Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở TỈNH TUYÊN QUANG
2.1.1. Thực trạng và nguyên nhân bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang
2.1.1.1. Thực trạng bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang
Theo số liệu “Báo cáo Sơ kết 8 năm thực hiện Kế hoạch hành động phòng chống bạo lực gia đình giai đoạn 2008- 2015” của Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, toàn tỉnh đã xảy ra 1.539 vụ bạo lực gia đình. Số vụ bạo lực có sự thay đổi qua các năm và được thể hiện cụ thể qua biểu đồ sau đây:
- Bảng 2.1. Số vụ BLGĐ tại Tuyên Quang từ năm 2009 đến 2015 (Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Tỉnh Tuyên Quang [32])
Theo biểu đồ trên đây, có thể thấy sau 2 năm thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình, tình hình bạo lực gia đình tại Tuyên Quang vẫn có xu hướng gia tăng thể hiện qua số vụ bạo lực năm 2009: 268 vụ, năm 2010: 316 vụ. Tuy nhiên từ năm 2011 tới nay, tình trạng bạo lực gia đình đã cơ bản được kiềm chế, thể hiện qua sự giảm dần về số lượng các vụ bạo lực, cho đến năm 2015 thì chỉ còn 156 vụ việc. Điều này đã cho thấy sự quyết tâm vào cuộc ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình của chính quyền tỉnh Tuyên Quang và cũng là minh chứng cho tính hiệu quả của Luật phòng, chống bạo lực gia đình khi triển khai vào thực tế của địa phương.
Nhìn chung, tình hình bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang được đánh giá qua những vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất, bạo lực giữa vợ và chồng
Bạo lực giữa vợ và chồng là hình thức bạo lực được coi là phổ biến nhất trong gia đình, trong đó bạo lực do người chồng gây ra chủ yếu và lớn nhất là bạo lực về thể chất – hình thức bạo lực dễ nhận thấy nhất và bị lên án mạnh mẽ nhất. Thực tế bạo lực của người chồng đối với người vợ xuất phát từ các yếu tố đã phân tích ở trên, song đa số họ không nhận thức được rằng hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Mặc dù vậy, không phải tất cả hành vi bạo lực của người chồng đều là bạo lực về thể chất mà có những lúc, họ dùng tới nhiều cách khác để gây ra những tổn thương về tâm lý cho người vợ: mắng mỏ, chửi bới, xúc phạm,… hoặc có những hành vi cưỡng bức về tình dục, kiểm soát về kinh tế… Tuy nhiên, trong xã hội ngày này, hiện tượng người vợ sử dụng bạo lực với chồng cũng đã xảy ra, nhiều người vợ không chỉ dừng lại ở những lời lẽ chua ngoa, cay nghiệt, những cách xử sự thô bạo mà có trường hợp còn trực tiếp gây ra những tổn thương về thể chất cho chồng.
Bạo lực gia đình giữa vợ và chồng còn là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hôn nhân gia đình tan vỡ. Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, số liệu các vụ việc ly hôn được thụ lý giải quyết có nguyên nhân chính từ bạo lực gia đình như sau:
- Bảng 2.2. Số vụ ly hôn do BLGĐ Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Từ số liệu nêu trên cho thấy rằng tỷ lệ số vụ ly hôn bắt nguồn từ nguyên nhân chủ yếu là bạo lực gia đình có sự thay đổi hàng năm nhưng cơ bản vẫn chiếm tỷ lệ khá cao, có những năm, ly hôn do bạo lực gia đình chiếm gần phân nửa số vụ việc (năm 2012- 2013). Đây thực sự là hồi chuông cảnh báo tới Chính quyền, đoàn thể và cả cộng đồng dân cư về hành vi bạo lực gia đình đang tồn tại trong cuộc trong đời sống xã hội.
Thực tiễn cho thấy, bạo lực gia đình tại tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn 2010- 2015 xảy ra chủ yếu đối với phụ nữ với các hình thức cụ thể như sau:
Bạo lực về thân thể: Bạo lực về thân thể là hình thức khá phổ biến trong các dạng bạo lực gia đình hiện nay, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra thương tích cho phụ nữ. Người phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình dưới hình thức bạo lực thân thể, họ phải chịu sự đánh đập của người chồng, người bạn tình ở nhiều mức độ khác nhau, có trường hợp người chồng đấm, đá, tát, xô ngã vợ; có trường hợp dùng cả vũ khí để hành hung vợ để lại những hậu quả nghiêm trọng như để lại thương tích trên thân thể, sảy thai thậm chí tử vong… Bạo lực thân thể là dạng bạo lực phổ biến hiện nay ở cả khu vực nông thôn lẫn thành thị, chiếm đa phần các vụ bạo lực gia đình trên địa bàn.
Bạo lực về tinh thần: Cùng với bạo lực về thân thể, bạo lực về tinh thần đối với phụ nữ là hình thức bạo lực đối với phụ nữ ngày càng phổ biến ở trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Những vết thương về thân thể của người phụ nữ, với thời gian có thể lành lại nhưng những vết thương về tinh thần do bạo lực gia đình gây ra cho người phụ nữ sẽ rất khó lành. Bạo lực về tinh thần đã gây cho người phụ nữ những chấn động mạnh và lâu dài về tâm lý, họ phải chịu đựng những sang chấn tâm lý mà không dễ gì chữa khỏi. Nạn nhân bị bạo lực tinh thần thường tự dằn vặt mình, trầm cảm và sợ sệt, ăn không ngon, ngủ không yên, nóng giận vô cớ, luôn bị ám ảnh về bạo lực, có trường hợp bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, thần kinh suốt đời, có trường hợp thì tự tử.
Bạo lực tinh thần đối với phụ nữ trong gia đình là hình thức bạo lực không nhìn thấy được. Trong nhiều trường hợp, nó là nguyên nhân trực tiếp cướp đi sinh mạng của người phụ nữ. Rất nhiều phụ nữ không chịu nổi bạo hành tinh thần đã tìm đến với cái chết. Có rất nhiều lý do dẫn đến bạo lực tinh thần đối với phụ nữ, một trong những lý do khá nổi bật là ngoại tình. Phần lớn những người chồng khi ngoại tình về thường bỏ rơi, chửi mắng, ngược đãi vợ con. Có những người chồng còn thực hiện kiểu tra tấn tinh thần bằng cách công khai ngoại tình trước mặt vợ, công khai khiêu khích, tra tấn vợ bằng những lời nói, hành vi thiếu văn hóa. Cùng với sự tra tấn dã man đó là mục đích mong cho vợ chết dần, chết mòn, thỏa mãn tính ích kỷ cá nhân của mình. Trong những hoàn cảnh như vậy, người phụ nữ thật đau khổ và nhiều khi họ đã không làm chủ được bản thân mình nữa, mắc phải những sang chấn tâm lý ám ảnh suốt cuộc đời họ. Hiện nay, bạo lực tinh thần diễn ra ở mọi nơi và có mặt ở rất nhiều gia đình. Không chỉ phụ nữ ở nông thôn hoặc những người có trình độ dân trí thấp mà trên thực tế, bạo lực tinh thần đã tấn công vào những người phụ nữ trí thức mà kẻ gây ra hình thức bạo lực này cũng là người trí thức. Điều này làm cho tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi bạo lực được nâng lên rất nhiều khi chúng ta thấy rất rõ cảm xúc của một người trí thức khi bị tổn thương về tinh thần sẽ hằn sâu hơn những người khác. Dường như khi trình độ dân trí ngày một nâng cao thì những vụ bạo hành về tinh thần ngày càng diễn ra dưới nhiều hình thức tinh vi hơn, mang cả những dấu ấn công nghệ như: chồng quay phim, chụp hình những tình huống nhạy cảm của vợ rồi đăng lên mạng xã hội để khủng bố tinh thần. Thực trạng là bạo hành tinh thần đối với phụ nữ có nguyên nhân từ cuộc sống công nghiệp, từ mặt trái của cơ chế thị trường khi mỗi con người phải bươn trải trong cuộc sống nên nhiều khi quên mất trách nhiệm của mình trong gia đình hay vì có điều kiện kinh tế khá giả, họ chạy đua theo những nhu cầu xa xỉ nên về nhà hắt hủi, đầy đọa vợ con để thỏa mãn tính ích kỷ, sĩ diện, thỏa mãn cái tôi của mình.
Bạo lực về kinh tế: Cùng với bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần còn có bạo lực về kinh tế. Đó là những hành vi dùng sức mạnh, áp đặt hoặc lừa mị nhằm chiếm giữ và kiểm soát tài chính đối với người phụ nữ trong gia đình nhằm tạo ra sự phụ thuộc về mặt kinh tế. Cho đến nay, chưa có nhiều số liệu thống kê về bạo lực kinh tế trong gia đình đối với phụ nữ, tuy nhiên trên thực tế, bạo lực kinh tế đối với phụ nữ thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: không đóng góp kinh tế cho vợ chi tiêu chung trong gia đình; quản lý hết tiền của gia đình; bắt người vợ phụ thuộc hoàn toàn vào mình; coi thường vợ không có công ăn việc làm, không kiếm được tiền; kiểm soát toàn bộ việc chi tiêu trong nhà; vay nợ nhiều để vợ gánh chịu trả nợ… Có rất nhiều người phụ nữ hoàn toàn bị phụ thuộc vào chồng về mặt kinh tế, mọi sự chi tiêu trong gia đình từ những vật dụng nhỏ nhất cũng phải ngửa tay xin chồng, phải xin phép chồng, chồng không đồng ý hay không cho thì không có tiền để tiêu thậm chí để phục vụ cho những nhu cầu tối thiểu nhất của người phụ nữ. Bạo lực kinh tế đối với người phụ nữ trong gia đình biểu hiện rất đa dạng, nhiều vẻ với nhiều cấp độ khác nhau và phần lớn bạo lực kinh tế thường ít bộc lộ công khai. Vì thế, bạo lực kinh tế là dạng bạo lực không dễ nhận diện, đã và đang ảnh hưởng sâu sắc tới người phụ nữ, vi phạm quyền tự do của người phụ nữ.
Bạo lực tình dục: Một hình thức bạo lực gia đình đối với người phụ nữ hiện nay làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người phụ nữ là bạo lực tình dục. Hình thức bạo lực này rất khó phát hiện bởi tất cả các nạn nhân rất ít khi nói ra. Thực tế cho thấy cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là một hình thức bạo lực đối với phụ nữ, là hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ- đây là điều mà bấy lâu nay nhiều người không nhận thức được. Ở nước ta, theo quan niệm truyền thống, việc người vợ đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng là việc bình thường như là một bổn phận của người vợ để giữ gìn hạnh phúc gia đình, tuy nhiên nhiều người chồng coi đó là trách nhiệm đương nhiên của người vợ, người vợ không có quyền kháng cự và đã có rất nhiều người được hỏi đã khẳng định rằng đây không phải là việc bạo hành vợ, vì thế không phải là vi phạm pháp luật, chính vì vậy mà hình thức bạo lực này bị xem nhẹ. Trên thực tế, bạo lực tình dục là vấn đề rất tế nhị và nhạy cảm, hơn nữa Việt Nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng của nhiều phong tục tập quán phương đông, vì vậy khi bị bạo hành về tình dục, người phụ nữ rất ngại nói ra, đành cam chịu để giữ yên “tổ ấm” của mình, tuy nhiên người phụ nữ sau khi bị cưỡng ép quan hệ tình dục sẽ phải chịu nhiều hậu quả nặng nề, ảnh hưởng đến sức khoẻ và tâm lý của người phụ nữ (lãnh cảm về tình dục hoặc hoảng loạn về tinh thần). Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
- Bảng 2.3. Các hình thức BLGĐ giữa vợ- chồng
Biểu đồ trên đây cho ta thấy bạo lực thân thể chiếm đa số trong các hình thức bạo lực xảy ra giữa vợ và chồng (chiếm tới 78.5% số vụ bạo lực). Có thể nói đây là hành vi bạo lực phổ biển và nạn nhân thường là người phụ nữ. Tuy nhiên, điều này cũng có thể suy luận từ thực tế đó là hành vi bạo lực thân thể giữa vợ và chồng thì thường dễ bị phát hiện bởi những người xung quanh vì nó để lại hậu quả tức thời, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của nạn nhân khiến cả người trong cuộc và bên ngoài không thể giữ im lặng. Đối với các hình thức bạo lực còn lại chiếm tỷ lệ tương đối thấp như: bạo lực về tinh thần 13.8%, bạo lực về kinh tế 5.6%, bạo lực về tình dục 2.1%, một phần nguyên nhân do những hình thức bạo lực này người ngoài thường khó lòng phát hiện hoặc do tâm lý của người trong cuộc không muốn chia sẻ những vẫn đề tế nhị có liên quan như đời sống riêng tư về mặt kinh tế hay tình dục giữa vợ và chồng.
