Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm định và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo Đánh giá tác động môi trường ở nước ta hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thẩm định và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo Đánh giá tác động môi trường
Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nói chung, pháp luật về đánh giá tác động môi trường nói riêng là một đòi hỏi tất yếu và cấp bách trong tình hình hiện nay. Qua thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật đánh giá tác động môi trường trong thời gian qua đã bộc lộ nhiều điểm bất cập dẫn đến không đạt được hiệu quả như mong muốn. Về nguyên nhân, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Có thể là nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan; có thể do các quy định pháp luật còn thiếu sót, chưa hợp lý bên cạnh hoạt động thực thi pháp luật trên thực tế không được quan tâm đúng mức… Những hạn chế và nguyên nhân của vấn đề này đã được đề cập cụ thể ở phần trước, dưới đây là một số phương hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về thẩm định báo cáo ĐTM, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM và thực thi pháp luật bảo vệ môi trường nói chung, pháp luật về đánh giá tác động môi trường nói riêng nhằm thực sự phát huy hiệu quả trong thời gian tới.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BVMT, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Trước mắt, tiếp tục tập trung xây dựng, sửa đổi bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BVMT năm 2005 phù hợp với tình hình mới. Bên cạnh đó, sửa đổi các đạo luật chuyên ngành có liên quan cho phù hợp với các quy định của Luật Bảo vệ môi trường và ban hành các luật về bảo vệ môi trường như: Luật Kiểm soát ô nhiễm, Luật Giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải… Bởi lẽ, Luật Bảo vệ môi trường bám theo các hoạt động phát triển kinh tế xã hội để điều chỉnh vấn đề môi trường, trong khi đó, Việt Nam đang ở thời kỳ mọi cái đều thay đổi chóng mặt, đặc biệt là việc ban hành luật mới [21].
Khi xây dựng Luật Bảo vệ môi trường, căn cứ cơ bản vẫn là các luật hiện hành nhưng ngay sau khi thực hiện được một thời gian thì nhiều luật đã thay đổi, thậm chí thay đổi rất nhiều, đặc biệt là các luật về đầu tư, thương mại, doanh nghiệp…Vì vậy, có những quy định không đồng bộ hoặc xuất hiện các khoảng trống pháp luật cần phải được tiếp tục hướng dẫn. Đồng thời, xây dựng các định mức kinh tế, kỹ thuật trong lĩnh vực BVMT; tăng cường các chế tài xử phạt; từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy xã hội hoá hoạt động BVMT. Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
Thứ hai, nên tách chế định Đánh giá tác động môi trường trong Luật Bảo vệ môi trường thành một luật riêng; mà bước đầu có thể ban hành Pháp lệnh về đánh giá tác động môi trường. Ở một số quốc gia trên thế giới, đánh giá tác động môi trường được xây dựng thành một đạo luật riêng. Các nội dung về đánh giá tác động môi trường trong pháp luật về bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay được quy định tản mạn, chưa thật cụ thể và chi tiết trong Luật Bảo vệ môi trường. Chẳng hạn, một nội dung điều chỉnh nhưng lại được phân bố ở các chương, mục, điều, khoản khác nhau, ví dụ như: đối tượng lập báo cáo ĐTM được quy định tại Điều 19, Điều 63, Điều 65, Điều 73 Luật BVMT năm 2005; vấn đề thẩm định báo cáo ĐTM tại Điều 21 và cả Điều 60 Luật BVMT năm 2005. Khi chế định đánh giá tác động môi trường được xây dựng thành luật riêng mới có thể quy định một cách đầy đủ các vấn đề liên quan đến ĐTM, quy định cụ thể, rõ ràng địa vị pháp lý của các chủ thể trong quá trình đánh giá tác động môi trường, thẩm định báo cáo ĐTM và hoạt động kiểm tra, giám sát hậu thẩm định báo cáo ĐTM. Ở nước ta, bước đầu có thể xây dựng dưới hình thức là Pháp lệnh về đánh giá tác động môi trường.
Thứ ba, tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về BVMT từ Trung ương đến cơ sở; phát triển các tổ chức sự nghiệp môi trường và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực BVMT. Đồng thời nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ chuyên ngành, cán bộ quản lý về môi trường, tổ chức các lớp, chương trình đào tạo về đánh giá tác động môi trường.
