Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quyền tự do kinh doanh (QTDKD) là một quyền cơ bản của các chủ thể kinh doanh (CTKD) được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, tùy từng quốc gia, tùy từng thời kỳ lịch sử, tùy từng chủ thể kinh doanh và tùy từng lĩnh vực kinh doanh mà Quyền tự do kinh doanh có thể có những giới hạn nhất định. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 đã quy định về Quyền tự do kinh doanh chính thức: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” và đây là lần đầu tiên Quyền tự do kinh doanh của công dân được ghi nhận trong lịch sử lập pháp của Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 cũng đã khẳng định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Đồng thời, Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2020 trên cơ sở kế thừa của Hiến pháp năm 2013 và Luật Doanh nghiệp năm 2014, nêu rõ doanh nghiệp có quyền: “Tự do kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật không cấm”. Thông qua quy định này, chủ thể kinh doanh có toàn quyền trong việc lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, tự do quyết định quy mô vốn, mô hình kinh doanh, loại hình kinh doanh… Như vậy, Quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh đang nhận được rất nhiều sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Chính phủ, Nhà nước, các nhà làm luật và các nhà hoạch định chính sách. Khi Việt Nam hội nhập quốc tế, Quyền tự do kinh doanh và đảm bảo thực hiện Quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh nói chung trở nên cấp thiết.

Từ những ngày đầu được thành lập cho đến nay, ngân hàng đã trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng của nền kinh tế, là kênh dẫn vốn tới các chủ thể khác, giúp cho vòng tuần hoàn của nền kinh tế luôn được liền mạch, thông suốt, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Hoạt động kinh doanh (HĐKD) của ngân hàng được xem là một Hoạt động kinh doanh đặc thù. Hệ thống ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu đối với nền kinh tế của một quốc gia, là trung gian luân chuyển vốn của các thành phần kinh tế, góp phần làm thay đổi mọi mặt đời sống, xã hội. Đặc biệt trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập, các ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những chủ thể kinh doanh nòng cốt góp phần phát triển đất nước. Do đó, việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh (ĐBQTDKD) của ngân hàng thương mại là một vấn đề quan trọng, được toàn xã hội quan tâm. Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường, có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước thì các chế định về ngân hàng thương mại được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và không ngừng hoàn thiện qua các văn bản pháp luật để tạo ra khung pháp lý quan trọng, đảm bảo Quyền tự do kinh doanh và tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng là hai mặt của một vấn đề tồn tại song song và bổ sung cho nhau tạo động lực phát triển cho hệ thống các ngân hàng thương mại. Thứ nhất, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại có thể tác động tích cực hoặc hạn chế đến an toàn hoạt động ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào việc chúng được quy định phù hợp hay không? Thứ hai, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng cũng có tác động rất đáng kể đến Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại căn cứ vào các quan điểm về bảo đảm an toàn cũng như mục tiêu, phạm vi của nó. ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt vì đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển hoặc suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó chất liệu này được Nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ. Chính vì thế, pháp luật đặt ra rất nhiều giới hạn đối với quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại.

Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng; hệ thống hóa và làm rõ các cơ sở lý luận để làm sáng tỏ bản chất, nội dung Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo cho Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại được thực thi trên thực tế một cách hiệu quả, tác giả nhận thấy tầm quan trọng và tính thực tiễn rất lớn của đề tài luận văn: “Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam”.

2. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về Quyền tự do kinh doanh, quy định pháp luật Việt Nam về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại; từ đó xác định những tồn tại, hạn chế trong thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại để có định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Từ mục tiêu tổng quát, luận văn thực hiện nghiên cứu một số mục tiêu cụ thể sau:

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam.
  • Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện Quyền tự do kinh doanh của NHTM tại Việt Nam.
  • Đề ra những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay.

3. Câu hỏi nghiên cứu

Từ những mục tiêu đặt ra, luận văn xác định một số câu hỏi nghiên cứu cần phải trả lời bao gồm:

  • Một là, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là gì? Đặc điểm Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại? Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo và thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại?
  • Hai là, thực trạng các quy định pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này cụ thể ra sao?
  • Ba là, giải pháp nào nhằm hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh và tăng cường hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

  • Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quy định về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam.

Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ năm 2016 – 2021.

Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD), Luật Doanh nghiệp và các quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Luận văn không nghiên cứu tất cả các quy định về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam, mà chỉ giới hạn nghiên cứu về một số quyền cơ bản như: “Quyền tự do thành lập ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do lựa chọn đối tác của ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do hợp đồng của ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do lựa chọn các biện pháp bảo đảm (BPBĐ) trong hợp đồng tín dụng (HĐTD)”; “Quyền tự do thỏa thuận các phương thức giải quyết tranh chấp (GQTC) của ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do tổ chức lại, giải thể ngân hàng thương mại”.

5. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp hệ thống hóa: Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận văn nhằm trình bày nội dung theo trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự kế thừa, phát triển, các vấn đề để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận văn.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được vận dụng khi phân tích các khái niệm, số liệu, những quy phạm pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt
  • Phương pháp thống kê, mô tả: Phương pháp này được sử dụng khi phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này được áp dụng khi so sánh các quy định pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam với pháp luật của các nước trên thế giới.

6. Nội dung nghiên cứu Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Nội dung nghiên cứu của luận văn bao gồm các nội dung sau:

  • Cơ sở lý luận về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt
  • Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt
  • Những định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay.

7. Đóng góp của đề tài

Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và các quy định pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Phân tích thực trạng pháp luật và đánh giá thực tiễn thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Ngoài ra, luận văn còn kiến nghị một số giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của NHTM tại Việt Nam hiện nay.

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà làm luật trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Luận văn không chỉ là một bài nghiên cứu để tạo điều kiện cho các nghiên cứu chuyên sâu sau này của tác giả mà còn góp phần tạo nguồn tài liệu bổ sung cho các ngân hàng thương mại trong Hoạt động kinh doanh thực tiễn của mình.

8. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Trên thế giới, Quyền tự do kinh doanh là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia trong nhiều năm qua. Vì thế, khái niệm về Quyền tự do kinh doanh đã được sử dụng một cách phổ biến. Ở Việt Nam, Quyền tự do kinh doanh gắn liền với công cuộc đổi mới, đặc biệt từ khi Quyền tự do kinh doanh được ghi nhận chính thức tại Hiến pháp năm 1992, trong phạm vi nghiên cứu khác nhau cũng có nhiều đề tài đề cập đến Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại.

Cuốn sách “Economic Freedom of the World: 2019 Annual Report” (Tự do kinh tế trên thế giới: Báo cáo thường niên năm 2019) của Viện nghiên cứu Fraser phát hành năm 2019. Nghiên cứu đã phân tích Quyền tự do kinh doanh dưới góc độ quyền sở hữu cá nhân, theo đó: “Cá nhân có quyền lựa chọn, quyết định sử dụng thời gian và khả năng của mình cho cuộc sống của họ, từ đó, mở rộng ra, họ có quyền tạo ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu phục vụ chính bản thân mình”. Dựa trên lý luận đó, nghiên cứu đã khái niệm hóa: “Quyền tự do kinh doanh được xác định là sự tự lựa chọn, quyết định của cá nhân về việc sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà không bị can thiệp, bó hẹp bởi những yếu tố tác động bên ngoài (bao gồm cả ý chí chính trị, biện pháp can thiệp kinh tế, quy trình, thủ tục, pháp luật…)”.

Cuốn sách “Leveraging Technology to Support Business Registration Reform” (In Pracice Note) của tác giả John Wille, Karim O.Belayachi, Numa De Magalhaes và Frederic Meunier xuất bản năm 2011. Các tác giả đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm rút ngắn thời gian cho doanh nghiệp gia nhập thị trường kinh doanh và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giám sát, quản lý của Nhà nước. Theo tác giả, trước khi ứng dụng công nghệ thông tin cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, các quy trình thực hiện và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thực thi nhiệm vụ trong công tác đăng ký kinh doanh.

Báo cáo “Cutting Red Tape Administrative Simplification in Viet Nam: Supporting the Competitiveness of the Vietnamese Economy” (“Đơn giản thủ tục hành chính ở Việt Nam: Hỗ trợ năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam”) của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) phát hành năm 2011. Báo cáo có cái nhìn bao quát về môi trường kinh doanh ở Việt Nam qua quá trình cải cách thủ tục hành chính. OECD nhận định nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hội nhập và phát triển, Nhà nước cần nỗ lực cải cách, tối giản thủ tục hành chính, quá trình gia nhập thị trường kinh doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thu hút được các nhà đầu tư quốc tế. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Tác giả Mai Hồng Quỳ với cuốn sách chuyên khảo “Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam” xuất bản năm 2012 đã tập trung vào phân tích việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam như: “Quyền thành lập doanh nghiệp trong các lĩnh vực; quyền tự do hợp đồng và quyền tự định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh”. Đồng thời, tác giả đã phân tích những trở ngại trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh gồm: “thủ tục hành chính, quan liêu tham nhũng, hệ thống tư pháp yếu kém, chất lượng xây dựng pháp luật hạn chế”, từ đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh như: “Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, pháp luật thì cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho cá nhân khi thực hiện các quyền tự do kinh doanh, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; Đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp thông qua đổi mới hệ thống tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, các tổ chức bổ trợ tư pháp; Tăng cường cơ chế giám sát, bảo đảm sự tham gia, giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp và đặc biệt nâng cao vai trò của luật sư trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh”.

