiếu nại về đất đai”, Tạp chí Thanh tra, số 5/2008;
  • Nguyễn Thị Lệ Hằng (2010), “Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai của Ủy ban nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh Khánh Hòa“, Luận văn Thạc sĩ hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia;
  • Phạm Anh Tuấn (2011), “Cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam hiện nay và vấn đề hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;
  • Viện khoa học thanh tra, Thanh tra Chính phủ (2012), Khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam hiện nay;
  • Đỗ Văn Tuấn (2013), “Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước, thực tiễn tại Tỉnh Hưng Yên“, Luận văn Thạc sĩ Hành chính công, Học viện Hành chính.
  • Trần Ngân Hà (2013), “Pháp luật về giải quyết khiếu nại tố cáo ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;
  • Doãn Hồng Nhung (2014), “Kỹ năng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;
  • Nguyễn Ngọc Phi (2015), “Giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc“, Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia;…

Nội dung nghiên cứu trong các công trình nói trên mới dừng lại ở mức độ chung nhất về Giải quyết khiếu nại hành chính và hoạt động Giải quyết khiếu nại về đất đai trên một số địa bàn. Tuy nhiên chưa nhiều công trình nghiên cứu cụ thể về pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai trực tiếp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1. Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai, đánh giá đúng thực trạng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai và thực tiễn thực hiện pháp luật trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, tìm ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp và khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai ở nước ta hiện nay. Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

3.2. Nhiệm vụ của luận văn

  • Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

Một là, nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai như: Khái niệm, đặc điểm của Giải quyết khiếu nại về đất đai; khái niệm, đặc điểm pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai, nội dung, vai trò của pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai.

Hai là, phân tích đánh giá thực trạng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai và thực trạng việc thực hiện pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, qua đó thấy được những ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân dẫn tới những hạn chế đó.

Ba là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định pháp luật thực định về Giải quyết khiếu nại đất đai và việc thực tiễn thực hiện các quy định đó trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai trước và sau khi Luật Giải quyết khiếu nại năm 2011 có hiệu lực, tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ 2011 đến nay.
  • Về không gian: Nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền khiếu nại của công dân và Giải quyết khiếu nại của công dân; chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về Giải quyết khiếu nại đất đai, về yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cơ sở lý luận nêu trên là nền tảng tư tưởng, lý luận để nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất ở Việt Nam hiện nay.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, lôgic, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, chú trọng việc thu thập các số liệu từ các báo cáo thực tế về Giải quyết khiếu nại đất đai ở trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

6. Những đóng góp mới của luận văn Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc nên có những đóng góp mới như sau:

  • Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai.

Làm rõ thực trạng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc qua việc phân tích, so sánh, đánh giá, rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, làm tiền đề đưa ra quan điểm và giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hoàn thiện pháp luật về Giải quyết khiếu nại nói riêng, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

  • Góp phần hệ thống, xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật Giải quyết khiếu nại đất đai.

Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu lập pháp và các nhà thực tiễn áp dụng pháp luật về Giải quyết khiếu nại đất đai trong việc thực hiện thẩm quyền quản lý và Sử dụng đất có hiệu quả; ngăn ngừa, hạn chế nguyên nhân gây nên khiếu nại về đất đai cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai.

8. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI

1.1 GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI

1.1.1. Khiếu nại đất đai Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Khiếu nại là một hiện tượng được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội. Khiếu nại được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau.

Dưới góc độ xã hội, khiếu nại là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội đó là sự phản ứng có tính tự nhiên của một người đối với hành vi của người khác khi họ cho rằng hành vi đó không phù hợp với quy tắc chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình. Về góc độ này khiếu nại phản ánh hiện tượng vi phạm những quy tắc của xã hội, của cộng đồng và xã hội cần phải có phương thức giải quyết.

Về góc độ chính trị – pháp lý, khiếu nại là quyền tự do, quyền dân chủ quan trọng của công dân được pháp luật quy định và được bảo đảm thực hiện bằng bộ máy nhà nước. Quyền khiếu nại được coi là “quyền để bảo vệ quyền”, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị hành vi của người khác xâm phạm, nghĩa là khiếu nại được sử dụng khi quyền chủ thể của bản thân công dân khiếu nại hoặc người do mình bảo hộ bị vi phạm do quyết định hoặc hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước hoặc nhân viên nhà nước. Ở đây khiếu nại được coi là phương tiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, phản ánh giá trị của nền dân chủ của một quốc gia.

Dưới góc độ khoa học luật học, khiếu nại được đặt trong mối quan hệ giữa một bên là Nhà nước và một bên là công dân. Vì vậy, khiếu nại được hiểu là việc công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Theo Luật Khiếu nại năm 2011, khiếu nại lại được định nghĩa là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Như vậy, khiếu nại được coi là quyền cơ bản của công dân, là một trong các hình thức để công dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của mình, thông qua việc khiếu nại mà công dân phản ánh ý chí, nguyện vọng của mình tới các cơ quan nhà nước để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và đấu tranh chống các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật, góp phần dân chủ, lành mạnh hóa các hoạt động của cơ quan thực thi quyền lực công.