Một thực tế hiện nay là số lượng đội ngũ cán bộ bảo vệ môi trường trong cơ quan nhà nước là quá mỏng. Ở các nước trên thế giới, thông thường, hệ thống cơ quan và đội ngũ cán bộ quản lý về bảo vệ môi trường được tổ chức theo hình chóp, tức là tăng cường, mở rộng ở cấp dưới. Còn ở Việt Nam thì ngược lại, cơ quan quản lý, đội ngũ cán bộ phụ trách công tác quản lý về bảo vệ môi trường lại được tổ chức theo hình chóp dựng ngược, tức là số lượng cán bộ, công chức về bảo vệ môi trường lại giảm dần từ cấp trung ương xuống địa phương. Đặc biệt, đến cấp xã, cán bộ quản lý về môi trường được xem như không có. Ở cấp xã, cán bộ có thể có chức năng về quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường lại được gọi là “cán bộ địa chính”. Trong khi đó, trên thực tế, các dự án đầu tư lại đóng trên địa bàn cấp xã, nhân dân và cộng đồng cấp xã là chủ thể trực tiếp chịu tác động từ hoạt động của dự án và chứng kiến trực tiếp, hàng ngày các hoạt động của dự án tác động đến môi trường lại không có cán bộ chuyên môn để quản lý, kiểm tra, giám sát về bảo vệ môi trường. Do đó, hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động ĐTM và sự tuận thủ pháp luật bảo vệ môi trường của các chủ hoạt động phát triển của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường hiệu quả thấp là điều khó tránh khỏi. Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
Hiện nay, kinh phí chi cho sự nghiệp môi trường đã được bố trí chi khoảng 1% tổng chi ngân sách hàng năm, nguồn chi sự nghiệp môi trường đã được hình thành và quy định cụ thể tại Luật BVMT năm 2005 và các văn bản có liên quan [11]. Trong tình hình mới hiện nay, việc tăng nguồn kinh phí về bảo vệ môi trường từ ngân sách nhà nước cho hoạt động BVMT là điều cần thiết. Bởi lẽ, vấn đề bảo vệ môi trường trong những năm gần đây và hiện tại trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng đang là vấn đề tâm điểm, mang tính thời sự và đang được sự quan tâm sâu sắc của cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Bên cạnh đó, để tăng nguồn thu cho hoạt động bảo vệ môi trường Chính phủ nên có chương trình kêu gọi sự hỗ trợ, giúp đỡ về tài chính, kỹ thuật, kinh nghiệm BVMT nói chung, ĐTM nói riêng của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các nước phát triển và các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước. Tăng các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác về môi trường hợp lý hơn cho từng hoạt động phát triển có tác động đến môi trường. Điều quan trọng, Nhà nước phải có chính sách sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn tài chính trên tránh trường hợp chi dàn trải, thiếu trọng tâm, thiếu trọng điểm gây lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả.
Bên cạnh đó, nên tăng cường hệ thống cơ sở vật chất về bảo vệ môi trường (máy móc, thiết bị thí nghiệm, hệ thống máy quan trắc,…). Hệ thống quan trắc và phân tích môi trường mặc dù đã được tăng cường trong thời gian gần đây song vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Trong khi đó, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chưa thỏa đáng cho xây dựng kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường nói chung và hệ thống quan trắc môi trường nói riêng. Có hệ thống cơ sở vật chất về bảo vệ môi trường tốt giúp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các sự cố môi trường, suy thoái môi trường một cách có hiệu quả.
Thứ năm, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường đồng bộ và đầy đủ. Bên cạnh việc rà soát, điều chỉnh, chuyển đổi các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường hiện hành, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên ban hành các quy chuẩn kỹ thuật môi trường mới. Tiêu chuẩn môi trường là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá môi trường. Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng. Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý môi trường. Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng. Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
Trong công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là công tác đánh giá tác động môi trường, hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chúng là những căn cứ, chuẩn mực quan trọng và nhất định không thể thiếu được trong ĐTM. Có tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường thì mới có thể so sánh, đánh giá và xác định được mức độ lớn hay nhỏ của các tác động xảy ra. Một khi đã không thể xác định được mức độ, quy mô cụ thể của các tác động này thì cũng không thể đưa ra được biện pháp ứng phó tương thích. Do vậy, nếu không đủ chẩn mực để so sánh và xác định mức độ tác động dẫn đến công tác ĐTM và ĐMC không đáp ứng yêu cầu thực tế của công tác BVMT và phát triển bền vững. Hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường đầy đủ, đồng bộ là cơ sở để hoạt động ĐTM có hiệu quả, khoa học. Đặc biệt, trong hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường là cơ sở để HĐTĐ xem xét, đánh giá các nội dung của báo cáo ĐTM. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các chủ thể vi phạm hoạt động ĐTM nói riêng, pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung.
Thứ sáu, tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền về chấp hành, tuân thủ pháp luật về BVMT. Có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan này và tăng cường hơn nữa vai trò của Cục Cảnh sát môi trường và tổ chức lực lượng cảnh sát môi trường trong hoạt động điều tra tội phạm hình sự về môi trường. Hoạt động kiểm tra, giám sát của các chủ thể có thẩm quyền đối với việc chấp hành các quy định ĐTM nói riêng, pháp luật bảo vệ môi trường nói chung có ý nghĩa rất quan trọng. Đặc biệt trong tình hình nước ta hiện nay, ý thức tuân thủ pháp luật và bảo vệ môi trường của cộng đồng còn thấp, bên cạnh các quy định về chế tài xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường chưa thỏa đáng và chưa đủ sức răn đe.