Cuốn sách “Quyền tự do kinh doanh theo pháp luật liên minh Châu Âu và Việt Nam” của tác giả Phan Huy Hồng và tác giả Nguyễn Thanh Tú xuất bản năm 2012 trong nội dung của Quyền tự do kinh doanh bao gồm bốn quyền: “Quyền tự do cung cấp (di chuyển) hàng hóa; Quyền tự do di chuyển con người; Quyền tự do cung cấp dịch vụ và Quyền tự do di chuyển vốn”. Trên cơ sở trình bày hệ thống quan điểm của Tòa án công lý của Liên minh Châu Âu – CJEU về nội dung của “quyền tự do cung cấp hàng hóa” và “quyền tự do cung cấp dịch vụ” với tư cách là hai trong bốn quyền tự do kinh tế cơ bản ở EU tác giả đề xuất các giải pháp về lập hiến, giải pháp về lập pháp, giải pháp về hành pháp và giải pháp về tư pháp liên quan đến Quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam.

Sách chuyên khảo “Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam” xuất bản năm 2004; Luận án Tiến sĩ Luật học “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta” năm 2001, Trường Đại học Luật Hà Nội cũng như bài viết “Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh” của tác giả Bùi Ngọc Cường đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 7/2002. Các vấn đề về: “Pháp luật kinh tế quy định quyền tự do kinh doanh và đảm bảo thực hiện quyền tự do kinh doanh” được tác giả tập trung nghiên cứu, luận giải. Tác giả khẳng định: “pháp luật kinh tế đảm bảo tự do kinh doanh” thông qua các luận điểm: “Pháp luật kinh tế bảo vệ các hoạt động thúc đẩy tự do kinh doanh và đồng thời hạn chế các hoạt động cản trở tự do kinh doanh; Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, pháp luật kinh tế tạo ra cơ chế xử lý các tranh chấp phát sinh một cách nhanh chóng”. Tác giả đã khái niệm Quyền tự do kinh doanh là một nội dung của quyền con người:“Quyền tự do kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật và những đảm bảo pháp lý do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân hay pháp nhân thực hiện quyền chủ thể nói trên”. Dựa trên quan điểm này, tác giả cho thấy: “Quyền tự do kinh doanh gồm có hai mặt tồn tại trong thể thống nhất: một mặt là những quyền chủ thể kinh doanh được hưởng, mặt khác đó là trách nhiệm của Cơ quan Nhà nước, Công chức Nhà nước khi thực hiện chức năng quản lý của mình phải tôn trọng, bảo vệ những quyền của chủ thể kinh doanh”, nội dung của Quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh bao gồm: “Quyền được bảo đảm sở hữu đối với tài sản; Quyền tự do gia nhập thị trường (thành lập doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề kinh doanh, loại hình doanh nghiệp); Quyền tự do hợp đồng; Quyền tự do cạnh tranh và quyền tự do định đoạt giải quyết tranh chấp”. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Luận án “Bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Thu Hằng năm 2020, Học viện Khoa học xã hội. Tác giả đưa ra khái niệm: “Bảo đảm quyền tự do kinh doanh là việc thực hiện các biện pháp về chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý nhằm giúp cho chủ thể kinh doanh thụ hưởng, thực hiện được đầy đủ quyền tự do kinh doanh trên thực tế và ngăn chặn, xử lý các hành vi cản trở, vi phạm đến các quyền tự do gia nhập thị trường, quyền tự do hoạt động kinh doanh trên thị trường và quyền tự do rút lui khỏi thị trường”. Luận án phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn về đảm bảo thực hiện Quyền tự do kinh doanh, nêu ra những ưu điểm của pháp luật về đảm bảo quyền tự do kinh doanh, đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân trong các quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thực hiện về đảm bảo quyền tự do kinh doanh.

Luận án “Pháp luật về quyền gia nhập thị trường – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Như Chính năm 2021, Trường Đại học Luật Hà Nội. Tác giả đã lý luận và đánh giá về quyền tự do gia nhập thị trường, trong đó có đề cập: “Quyền tự do gia nhập thị trường là một trong những nội dung cơ bản cấu thành quyền tự do kinh doanh”. Tác giả đã có các bình luận, phân tích về quyền tự do gia nhập thị trường theo luật pháp hiện hành. Tác giả nhận định rằng: “Pháp luật về quyền gia nhập thị trường ở Việt Nam đã phát triển vượt bậc; Thủ tục hành chính về gia nhập thị trường kinh doanh của doanh nghiệp được cải cách liên tục đáp ứng nhu cầu thực tế; Thời gian để thực hiện gia nhập thị trường được rút ngắn… Tuy nhiên, vẫn tồn tại những rào cản mang tính thể chế cần phải cải cách”.