Thực tế số vụ bạo lực gia đình bị phát hiện hay do người trong cuộc tố cáo, phản ảnh lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Bởi vì, với định kiến trọng nam khinh nữ, người phụ nữ dù có bị đánh đập, ngược đãi đến mức tàn nhẫn, họ vẫn cam chịu, bị coi là người phải chịu trách nhiệm về những hành vi bạo lực của chồng. Chính vì vậy mà nhiều trường hợp, người phụ nữ trong gia đình phải chịu bạo lực trong một thời gian rất dài nhưng hàng xóm xung quanh và chính quyền cơ sở không hề hay biết.
Một khía cạnh ít được nhắc tới trong vấn đề bạo lực gia đình hiện nay đó là hành vi bạo lực của người vợ đối với chồng. Tuy là chỉ những trường hợp cá biệt, không phản ánh xu hướng bạo lực trong gia đình hiện nay nhưng cũng là vấn đề cần lưu tâm. Đối với những gia đình để xảy ra bạo lực theo xu hướng này, nguyên nhân chủ yếu là do người chồng quá nhu nhược, người vợ ít khi sử dụng bạo lực bạo lực thân thể mà thường là hình thức bạo lực tinh thần bằng cách chửi bới, đay nghiến hoặc bỏ mặc. Nhưng dù là bạo lực xảy ra từ phía nào thì điều này cũng là những hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đổ vỡ, đe dọa nghiêm trọng tới hạnh phúc gia đình.
- Thứ hai, bạo lực giữa cha mẹ và con cái
Do tâm lý, truyền thống, thói quen của người Việt, nên bạo lực gia đình giữa cha mẹ với con cái là khá phổ biến và được xã hội chấp nhận. Tại Tuyên Quang, do đa phần dân cư tâp trung ở khu vực nông thôn, gắn với văn hóa làng xã, còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu, do đó những hành động “dạy bảo” con cái, xuất phát từ quan niệm “yêu cho roi cho vọt” và giáo dục cần phải nghiêm khắc vẫn còn là tư tưởng phổ biến. Rất nhiều ông bố bà mẹ coi việc đánh đập, chửi mắng con cái khi chúng mắc lỗi là cần thiết để chúng nhận ra sai lầm và sửa chữa; hay coi việc mạt sát, trách móc là động lực để chúng phấn đấu. Trên thực tế, cách làm này phần nào phù hợp với tâm lý người Việt và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi những chuẩn mực tiến bộ về quyền con người đã và đang được phổ biến trên thế giới thì những tư tưởng, cách làm này cần được loại bỏ, đặc biệt là những trường hợp bạo lực với con cái vượt ra ngoài phạm vi giáo dục- một tình trạng ngày càng gia tăng- thì càng cần phải bị trừng trị nghiêm khắc. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Bên cạnh những hành vi từ phía người chồng đối với vợ, cha mẹ đối với con cái, thì bạo lực gia đình xuất phát từ người con đối với cha mẹ mình cũng đang ngày càng gia tăng. Một số trường hợp người trẻ tuổi gây ra những tổn thương về cả vật chất, tinh thần cho cha mẹ do sự thiếu kiềm chế, do đua đòi hư hỏng hoặc một vài lý do khác. Tuy nhiên, không thể bào chữa, biện hộ cho những người con đã khôn lớn trưởng thành dưới bàn tay yêu thương, nuôi dạy của cha mẹ nhưng lại bỏ bê, không chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, thậm chí hơn là đánh đập, chửi mắng, xỉ nhục những người đã có công sinh thành, nuôi dưỡng mình. Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy nguyên nhân đơn giản dẫn đến hành vi trên là do: những người già thì sức khỏe yếu, không còn sức lao động nên cần có người chăm sóc; trong khi những đứa con không đủ yêu thương nên không muốn tốn kém tiền của, thời gian, công sức của mình cho cha mẹ. Điều này chứng tỏ một sự xuống cấp đạo đức nghiêm trọng của một bộ phận giới trẻ hiện nay, nó hoàn toàn đi ngược lại với truyền thống đề cao chữ “hiếu” của dân tộc Việt Nam.
- Thứ ba, bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình
Bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình với nhau cũng đã tồn tại từ lâu nhưng chiếm tỷ lệ không lớn, vì mức độ phụ thuộc giữa các thành viên này là không cao như giữa vợ chồng hay cha mẹ với con. Nạn nhân của loại bạo lực này vẫn chủ yếu là phụ nữ và trẻ em khi mà các thành viên này muốn tham gia vào việc “giáo dục” những người làm dâu, làm con trong gia đình. Ngoài ra, những mâu thuẫn trong gia đình không tìm được cách giải quyết cũng dẫn tới nạn bạo lực giữa những thành viên khác: anh em, chú cháu đánh nhau vì xích mích trong cuộc sống, vì tranh chấp tài sản; chị em mắng chửi, nói xấu nhau…
2.1.1.2. Nguyên nhân của bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang
Theo số liệu “Báo cáo sơ kết 8 năm thực hiện Kế hoạch hành động phòng chống bạo lực gia đình giai đoạn 2008- 2015” của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang được tổng hợp khái quát qua biểu đồ dưới đây:
- Bảng 2.4. Những nguyên nhân cơ bản dẫn tới bạo lực gia đình
Số liệu trên biểu đồ cho ta thấy nguyên nhân cơ bản dẫn tới bạo lực gia đình đó chính là tình trạng bất bình đẳng giới, đây là nguyên nhân của gần 2/3 số vụ bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn 2008-2015. Các nguyên nhân khác như: tệ nạn xã hội, kinh tế khó khăn, thiếu hiểu biết pháp luật… chỉ là thứ yếu.
- Bất bình đẳng giới Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Nhiều cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu gần đây nhất đã chỉ ra rằng có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình đối với phụ nữ nhưng nguyên nhân gốc rễ sâu xa nhất, cơ bản nhất là do có sự bất bình đẳng trong quan hệ giới.
Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, quan niệm “trọng nam khinh nữ” tồn tại và ảnh hưởng lâu dài trong rất nhiều thế hệ đã làm cho người phụ nữ có vị trí thấp kém trong gia đình và xã hội. Họ sinh ra là để phục vụ chồng một cách chu đáo, mọi việc phải tuân theo ý của chồng, là vật sở hữu mà nhiều ông chồng muốn làm gì là quyền của họ. Quan niệm “chồng chúa, vợ tôi” và “Thuyết tam tòng” đã gán cho người chồng toàn quyền định đoạt mọi công việc lớn trong gia đình. Người vợ chỉ là người thừa hành, có nghĩa vụ và bổn phận phục vụ chồng, con. Tại Tuyên Quang, có rất nhiều phụ nữ người dân tộc thiểu số ở nông thôn, miền núi, trình độ học vấn thấp, họ lấy chồng về khu vực thành thị để mong muốn thay đổi cuộc sống đang quá vất vả, nên họ chấp nhận cam chịu một cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình chồng. Chính vì vậy, ở nhiều nơi, việc chồng đánh vợ như là một việc tất nhiên, là một phương pháp “giáo dục” không thể thiếu để gia đình được tốt đẹp hơn. “Dạy vợ từ thủơ bơ vơ mới về”, câu thành ngữ từ xa xưa này có xuất xứ từ hệ tư tưởng Nho giáo đã cho phép người đàn ông đánh vợ ngay cả trong những ngày trăng mật chỉ với ý nghĩa là dạy bảo vợ và tỏ rõ quyền uy của mình.
Theo quan niệm nam giới là người kiếm tiền chính để nuôi gia đình, có quyền tham gia công việc họ hàng, làng nước, gánh vác trách nhiệm xã hội, còn phụ nữ là người “tề gia nội trợ” trông nom nhà cửa, con cái. Người phụ nữ phải chịu trách nhiệm trong việc duy trì hạnh phúc gia đình để nam giới đạt được những thành tựu bên ngoài. Nhưng có nhiều người phụ nữ đã vươn lên, có sự đóng góp cao hơn về kinh tế đối với gia đình thì trong một số trường hợp, họ lại là nạn nhân của bạo lực gia đình. Thực tế cho thấy, trong các gia đình mà vợ có thu nhập tốt hơn người chồng, tỷ lệ người vợ bị ngược đãi là cao hơn so với các gia đình khác; trong đời sống tình dục, nhiều phụ nữ phải chấp nhận yêu cầu của người chồng kể cả khi họ không muốn vì cho rằng đó là trách nhiệm giữ gìn hạnh phúc gia đình của mình. Sự bất bình đẳng giới thể hiện đặc biệt rõ nét ở định kiến “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Đây là sự đề cao tuyệt đỉnh giá trị của con trai và hạ thấp đến mức phủ nhận hoàn toàn giá trị con gái. Do vậy, việc vợ chồng không có con trai cũng có thể là lý do để người chồng gây sự với vợ. Trong những trường hợp này, những người chồng có ý định ly hôn thường tìm mọi cách kiếm cớ gây sự với vợ để người vợ không chịu được nữa phải làm đơn xin ly hôn và đã có rất nhiều phụ nữ đã phải chịu ngược đãi trong thời gian dài trước khi ly hôn.
Trong những năm vừa qua, Đảng bộ và Chính quyền tỉnh Tuyên Quang đã không ngừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ là cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh, góp phần thiết thực vào việc thực hiện và duy trì bình đẳng giới, tạo điều kiện phát huy mọi tiềm năng, nâng cao vai trò, tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong việc quản lý, thực hiện nhiệm vụ, nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ cũng như tạo điều kiện cần thiết để phụ nữ được hưởng các quyền cơ bản của mình một cách bình đẳng và đầy đủ. Qua những kết quả ban đầu đạt được, nhiều người phụ nữ đã khẳng định được vai trò của mình trong xã hội, có cuộc sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thực tế xã hội vẫn còn không ít phụ nữ bị phân biệt đối xử, có vị trí thấp kém trong gia đình và xã hội, bị lệ thuộc hoàn toàn vào người chồng. Điều này dẫn đến họ phải chịu bạo hành từ phía người chồng của mình, nguyên nhân này đã làm cho tình trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ vẫn nảy sinh, tồn tại và phát triển.
- Cuộc sống đói nghèo, lạc hậu Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Thực tiễn công tác phòng, chống bạo lực gia đình cho thấy, có nhiều vụ việc người vợ bị ngược đãi bắt nguồn từ nguyên nhân cuộc sống đói nghèo, khó khăn. Nghèo đói và bạo lực gia đình là hai mặt của một vấn đề bởi vì trong nhiều trường hợp, sự nghèo đói gây ra những lo âu, căng thẳng trong gia đình làm cơ sở cho bạo lực nảy sinh và phát triển. Ngược lại, bạo lực phát triển làm gia tăng mâu thuẫn trong gia đình, suy giảm nguồn lực sẽ làm tăng thêm sự nghèo đói.