Bên cạnh đó, phải tăng cường việc trao đổi thông tin, tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước liên quan trong xét duyệt, quản lý, giám sát các dự án đầu tư.
Thứ bảy, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức của nhân dân, đặc biệt là nhóm đối tượng có khả năng gây ảnh hưởng đến môi trường nhiều nhất (chủ thể kinh doanh). Hiện nay, ý thức về bảo vệ môi trường chung, tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng của phần lớn nhân dân ta còn thấp, trong khi đó, công tác truyền thông về môi trường cho các hộ gia đình, người dân (nhất là đồng bào dân tộc các vùng sâu, vùng xa) còn hạn chế, nhiều trường hợp còn chưa thật hiệu quả. Vì vậy, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao ý thức của nhân dân trong hoạt động bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh hơn nữa việc đưa giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân. Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
Thứ tám, cần có cơ chế cụ thể để cộng đồng dân cư tham gia vào quá trình xây dựng, thẩm định và đặc biệt là giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường của chủ dự án nói riêng, hoạt động bảo vệ môi trường nói chung. Phải xây dựng cơ chế để cộng đồng dân cư bảo vệ quyền và lợi ích của mình (như cơ chế khởi kiện tập thể…), của tập thể, của xã hội. Phát huy vai trò chủ động, tích cực của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức đoàn thể các cấp, các tổ chức quần chúng, cộng đồng dân cư trong việc tham gia công tác BVMT; đa dạng hóa các loại hình hoạt động BVMT; khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện các dịch vụ BVMT.
Thứ chín, xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật về đánh giá tác động môi trường. Đổi mới và nâng cao chất lượng lập, thẩm định báo cáo ĐTM và hoạt động sau thẩm định.
ĐTM là công cụ mang tính khoa học – kỹ thuật cao, cần có những hướng dẫn kỹ thuật càng tỷ mỷ, cụ thể càng tốt, mặt khác, cách tiếp cận và phương pháp tiến hành ĐTM giữa các ngành, lĩnh vực cũng rất khác nhau. Để nâng cao chất lượng của công tác ĐTM, ngoài các đòi hỏi về mặt pháp lý (công cụ pháp luật), còn phải có các hướng dẫn kỹ thuật cần thiết đối với từng loại hình dự án. Các hướng dẫn kỹ thuật này không chỉ phục vụ và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong lập báo cáo ĐTM mà còn phục vụ cho các cơ quan liên quan khi thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM. Hiện tại, để thực hiện tốt và có hiệu quả cao công tác ĐTM theo tinh thần của Luật BVMT 2005, một mặt, các hướng dẫn kỹ thuật đã có trước đây cần phải được bổ sung, cập nhật, mặt khác, cần tiếp tục nghiên cứu để xây dựng thêm hướng dẫn ĐTM cho những loại hình dự án mới. Để hoạt động thẩm định có hiệu quả, Nhà nước phải có chính sách tài chính hợp lý cho các cá nhân tham gia hoạt động này đồng thời với việc quy định cơ chế thẩm định khoa học và hợp lý.
3.2. Những giải pháp cụ thể Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM cũng như tìm hiểu việc thực thi các quy định này trong thực tiễn, tác giả đã thấy được những bất cập trong các quy định của pháp luật cần được hoàn thiện để hoạt động ĐTM thực sự phát huy hơn nữa ý nghĩa của mình trong tương lai. Dưới đây, tác giả xin đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về ĐTM nói chung, thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM nói riêng.
3.2.1. Về thẩm định báo cáo Đánh giá tác động môi trường
- Về Hội đồng thẩm định
Để hoạt động thẩm định của Hội đồng thẩm định thật sự có hiệu quả nên có quy định hợp lý hơn về cơ cấu thành viên hội đồng thẩm định giữa hội đồng thẩm định cấp trung ương và cấp địa phương (đặc biệt tại các tỉnh vùng sâu, vùng xa) hoặc nên tập trung vào giải pháp là phải có chính sách khuyến khích các nhà khoa học, các chuyên gia tham gia vào hội đồng thẩm định (đặc biệt ở cấp tỉnh) với các cơ chế hỗ trợ hợp lý (thù lao, chi phí đi lại, ăn ở…).