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân. ở nước ta, mặc dù trải qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau từ việc công nhận các hình thức sở hữu đối với đất đai cho đến việc lựa chọn hình thức sở hữu toàn dân đối với đất đai hiện nay. Tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai” [39]. Người Sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến Sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai. Có thể thấy khiếu nại về đất đai là một dạng khiếu nại hành chính, chỉ việc khiếu nại của các chủ thể là người nhằm hướng tới lợi ích của họ trong lĩnh vực đất đai. Chủ thể khiếu nại đất đai rất đa dạng, là người Sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận Quyền sử dụng đất, nhận chuyển Quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Các chủ thể có quyền khiếu nại đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính đó xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Khiếu nại về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

  • Khiếu nại về đất đai có các đặc điểm sau: Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Đối tượng khiếu nại là các quyết định hành chính, hành vi hành chính đều liên quan tới quản lý đất đai của nhà nước mang tính đặc thù, bao gồm: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích Sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; quyết định về cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn Sử dụng đất;

Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc hành chính trong quản lý đất đai;

Việc Giải quyết khiếu nại, tranh chấp về đất đai liên quan đến thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau: Cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện chức năng quản lý đất đai, cơ quan tài chính quản lý chính sách tài chính về đất đai, cơ quan xây dựng quản lý về nhà ở; thanh tra và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp…

Phương thức giải quyết được thực hiện dưới nhiều phương diện khác nhau thông qua mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội.

1.1.2. Giải quyết khiếu nại về đất đai

Giải quyết khiếu nại được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng các hoạt động thẩm tra, xác minh, kết luận và ra quyết định Giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan có thẩm quyền ban hành khi có căn cứ cho rằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

Tại Điều 2, Khoản 11 Luật Khiếu nại năm 2011 thì giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại. Ở đây có thể thấy Giải quyết khiếu nại bao gồm các công việc: Xác minh để làm rõ các tình tiết sự việc; kết luận về nội dung khiếu nại, trong đó xác định rõ khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ; căn cứ vào quy định của pháp luật xử lý từng vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại từ đó quyết định giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính bị khiếu nại, chấm dứt quyết định hành chính, bị khiếu nại; quyết định việc bồi thường thiệt hại cho người khiếu nại (nếu có) hoặc giải quyết các vấn đề cụ thể khác trong nội dung khiếu nại. Yêu cầu của việc Giải quyết khiếu nại là phải tuân theo đúng quy định của pháp luật; tức là phải đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết; trong đó việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền là vấn đề rất quan trọng. Tại Khoản 2 Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 quy định về trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

Các “quyết định hành chính về đất đai”, “hành vi hành chính về đất đai” nêu trên của cơ quan hành chính nhà nước vừa là đối tượng vừa là khách thể của quản lý hành chính nhà nước. Khi ban hành các quyết định cũng như hành vi hành chính của người có thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền không phù hợp với các quy định của pháp luật về đất đai, làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của công dân thì việc công dân có thể phản ứng lại những quyết định này nhằm yêu cầu người ra quyết định hoặc có hành vi không đúng xem xét và sửa đổi cho phù hợp. Chính vì vậy, Giải quyết khiếu nại từ phương diện pháp lý nêu trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm trong việc tiến hành thẩm tra, xác minh (thông qua các hoạt động tác nghiệp) để xác định rõ bản chất sự việc, nội dung khiếu nại kết luận về tính đúng sai của sự việc, yêu cầu của người khiếu nại, từ đó đề xuất với thủ trưởng hướng Giải quyết khiếu nại. Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Việc Giải quyết khiếu nại về đất đai hình thành trên cơ sở phát sinh từ việc yêu cầu thực hiện quyền khiếu nại của công dân. Công dân có quyền yêu cầu từ phía nhà nước cụ thể từ các cơ quan, người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại về đất đai giải quyết theo trình tự việc khiếu nại. Tuy nhiên, việc phân định thẩm quyền Giải quyết khiếu nại về đất đai căn cứ vào nội dung, tính chất vụ việc khiếu nại.

Theo đó khái niệm Giải quyết khiếu nại về đất đai được hiểu là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý và sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền.

Bản chất việc Giải quyết khiếu nại về đất đai là một hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Do đó đòi hỏi hoạt động này phải tuân thủ theo những nguyên tắc và trình tự thủ tục nhất định nhằm đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai. Giải quyết khiếu nại về đất đai là một hình thức Giải quyết khiếu nại nói chung vì vậy, Giải quyết khiếu nại về đất đai mang các đặc điểm của Giải quyết khiếu nại đó là:

Thứ nhất, Giải quyết khiếu nại về đất đai là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Tính quyền lực nhà nước thể hiện qua hoạt động xem xét, đánh giá, giải quyết theo trình tự thủ tục của người có thẩm quyền như thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước (Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về đất đai như cơ quan tài nguyên môi trường các cấp, cơ quan thanh tra nhà nước…) về tính đúng sai, tính hợp pháp, hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai. Mặt khác, kết quả Giải quyết khiếu nại về đất đai là quyết định bằng văn bản, khi quyết định có hiệu lực buộc các chủ thể có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành, trong một số trường hợp được Nhà nước bảo đảm bằng biện pháp cưỡng chế.