Theo Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVI, năm 2015 thu nhập bình quân đầu người của tỉnh là 1.368 USD/người và tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh là 9.7%. Như vậy, có thể thấy đời sống kinh tế của người dân tại Tuyên Quang còn rất khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với mặt bằng chung của cả nước (Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2015 đạt 2.109 USD/người). Đây thực sự là những thách thức không nhỏ trong việc thi hành các chính sách pháp luật ở địa phương khi người dân còn phải thường xuyên vất vả, lo lắng cho cuộc sống mưu sinh hàng ngày.
Nghèo đói đã tạo ra những áp lực không nhỏ cho các thành viên gia đình trong việc duy trì đời sống kinh tế, điều này là nguyên nhân làm cho các mối quan hệ trong gia đình căng thẳng, từ đó nảy sinh mâu thuẫn và dường như bạo lực gia đình là cách để con người giải tỏa trước những áp lực kinh tế của cuộc sống. Như vậy, đói nghèo là một nguyên nhân dẫn tới những hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đói nghèo chỉ là nguyên nhân thứ yếu làm gia tăng tình trạng bạo lực gia đình bởi vì có nhiều cặp vợ chồng quanh năm nghèo đói nhưng vẫn hoà thuận, đầm ấm, nhưng khi cuộc sống kinh tế khá giả hơn lại phát sinh nhiều mâu thuẫn và dẫn tới bạo lực gia đình.
- Tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật trong đó có vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Thực tiễn đã chứng minh tệ nạn xã hội làm nhiều người đàn ông đã mất tự chủ và thường giải quyết bất đồng với vợ bằng hành vi bạo lực. Những tệ nạn xã hội được thường thấy đó là: nghiện rượu, ma túy, cờ bạc, ngoại tình. Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, vấn đề sử dụng ma túy đã từng là nỗi nhức nhối của các cấp chính quyền, hiện nay, tệ nạn này đã cơ bản được kiểm soát nhờ các biện pháp mạnh tay của chính quyền như: truy quét, truy tố, xét xử, cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, nạn uống rượu tràn lan trong dân cư từ cán bộ, công chức cho tới người lao động đang là vấn đề đáng báo động. Hơn nữa, đối với một bộ phận đồng bào các dân tộc, uống rượu còn được coi là “văn hóa” đặc trưng của dân tộc, vùng miền, không mời rượu là không thể hiện sự hiếu khách. Khi uống rượu say, người đàn ông đã bị “ma men” điều khiển, thậm chí làm mất năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi và dẫn dắt người đàn ông đến việc vi phạm pháp luật. Nghiện rượu, say rượu được xếp vào một trong những nguyên nhân hàng đầu và nguy hiểm nhất của bạo lực gia đình do tính phổ biến của nó. Thực trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ cho thấy, phần lớn các vụ đánh vợ gây thương tích thậm chí dẫn tới tử vong là do người chồng say xỉn hoặc ở trạng thái lơ mơ vì rượu gây ra. Bên cạnh đó, nghiện cờ bạc cũng là một trong những hành động châm ngòi cho hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Nhiều ông chồng đã ham mê cờ bạc mà không hề quan tâm đến gia đình, có bao nhiêu tiền bạc, của cải cũng nướng hết vào cờ bạc, khi vợ không đưa tiền thì sẵn sàng dùng vũ lực, hay khi thua cờ bạc thì vợ cũng là nơi để những ông chồng vũ phu “trút buồn”. Ngoài ra, ngoại tình cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình. Trong nhiều trường hợp, vì ngoại tình mà người đàn ông tìm cách gây sự với vợ, đẩy người vợ tới những hành vi không mong muốn để rồi hành hung vợ, tạo điều kiện để có thể ly hôn; cũng có trường hợp, do vợ ngoại tình mà người chồng đã hành hung, đánh đập để trả thù, trút cơn giận, dạy bảo vợ… Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
- Hiểu biết pháp luật hạn chế
Mặc dù bạo lực gia đình không còn là vấn đề mới và vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đã được Đảng, Nhà nước thể chế hóa trong chủ trương, đường lối và chính sách pháp luật cụ thể, tuy nhiên trên thực tế, vấn đề này dường như vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của chính quyền các cấp và cộng đồng xã hội. Ở tầm vĩ mô, Chính phủ Việt Nam đã cam kết mạnh mẽ nhằm xây dựng các chính sách và luật pháp nhằm phòng, chống bạo lực gia đình nhưng vẫn có sự không nhất quán trong việc thực hiện ở các cấp địa phương cùng với sự thiếu hiểu biết trong dân chúng về bạo lực gia đình, bạo lực giới và những quyền mà phụ nữ được hưởng theo quy định của pháp luật. Việt Nam không có một cơ quan trung ương nào được phân công làm cơ quan điều phối các ngành nhằm giải quyết bạo lực gia đình, bạo lực giới và chưa có nhiều kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình. Ở nước ta, bạo lực gia đình đối với phụ nữ có xu hướng được coi là “vấn đề của phụ nữ” và thường được giao cho Hội phụ nữ, điều này đã làm giảm đi tính quan trọng và bao quát của vấn đề, cần phải được đặt ở cấp cao hơn nhằm tạo ra sự hợp tác giữa các ngành hữu quan như giáo dục, y tế, tư pháp và các lĩnh vực xã hội khác. Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã khắc phục được phần nào hạn chế đó và từng bước nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề này.
Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, mặc dù Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã có hiệu lực từ năm 01/7/2008 nhưng do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong một thời gian khá dài, nên nhiều lãnh đạo các cấp đã coi bạo lực gia đình là chuyện nội bộ của gia đình, là chuyện trong nhà cần đóng cửa bảo nhau, là chuyện nhỏ, đồng thời chưa có biện pháp can thiệp kịp thời. Thực tiễn cho thấy, nhiều lãnh đạo chính quyền các cấp, nhiều cán bộ làm công tác pháp luật, và các cơ quan truyền thông trên địa bàn đã quá nhấn mạnh đến tính toàn vẹn của gia đình, coi bạo lực gia đình chỉ là vấn đề của gia đình. Phòng, chống bạo lực gia đình nói chung cũng như bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng đôi khi còn chưa được các cấp chính quyền, đoàn thể ở địa phương quan tâm sâu sát do chưa nhận thức hết tầm quan trọng của vấn đề. Thực tế nhiều cán bộ còn không biết được những hành vi bạo hành đối với vợ là vi phạm pháp luật hoặc có hiểu thì việc xử lý rất qua loa nên đã gây ra tình trạng coi thường pháp luật, vì thế mà có trường hợp trên địa bàn một phường, xã có những gia đình mà người chồng đánh vợ trong một thời gian dài mà chính quyền không tìm được biện pháp chấm dứt tình trạng trên, các hình thức xử lý chủ yếu mới chỉ dừng lại ở mức cảnh cáo, khuyên răn, giáo dục. Một số cán bộ, người dân vẫn còn quan niệm về bạo lực gia đình như: “không có lửa làm sao có khói”; “chồng bát còn có lúc xô”… nên cảm thấy bình thường trước những mâu thuẫn và xung đột hàng ngày. Chính vì nhận thức còn hạn chế đối với vấn đề bạo lực gia đình mà các tầng lớp cư dân từ cán bộ, công chức tới người dân còn thiếu hiểu biết pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, điều này dẫn tới việc ngăn chặn, phát hiện, xử lý các vụ vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình chưa được kịp thời, nghiêm minh. Chính sự thiếu hiểu biết pháp luật ấy đã làm cho tình trạng bạo lực gia đình xảy ra dai dẳng, liên tục, kéo dài, dẫn đến những hậu quả xấu cho phụ nữ, cho trẻ em, cho gia đình và cho xã hội ngày càng nhiều. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Ngoài ra, trình độ văn hoá thấp cũng là một nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực gia đình. Thực tế cho thấy, bạo lực gia đình thường xảy ra nhiều hơn ở những gia đình có trình độ văn hoá, nhận thức pháp luật hạn chế dẫn đến những hành vi ứng xử thiếu chuẩn mực, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa bạo lực gia đình đối với phụ nữ không xuất hiện trong những gia đình có trình độ học vấn cao. Hiện nay, ở nhiều gia đình, mặc dù vợ chồng có trình độ học vấn cao nhưng vẫn xảy ra bạo lực gia đình và những trường hợp này thường được họ che giấu kỹ càng rất khó phát hiện.
- Nguyên nhân từ phía người phụ nữ
Thực tế cho thấy “60% phụ nữ Việt Nam đã từng chịu ít nhất một trong các hình thức bạo lực gia đình và 87% chưa tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ công” [40]. Vấn đề này tại Tuyên Quang cũng không phải là một ngoại lệ. Điều này chỉ ra một thực trạng là nhận thức, thái độ, sự phản kháng của người phụ nữ sẽ quyết định một phần đến việc bạo lực gia đình có xảy ra đối với họ hay không.
Theo “Báo cáo sơ kết 8 năm thực hiện Kế hoạch phòng, chống bạo lực gia đình giai đoạn 2008- 2015 tại Tuyên Quang”, một thực tế là nhiều người phụ nữ đã không nhận thức được việc chồng sử dụng bạo lực đối với mình là trái pháp luật mà coi đó là chuyện thường tình, không tránh khỏi trong cuộc sống gia đình, đánh vợ là quyền của người chồng. Họ cũng không nhận thức được hành động đó vi phạm đến quyền tự do và quyền con người đồng thời không nhận thức được mình là đối tượng được pháp luật bảo vệ. Do nhận thức như vậy mà họ cứ cam chịu theo thời gian, không có những sự phản kháng, hoặc nếu có thì rất yếu ớt, nhiều phụ nữ trên cương vị là người vợ, người mẹ đã không dám lên tiếng trước những hành vi bạo lực gia đình; họ không dám đấu tranh với chồng lại càng không dám chủ động trong việc ly hôn, vì nếu như vậy họ sẽ mất hết của cải, danh dự, con cái. Chính sự nhẫn nhục của người phụ nữ khi là nạn nhân đã làm cho hình ảnh của họ ngày càng bi thảm, cuộc đời của họ đi vào bước đường cùng. Việc phụ nữ cam chịu như vậy vì họ thường suy nghĩ: “xấu chàng hổ ai”; “một điều nhịn, chín điều lành”. Bởi vậy, gần như tất cả các phụ nữ bị bạo hành đều cảm thấy xấu hổ khi phải kể với người khác nỗi bất hạnh về bản thân và gia đình họ và cam chịu là phản ứng phổ biến của người phụ nữ khi họ phải chịu bạo hành từ chồng. Chính những suy nghĩ đơn giản như vậy nên phụ nữ cho rằng khi thổ lộ cho người khác chính là “vạch áo cho người xem lưng”, nên họ không muốn tố cáo hành vi bạo lực của chồng, vì đối với họ không gì nhục nhã và đau đớn hơn khi người ngoài biết họ bị đầy đoạ bởi chính người họ đã yêu thương và lựa chọn để chung sống. Những người phụ nữ trong cuộc cũng không muốn chính quyền can thiệp, bênh vực bởi vì họ hiểu rằng, hình ảnh người phụ nữ đi tố cáo chồng cũng không hoàn toàn được cộng đồng ủng hộ vì những định kiến cổ hủ, lạc hậu vẫn còn tồn tại dai dẳng trong xã hội. Tất cả những vấn đề trên đây là nguyên nhân đồng thời cũng là vỏ bọc che chắn cho hành vi bạo hành của người chồng tiếp tục được thực hiện mà tránh được sự trừng trị của pháp luật, vì vậy mà số lượng các vụ bạo lực gia đình ít bị phát hiện và số liệu thu được còn thấp hơn rất nhiều so với thực tế diễn ra trong đời sống xã hội. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Như vậy, với nhận thức chưa đầy đủ về bạo lực gia đình mà người phụ nữ không có sự phản kháng kịp thời, mạnh mẽ để bảo vệ mình. Tự cho rằng mình có địa vị thấp trong xã hội nên nhiều người vợ đã chấp nhận tất cả từ những điều tồi tệ nhất trong cuộc sống, cứ nhẫn nhục chịu đựng, cam chịu vì một gia đình bình yên mặc dù đó là bình yên giả dối. Tất cả những điều đó đã làm cho bạo lực gia đình đối với phụ nữ cứ âm thầm tồn tại, phát triển, chỉ khi nào nó bùng lên gây những hậu quả nghiêm trọng cho người phụ nữ thì sự việc mới bị phát hiện. Có thể nói, chính những người phụ nữ đã gián tiếp tiếp tay cho hành vi bạo lực trong tổ ấm của mình qua cách suy nghĩ, hành động còn nhiều hạn chế đó.