Đối với vấn đề thù lao cho cán bộ tham gia Hội đồng thẩm định. Nên tăng mức thù lao cho các thành viên tham gia hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM tương ứng với công sức, thời gian mà họ đã bỏ ra đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay. Hiện tại, mỗi một buổi tham gia Hội đồng thẩm định, ủy viên Hội đồng chỉ được trả thù lao là 150.000 đồng. Thông thường, mỗi một cuộc họp Hội đồng thẩm định chính thức đối với báo cáo ĐTM bình thường mất khoảng một ngày làm việc, nên mỗi một ủy viên Hội đồng chỉ được trả thù lao cho ngày làm việc đó là 300.000 đồng. Để có thể tham dự cuộc họp đó của Hội đồng thẩm định, trước đó, các ủy viên phải bỏ ra một lượng thời gian không nhỏ để nghiên cứu, tìm hiểu hồ sơ về dự án, báo cáo ĐTM, chưa kể đến việc ủy viên phản biện để có bản nhận xét phải mất nhiều thời gian hơn nữa. Với yêu cầu các thành viên tham gia Hội đồng khi lựa chọn vào các chức danh của Hội đồng phải có học hàm, học vị, có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường [6, khoản 5 Điều 8] thì mức thù lao như vậy là quá thấp, chưa tương xứng với công sức, lượng chất xám mà họ phải bỏ ra. Tiếp đến, bên cạnh việc xác định mức thù lao đối với các thành viên tham gia Hội đồng thẩm định căn cứ vào chức danh đảm nhận trong Hội đồng thì có thể căn cứ vào học hàm, học vị, thâm niên kinh nghiệm của từng thành viên tham gia làm cơ sở để xác định và chi trả. Bên cạnh đó, có thể xác định mức thù lao khác nhau giữa các các thành phần của Hội đồng như thành viên tham dự trực tiếp so với tham gia theo sự ủy quyền, hoặc là đại diện của cơ quan quản lý nhà nước, đại diện cộng đồng… để chi trả cho hợp lý. Đặc biệt hơn nữa, khi quy định được mức thù lao hợp lý mới có cơ sở để xác định trách nhiệm đối với thành viên Hội đồng thẩm định trong hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM của mình.
Nguồn kinh phí để tăng khoản thù lao cho thành viên Hội đồng thẩm định được lấy từ nguồn ngân sách Nhà nước về vấn đề bảo vệ môi trường, tăng lệ phí thẩm định báo cáo ĐTM và các nguồn tài chính khác. Nên có hướng dẫn cụ thể hơn việc xây dựng phương án đầu tư ngân sách Nhà nước cho các hoạt động bảo vệ môi trường; nghiên cứu sửa đổi Thông tư liên tịch số 114/2006/TTLT-BTC-BTNMT ngày 29/12/2006 về quản lý và sử dụng kinh phí chi sự nghiệp môi trường hoặc ban hành văn bản quy định mới. Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
- Nên chăng thành lập một hệ thống cơ quan riêng biệt, độc lập để thực hiện công tác thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM.
Hoạt động thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM là hoạt động mang tính phản biện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các chủ thể có dự án phải lập báo cáo ĐTM. Do đó, yêu cầu cơ quan tiến hành thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM phải độc lập, tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động của mình. Chủ dự án đầu tư có thể là cá nhân hoặc tổ chức, có thể là chủ thể dân sự hoặc cơ quan nhà nước (hoặc sử dụng vốn của Nhà nước). Đối với các chủ thể dân sự là chủ dự án thì vấn đề độc lập, tự chủ của cơ quan có quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM không là vấn đề cần quan tâm nhiều. Ngược lại, các chủ dự án đầu tư là các cơ quan nhà nước hoặc dự án có sử dụng vốn của Nhà nước, do cơ quan nhà nước quyết định chủ trương đầu tư thì vấn đề độc lập trong hoat động cũng như trong cơ cấu tổ chức của cơ quan thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM lại là vấn đề cần phải quan tâm đặc biệt.
Hiện nay, các dự án lớn và có ảnh hưởng đến môi trường lớn thường do cơ quan Nhà nước ở cấp trung ương quyết định chủ trương đầu tư. Trong tình hình nước ta đang phát triển nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì các chủ trương đã đặt ra, các cơ quan nhà nước phần nào vẫn đặt lợi ích kinh tế làm trọng tâm nên các vấn đề về bảo vệ môi trường chưa thực sự được quan tâm. Điều đó có thể dẫn đến hiện tượng vì mục tiêu kinh tế trước mắt mà cơ quan nhà nước không quan tâm đến hậu quả môi trường có thể xảy ra khi tiến hành hoạt động dự án. Do phần lớn các cơ quan thẩm định (có thể bao gồm phê duyệt) báo cáo ĐTM là cơ quan cấp dưới hoặc trực thuộc cơ quan quyết định chủ trương đầu tư nên tính độc lập, phản biện và chịu trách nhiệm trong hoạt động thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM hầu như không có. Thế nên, đã đặt các cơ quan (và cá nhân) chịu trách nhiệm thẩm định báo cáo ĐTM vào thế “không được làm trái ý cấp trên” [38]. Điều đó ảnh hưởng rất lớn chất lượng của hoạt động thẩm định, ảnh hưởng đến tính khách quan, chuẩn xác trong việc đưa ra quyết định của HĐTĐ và cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM. Do vậy, nên chăng thành lập một hệ thống cơ quan có chức năng chuyên thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM (cả báo cáo ĐMC) nhằm đảm bảo được tính khách quan, khoa học trong hoạt động thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM. Hệ thống cơ quan này có thể trực thuộc hệ thống cơ quan lập pháp (Quốc hội, Hội đồng nhân dân). Mặt khác, khi cơ quan thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM là cơ quan độc lập, mới có thể quy định được trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan này một cách rõ ràng hơn và xác định được tính chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM (báo cáo ĐMC) của các cơ quan có thẩm quyền.
- Quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM đối với quyết định của mình.
Một thực tế hiện nay là có một số dự án đã được phê duyệt báo cáo ĐTM nhưng khi đi vào hoạt động gây tác động tiêu cực đến môi trường không thể khắc phục do trong báo cáo ĐTM không dự báo được các tác động tiêu cực của dự án đến môi trường, đồng thời không đưa ra được biện pháp giảm thiểu nhưng vẫn được phê duyệt thì khó có thể truy cứu trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền đã thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM đó. Bởi lẽ, pháp luật không quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan này đối với hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM. Bên cạnh đó, pháp luật cũng không có cơ chế để xác định trách nhiệm của các chủ thể này đối với các hành vi, quyết định sai trái của mình. Bởi vậy, nó đã ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động thẩm định cũng như phê duyệt báo cáo ĐTM trong thời gian qua.
Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM có chức năng tư vấn, giúp thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan tổ chức việc thẩm định trong việc xem xét, đánh giá về chất lượng của báo cáo ĐTM của dự án đầu tư để làm căn cứ xem xét, phê duyệt theo quy định. Do đó, quyết định cuối cùng và quan trọng nhất đối báo cáo ĐTM vẫn là quyết định của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM. Vậy trường hợp, báo cáo ĐTM không đáp ứng về nội dung và hình thức hoặc không đưa ra được các biện pháp bảo vệ môi trường hữu hiệu nhưng các cơ quan có thẩm quyền vẫn quyết định thông qua, phê duyệt báo cáo ĐTM, sau này, khi dự án đi vào hoạt động gây tác động tiêu cực đến môi trường nghiêm trọng thì trách nhiệm sẽ được xác định cho cơ quan nào? Cơ quan thẩm định hay cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM? Bên cạnh đó, các quy định nào, căn cứ nào để áp dụng để xác định trách nhiệm pháp lý của các cơ quan đã thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM của dự án đó? Đối với Hội đồng thẩm định, trách nhiệm là trách nhiệm cá nhân hay tập thể? Trên thực tế, nếu truy cứu trách nhiệm của các cơ quan này khó tránh khỏi hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, đổ lỗi cho nhau giữa các cơ quan, cá nhân. Do vậy, Nhà nước phải có quy định cụ thể trong pháp luật bảo vệ môi trường và các văn bản pháp luật liên quan về trách nhiệm của cơ quan thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM đối với quyết định của mình. Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
- Vấn đề phân cấp, uỷ quyền của các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM và kiểm tra việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM
Quy định cụ thể vấn đề phân cấp, uỷ quyền của các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM và kiểm tra việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM cho cơ quan cấp dưới, trực thuộc thực hiện một số công đoạn trong quá trình ĐTM (như tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM, kiểm tra thực hiện hậu thẩm định báo cáo ĐTM) trong Luật Bảo vệ môi trường, tránh trường hợp các quy định dưới luật trái với Luật (Nghị định 21/2008/N Đ-CP quy định vấn đề uỷ quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM). Có như vậy, mới vừa đảm bảo được tính hợp pháp của việc uỷ quyền vừa đảm bảo được chất lượng, hiệu quả thực thi trên thực tế.
Trước mắt, để giải quyết tình trạng đình trệ, ách tắc trong công tác thẩm định và hoạt động kiểm tra việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM, các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM và kiểm tra việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM có thể uỷ quyền phân cấp thực hiện một số công đoạn trong quá trình ĐTM (như tổ chức thẩm định, kiểm tra thực hiện hậu thẩm định báo cáo ĐTM). Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
Theo khảo sát của các cơ quan chức năng, tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh được xác định là khá nghiêm trọng. Môi trường không khí, nước mặt, nước ngầm… đều có tình trạng ô nhiễm nặng. Một trong những nguyên nhân chính là do nhận thức, ý thức chấp hành Luật Bảo vệ môi trường còn rất yếu. Đến nay, mặc dù nhiều khu công nghiệp đã cơ bản được lấp đầy có phê duyệt hạng mục các công trình xử lý môi trường, thậm chí đã được phê duyệt báo cáo ĐTM nhưng vẫn chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải và không thực hiện các nội dung yêu cầu tại báo cáo ĐTM. Các doanh nghiệp trong khu cụm công nghiệp cũng ít đầu tư cho các hệ thống xử lý môi trường, một phần do vẫn đặt lợi ích kinh tế lên trên vấn đề môi trường, mặt khác ỷ lại việc xử lý nước thải cho Ban quản lý khu, cụm công nghiệp do đã trả kinh phí thuê hạ tầng tại các khu, cụm công nghiệp này [19]. Thế nên, một số tỉnh, thành phố đã thực hiện việc uỷ quyền, phân cấp hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM và cả hoạt đông kiểm tra việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM cho cơ quan cấp dưới trực thuộc (Sở TNMT, Ban quản lý Khu kinh tế…). Việc phân cấp này sẽ giúp bảo đảm độ chính xác và đẩy nhanh việc thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng như việc thực hiện nội dung báo cáo này của các dự án trên địa bàn quản lý. Điều đó vừa tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, vừa thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về môi trường trước tình trạng không ít dự án đầu tư ồ ạt trước đây không có phương án xử lý ô nhiễm hoặc xử lý không triệt để gây ô nhiễm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của người dân.