Thứ hai, Giải quyết khiếu nại về đất đai phải tuân theo những hình thức, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Trình tự thủ tục phải công khai, dân chủ, bảo đảm đúng thẩm quyền. Khiếu nại cấp dưới do cơ quan cấp trên giải quyết và đến một cấp nhất định thì chấm dứt việc giải quyết, nếu người khiếu nại không đồng ý thì vụ việc được đưa ra tòa án để giải quyết. Giải quyết khiếu nại về đất đai bao gồm Giải quyết khiếu nại lần đầu và Giải quyết khiếu nại lần hai. Đây là điểm khác biệt so với giải quyết tố cáo. Giải quyết tố cáo được phân theo luồng, đồng thời không có điểm dừng, trường hợp giải quyết không đúng, người dân tố cáo tiếp thì cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết tiếp.

Thứ ba, Giải quyết khiếu nại về đất đai mang tính cá biệt, cụ thể. Việc Giải quyết khiếu nại về đất đai được thực hiện đối với từng trường hợp cụ thể. Quyết định về kết quả Giải quyết khiếu nại được áp dụng cho từng đối tượng được xác định trong văn bản và có hiệu lực ngay sau đó. Việc thực hiện và áp dụng nó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với các chủ thể khác.

Thứ tư, Giải quyết khiếu nại về đất đai phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định bao gồm nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc khách quan, nguyên tắc công khai minh bạch, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc kịp thời, nguyên tắc đối thoại. Các nguyên tắc cơ bản là những định hướng, những tư tưởng xuyên suốt trong quá trình Giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Những tư tưởng đó phải trên cơ sở định hướng của Đảng, của Nhà nước về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, về tính công bằng của pháp luật, về tính công khai minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước, về tính dân chủ nhân dân.

1.2 PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai

Khi các chủ thể thực hiện quyền khiếu nại thì giữa họ với cơ quan nhà nước sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật khiếu nại. Khi có khiếu nại phát sinh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có trách nhiệm xem xét giải quyết để thực hiện đúng chức năng và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Trong quá trình Giải quyết khiếu nại, cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền không chỉ xem xét tính hợp lý của các quyết định, hành vi hành chính đó. Từ đó đưa ra các giải pháp để khắc phục, xử lý phù hợp để có thể chấn chỉnh những sai phạm xảy ra, cũng như dự báo được các tình huống có thể xảy đến trong tương lai.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ về Giải quyết khiếu nại. Có thể hiểu pháp luật là công cụ hữu hiệu trong hoạt động quản lý nhà nước. Vai trò điều chỉnh đó chủ yếu được thể hiện thông qua việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật cụ thể nhằm điều chỉnh từng nhóm các quan hệ xã hội.

Nhóm quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật về đất đai tạo thành nhóm quan hệ pháp luật về đất đai bao gồm nhiều quy định pháp luật như nội dung khiếu nại đất đai, trình tự thủ tục Giải quyết khiếu nại đất đai… Quan hệ pháp luật về đất đai được hình thành trên các yếu tố cấu thành gồm chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai, khách thể quan hệ pháp luật đất đai và nội dung quan hệ pháp luật đất đai. Trong đó chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai là các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ.

  • Pháp luật quy định về chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai gồm có

Nhà nước và người Sử dụng đất. Nhà nước tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Nhà nước tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai thông qua hoạt động thực hiện nhiệm vụ quyền hạn được pháp luật quy định như ban hành các quyết định hành chính về đất đai, hành vi hành chính về đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mối quan hệ này rất dễ xảy ra tranh chấp bởi một bên mang tính quyền lực nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình. Chủ thể Sử dụng đất là người đang thực tế chiếm hữu đất đai do Nhà nước giao, cho thuê, cho phép nhận Quyền sử dụng đất hoặc được Nhà nước công nhận Quyền sử dụng đất. Các chủ thể Sử dụng đất này gồm các tổ chức trong nước; cá nhân, hộ gia đình trong nước; cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, các chủ thể này có thể không đồng ý với những nội dung quyết định hành chính về đất đai hoặc hành vi hành chính về đất đai của người có thẩm quyền, từ đó phát sinh hoạt động khiếu nại về đất đai và hoạt động Giải quyết khiếu nại về đất đai.

Về nội dung của quan hệ pháp luật đất đai là tổng thể quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai. Các quyền hạn, nghĩa vụ này được pháp luật quy định và bảo vệ trong đó có quyền và nghĩa vụ về khiếu nại của các chủ thể, quyền được yêu cầu Giải quyết khiếu nại và nghĩa vụ Giải quyết khiếu nại của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền.Khách thể của quan hệ pháp luật đất đai là đối tượng mà các chủ thể nhằm hướng tới, đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.

Có thể thấy khiếu nại về đất đai là một dạng khiếu nại hành chính, chỉ việc khiếu nại của các chủ thể là người nhằm hướng tới lợi ích của họ cho rằng bị vi phạm trong lĩnh vực đất đai và yêu cầu cần có sự giải quyết từ cơ quan có thẩm quyền. Khi có khiếu nại về đất đai phát sinh trong quá trình cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành, quản lý hành chính nhà nước về đất đai, khi đó cơ quan hành chính nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết những vấn đề phát sinh do chính hoạt động quản lý của mình gây ra. Khi phát hiện khiếu nại về đất đai cơ quan hành chính nhà nước có nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá, kết luận, phán quyết về phương diện pháp lý của các quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai bị khiếu nại. Đáng chú ý là trong quá trình Giải quyết khiếu nại cơ quan hành chính nhà nước phải căn cứ vào pháp luật để xem xét tính hợp lý, cân nhắc tình hình thực tiễn nơi xảy ra vụ việc và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đất đai để giải quyết.