2.1.2. Thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang
2.1.2.1. Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang
Để triển khai thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống bạo lực gia đình, trong thời gian qua UBND tỉnh Tuyên Quang cùng các sở, ban, ngành có liên quan đã ban hành hành loạt các văn bản để cụ thể hóa các nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình gắn với những đặc điểm kinh tế, xã hội nhất định của địa phương, cụ thể là:
Kế hoạch số 36/KH-UBND ngày 18-12-2008 của UBND tỉnh Tuyên Quang về việc triển khai thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Có thể nói, đây là một văn bản pháp luật quan trọng để thực hiện Chỉ thị số 16/2008/CT-TTg ngày 30/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức triển khai thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Công văn số 3226A/B VHTTDL-GĐ ngày 12/9/2008 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc thực hiện Chỉ thị số 16/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Kế hoạch 36/KH-UBND nhằm mục đích tuyên truyền sâu rộng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản liên quan nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình cho cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang và cộng đồng. Đảm bảo môi trường pháp luật về lĩnh vực gia đình, góp phần củng cố, xây dựng gia đình Việt Nam thực sự ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.
Với việc triển khai thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã đề ra những nội dung cụ thể đối với các cấp, ngành để thực hiện có hiệu quả nhất công tác phòng chống bạo lực gia đình, đó là: “tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Phòng, chống bạo lực gia đình, đa dạng hoá các hình thức truyền thông, phổ biến Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế; đẩy mạnh hoạt động hòa giải ở cơ sở, đặc biệt là ở thôn, bản, xóm, tổ nhân dân; thực hiện trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở bảo trợ xã hội, chỉ đạo việc lồng ghép nội dung phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới vào các chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm; thực hiện các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo về phòng, chống bạo lực gia đình, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình” [42]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Triển khai thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình đòi hỏi sự vào cuộc của các cơ quan, ban ngành của tỉnh, từ Ủy ban nhân dân các cấp cho tới các Sở như: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Giáo dục, Sở Tư pháp, Sở Y tế, Sở Lao động Thương binh Xã hội…và cơ quan Mặt trận Tổ quốc để đảm bảo thực hiện đồng bộ các giải pháp: biên soạn tài liệu tập huấn và tổ chức hướng dẫn, tập huấn cho cán bộ các Sở, ban, ngành, đoàn thể và những người tham gia trực tiếp công tác phòng, chống bạo lực gia đình; tăng thời lượng phát sóng, xây dựng chuyên trang, chuyên mục về xây dựng gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình trên các phương tiện thông tin đại chúng; rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có nội dung liên quan tới phòng, chống bạo lực gia đình để kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế; tăng cường kiểm tra hoạt động hoà giải ở cơ sở, hướng dẫn nâng cao nghiệp vụ về phòng, chống bạo lực gia đình cho người làm công tác hoà giải ở cơ sở; xây dựng thí điểm các mô hình phòng, chống bạo lực gia đình; chỉ đạo tổng kết thực tiễn và nhân rộng các mô hình về phòng, chống bạo lực gia đình, các địa chỉ tin cậy về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật phòng, chống bạo lực gia đình; tiếp nhận, chăm sóc và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; hướng dẫn các cơ sở khám chữa bệnh, thực hiện thống kê, báo cáo số lượng bệnh nhân là nạn nhân bạo lực gia đình được khám và điều trị.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được coi là một trong những khâu trọng tâm trong việc nâng cao nhận thức pháp luật của người dân và tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật. Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác này, ngày 21/12/2011 Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Kế hoạch số 45/KH-UBND về thực hiện đề án: Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2010-2015 tỉnh Tuyên Quang.
Việc tuyên truyền, giáo dục trên không chỉ được triển khai tổ chức tới các cơ quan, công sở, tổ chức mà còn được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang triển khai tới các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh với mục tiêu: “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tiêu chí: có lòng yêu nước; có sức khoẻ; có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; năng động, sáng tạo; có lối sống văn hoá và lòng nhân hậu nhằm nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi của người dân, cộng đồng, xã hội, đặc biệt là nữ cán bộ quản lý giáo dục, nữ nhà giáo và nữ học sinh, sinh viên trong các nhà trường trong việc giữ gìn, phát huy và xây dựng phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [43].
Thực hiện Kế hoạch 45/KH-UBND đã có tác động sâu sắc đến các tầng lớp học sinh, sinh viên và cán bộ, giáo viên, giảng viên các nhà trường về việc giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngoài ra còn góp phần quan trọng hình thành ý thức pháp luật về bình đẳng giới, nâng cao nhận thức về hành vi bạo lực gia đình cho thanh thiếu niên, học sinh và góp phần trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức, kỹ năng quan trọng về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Đồng thời, để triển khai thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Chính phủ, ngày 26/6/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã xây dựng Kế hoạch số 45/KH-UBND về thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam và xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020 với mục tiêu cụ thể đó là: “nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình. Cùng với đó là những giải pháp đồng bộ mang tính chiến lược từ công tác tổ chức, quản lý, xây dựng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tới việc giáo dục, vận động và đảm bảo công ăn việc làm, an sinh xã hội cho người dân” [44].
Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh còn ban hành các Chỉ thị để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể hàng năm về công tác gia đình trên địa bàn như: tổ chức ngày Quốc tế hạnh phúc 20 tháng 3, ngày Gia đình Việt Nam 28 tháng 6, ngày Quốc tế xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ và bình đẳng giới 25 tháng 11; thành lập Ban chỉ đạo công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình cấp tỉnh, huyện, xã (hiện đã thành lập ở 141/141 xã, phường, thị trấn).
Có thể nói, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian qua đã được lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang triển khai quyết liệt, đồng bộ và có hiệu quả tới các cấp cơ sở và người dân trên địa bàn tỉnh, đảm bảo sự thống nhất trong triển khai thi hành pháp luật từ Trung ương tới địa phương, đảm bảo đúng tinh thần của pháp luật nhưng cũng có những triển khai linh hoạt phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của phương để mang lại hiệu quả thực hiện tốt nhất trong việc phòng chống bạo lực gia đình, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, đẩy lùi nạn bạo hành trong gia đình, góp phần xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc, thúc đẩy sự phát triển chung của địa phương và xã hội.
Để hạn chế và tiến tới xóa bỏ những vấn nạn này khỏi đời sống xã hội, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Tuyên Quang đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trên tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, ban Bí thư Trung ương để đẩy mạnh công tác phòng chống bạo lực gia đình gắn mới mục tiêu phát triển con người, xây dựng xã hội văn minh, hiện đại. Cùng với đó, việc triển khai thực hiện các đạo luật có liên quan tới công tác phòng chống bạo lực gia đình cũng được chính quyền tỉnh hết sức quan tâm, chỉ đạo thực hiện quyết liệt phù hợp với đặc điểm tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương để đạt được hiệu quả cao nhất. Đồng thời, các cấp chính quyền tỉnh Tuyên Quang, trên cở sở những điều kiện đặc thù của địa phương, triển khai hàng loạt những mô hình như: xây dựng làng, bản văn hóa; gia đình văn hóa; xây dựng các câu lạc bộ phòng chống bạo lực gia đình, hỗ trợ, tư vấn cho các nạn nhân của bạo hành…để củng cố, xây dựng những mối quan hệ gia đình tốt đẹp, giảm thiểu những thiệt thòi cho phụ nữ và trẻ em, gắn việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc với sự phát triển chung của cộng đồng thống nhất trong sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền tại địa phương.
Có thể nói, để cụ thể hóa những chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình, Chính quyền các cấp tại Tuyên Quang đã có những triển khai cụ thể, chi tiết, sát với tình hình thực tế địa phương, góp phần đáng kể nâng cao ý thức pháp luật của người dân về phòng, chống bạo lực gia đình.
2.1.2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang
Công tác thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang trong thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan, thể hiện tính đúng đắn trong phương hướng lãnh đạo của chính quyền các cấp tại địa phương, tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn nhiều vấn đề tồn tại cần khắc phục, điểu chỉnh kịp thời để nâng cao hiệu quả của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Điều này được thể hiện qua những nội dung sau:
- Ưu điểm: Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Nhìn chung, qua các năm triển khai thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và triển khai thực hiện thí điểm các mô hình can thiệp phòng chống bạo lực gia đình đã có tác dụng thiết thực, góp phần nâng cao nhận thức, phát huy vai trò vị trí của gia đình, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác gia đình, đặc biệt trong việc thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật hôn nhân và gia đình… góp phần giảm thiểu các vụ bạo lực gia đình. Công tác can thiệp, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình đã được triển khai kịp thời và có hiệu quả, các huyện, thành phố đã xây dựng được kế hoạch triển khai thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Một số ban, ngành đã phối hợp chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc lồng ghép tuyên truyền nội dung phòng, chống bạo lực gia đình với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” với nhiều nội dung, hình thức phong phú, góp phần nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi trong phòng, chống bạo lực gia đình, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cộng động trong việc phòng, chống bạo lực gia đình, xây dựng gia đình hoà thuận, ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Cụ thể:
Coi trọng công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình là một trong những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình, hàng năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức nhiều hoạt động truyền thông, vận động nhằm phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và hậu quả của các hành vi bạo lực gia đình đến với mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Hàng năm, nhân ngày Quốc tế xoá bỏ bạo lực đối với Phụ nữ 25/11, tỉnh tổ chức lễ mít tinh diễu hành và xây dựng các tiểu phẩm tuyên truyền hưởng ứng chiến dịch truyền thông về phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh, thu hút đông đảo cán bộ, công chức, viên chức của các Sở, ban, ngành, đoàn thể và nhân dân trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hưởng ứng tham gia. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn luôn được các cơ quan báo, đài của địa phương và trung ương đóng trên địa bàn tỉnh thường xuyên đưa tin, bài, xây dựng phóng sự phát sóng và đăng tải khoảng 30 chuyên trang, chuyên mục về các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình với hàng trăm tin, bài, hình ảnh phản ánh tình trạng bạo lực gia đình và tuyên truyền công tác phòng, chống bạo lực gia đình; các xã – phường – thị trấn trên địa bàn tỉnh đã chủ động xây dựng các tin, bài, phóng sự, phát thanh,truyền hình về nội dung phòng, chống bạo lực gia đình và thực hiện bình đẳng giới trên sóng truyền thanh của các xã, phường, thị trấn và đài truyền hình tỉnh. Các đội thông tin lưu động biên tập 12 chương trình đơn/năm, xây dựng 02 chương trình thông tin tổng hợp/năm, tuyên truyền trên 1.280 buổi buổi tại cở sở, trong đó tập trung tuyên truyền tại các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa; treo trên 640 băng- rôn, khẩu hiệu vào các ngày kỷ niệm: ngày Quốc tế phụ nữ (8/3), ngày Gia đình Việt Nam (28/6)…“Qua 5 năm thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình từ năm 2009 đến năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã phát hành gần 36.000 ấn phẩm chuyên ngành tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới về cơ sở. Nổi bật nhất là cuốn sách: Giáo dục đời sống gia đình, Tài liệu hỏi – đáp phòng chống bạo lực gia đình; các bản tin, đặc san như: Đặc san Văn hóa, Thể thao và du lịch Tuyên Quang, Thông tin Phụ nữ Tuyên Quang… phát hành trên 8.600 tờ tài liệu, 200 đĩa tuyên truyền và trên 400 tranh cổ động tuyên truyền về gia đình và phòng chống bạo lực gia đình” [33].