3.2.2. Về kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo Đánh giá tác động môi trường
- Quy định cụ thể, tập trung về quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan phê duyệt, cơ quan quản lý nhà nước về BVMT và các cơ quan, tổ chức liên quan
Pháp luật BVMT nên quy định cụ thể, tập trung về quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan phê duyệt, cơ quan quản lý nhà nước về BVMT và các cơ quan, tổ chức liên quan, đặc biệt là các cơ quan chuyên môn về môi trường của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đối với các giai đoạn thực hiện và hoạt động của dự án trong pháp luật bảo vệ môi trường.
Trong chế định về đánh giá tác động môi trường tại Luật bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với việc kiểm tra, giám sát thực hiện nội dung báo cáo ĐTM và hoạt động bảo vệ môi trường được quy định tản mạn, không tập trung và không cụ thể. Chủ yếu pháp luật về bảo vệ môi trường chỉ quy định trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM nhưng chưa thật rõ ràng. Bên cạnh đó, còn có các quy định chồng chéo nhau, mâu thuẩn nhau khi quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của các chủ thể. Do vậy, khi các cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên thực tế có thể dẫn đến hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, đổ lỗi cho nhau, đặc biệt khi có vấn đề môi trường xảy ra. Thế nên, cần quy định cụ thể, rõ ràng và hợp lý quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp, các ngành đối với từng giai đoạn, từng khâu của hoạt động đánh giá tác động môi trường nói chung, hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM nói riêng. Cơ quan nào có trách nhiệm chủ yếu, cơ quan nào có trách nhiệm phối hợp, công việc nào có thể uỷ quyền cho cơ quan cấp dưới,… Một khi đã quy định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan này thì khi có vấn đề về môi trường xảy ra (ô nhiễm, sự cố môi trường, suy thoái môi trường…) mới có thể xác định được mức độ trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với dự án, khu vực, địa phương đó.
- Quy định quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan Cảnh sát môi trường trong pháp luật BVMT.
Cơ quan cảnh sát môi trường có chức năng chức năng phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm; điều tra xử lý các vi phạm khác về môi trường theo quy định của pháp luật. Ngày 29/11/2006, Bộ trưởng Bộ Công an ký Quyết định số 1899/2006/QĐ-BCA thành lập Cục Cảnh sát môi trường. Đây là một bước tiến quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta thời gian vừa qua. Mặc dù mới được hành lập nhưng lực lượng CSMT đã góp phần hỗ trợ, phố hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thực hiện công tác bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn. Lực lượng CSMT là chủ thể quan trọng trong công tác BVMT, lực lượng này đã phát hiện và xử lý nhiều vụ việc vi phạm pháp luật BVMT gây xôn xao dư luận trong thời gian qua. Do mới được thành lập nên quyền hạn, trách nhiệm của lực lượng CSMT chủ yếu được quy định trong quyết định thành lập cơ quan này. Mới đây, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02/04/2008 có quy định quyền xử lý vi phạm hành chính của cơ quan CSMT và đến ngày 27/2/2009 có quy định về quyền điều tra, khởi tố vụ án hình sự của cơ quan CSMT tại khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự do Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thông qua ngày 27/2/2009. Nhưng như thế vẫn là chưa đủ, bởi lực lượng CSMT có chức năng chức năng phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm về môi trường; điều tra xử lý các vi phạm khác về môi trường. Trong khi đó, pháp luật về BVMT chưa có một điều khoản nào quy định địa vị pháp lý của cơ quan CSMT trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành. Vì vậy, nên quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan Cảnh sát môi trường trong luật bảo vệ môi trường và các văn bản pháp luật liên quan để lực lượng CSMT phát huy hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hỗ trợ và phối hợp cùng cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cùng các chủ thể có liên quan thực hiện công tác bảo vệ môi trường hiệu quả vì mục tiêu phát triển bền vững.
Quy định cụ thể, chi tiết địa vị pháp lý của cộng đồng trong việc giám sát thực hiện nội dung Báo cáo ĐTM nói riêng, giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung trong Luật BVMT và các văn bản pháp quy liên quan.