Như vậy, việc Giải quyết khiếu nại đất đai được hình thành trên cơ sở các quy định pháp luật về Giải quyết khiếu nại hành chính nói chung và pháp luật về Giải quyết khiếu nại về đất đai nói riêng bao gồm: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh về nguyên tắc giải quyết, chủ thể có thẩm quyền giải quyết, trình tự thủ tục giải quyết, nội dung của việc giải quyết, mối quan hệ phối hợp trong việc giải quyết… Các quy phạm này đều mang tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu cho mọi chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật khiếu nại về đất đai. Các quy phạm này được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau như: Luật Đất đai, Luật Khiếu nại,… và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Từ những phân tích trên ta thấy pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai được cấu thành bởi rất nhiều nhóm quy phạm tuy nhiên có thể khái quát thành hai nhóm chính: Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Một là, nhóm quy phạm điều chỉnh về quyền chủ thể có thẩm quyền trong việc Giải quyết khiếu nại về đất đai. Cụ thể về thẩm quyền Giải quyết khiếu nại đất đai của các cơ quan quản lý hành chính.

Hai là, nhóm quy phạm điều chỉnh về nội dung, trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại về đất đai. Ví dụ như hiệu lực Giải quyết khiếu nại, trình tự khiếu nại.

Tóm lại có thể đưa ra quan niệm: Pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai là bộ phận của pháp luật về Giải quyết khiếu nại hành chính bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền với chủ thể khiếu nại, như bao gồm các nhóm quy định về thẩm quyền Giải quyết khiếu nại về đất đai; quy định về nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại về đất đai.

Xuất phát từ quan niệm như trên có thể nhận thấy pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai có các đặc điểm sau:

  • Thứ nhất, pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai là bộ phận hợp thành của pháp luật Giải quyết khiếu nại hành chính.

Pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai vừa thỏa mãn một số đặc điểm của pháp luật Giải quyết khiếu nại hành chính nói chung, vừa mang nét đặc thù của pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai thể hiện trong các quy định về nguyên tắc Giải quyết khiếu nại như nguyên tắc pháp chế trong việc tuân thủ hình thức và trình tự thủ tục Giải quyết khiếu nại về đất đai hay nguyên tắc khách quan xuất phát từ sự vận động khách quan của đời sống xã hội, từ quyền con người được thừa nhận và bảo đảm. Nguyên tắc đối thoại, nguyên tắc công khai minh bạch, nguyên tắc kịp thời… xuất phát từ quyền tự nhiên, quyền dân chủ và nguyên tắc này hình thành nhằm nâng cao chất lượng Giải quyết khiếu nại… và còn thể hiện trong các quy định về thẩm quyền giải quyết và trình tự thủ tục tiến hành việc Giải quyết khiếu nại về đất đai.

  • Thứ hai, pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai vừa mang tính quy phạm hành chính, quy phạm thủ tục và quy phạm chuyên môn.

Tính quy phạm hành chính được thể hiện chủ yếu trong các quy định về thẩm quyền giải quyết mang tính thứ bậc, về mối quan hệ quản lý, mối quan hệ phối hợp trong việc giải quyết giữa cơ quan có thẩm quyền với các cơ quan khác có liên quan.

Tính quy phạm thủ tục thể hiện trong các quy định về hình thức, trình tự, thủ tục giải quyết như thời hạn,thời hiệu, khiếu nại lần một và khiếu nại lần hai. Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Tính quy phạm chuyên môn thể hiện qua tính chất chuyên sâu của nội dung quản lý nhà nước về đất đai như: Ban hành văn bản quản lý, Sử dụng đất và tổ chức thực hiện văn bản đó; xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng Sử dụng đất và bản đồ quy hoạch Sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất; quản lý quy hoạch, kế hoạch Sử dụng đất; quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích Sử dụng đất; quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; thống kê, kiểm kê đất đai; xây dựng hệ thống thông tin đất đai; quản lý tài chính về đất đai và giá đất; quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người Sử dụng đất; thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; Giải quyết khiếu nại trong quản lý và Sử dụng đất; quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.

  • Thứ ba, nguồn pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai được ghi nhận trong nhiều văn bản có hiệu lực khác nhau

Hoạt động Giải quyết khiếu nại về đất đai là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền. Khi có khiếu nại phát sinh trong quá trình cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành, quản lý hành chính nhà nước, thực hiện quyền hành pháp thì cơ quan hành chính nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết những vấn đề phát sinh do chính hoạt động quản lý của mình gây ra. Khi quyền khiếu nại hành chính của công dân được hình thành, khi đó cơ quan hành chính nhà nước có nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá, kết luận, phán quyết về phương diện pháp lý của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại. Đáng chú ý là trong quá trình Giải quyết khiếu nại hành chính cơ quan hành chính nhà nước phải căn cứ vào pháp luật, xem xét tính hợp lý, cân nhắc tình hình thực tiễn nơi xảy ra vụ việc và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước để giải quyết.