Ngoài ra, trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2015, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch chủ động phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Y tế mở các lớp tập huấn và bồi dưỡng nghiệp vụ về phòng chống bạo lực gia đình cho các cán bộ làm công tác văn hóa, tư pháp, và y tế từ các cấp để nâng cao kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ cơ sở, tăng cường hiệu quả công tác phòng chống bạo lực gia đình. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch còn phối hợp với Hội Nông dân, Hội Liên Hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh của tỉnh tổ chức 30 buổi nói chuyện chuyên đề về Luật phòng chống bạo lực gia đình và giáo dục kiến thức đời sống gia đình đã thu hút 5.902 lượt người tham gia; tổ chức 6.252 Hội nghị triển khai tuyên truyền các luật cho 311.295 lượt người; Tổ chức tập huấn Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật hôn nhân và gia đình cho 1.216 đại biểu; cung cấp 744 đề cương tuyên truyền, 15.495 tài liệu luật, 10.163 cuốn Hỏi đáp pháp luật về cơ sở giúp các đoàn viên, hội viên có dịp học hỏi, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm xây dựng gia đình hạnh phúc, không có bạo lực [32].
Năm 2015, toàn tỉnh xảy ra 156 vụ bạo lực gia đình, điều này cho thấy, tuy đã có nhiều nỗ lực song vấn đề bạo lực gia đình vẫn đang là một bài toán khó được đặt ra. Giải quyết vấn đề này, các cấp ngành tiếp tục thực hiện việc tuyên truyền, vận động đưa các chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng kịp thời đến với người dân, triển khai các văn bản pháp luật đến các cấp ngành, đoàn thể tại địa phương như: Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Chỉ thị số 16/2008/CT-TTg ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 4/2/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản pháp luật khác có liên quan… Qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm và sự hiểu biết của các thành viên trong mỗi gia đình về việc xây dựng một gia đình văn minh, hạnh phúc không có bạo lực. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Làm tốt công tác triển khai nhân rộng và duy trì các mô hình phòng, chống bạo lực gia đình. Thực hiện Quyết định số 2879/QĐ- BVHTTDL ngày 27/6/2008 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Hướng dẫn số 292/HD-BVHTTDL ngày 11/02/2009 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch về việc triển khai mô hình can thiệp phòng chống bạo lực gia đình trên toàn quốc, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang đã xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai mô hình phòng chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh, đồng thời triển khai các giải pháp can thiệp nhằm giảm tình trạng bạo lực gia đình tới các phòng Văn hóa cấp huyện để thực hiện đồng bộ, thống nhất trên phạm vi toàn tỉnh.
Uỷ ban nhân dân các cấp đã phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tuyên Quang và các Phòng Văn hóa cấp huyện thành lập nhiều mô hình phòng chống bạo lực gia đình như: “Cơ sở hỗ trợ tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình”, “Câu lạc bộ phòng, chống bạo lực gia đình”, “Câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc”…và các mô hình này đã phát huy được những hiệu quả tích cực.
Hiện toàn tỉnh đã thành lập được 44 câu lạc bộ “Xây dựng gia đình hạnh phúc”, 23 mô hình câu lạc bộ “Phòng, chống bạo lực gia đình”. Các huyện, thành phố cũng đã chỉ đạo thành lập “Cơ sở hỗ trợ, tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình” tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn bố trí nơi tạm lánh, tư vấn và điều trị cho nạn nhân bạo lực gia đình. Toàn tỉnh có 58/141 trạm y tế xã, phường, thị trấn thành lập “Cơ sở hỗ trợ, tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình”. Phấn đấu đến năm 2016, toàn tỉnh có 141/141 trạm y tế xã, phường, thị trấn thành lập được “Cơ sở hỗ trợ, tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình”, tư vấn và kịp thời hỗ trợ giúp đỡ các nạn nhân bạo lực gia đình. Hiện nay, tổ chức hoạt động của mô hình điểm về phòng chống bạo lực gia đình tại xã Thượng Ấm (huyện Sơn Dương) đang được tiếp tục duy trì và nhân rộng 2 mô hình tại xã Yên Phú (huyện Hàm Yên) và xã Phúc Thịnh (huyện Chiêm Hóa)… Các câu lạc bộ duy trì tổ chức tốt sinh hoạt định kỳ 2 tháng/lần, thông qua hoạt động của các câu lạc bộ này đã tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới [31].
Bên cạnh đó, tỉnh Tuyên quang cũng chú trọng việc triển khai thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình lồng ghép với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã được các cấp chính quyền, mặt trận, các đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở thực hiện có hiệu quả. Năm 2014, toàn tỉnh có 163.617/194.444 hộ gia đình đăng ký đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” (chiếm 84,1%); 1.536/2.095 khu dân cư đạt danh hiệu “Khu dân cư văn hóa” (chiếm 73,3%); 988/1.032 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa (chiếm 95.7%) [30].
- Hạn chế: Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Bên cạnh cố gắng, nỗ lực của chính quyền, đoàn thể, nhân dân và những kết quả đáng khích lệ đã đạt được trong quá trình thi hành luật phòng, chống bạo lực gia đình tại tỉnh Tuyên Quang, vẫn còn tồn tại một số những mặt hạn chế sau đây:
Thứ nhất, công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện luật phòng, chống bạo lực gia đình chưa thường xuyên, liên tục và còn thiếu các giải pháp đồng bộ từ kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với chính sách pháp luật, từ đó đã làm hạn chế những kết quả trong đấu tranh đẩy lùi bạo lực gia đình. Cùng với đó là nguồn kinh phí để triển khai thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc, hỗ trợ phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt thực hiện bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình còn hạn chế. Tuyên Quang là một tỉnh nghèo, ngân sách hàng năm phải chờ hỗ trợ từ trung ương, do vậy, chính quyền tỉnh khó có thể chủ động được nguồn lực cần thiết cho công tác phòng chống bạo lực gia đình. Trong khi đó, việc xã hội hóa cũng như tìm kiếm các nguồn lực từ khu vực tư cho công tác phòng chống bạo lực gia đình cũng còn nhiều hạn chế, chưa mang lại kết quả đáng kể do số lượng doanh nghiệp, đơn vị kinh tế trên địa bàn tỉnh không nhiều, các hoạt động kinh tế chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông- lâm nghiệp, tiềm năng kinh tế có hạn.
Thứ hai, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên còn thiếu và yếu, mặc dù đã được tập huấn, đào tạo nhưng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ. Tuyên Quang với địa hình rộng lớn, nhiều khu vực vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại không thuận lợi, việc đảm bảo về số lượng cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên chuyên trách về công tác phòng, chống bạo lực gia đình tại cơ sở đã là một thách thức không nhỏ. Mặc dù chính quyền các cấp đã có những biện pháp ưu tiên phát triển nguồn lực tại chỗ, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ từ những công dân tại địa phương nhưng cũng chưa thể đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng. Cùng với đó là sự đa dạng, phức tạp trong đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, điều này đã gây không ít những khó khăn trở ngại cho việc thực hiện hiệu quả những quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại địa phương.
Thứ ba, sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể có liên quan trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, mặc dù đã có sự tập trung chỉ đạo từ các cấp lãnh đạo, song hiệu quả của công tác phối hợp chưa cao, đôi khi còn nặng về hình thức. Chương trình, nội dung phối hợp chưa có tính chiến lược, thiếu sự kết nối hiệu quả, chủ yếu còn theo những công việc, hoạt động nhỏ lẻ, sự vụ, từ đó dẫn tới hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động chưa cao. Bên cạnh đó, công tác phát hiện, thống kê báo cáo về bạo lực gia đình còn gặp rất nhiều khó khăn do việc thiếu thông tin từ cơ sở cũng như sự giấu diếm của chính đương sự nên việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình chưa kịp thời, thiếu tính thời sự đối với các đối tượng vi phạm. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Thứ tư, nhiều quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình chưa được thực thi nghiêm túc. Nguyên do một phần là do nạn nhân của bạo hành cam chịu, không muốn tố cáo, mặt khác, chế tài xử lý các hành vi liên quan đến bạo lực gia đình hiện nay còn quá nhẹ, không tương xứng với hậu quả gây ra và chưa đủ sức răn đe, cùng với đó là sự thiếu hiểu biết pháp luật và các quy chuẩn xã hội của cả vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình cùng với mặt bằng dân trí chung là chưa cao đã gây ra những hạn chế nhất định đối với các nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình, họ không biết cách tự bảo vệ mình trước bạo hành, thụ động trông chờ hoặc cam chịu. Chính điều này đã gây ra những hậu quả nặng nề, kéo dài tình trạng bạo lực.
Thứ năm, đối với việc xử lý những hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình thì sự vào cuộc của cơ quan chức năng còn rất hạn chế. Theo số liệu tại “Báo cáo Sơ kết 8 năm thực hiện Kế hoạch hành động phòng chống bạo lực gia đình giai đoạn 2008- 2015”, trong tổng số 1.539 vụ bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, thì chỉ có 61 vụ (chiếm 3.9%) được xử lý, trong đó xử lý hình sự là 50 vụ và xử lý hành chính 11 vụ. Có thể nói, số vụ bạo lực gia đình được xử lý còn chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn, chưa thể hiện được sự vào cuộc kiên quyết của các cơ quan chức năng. Trên thực tế, trong khi rất cần áp dụng các quy định của pháp luật vào xử lý các trường hợp bạo hành thì cán bộ tư pháp thường chỉ tham gia khi người phụ nữ quyết định ly hôn. Việc tham gia của các đơn vị mang tính vụ việc, chưa có cơ chế để giao ban báo cáo và theo dõi diễn biến các trường hợp đã xử lý để có kế hoạch trợ giúp tiếp. Mặt khác, các can thiệp hỗ trợ nạn nhân của bạo lực thường chưa kịp thời và chưa đáp ứng được nhu cầu của họ ở thời điểm mà có nguy cơ xảy ra bạo lực có thể đe dọa đến cả tính mạng nạn nhân. Vì nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, việc can thiệp của chính quyền địa phương thường được thực hiện sau khi đã xảy ra bạo lực. Trong nhiều trường hợp, khi người phụ nữ bị bạo lực mong muốn chính quyền xử lý chồng họ theo pháp luật, nhưng các can thiệp tại địa phương còn dựa nhiều vào kinh nghiệm, các mối quan hệ tình cảm họ hàng, làng xóm mà chưa áp dụng đầy đủ những quy định của pháp luật do sự e ngại của cán bộ địa phương vào các mối quan hệ làng xã, cùng với đó là sự thiếu thống nhất về quy trình can thiệp, biện pháp can thiệp của chính các cán bộ địa phương dẫn tới việc xử lý hành vi bạo lực gia đình chưa nghiêm. Điều này đã dẫn tới hậu quả là sự xem thường pháp luật và xu hướng tiếp tục sử dụng bạo lực trong những lần tiếp theo.
- Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế
Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là một công cụ hết sức quan trọng không chỉ trong việc xử lý những hành vi bạo lực gia đình mà còn góp phần quan trọng trong việc giáo dục nâng cao ý thức pháp luật của mỗi người dân, điều chỉnh hành vi của các cá nhân phù hợp quan hệ pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Có thể nói pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đã tạo ra một hành lang pháp lý cơ bản, quyết định tới hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình nói chung trên phạm vi cả nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Tuy nhiên, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình chỉ là khung pháp lý cơ bản, mặc dù đã liên tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhưng khi áp dụng vào một địa phương cụ thể là tỉnh Tuyên Quang đã không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình chỉ có thể dự liệu và luật hóa để điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất liên quan tới vấn đề bạo lực gia đình, nhưng các mối quan hệ xã hội thì luôn luôn có sự biến đổi muôn hình vạn trạng đòi hỏi quá trình thực hiện pháp luật phải có những sự cập nhật kịp thời, không chỉ bám sát những quy định chung của luật và các văn bản hướng dẫn luật mà đồng thời cần phải có sự vận dụng linh hoạt cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội nhất định của từng địa phương. Sự bất tương đồng giữa những quy định chung của pháp luật với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phuong trong từng giai đoạn nhất định là một nguyên nhân cơ bản dẫn tới những tồn tại, hạn chế nêu trên trong quá trình thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
Bên cạnh đó, nhân tố con người cũng luôn là một trong những nguyên nhân quan trọng của những hạn chế này. Trong quá trình thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, không thể tránh khỏi ý chí chủ quan của các chủ thể từ cách xem xét, nhận định, đánh giá tới việc áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề liên quan tới bạo lực gia đình. Pháp luật là những quy định chung nhất, để vận dụng vào những quan hệ cụ thể cần phải thông qua các chủ thể là con người nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện. Chính vì vậy, kết quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang bên cạnh những thành tích đáng kể đã đạt được thì vẫn tồn tại những hạn chế nhất định có nguyên nhân từ yếu tố con người.
2.2 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
2.2.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
2.2.1.1. Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền con người của nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Về bản chất, đó chính là Nhà nước luôn tôn trọng quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là sự bảo đảm có tính chất nền tảng cho việc thực hiện quyền bất khả xâm phạm đó bằng các cơ chế, các biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị những hành vi gây tổn hại tới những quyền con người, quyền công dân đã được Nhà nước ghi nhận mà bạo lực gia đình chính là hành vi cần có sự điều chỉnh chặt chẽ.
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 xác định tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng về nhân phẩm và quyền (Điều 23). Quyền con người có những giá trị cốt lõi là quyền được sống, được tham gia, được có công ăn việc làm, được bình đẳng, được đối xử công bằng và được bảo vệ trước những nguy cơ đe dọa đến cuộc sống bình thường của họ. Những tư tưởng cốt lõi này là cơ sở lý luận nhằm thay đổi nhận thức của các quốc gia trên thế giới. Phòng, chống bạo lực gia đình là vấn đề về quyền con người, vì vậy nó phải được tôn trọng và bảo vệ một cách tuyết đối theo các nguyên tắc: tôn trọng phẩm giá vốn có của con người; quyền sống còn; quyền bảo vệ; quyền phát triển, quyền tham gia, quyền tự chủ cá nhân; không phân biệt đối xử… Như vậy, mọi vấn đề về phòng, chống bạo lực gia đình cần được nhìn nhận dưới lăng kính của quyền con người. Không chỉ tiếp cận vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình chỉ từ bên ngoài, chúng ta cần thiết có sự tiếp cận từ bên trong, từ chính các đối tượng bị bạo hành với những nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước ở từng thời điểm. Nhà nước và cộng đồng phải có trách nhiệm bảo đảm phòng, chống bạo lực gia đình và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay.
2.2.1.2. Thể chế hóa chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương để xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc
Đường lối của Đảng về xây dựng gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay được thể hiện cụ thể qua Chỉ thị số 49/CT- TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó nêu rõ:“gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiêp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [1]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Sau 20 năm đổi mới, đất nước ta đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình. Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp cho hàng triệu gia đình thoát nghèo và nâng cao mức sống, những giá trị nhân văn mới, tiêu biểu là bình đẳng giới và quyền trẻ em, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao. Tuy nhiên công tác gia đình hiện nay còn nhiều yếu kém và đang đối mặt với nhiều thách thức. Những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình như hiếu nghĩa, thủy chung, kính trên nhường dưới đang có biểu hiện xuống cấp, nạn bạo hành trong gia đình có biểu hiện gia tăng đã để lại nhiều hậu quả xấu cho gia đình và xã hội.
Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình phải là những quy phạm chung nhất, định hướng cho hành động của các cấp chính quyền địa phương trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình theo đúng những đường lối chung mà Đảng và Nhà nước đề ra, đảm bảo sự thống nhất trong hành động từ Trung ương tới địa phương đồng thời phát huy những mặt tích cực của địa phương trong phòng, chống bạo lực gia đình, vì mục tiêu chung là xây dựng gia đinh- tế bào của xã hội- ấm no, hạnh phúc, tạo tiền đề chắc chắn cho các cá nhân, các thành viên gia đình có cơ hội phát triển và cống hiến công sức của mình vì sự phát triển thịnh vượng của đất nước.
2.2.1.3. Phòng, chống bạo lực gia đình gắn với việc xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường đã tạo ra những cơ hội lớn cho phát triển kinh tế nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho đất nước ta nói chung và đối với tỉnh Tuyên Quang nói riêng. Mặt trái của cơ chế thị trường đã tạo ra những hệ lụy không nhỏ, tác động tới cuộc sống từng gia đình, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng bạo lực gia đình. Vì vậy, công tác triển khai phòng chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh cần phải được thực hiện một cách toàn diện trên các lĩnh vực với những giải pháp đồng bộ gắn với những mục tiêu xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại địa phương để đảm bảo đẩy lùi nạn bạo hành trong gia đình nhưng cũng tạo điều kiện tốt nhất để xây dựng và phát triển gia đình, để các cá nhân trong gia đình được đóng góp công sức vào quá trình phát triển chung của xã hội và cộng đồng, đồng thời ngăn chặn có hiệu quả bạo lực gia đình tái diễn trong tương lai.
2.2.1.4. Phát huy vai trò của cá nhân, tổ chức và cả cộng đồng trong phòng, chống bạo lực gia đình; chú trọng những biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình tại cộng đồng; phát hiện và có những giải pháp hỗ trợ kịp thời đối với nạn nhân bạo lực gia đình
Tính chất và mức độ của hành vi bạo lực gia đình đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới thể chất, tinh thần của nạn nhân, vì vậy, việc phòng chống bạo lực gia đình phải được sự quan tâm và chung tay giải quyết không chỉ của các cấp chính quyền mà còn của cả cộng đồng. Để những quan điểm chỉ đạo của Đảng về phòng, chống bạo lực gia đình đi vào cuộc sống, cần phải cụ thể hóa những quan điểm này thành quy định pháp luật, coi bạo lực gia đình là một vấn đề xã hội cấp bách cần giải quyết sớm, phải làm rõ công tác phòng chống bạo lực gia đình là trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội, phải nâng cao nhận thức cũng như tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân trong đấu tranh đẩy lùi nạn bạo hành trong gia đình. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến công tác tuyên truyền giáo dục về gia đình, làm tốt công tác tư vấn, hòa giải, đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng chống bạo lực gia đình, kết hợp đồng bộ các giải pháp, lấy phòng ngừa là chính, tránh để xảy ra bạo lực gia đình, trường hợp đã xảy ra bạo lực thì ưu tiên các biện pháp hỗ trợ kịp thời để bảo vệ an toàn về sức khỏe, tính mạng cho nạn nhân.
Phải bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của nạn nhân đồng thời tôn trọng quyền công dân của người vi phạm trong quá trình xử lý những hành vi vi phạm liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình. Quyền con người, quyền công dân là những yếu tố trung tâm được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến bạo lực gia đình phải dựa trên những quy định của pháp luật trên nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có cả nạn nhân cũng như người thực hiện hành vi vi phạm. Nạn nhân luôn là người cần được bảo vệ và người vi phạm phải được xử lý nghiêm, tuy nhiên việc áp dụng pháp luật phải rõ ràng, đúng người, đúng tội nhưng cũng phải hài hòa vì mục đích của việc xử lý không chỉ là giáo dục răn đe người vi phạm mà còn thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do vậy, trong việc giải quyết các vụ việc có liên quan đến bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang luôn được các cơ quan pháp luật giải quyết hợp tình, hợp lý, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, đồng thời tạo điều kiện để đương sự có thể hàn gắn, xây dựng lại gia đình bình đẳng, hạnh phúc
2.2.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đã được luật hóa với những quy định hết sức đầy đủ, chặt chẽ. Tuy nhiên, các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ xã hội trong lĩnh vực gia đình luôn luôn có những sự vận động, phát triển đa dạng, phong phú. Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải có những sự sửa đổi, bổ sung cũng như thay thế các quy phạm pháp luật phù hợp để kịp thời điều chỉnh những vấn đề có liên quan trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể như sau:
2.2.2.1. Xác định rõ hành vi bạo lực gia đình
Để công tác phòng, chống bạo lực gia đình đạt hiệu quả như mong đợi, trước hết cần xác định rõ khái niệm “bạo lực gia đình” đang được nói tới. Ở Việt Nam, quan niệm về bạo lực gia đình của người dân còn khá mơ hồ, và dường như chỉ có bạo lực về thể chất là được lưu ý tới. Khi trong tiềm thức của mỗi công dân đều cho rằng một cái tát, một câu chửi mắng nhau lúc nóng giận là bình thường, con hư thì bố mẹ phải đánh để giáo dục, hay việc đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng là nghĩa vụ của người vợ… thì những chuyện ấy đương nhiên sẽ không bị coi là bạo lực gia đình, là vi phạm pháp luật. Vì vậy, muốn định hướng hành vi thì trước tiên cần phải định hướng về nhận thức, phải quy định một cách rõ ràng và cụ thể những hành vi mà pháp luật quy định là bạo lực gia đình và cần phải phòng chống.
Hiện nay, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Việt Nam chỉ đưa ra định nghĩa “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (Khoản 2, Điều 1) và liệt kê các hành vi được coi là bạo lực gia đình tại Khoản 1, Điều 2. Quy định như vậy cũng có nghĩa là thừa nhận 3 nhóm hành vi bạo lực là: bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, bạo lực về kinh tế nhưng lại không đưa ra sự phân loại hành vi của từng nhóm. Ngoài ra, những hành vi được nêu cũng khá chung chung, trong khi trình độ nhận thức của đại đa số người dân còn hạn chế nên cần có sự hướng dẫn cụ thể và phải phân loại chi tiết và đầy đủ về hành vi bạo lực gia đình như:
- Bạo lực thân thể: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ.
- Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con.
- Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
- Bạo lực về mặt xã hội: gồm việc cắt đứt các mối quan hệ giữa người phụ nữ với người thân trong gia đình và bạn bè.
- Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành viên gia đình (quyền tự do lao động, tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản…).