Cho đến nay, pháp luật nước ta chưa quy định cơ chế giải quyết kiến nghị của người dân (trình tự, thủ tục của việc giải quyết kiến nghị) liên quan đến công tác BVMT. Pháp luật nước ta cũng chưa quy định cơ chế giải quyết các khiếu kiện tập thể, khiếu kiện đông người, không thừa nhận cơ chế kiện tập thể áp dụng cho lĩnh vực BVMT, điều mà các quốc gia trên thế giới đang áp dụng khá hiệu quả. Bên cạnh đó, điểm hạn chế trong quy định của pháp luật nước ta về việc phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong việc giám sát, thực thi việc tuân thủ pháp luật BVMT là sự thiếu cơ chế xử phạt các chủ thể không tuân thủ việc giải quyết các yêu cầu, khiếu nại, kiến nghị của người dân – các chủ thể không tuân thủ này bao gồm các chủ dự án hoặc các cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị của người dân.
Chính vì thiếu các cơ chế đảm bảo cho cộng đồng có quyền năng đích thực trong việc giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM nói riêng, việc tuân thủ pháp luật BVMT của các chủ thể gây hại cho môi trường nói riêng mà trong thực tế, cộng đồng dân cư chưa thực sự phát huy được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường. Không ít cộng đồng dân cư chịu nhiều thiệt hại về môi trường như phải sống gần các khu vực bị ô nhiễm nguồn nước, sống gần các nhà máy thải ra các loại khí, chất thải độc hại… nhưng cộng đồng dân cư vẫn không kiến nghị, khiếu nại, tố cáo hoặc nếu có cũng chưa được giải quyết thỏa đáng, kịp thời, gây nhiều bức xúc cho người dân sống trong cộng đồng, điển hình là vụ đòi bồi thường thiệt hại của cộng đồng dân cư đối với Công ty Vedan Việt Nam vẫn chưa được giải quyết [28]. Một số nơi, phản ứng của người dân trở nên rất cực đoan, chẳng hạn, ngăn chặn không cho các phương tiện vận tải của nhà máy được hoạt động nhằm khiến cho hoạt động của nhà máy bị đình trệ, chặn xe chở rác không cho vào bãi rác… Những phản ứng tự phát kể trên rất không có lợi đối với việc giữ gìn trật tự, tri an, phát triển kinh tế và cũng không phải là cách bảo vệ môi trường tối ưu.
Vì vậy, nên quy định rõ địa vị pháp lý của cộng đồng trong việc giám sát thực hiện nội dung báo cáo ĐTM của chủ dự án nói riêng, trách nhiệm bảo vệ môi trường của các chủ thể hoạt động phát triển nói chung trong luật bảo vệ môi trường và các văn bản pháp luật liên quan. Tham khảo cơ chế giải quyết kiến nghị của người dân trong một số lĩnh vực khác để áp dụng cho lĩnh vực bảo vệ môi trường. Chẳng hạn, nên tham khảo Nghị định số 20/2008/NĐ – CP ngày 14/02/2008 về việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của các nhân, tổ chức về quy định hành chính để xây dựng quy trình tiếp nhận, xử lý kiến nghị về môi trường của người dân theo hướng đáp ứng các yêu cầu như công khai, minh bạch, quy trình cụ thể, rõ ràng, thống nhất, thủ tục tiếp nhận đơn giản và thuận tiện. Bên cạnh đó, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, nguồn kinh phí giải quyết kiến nghị, quy định biện pháp chế tài cụ thể, nghiêm khắc.
- Sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới hệ thống các chế tài xử lý vi phạm pháp luật BVMT đầy đủ, có hệ thống, mang tính nghiêm khắc, răn đe và phòng ngừa Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
Hiện nay, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đang diễn biến hết sức phức tạp trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội nước ta, không những gây thiệt hại về môi trường sinh thái mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Một số trướng hợp vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường gây ảnh hưởng đến môi trường đặc biệt nghiêm trọng đã bị phát giác (Vụ Công ty Vedan Việt Nam xả thải xuống dòng sông Thị Vải [28], vụ Công ty thuộc da Hào Dương, vụ Công ty Huyndai Vinashin…). Nhưng khi cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý thì nảy sinh nhiều vấn đề, đặc biệt là hình thức và chế tài được áp dụng để xử lý các trường hợp này. Chế tài xử phạt hành chính thì mức phạt tiền là quá thấp không mang lại ý nghĩa và không có tính răn đe; bên cạnh đó, khó có thể truy cứu trách nhiệm hình sự vì pháp luật hình sự Việt Nam không quy định cụ thể và không thể áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân; còn khi áp dụng trách nhiệm dân sự thì không có cơ chế để bên bị thiệt hại (cộng đồng dân cư, nhà nước..) đòi bồi thường thiệt hại đã xảy ra đồng thời cũng rất khó để xác định mức độ thiệt hại trên thực tế để áp mức bồi thường. Thế nên, một yêu cầu cấp bách là phải sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới hệ thống các chế tài xử lý vi phạm pháp luật BVMT đầy đủ, có hệ thống, mang tính nghiêm khắc và phòng ngừa.