Chính vì vậy hoạt động Giải quyết khiếu nại về đất đai được quy định trực tiếp trong rất nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý cao như Hiến pháp, các đạo luật: Luật đất đai năm 2013, Luật khiếu nại năm 2011, Luật tổ chức và hoạt động chính quyền địa phương năm năm 2015, Luật cán bộ công chức năm 2010… và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Thứ tư, đối tượng điều chỉnh của pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai là các quan hệ giữa một bên là người khiếu nại với một bên là cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại trên cơ sở khiếu nại về quyết định hành chính và hành vi hành chính về đất đai.

Khiếu nại về đất đai là một dạng khiếu nại hành chính, đây là quyền cơ bản của công dân, nó là nhu cầu tất yếu của thực tiễn đời sống, trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai; công dân có thể tự định đoạt quyền khiếu nại của mình đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm yêu cầu họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình về đất đai; đến lượt các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nghiên cứu, giải quyết theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Thực hiện việc Giải quyết khiếu nại về đất đai trên cơ sở đối tượng của khiếu nại là các quyết định hành chính về đất đai bao gồm các quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích Sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn Sử dụng đất… Và hành vi hành chính về quản lý đất đai là hành vi của cán bộ, công chức Nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi trách nhiệm trong việc ban hành, thực hiện quyết định hành chính.

1.2.2. Nội dung pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

1.2.2.1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai

Thẩm quyền Giải quyết khiếu nại là nội dung quan trọng của pháp luật khiếu nại vì nó xác định ai là người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại và giải quyết đối với những loại khiếu nại nào. Việc quy định thẩm quyền Giải quyết khiếu nại một cách rành mạch và khoa học sẽ giúp tránh việc đùn đẩy, thiếu trách nhiệm trong Giải quyết khiếu nại, đồng thời tránh được sự chồng chéo, tạo thuận lợi cho cả người dân và cơ quan nhà nước có thẩm quyền qua đó nâng cao hiệu quả công tác Giải quyết khiếu nại hành chính. Nghiên cứu quy định pháp luật về khiếu nại từ trước tới nay cho thấy thẩm quyền Giải quyết khiếu nại hành chính được quy định khác nhau qua các giai đoạn, thậm chí trong một số thời điểm, người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước cũng có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại.

Việc xác định thẩm quyền Giải quyết khiếu nại trước hết phải bảo đảm các yêu cầu của việc khiếu nại và Giải quyết khiếu nại hành chính, đồng thời phải phù hợp với nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước ta, phù hợp với quy định về phân cấp trong quản lý nhà nước và đặc biệt là phải bảo đảm tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả của việc Giải quyết khiếu nại. Việc xác định thẩm quyền trong Luật khiếu nại cũng phải xác định được trách nhiệm của nền hành chính trong việc xử lý vướng mắc phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tức là việc Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trước hết phải do người có quyết định, hành vi đó xem xét, xử lý (trong trường hợp người khiếu nại lựa chọn con đường giải quyết tại các cơ quan hành chính nhà nước), đồng thời đảm bảo quyền tự do, dân chủ trong việc thực hiện quyền khiếu nại của công dân.

Luật khiếu nại không quy định trực tiếp về nguyên tắc xác định thẩm quyền Giải quyết khiếu nại, tuy nhiên căn cứ vào các quy định về thẩm quyền giải quyết, có thể khái quát nguyên tắc xác định thẩm quyền như sau:

  • Người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu là người đã ra quyết định hành chính bị khiếu nại hoặc người đứng đầu cơ quan có hành vi hành chính bị khiếu nại.
  • Người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần hai là Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu.

Thẩm quyền Giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước

  • Thẩm quyền Giải quyết khiếu nại được quy định từ Điều 17 đến Điều 26 Luật khiếu nại năm 2011, cụ thể như sau:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp. Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

Giám đốc sở và cấp tương đương có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền Giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.

Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

Bộ trưởng có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nội dung thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của bộ, ngành đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền Giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.

Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác Giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; xử lý các kiến nghị của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật khiếu nại; chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm quyền Giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

  • Thẩm quyền của cơ quan thanh tra trong Giải quyết khiếu nại

Theo quy định của Luật khiếu nại, trách nhiệm Giải quyết khiếu nại thuộc về thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn công tác Giải quyết khiếu nại cho thấy, nội dung vụ việc thường rất đa dạng và phức tạp, cần phải có quá trình thẩm tra, xác minh trước khi đưa ra quyết định giải quyết. Các cơ quan thanh tra đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Điều 25 Luật khiếu nại quy định Chánh thanh tra các cấp có trách nhiệm:

Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc Giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao.

Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong việc tiếp công dân, Giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định Giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm.

  • Điều 24 Luật khiếu nại quy định Tổng Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền:

Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, Giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định Giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm.

1.2.2.2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại

Trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại là các bước để giải quyết một khiếu nại hành chính, được sắp xếp theo một nguyên tắc nhất định nhằm bảo đảm việc Giải quyết khiếu nại khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời. Trong trường hợp người khiếu nại không khởi kiện vụ việc ra Tòa án hành chính mà lựa chọn khiếu nại theo con đường hành chính, việc Giải quyết khiếu nại tại các cơ quan hành chính được thực hiện qua hai cấp, cụ thể như sau:

Trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại lần đầu:

  • Thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Nghiên cứu và xem xét thụ lý khiếu nại: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật khiếu nại, người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết.