Từ những quy định chi tiết, cụ thể như trên có thể dễ dàng tuyên truyền, giáo dục cho từng nhóm đối tượng cụ thể, tăng cường nhận thức về những hành vi bạo lực gia đình, nhận diện chính xác hành vi vi phạm để từ đó có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
2.2.2.2. Xác định rõ đối tượng của bạo lực gia đình
Bên cạnh việc chỉ ra các hành vi thì việc xác định rõ các đối tượng của bạo lực gia đình cũng rất quan trọng, từ đó mới có thể xây dựng các biện pháp phòng chống bạo lực gia đình thích hợp. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (Khoản 2, Điều 1) và bổ sung “Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng” (Khoản 2, Điều 2). Tuy nhiên, Luật lại không giải thích khái niệm “thành viên gia đình”, nên gây khó hiểu trong quá trình áp dụng pháp luật. Hiện nay, đa số các trường hợp vẫn dựa vào khái niệm gia đình theo giải thích tại Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” từ đó cho rằng: thành viên gia đình là những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng. Sự suy luận này tưởng như rất logic nhưng lại không hề có căn cứ, bởi Luật Hôn nhân và gia đình và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình là hai luật độc lập, có vị trí ngang bằng nhau trong hệ thống pháp luật, nên không thể tùy tiện áp dụng khái niệm của luật này để giải thích quy định của luật khác. Như vậy, hiện nay đối tượng điều chỉnh của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa được quy định một cách rõ ràng, có thể gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, và do đó việc áp dụng các quy định này để bạo vệ nạn nhân trở nên khó khăn hơn. Xuất phát từ thực tiễn là nhận thức của người dân về bạo lực gia đình là chưa cao, để đảm bảo những quy định của pháp luật thực sự đơn giản, dễ hiểu và dễ áp dụng, các cơ quan có thẩm quyền cần quy định cụ thể, rõ ràng về đối tượng điều chỉnh của Luật này.
2.2.2.3. Quy định rõ hình thức phạt tiền đối với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình
Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình đã đưa ra những chế tài cần thiết đối với người thực hiện hành vi bạo lực gia đình, các mức phạt đối với các hành vi vi phạm đã được điều chỉnh hợp lý hơn, khắc phục những tồn tại của các quy định cũ. Tuy nhiên, vẫn còn một số quy định về hình thức phạt tiền của Nghị định này chưa thực sự hợp lý và không có tính khả thi, như: mức phạt tiền quá thấp trong một số trường hợp không đủ sức răn đe người vi phạm, hay phạt tiền là đánh thẳng vào kinh tế gia đình trong đó có cả nạn nhân cũng là người phải gánh chịu, hoặc với gia đình có điều kiện kinh tế họ sẵn sàng đóng phạt sau khi thực hiện hành vi bạo hành để sau đó tiếp tục tái diễn.
Xuất phát từ những bất cập nêu trên, có thể bỏ chế tài phạt tiền người chồng hoặc vợ khi có hành vi bạo hành mà dùng hình thức chế tài khác như lao động công ích tại địa phương… Nếu phạt chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề tài chính mà chính nạn nhân lại là người gánh chịu, như vậy sẽ không đạt được mục đích của biện pháp chế tài hành chính này. Việc xử phạt lao động công ích tại địa phương cũng chạm được đến lòng tự trọng của họ, tạo nên tiếng nói dư luận, do đó họ sẽ cố gắng tránh bằng cách không thực hiện hành vi vi phạm, vì thế hiệu quả phòng, chống bạo lực gia đình sẽ cao hơn. Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng biện pháp này còn khá mới ở Việt Nam, nên có thể quy định một cách mềm dẻo: chỉ áp dụng bắt buộc với người có hành vi tái phạm; tính thời gian lao động công ích tương đương với số tiền phạt; tiến hành lao động công ích trong các cơ sở kinh tế nhất định. Tuy nhiên, nếu đã bị áp dụng hình thức xử phạt này thì không được cho phép thay thế bằng phạt tiền để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
2.2.2.4. Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình
Việc quy định trách nhiệm và biện pháp xử lý đối với các cơ quan có trách nhiệm trong phòng, chống bạo lực gia đình có ý nghĩa quan trọng, tăng cường năng lực thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Do đó, cần phải quy định chặt chẽ hơn trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong phòng, chống bạo lực gia đình, phải có quy định cụ thể về xử lý với những hành vi vi phạm từ phía cơ quan, tổ chức để tăng cường tính răn đe và tinh thần trách nhiệm trong công tác đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình.
2.2.2.5. Tăng khung hình phạt xử lý hình sự đối với hành vi bạo lực gia đình
Theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành, khung hình phạt hiện nay đối với một số tội liên quan đến những hành vi bạo lực trong gia đình như: đối với tội bức tử (Điều 100) cao nhất là bảy năm tù, còn các tội khác mức hình phạt cao nhất cũng chỉ tới ba năm tù là chưa nghiêm, chưa đủ để mang tính răn đe. Cần quy định mức hình phạt đối với các hành vi bạo lực gia đình cao hơn mới có tác dụng ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình hiện nay ở Việt Nam. Đối với các tội giết người (Điều 93), tội cố ý gây thương tích (Điều 104) thì không có sự khác biệt giữa người thực hiện hành vi là thành viên gia đình hay không phải thành viên gia đình. Do đó pháp luật hình sự cần bổ sung thêm các tình tiết định khung như: “phạm tội đối với vợ, chồng, con cái” và “gây tổn hại sức khỏe cho các thành viên trong gia đình” vào các tội danh trên. Hành vi hành hạ, ngược đãi gây thương tích, tước đoạt tính mạng của người khác đều là những hành vi mang tính chất đặc biệt nguy hiểm vì nó vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng -một trong những quyền cơ bản của con người, ảnh hưởng xấu cho gia đình và xã hội, làm băng hoại các giá trị đạo đức. Những hành vi này nếu đặt trong quan hệ gia đình thì nó càng mang tính chất nguy hiểm nhiều hơn và cần phải có sự trừng trị nghiêm khắc hơn, bởi những thành viên trong gia đình là những người đã luôn yêu thương, chăm sóc nhau và gắn bó với nhau suốt cuộc đời.
2.2.3. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2008, đây là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, nhất là người già, phụ nữ và trẻ em – đối tượng có khả năng bị bạo lực trong gia đình, đồng thời Nhà nước cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật với chế tài xử lý nghiêm minh những hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tình trạng bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay vẫn là vấn đề nhức nhối, để Luật phòng, chống bạo lực gia đình thực sự có hiệu quả và đi vào cuộc sống, dựa trên đặc điểm tình hình địa phương và thực trạng việc thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian qua, tác giả xin được đề ra các giải pháp nhằm góp phần bảo đảm việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay, đó là:
2.2.3.1. Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình
Qua thực tiễn thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang cho thấy, nơi nào các tổ chức Đảng và chính quyền có nhận thức đầy đủ và quan tâm lồng ghép vấn đề phòng chống bạo lực gia đình vào các chương trình kinh tế- xã hội của địa phương thì nơi đó vấn đề bạo lực gia đình sẽ được cải thiện đáng kể. Ngược lại, nếu cấp ủy Đảng và chính quyền buông lỏng sự quản lý, lãnh đạo trong vấn đề phòng chống bạo lực gia đình thì nơi đó bạo lực gia đình ngày càng nặng nề, vị thế, vai trò của người phụ nữ cũng bị giảm sút. Do đó, cùng với vai trò lãnh đạo trung tâm của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền cần làm tốt chức năng và nhiệm vụ của mình trong việc quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình. Bên cạnh đó, các cơ quan bảo vệ pháp luật cần phát huy vai trò tích cực, chủ động của mình trong việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân bạo lực gia đình. Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cần chỉ đạo kịp thời, nhất quán, tăng cường hiệu quả phối kết hợp giữa các ban ngành, cơ quan, tổ chức trên địa bàn trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, huy động những nguồn lực tại chỗ cũng như nguồn vốn xã hội hóa duy trì và nhân rộng hoạt động của các mô hình phòng chống bạo lực gia đình có hiệu quả, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tại địa phương đối với công tác phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể:
Đối với các cấp ủy Đảng: thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng ủy cơ sở về công tác phòng chống bạo lực gia đình. Hàng năm, các cấp ủy Đảng cần thực hiện tốt việc nắm tình hình các vụ bạo lực gia đình, không để xảy ra những vụ việc nghiêm trọng, có sự chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động của công tác hòa giải cơ sở, nhằm góp phần ngăn chặn, giải quyết tốt các mâu thuẫn, xung đột từ gia đình.
Đối với Uỷ ban nhân dân các cấp: cần quan tâm tạo điều kiện và phối hợp để xây dựng các địa chỉ tin cậy hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình ở các địa bàn tổ dân phố (trạm y tế phường, nhà của cán bộ cơ sở có uy tín, nhà chùa…); thông báo rộng rãi qua các cuộc họp tổ dân phố và các buổi sinh hoạt của các đoàn thể về địa chỉ tin cậy và công khai số điện thoại của Chủ tịch xã, công an phường, Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ, Trưởng thôn, Tổ trưởng dân phố, Trưởng ban công tác mặt trận… để mọi người biết và tố cáo hành vi bạo lực gia đình kịp thời. Đồng thời, Uỷ ban nhân dân các cấp và các ngành chức năng cần kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, răn đe khi có thông tin về bạo lực gia đình (nhất là Công an xã, phường, thị trấn).
Đối với Mặt trận Tổ quốc: tổ chức tuyên truyền sâu rộng chính sách, pháp luật của đảng và nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, về bình đẳng giới…; kiến nghị những biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới…
Đối với Hội phụ nữ: cần đề cao vị trí, vai trò của các cấp Hội trong việc tuyên truyền pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; tuyên truyền về tác hại, ảnh hưởng của bạo lực gia đình cho cán bộ phụ nữ tại các cấp Hội, nhất là chị em phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa… Hội phụ nữ phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức các khoá tập huấn nâng cao cho chị em phụ nữ các cấp về kỹ năng tư vấn, hoà giải và kỹ năng tự bảo vệ mình và gia đình mình trong các tình huống xảy ra bạo lực gia đình đồng thời tổ chức các chương trình nhằm xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho các gia đình ở mỗi địa phương; xoá bỏ tệ nạn xã hội trong cộng đồng dân cư. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Đối với Đoàn thanh niên: cùng phối hợp với cơ quan quản lý, cơ quan chức năng tổ chức tuyên truyền về chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trong thế hệ trẻ về kỹ năng tư vấn, xử lý và phòng ngừa bạo lực gia đình, tránh để xảy ra bạo lực gia đình nhất là bạo lực gia đình đối với phụ nữ trẻ khi mới xây dựng gia đình.
2.2.3.2. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình
Cần có những chiến lược dài hạn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ thực thi pháp luật chuyên trách tại địa phương như: cán bộ tư pháp, báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ hòa giải cơ sở của Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên… kịp thời cập nhật nội dung những văn bản pháp luật mới nhất về công tác phòng chống bạo lực gia đình. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ lãnh đạo các cấp, tập huấn nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ làm công tác gia đình từ tỉnh đến cơ sở; tập huấn nâng cao kỹ năng tuyên truyền, vận động, kỹ năng tư vấn, kỹ năng thương thuyết, hoà giải, kỹ năng công tác xã hội với gia đình cho Ban chỉ đạo cấp xã, trưởng thôn, ấp, cán bộ tổ hoà giải cấp cơ sở, tổ trưởng, tổ phó Tổ nhân dân tự quản, cán bộ tác nghiệp tại Trung tâm tư vấn- dịch vụ Dân số kế hoạch hóa gia đình.