Trước hết, đối với chế tài hành chính nên sửa đổi Nghị định số 81/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/08/2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo hướng tăng mức xử phạt đối với hình thức phạt tiền cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay để đảm bảo được tính nguyên khắc, răng đe của chế tài. Hiện nay, theo quy định của Nghị định số 81/2006/NĐ-CP, mức xử phạt tối đa đối với một hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường là 70.000.000 đồng là quá thấp cần phải được tăng lên. (Điểm b khoản 1 Điều 7).
Vừa qua, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10. Nhưng trong thời gian tới vẫn cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung phần tội phạm về môi trường theo hướng hình sự hóa các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường gây thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường; định lượng cụ thể các căn cứ, định mức làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự; tăng mức chế tài hình sự cho các tội danh để đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa sự vi phạm;…
Tiếp đến, cần có cơ chế cụ thể, rõ ràng để chủ thể bị thiệt hại (cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư, Nhà nước) đòi bồi thường thiệt hại do các hành vi vi phạm pháp luật của các chủ hoạt động phát triển gây ra; định lượng cụ thể các căn cứ, định mức làm cơ sở để bên bị thiệt hại xác định và khởi kiện. Nghiên cứu cho phép áp dụng cơ chế khởi kiện tập thể…
Trên đây là một số kiến nghị được tác giả rút ra qua quá trình nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM cũng như tìm hiểu việc thực thi các quy định này trong thực tiễn. Tác giả hi vọng rằng, đây là những gợi ý nhỏ góp phần vào việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này ở nước ta trong thời gian tới.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
Môi trường tự nhiên có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Xã hội loài người không thể sống tách rời với môi trường tự nhiên. Nếu môi trường bị huỷ hoại thì cuộc sống của con người sẽ bị de doạ. Do vậy, vấn đề bảo vệ môi trường đã, đang và sẽ là một trong những vấn đề cấp bách, mang tính thời sự trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Thế nên, trách nhiệm và yêu cầu bảo vệ môi trường không chỉ đặt ra đối với mỗi cá nhân, mỗi tổ chức hay mỗi quốc gia mà là toàn cầu.
Trong những năm vừa qua, sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 với các quy định về ĐTM và đặc biệt Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định cụ thể và hợp lý hơn về ĐTM giúp cho việc hoạt động đánh giá tác động môi trường nói riêng, hoạt động bảo vệ môi trường nói chung thu được nhiều kết quả khả quan. Pháp luật về ĐTM đã có những đóng góp to lớn trong việc xét duyệt các dự án đầu tư, xử lý về mặt môi trường đối với các hoạt động phát triển, góp phần phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường. Nếu xét dưới góc độ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, ĐTM đã trở thành một công cụ đắc lực cho việc quản lý, bảo vệ môi trường ở Việt Nam phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Nếu đặt vấn đề ở lợi ích công cộng, lợi ích xã hội, nó là cơ chế để công đồng tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường. Đặc biệt, ĐTM có thể đem lại những lợi ích cho các chủ thể thực hiện hoạt động này – chủ thể hoạt động phát triển.
Qua đề tài “Thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM”, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ vai trò của hoạt động đánh giá tác động môi trường đối với vấn đề bảo vệ môi trường. Đặc biệt, luận văn đã phân tích và đánh giá được ý nghĩa của hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM cũng như hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM và các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM trên thực tế.
Trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng các quy định pháp luật và việc áp dụng chúng trên thực tế đã làm sáng tỏ được các nguyên nhân dẫn đến những bất cập, những mặt chưa được của quy định pháp luật về thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM để từ đó đề xuất những ý kiến, những gợi ý nhỏ góp phần hoàn thiện pháp luật về thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện báo cáo ĐTM nói riêng, pháp luật về đánh giá tác động môi trường nói chung. Đồng thời, góp phần làm tăng hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế nhằm bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, nhưng với trình độ còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn thiếu, bên cạnh đó, đề tài được nghiên cứu là vấn đề khá hẹp và mang tính chất thực tiễn chuyên ngành nên khó tránh khỏi những điểm hạn chế trong cách nhìn nhận, đánh giá và giải quyết vấn đề. Do vậy, tác giả hi vọng sẽ nhận được nhiều ý kiến phản hồi, góp ý chân thành từ phía độc giả để đề tài được nghiên cứu sâu sắc và hoàn thiện thiện hơn trong tương lai.
Nhân tiện đây, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Vũ Quang – người hướng dẫn khoa học – đã chỉ bảo, hướng dẫn tận tình cho tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài này. Tiếp đến, là TS. Nguyễn Khắc Kinh (Phó chủ tịch Hội đánh giá tác đông môi trường, nguyên Vụ Trưởng vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường), TS. Vũ Thu Hạnh – Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội – cùng tất cả các thầy cô tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này. Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thẩm định báo cáo Đánh giá tác động môi trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