Đối với trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung và cử người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì thụ lý khi trong đơn khiếu nại có đầy đủ chữ ký của những người khiếu nại và có văn bản cử người đại diện.

Thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý khiếu nại: Trường hợp khiếu nại được thụ lý giải quyết, người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại phải thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết. Đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thì văn bản thông báo việc thụ lý được gửi cho người khiếu nại. Đối với trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung và cử người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì văn bản thông báo việc thụ lý được gửi đến người đại diện. Như vậy, trách nhiệm thông báo này được mở rộng hơn so với quy định của Luật khiếu nại trước đây.

Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo cho người khiếu nại. Thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý khiếu nại được thực hiện theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ Quy định quy trình Giải quyết khiếu nại hành chính.

Như vậy, quy định về việc thụ lý Giải quyết khiếu nại lần đầu về cơ bản kế thừa quy định của Luật khiếu nại trước đây. Ngoại trừ các trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết theo quy định của Luật, còn lại người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu phải có trách nhiệm thụ lý giải quyết.

  • Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu

Điều 28 Luật khiếu nại quy định: Thời hạn Giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn Giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

  • Xác minh nội dung khiếu nại lần đầu Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Xác minh nội dung khiếu nại là một khâu rất quan trọng trong trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại, giúp làm sáng tỏ những nội dung còn khúc mắc làm phát sinh khiếu nại và là cơ sở quan trọng để kết luận về nội dung khiếu nại.

  • Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu

Đối thoại được coi là một giai đoạn quan trọng trong Giải quyết khiếu nại, thể hiện tinh thần công khai, dân chủ trong quá trình Giải quyết khiếu nại, là cơ hội để người Giải quyết khiếu nại trực tiếp lắng nghe ý kiến của các bên liên quan (người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan) để làm rõ nội dung khiếu nại và những vấn đề còn khúc mắc mà có thể qua xác minh chưa phản ánh hết, từ đó có căn cứ và cơ sở giải quyết vụ việc. Quy định về đối thoại trong Giải quyết khiếu nại lần đầu của Luật khiếu nại cũng có điểm khác so với Luật khiếu nại trước đây. Nếu Luật khiếu nại trước đây quy định việc gặp gỡ, đối thoại trong Giải quyết khiếu nại lần đầu là yêu cầu bắt buộc thì Luật khiếu nại hiện nay quy định trong Giải quyết khiếu nại lần đầu, chỉ tổ chức đối thoại nếu yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau (trừ trường hợp, đối với quá trình Giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, người Giải quyết khiếu nại lần đầu, lần hai bắt buộc phải tổ chức đối thoại – Điểm b Khoản 1 Điều 21 Thông tư 07/2013/TT-TTCP). Quy định này nhằm đơn giản hóa về thủ tục và tiết kiệm thời gian, công sức cho người Giải quyết khiếu nại và các bên có liên quan, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu của việc Giải quyết khiếu nại.

  • đ) Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu

Căn cứ quy định của pháp luật, kết quả xác minh nội dung khiếu nại, kết quả đối thoại (nếu có), người Giải quyết khiếu nại ban hành quyết định Giải quyết khiếu nại.

Nội dung của quyết định Giải quyết khiếu nại lần đầu: Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; kết quả đối thoại nếu có; căn cứ pháp luật để Giải quyết khiếu nại; kết luận nội dung khiếu nại; giữ nguyên, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại; việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại nếu có; quyền khiếu nại lần hai, quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

Đối với trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì người có thẩm quyền giải quyết phải xem xét, kết luận nội dung khiếu nại và căn cứ vào kết luận đó để ra quyết định Giải quyết khiếu nại cho từng người hoặc ra quyết định Giải quyết khiếu nại kèm theo danh sách những người khiếu nại. Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Việc gửi quyết định Giải quyết khiếu nại lần đầu: Sau khi ban hành quyết định Giải quyết khiếu nại, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định Giải quyết khiếu nại, người Giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm gửi quyết định Giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người Giải quyết khiếu nại hoặc người có thẩm quyền, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp.

  • Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính

Sau cấp Giải quyết khiếu nại lần đầu, người khiếu nại có hai sự lựa chọn: hoặc khiếu nại tiếp lần hai đến thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người đã Giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Cụ thể, Điều 33 Luật khiếu nại quy định như sau:

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 của Luật này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

Trường hợp khiếu nại lần hai thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, các tài liệu có liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

Hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 của Luật này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính [37].

  • Hồ sơ giải quyết khiếu nại lần đầu

Theo quy định tại Điều 34 Luật khiếu nại thì việc Giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ Giải quyết khiếu nại bao gồm các tài liệu như: đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại; tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp; quyết định Giải quyết khiếu nại; biên bản kiểm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định, biên bản tổ chức đối thoại nếu có và các tài liệu khác có liên quan. Quá trình lập hồ sơ GQKN, cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và phải lưu giữ hồ sơ theo quy định của pháp luật. Trường hợp người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án thì hồ sơ đó phải được chuyển cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi có yêu cầu.

  • Trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại lần hai

Một trong những điểm mới của Luật khiếu nại năm 2011 so với Luật khiếu nại trước đây là quy định cụ thể và tách bạch thủ tục Giải quyết khiếu nại lần đầu với thủ tục giải quyết lần hai. Việc quy định như vậy nhằm bảo đảm sự phân định rõ ràng, rành mạnh giữa hai cấp Giải quyết khiếu nại, tạo thuận lợi cho cả người khiếu nại lẫn người Giải quyết khiếu nại. Việc phân định rõ ràng này cũng tạo điều kiện cho việc xác định trách nhiệm rõ ràng giữa các cấp trong Giải quyết khiếu nại. Trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại lần hai được quy định cụ thể như sau: Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

  • Thụ lý giải quyết khiếu nại lần hai

Về cơ bản, quy định về việc thụ lý Giải quyết khiếu nại lần hai cũng tương tự như thụ lý Giải quyết khiếu nại lần đầu. Điều 36 Luật khiếu nại quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 11 của Luật khiếu nại, người Giải quyết khiếu nại lần hai phải thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết; trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do. Đối với vụ việc khiếu nại phức tạp, nếu thấy cần thiết, người Giải quyết khiếu nại thành lập Hội đồng tư vấn để tham khảo ý kiến Giải quyết khiếu nại.

  • Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai

Theo quy định tại Điều 37 của Luật khiếu nại thì thời hạn Giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn Giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó khăn thì thời hạn Giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn Giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý. Như vậy, thời hạn Giải quyết khiếu nại lần hai vẫn được quy định như Luật khiếu nại năm 1998 được sửa đổi bổ sung vào các năm 2004 và năm 2005.

  • Xác minh nội dung khiếu nại lần hai

Tương tự như việc xác minh trong giải quyết lần đầu, Luật khiếu nại quy định cụ thể về việc xác minh nội dung khiếu nại lần hai nhằm tạo cơ sở pháp lý để thực hiện hoạt động này. Theo quy định tại Điều 38 của Luật khiếu nại thì căn cứ vào nội dung, tính chất của việc khiếu nại, người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần hai tự mình tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại hoặc giao cho người có trách nhiệm xác minh nội dung khiếu nại và kiến nghị giải quyết. Việc xác minh trong quá trình Giải quyết khiếu nại lần hai được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và khoản 4 của Điều 29 Luật khiếu nại.

  • Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần hai

Điều 39 Luật khiếu nại quy định trong quá trình Giải quyết khiếu nại lần hai, người Giải quyết khiếu nại tiến hành đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, hướng Giải quyết khiếu nại. Việc tổ chức đối thoại lần hai thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật khiếu nại, tức là tương tự như việc đối thoại trong Giải quyết khiếu nại lần đầu.

  • đ) Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

Điều 40 Luật khiếu nại quy định quyết định Giải quyết khiếu nại lần đầu phải có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả Giải quyết khiếu nại của người Giải quyết khiếu nại lần đầu; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; kết quả đối thoại; căn cứ pháp luật để Giải quyết khiếu nại; kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ. Trường hợp khiếu nại là đúng hoặc đúng một phần thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại. Trường hợp kết luận nội dung khiếu nại là sai toàn bộ thì yêu cầu người khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan thực hiện nghiêm chỉnh quyết định hành chính, hành vi hành chính; việc bồi thường cho người bị thiệt hại nếu có và quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

  • Gửi và công khai quyết định giải quyết khiếu nại

Việc gửi quyết định Giải quyết khiếu nại: Tương tự như Giải quyết khiếu nại lần đầu, người Giải quyết khiếu nại lần hai có trách nhiệm gửi quyết định Giải quyết khiếu nại cho các đối tượng có liên quan. Khoản 1 Điều 41 Luật khiếu nại quy định trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết định Giải quyết khiếu nại, người Giải quyết khiếu nại lần hai phải gửi quyết định Giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người Giải quyết khiếu nại lần đầu, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến.

Việc công khai quyết định Giải quyết khiếu nại: Công khai quyết định Giải quyết khiếu nại là nội dung mới của Luật khiếu nại, tuy nhiên trên thực tế thì nội dung này đã được quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng.

1.2.3. Vai trò của pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

1.2.3.1. Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Trong quá trình quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước về đất đai nói riêng, các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan đó không tránh khỏi việc ban hành các quyết định hay có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Để tránh hậu quả đó, pháp luật quy định cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi hành chính nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Giải quyết khiếu nại là thực hiện sự bảo đảm của nhà nước đối với quyền khiếu nại của công dân, cơ quan, tổ chức được Hiến pháp ghi nhận, là một hình thức biểu hiện của dân chủ trực tiếp, dân chủ Xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống lại các việc làm trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Về phía các cơ quan nhà nước, thông qua việc khiếu nại của người Sử dụng đất các cơ quan nhà nước biết được một hành vi sai phạm có thể xảy ra trên thực tế hoặc một quyết định không đúng đã được ban hành để trên cơ sở đó và các quy định của pháp luật, các cơ quan nhà nước sẽ tiến hành xem xét lại hành vi hoặc quyết định bị khiếu nại. Áp dụng pháp luật giải quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại của người Sử dụng đất gắn liền với việc khôi phục kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