Đối với những đồng bào dân tộc, ở vùng sâu vùng xa, do do những đặc thù về văn hóa, lối sống, điều kiện tự nhiên, địa lý… cần thiết phải có đội ngũ cán bộ chuyên trách là người địa phương, am hiểu truyền thống văn hóa, ngôn ngữ của đồng bào để có thể thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đạt hiệu quả cao nhất. Để làm tốt những vấn đề này, các cấp chính quyền địa phương cần có những sự quan tâm, đầu tư thích đáng cả về nhân lực và vật lực, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, không chỉ hiểu biết pháp luật, am hiểu văn hóa địa phương mà còn có kỹ năng, kinh nghiệm trong xử lý những vụ việc có liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình. Bên cạnh đó, cần có chiến lược dài hạn đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận, bổ sung kịp thời cho những địa bàn còn thiếu, từng bước thực hiện công tác chuẩn hóa cán bộ theo những tiêu chí chung gắn với hiệu quả công việc.
2.2.3.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, thông tin về bình đẳng giới và bạo lực gia đình cho cộng đồng
Để tổ chức thực hiện tốt pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình thì một trong những biện pháp có ý nghĩa quyết định là giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật, năng lực thực hiện pháp luật về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình trong cộng đồng. Giáo dục pháp luật về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình sẽ giúp cho các chủ thể trong xã hội có kiến thức về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, có lòng tin vào sự nghiêm minh của pháp luật từ đó hình thành thói quen xử sự theo pháp luật, có ý thức pháp luật cao từ đó thực hiện những hành vi hợp pháp, phù hợp với những quy định mà pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đặt ra. Thực tiễn cho thấy, ở nước ta hiện nay, tình trạng vi phạm pháp luật trong đó có vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình còn khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, công chức cũng như trong các tầng lớp nhân dân. Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng trên là do sự thiếu hiểu biết pháp luật hoặc hiểu không sâu sắc, không thấu đáo về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Có chủ thể hiểu biết pháp luật nhưng thiếu tình cảm, lòng tin vào pháp luật, không tôn trọng pháp luật, thiếu trách nhiệm đối với nhà nước và xã hội đồng thời các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật không nghiêm, dẫn đến tâm lý coi thường và vi phạm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình. Vì vậy, việc giáo dục pháp luật có vai trò và tác dụng rất lớn trong việc ngăn chặn việc hình thành vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình,để thực hiện tốt công này, cần tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:
Đưa các nội dung tuyên truyền phòng chống bạo lực gia đình vào chương trình giảng dạy, học tập ở các cấp học, đồng thời cần nghiên cứu sớm để hình thành một số chuyên đề về phòng, chống vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình để đưa vào giảng dạy cho các lớp bồi dưỡng, đào tạo tại các trường chính trị tỉnh, thành phố và các lớp bồi dưỡng chính trị tổ chức tại huyện, thị xã để đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở có kiến thức đầy đủ về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Từ đó làm tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc phòng, chống vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình nhất là bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Nội dung giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình phải nhất quán, có hệ thống.
Tổ chức các buổi sinh hoạt tập thể trong cộng đồng với nhiều hình thức khác nhau có nội dung tuyên truyền về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, đặc biệt có sự tham gia của nam giới nhằm tạo ra một phong trào, một môi trường mới làm thay đổi quan niệm của người dân địa phương về bạo lực gia đình, đảm bảo thực hiện 100% các gia đình được học tập nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cần đảm bảo về số lượng, chất lượng các chuyên mục được đăng tải để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn hiện nay. Xây dựng một chương trình giáo dục truyền thông mạnh mẽ, rộng khắp thông qua nhiều phương thức khác nhau: xã hội, nhà trường, y tế, đoàn thể quần chúng, các phương tiện thông tin đại chúng (vô tuyến, đài truyền thanh, báo chí, các tài liệu truyền thông, các hình thức truyền thông khác như: tờ rơi, áp phích, sách bỏ túi, tổ chức câu lạc bộ, văn nghệ quần chúng, hội thi…) nhằm phổ biến kiến thức, nâng cao hiểu biết của cộng đồng về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc ngăn chặn vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Trong từng thời kỳ, cần có sự tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời những thiếu sót, nhược điểm trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, từ đó đề ra những phương hướng và biện pháp phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, tăng cường hiệu quả hoạt động. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
2.2.3.4. Nâng cao khả năng tự bảo vệ của phụ nữ trước bạo lực gia đình
Cùng với việc giáo dục nâng cao ý thức pháp luật cho cộng đồng, việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, thông tin về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ cho cộng đồng thì việc nâng cao khả năng tự bảo vệ của phụ nữ trước bạo lực gia đình là việc làm rất cần thiết, cấp bách và quan trọng bởi vì làm như vậy, chính là đã tạo điều kiện cho họ có sức mạnh để tự bảo vệ mình, giảm thiểu những rủi ro trước bạo lực, sự tự vệ này có ý nghĩa thiết thực hơn bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài để giúp họ tránh được những hậu quả đáng tiếc của nạn bạo hành gia đình.
Ngoài trách nhiệm của các cơ quan, đoàn thể ở địa phương trong việc đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kỹ năng tự vệ của người phụ nữ trước vấn đề bạo hành trong gia đình, hơn ai hết, chính người phụ nữ phải tự trang bị cho mình những kiến thức về bình đẳng giới, về bạo lực gia đình, về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình và quyền của con người cũng như quyền công dân để họ để biết cách chủ động bảo vệ mình trước sự tấn công của bạo lực gia đình.
2.2.3.5. Thực hiện việc xã hội hóa công tác phòng, chống bạo lực gia đình gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội
Xã hội hoá công tác phòng, chống bạo lực gia đình là vấn đề cấp thiết hiện nay. Mỗi cá nhân, mỗi cơ quan, tổ chức trong xã hội, cần xác định được trách nhiệm của mình đối với vấn đề vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình không còn là vấn đề riêng của mỗi gia đình mà nó đã trở thành vấn nạn quốc gia, cần sự chung tay của cả xã hội. Có như vậy, việc phòng, chống bạo lực gia đình mới đạt được hiệu quả thiết thực. Cần phải nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực hoạt động của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cơ quan nhà nước, mỗi tổ chức xã hội trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Mỗi cá nhân phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, tôn trọng luật hôn nhân và gia đình, thực hiện bình đẳng giới để ngăn chặn những hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền kịp thời giải quyết. Mỗi gia đình cần thường xuyên giáo dục, nhắc nhở các thành viên thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong việc phòng, chống bạo lực gia đình. Từng cơ quan, tổ chức trong xã hội cần nâng cao nhận thức và thấy được trách nhiệm của mình đối với vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình để định hướng hành động. Cách thức hoạt động của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, với mục đích chung là tạo điều kiện để xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, đóng góp tích cực vào sự phát triển của xã hội. Chính quyền các cấp cần có sự hoàn thiện về cách thức tổ chức, hoạt động phù hợp, kịp thời định hướng chỉ đạo, làm cơ sở cho việc phòng, chống bạo lực gia đình đạt được kết quả thiết thực. Đó chính là nội dung cơ bản của giải pháp hoàn thiện cơ chế xã hội hóa việc phòng, chống bạo lực gia đình, góp phần giảm thiểu những vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Cùng với đó, cần tiếp tục mở rộng những chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Bạo lực gia đình có một phần nguyên nhân từ sự đói nghèo, do vậy, những chính sách vĩ mô giúp người dân có được hướng đi đúng, phát triển tốt kinh tế gia đình chính là một trong những giải pháp có hiệu quả góp phần kiềm chế bạo lực gia đình.
2.2.3.6. Quy định chế độ khen thưởng, khuyến khích người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình
Đây là giải pháp tích cực nhằm thúc đẩy tinh thần chủ động của cộng đồng trong việc góp sức mình vào cuộc đấu tranh loại bỏ vi phạm pháp luật trong đó có vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Bên cạnh việc xử lý kiên quyết, nghiêm minh những hành vi vi phạm thì việc khen thưởng kịp thời, đúng mức sẽ tạo động lực hành động cho mỗi công dân, thúc đẩy phong trào phòng, chống bạo lực gia đình tại địa bàn phát triển mạnh mẽ và điều này sẽ làm hoàn thiện hơn cơ chế xã hội hóa trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Việc khen thưởng cần xét theo những tiêu chí cụ thể và có những hình thức khen thưởng phù hợp, có thể khen thưởng bằng vật chất, tinh thần hoặc thông qua việc tuyên dương những gương điển hình tiên tiến trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, có thể khen thưởng theo định kỳ hoặc đột xuất. Khen thưởng cũng đảm bảo yếu tố khách quan, đúng người, đúng việc, thể hiện sự quan tâm kịp thời, đúng mức của chính quyền, đoàn thể tới những cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình, từ đó tạo hiệu ứng xã hội tốt nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 đã tập trung phân tích thực trạng bạo lực gia đình cũng như thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang, chỉ ra những mặt tích cực cũng như những tồn tại, hạn chế cùng những nguyên nhân của thực trạng này trong quá trình trình triển khai thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tại tỉnh Tuyên Quang. Đây chính là cơ sở để tác giả luận văn đề xuất quan điểm cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên cả nước.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình và thực tiễn pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang, luận văn rút ra một số kết luận sau đây:
Thứ nhất, bạo lực gia đình là vấn đề được cả xã hội quan tâm, đó là hành vi cố ý của cá nhân, gây ra những hậu quả khổng nhỏ cho cả cá nhân, gia đình và xã hội.. Các hành vi bạo lực gia đình có nguồn gốc sâu xa từ sự bất bình đẳng giới đã tồn tại lâu dài trong xã hội, dẫn tới suy giảm vị thế của người phụ nữ, và hành vi bạo lực gia đình bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau. Nghiên cứu, đánh giá đầy đủ các vấn đề trên đây sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay.
Thứ hai, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới vấn đề bạo lực gia đình, nhằm đảm bảo các điều kiện cần thiết để xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp phần ổn định trật tự xã hội, thực hiện các mục tiêu về quyền con người, quyền công dân đã được Nhà nước ghi nhận. Hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay được thể chế hóa từ những chủ trương, đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác phòng, chống bạo lực gia đình nhằm xây dựng gia đình Việt Nam bình đẳng, tiến bộ, ấm no và hạnh phúc.
Thứ ba, từ thực trạng tình hình bạo lực gia đình và thực trang pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang, có thể thấy chính quyền và nhân dân địa phương đã đạt được những thành tích đáng khích lệ, triển khai có hiệu quả Luật phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản pháp luật có liên quan vào thực tiễn địa phương, nạn bạo lực gia đình về cơ bản đã được đẩy lùi. Tuy nhiên, vẫn còn nổi lên nhiều bất cập trong pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình như: nhiều quy định pháp luật điều chỉnh hành vi bạo lực gia đình còn thiếu, tính khả thi chưa cao, một số trường hợp chế tài xử lý còn thiếu tính răn đe, nhận thức của cộng đồng về vấn đề bạo lực gia đình còn yếu, thiếu thốn về nguồn lực, kinh phí thực hiện… Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết cho cả chính quyền trung ương và địa phương phải có những sửa đổi, bổ sung kịp thời để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay.
Thứ tư, để hoàn thiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung, cần phải bám sát những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống bạo lực gia đình gắn với những điều kiện cụ thể về kinh tế, xã hội của địa phương, đồng thời, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trên các lĩnh vực từ việc hoàn thiện quy định pháp luật đến bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình có hiệu quả, tăng cường sự lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và Chính quyền, nâng cao chất lượng cán bộ cho tới việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật, thực hiện xã hội hóa công tác phòng, chống bạo lực gia đình…để góp phần đẩy lùi bạo lực gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc- tế bào lành mạnh của xã hội. Để thực hiện tốt những giải pháp trên, không chỉ cần có sự nỗ lực từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội mà còn cần có sự vào cuộc của mọi công dân và cả cộng đồng để cùng chung tay xóa bỏ bạo lực gia đình, xây dựng một xã hội bình đẳng và bác ái./. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình tại Tuyên Quang

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