1.2.3.2. Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước

Mục đích của Giải quyết khiếu nại chính là nhằm đảm bảo cho các quy định pháp luật liên quan đến các quyền, lợi ích của cơ quan, tổ chức, công dân được thực hiện nghiêm chỉnh. Thông qua Giải quyết khiếu nại về đất đai, Đảng và Nhà nước ta phát hiện ra những bất hợp lý của chính sách, pháp luật đất đai, kiểm tra được tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật đất đai đã ban hành, từ đó có cơ sở nghiên cứu để kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp trước đòi hỏi, yêu cầu của thực tiễn nhằm hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước. Ngoài ra, qua hoạt động áp dụng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai còn là phương thức bảo đảm sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động quản lý nhà nước về đất đai và hoạt động của cán bộ, công chức nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình. Thông thường thì cơ quan nhà nước, công chức nhà nước chỉ thấy công việc một chiều từ trên xuống nên có hạn chế là không thấy hết những sai sót, khuyết điểm, bất hợp lý trong quản lý mà chỉ ở góc độ người Sử dụng đất mới thấy được. Tính giám sát biểu hiện qua khiếu nại, người Sử dụng đất đã chuyển cho Nhà nước những thông tin, phát hiện việc làm vi phạm pháp luật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người Sử dụng đất để trên cơ sở đó Nhà nước kiểm tra lại hoạt động của các cơ quan, hành vi của công chức. Như vậy, thông qua khiếu nại và áp dụng pháp luật Giải quyết khiếu nại đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước. Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

1.2.3.3. Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, củng cố mối quan hệ, lòng tin giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước

Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” [38]. Thể chế hóa quan điểm trên, nhiều văn bản pháp luật đã quy định những quyền năng cụ thể của nhân dân, trong đó có quyền khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính. Thông qua khiếu nại và áp dụng pháp luật Giải quyết khiếu nại nói chung, áp dụng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai nói riêng, người Sử dụng đất gián tiếp giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có hoạt động của các cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan đó. Thông qua các khiếu nại, cơ quan nhà nước có được thông tin làm căn cứ để sửa đổi, bổ sung kịp thời các quyết định, hành vi hành chính sai phạm, cải tiến và đổi mới hoạt động, làm cho hoạt động của các cơ quan đó đúng chính sách, pháp luật, phù hợp với các quyền, lợi ích của người Sử dụng đất. Như vậy, khiếu nại và áp dụng pháp luật trong Giải quyết khiếu nại về đất đai là phương thức cơ bản để người Sử dụng đất thực hiện quyền làm chủ, đồng thời giúp nhà nước kiểm tra, giám sát và thực hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người Sử dụng đất. Giải quyết khiếu nại về đất đai là một hình thức biểu hiện trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước mà họ thiết lập nên. Nếu các khiếu nại được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết, kịp thời, thỏa đáng thì người khiếu nại sẽ cảm thấy Nhà nước tôn trọng, lắng nghe ý kiến của dân, quan tâm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của dân, tự họ thấy Nhà nước gần gũi, gắn bó với dân, lo cho dân và Nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân. Cũng thông qua đó Nhà nước thấy được năng lực, trình độ và phẩm chất đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ để có hình thức động viên khen thưởng kịp thời các cán bộ, công chức có thành tích, đồng thời xử lý nghiêm những hành vi sai phạm, tiêu cực của cán bộ, công chức góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước ngày càng gắn bó bền chặt.

1.2.3.4. Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai có vai trò quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

“Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác” [18, tr. 312]. Khiếu nại và Giải quyết khiếu nại về đất đai là một trong nhiều phương thức nhằm đảm bảo các quyết định, hành vi hành chính phải được ban hành đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và nội dung, không xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân. Thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại và áp dụng pháp luật trong Giải quyết khiếu nại các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân đã bị xâm phạm sẽ được khôi phục. Ngoài ra việc thực hiện quyền khiếu nại và áp dụng pháp luật trong Giải quyết khiếu nại giúp cho hoạt động quản lý điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước có hiệu quả, các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật được sửa đổi hoặc bãi bỏ, các vi phạm trong việc ban hành và áp dụng pháp luật được xử lý kịp thời, từ đó phòng ngừa các vi phạm pháp luật xảy ra từ phía những người thực thi công vụ. Như vậy, áp dụng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai có vai trò quan trọng trong tăng cường pháp chế. Bên cạnh đó, việc xem xét Giải quyết khiếu nại về đất đai là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai và là những biện pháp để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội. Thông qua việc áp dụng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai mà các quan hệ đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người Sử dụng đất, giáo dục ý thức pháp luật cho công dân để ngăn ngừa vi phạm pháp luật khác có thể xảy ra. Với mục đích như vậy thì việc áp dụng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai là tìm ra giải pháp đúng đắn nhằm giải quyết những kiến nghị của nhân dân, trên cơ sở đó phục hồi các quyền, lợi ích hợp pháp cho người khiếu nại. Đó cũng là công việc có ý nghĩa quan trọng để tăng cường pháp chế trong lĩnh vực quản lý và Sử dụng đất. Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai

One thought on “Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464