Bài viết “Bộ Luật Dân sự năm 2015 – Cơ sở pháp lý mới cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh tại Việt Nam” của tác giả Dương Đăng Huệ (2016) đăng trên Tạp chí Nghề luật số 01. Bài viết đã có những phân tích cơ bản về TDKD, đưa ra những luận giải chứng minh TDKD là quyền hiến định của công dân, đồng thời tác giả cũng phân tích, đánh giá thực trạng Quyền tự do kinh doanh và đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo quy định tại Bộ Luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Bài viết “Cải cách thể chế môi trường kinh doanh, thúc đẩy doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển” của tác giả Đặng Vũ Huân (2016) đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Tác giả đã phân tích những tiêu chí để đánh giá về môi trường kinh doanh tại Việt Nam, kết quả cho thấy, Việt Nam bước đầu đã bước đầu cải thiện tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như sự không đồng nhất giữa Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến lĩnh vực đầu tư kinh doanh.

Bài viết “Thực hiện quyền tự do kinh doanh đối với mô hình kinh tế chia sẻ” của tác giả Chu Thị Hoa (2021) đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân. Bài viết đã khái quát hóa về Quyền tự do kinh doanh trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đề cập đến sự phát triển của mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam, đồng thời nêu ra:“Những hạn chế trong pháp luật về quyền tự do kinh doanh đối với những ngành nghề kinh doanh mới; khởi nghiệp sáng tạo cần phải được sớm hoàn thiện và được tổ chức thực hiện nghiêm minh để tạo khung khổ pháp lý thuận lợi, an toàn cho các hoạt động đầu tư kinh doanh”. Ngoài ra bài viết còn đề ra một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật và phát triển mô hình về Quyền tự do kinh doanh trong nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam hiện nay.

Như vậy, thông qua phần tổng kết các nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu, các bài báo, tạp chí… đã phân tích nhiều góc độ và phạm vi khác nhau về TDKD và Quyền tự do kinh doanh. Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu đều phân tích, đánh giá về Quyền tự do kinh doanh mà vấn đề đảm bảo quyền tự do kinh doanh và Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ít được đề cập đến.

Trong nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số nội dung về Quyền tự do kinh doanh đã được các nghiên cứu trước đây luận giải và chứng minh. Hướng đi mới của luận văn đi sâu vào phân tích đối tượng nghiên cứu cụ thể là Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại mà các tác giả trước đây chưa nghiên cứu đến. Trên cơ sở các nghiên cứu trước đây, tác giả tập trung nghiên cứu về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại, phân tích, đánh giá Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam giai đoạn 2016 – 2021. Việc sử dụng, tham khảo các nghiên cứu trước đây đưa ra cho luận văn này một cách tổng quát về Quyền tự do kinh doanh của các ngân hàng thương mại và đưa ra những định hướng, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1. Khái quát về quyền tự do kinh doanh

Sự phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với đấu tranh với mục đích là giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, hướng đến xã hội tự do. Giá trị của quyền tự do và quyền con người là những giá trị cao quý của xã hội loài người. Không một chế độ xã hội nào hoặc một Nhà nước nào dám phủ nhận những giá trị cao quý đó. Trước khi ra đời học thuyết “Pháp luật tự nhiên” đã có rất nhiều quan điểm cho rằng: “Con người mang thuộc tính tự nhiên, con người khi được sinh ra đương nhiên có quyền tự do, quyền tự do của con người không do ai ban phát”, quyền con người còn ra đời trước Nhà nước và pháp luật, điều này nhằm khằng định khát vọng về quyền tự do của con người trong xã hội. Theo nhà triết học John Locke (1632 – 1704) và Jean – Jacques Rousseau (1712 – 1778) cho rằng: “Quyền con người là đặc quyền tự nhiên, đứng trên và cao hơn Nhà nước và pháp luật”. Học thuyết này mang giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc nhằm bảo vệ quyền con người trước quyền lực Nhà nước.

Chủ nghĩa Mác – Lênin thì luôn đặt con người và quyền của con người trong “tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. “Quyền con người thể hiện ở “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, bao gồm quyền dân sự – chính trị và quyền về kinh tế, văn hóa xã hội; nó vừa mang tính cá nhân, tính giai cấp, tính lịch sử, tính nhân loại và tính dân tộc”. Chỉ khi được Nhà nước ghi nhận và pháp luật bảo vệ thì quyền con người mới được hiện thức hóa. Khoản 1 Điều 14, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Như vậy, khi chúng ta thực hiện tốt các quyền công dân thì cũng chính là thực hiện tốt quyền cơ bản của con người. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

QTDKD là một quyền trong nội dung cơ bản của quyền con người, luôn được các quốc gia tôn trọng. Quyền tự do kinh doanh được quy định lần đầu tiên tại Việt Nam theo Điều 57, Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Tiếp thu tinh thần đó, Điều 33, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Luật Doanh nghiệp năm 2020 tiếp tục khẳng định chủ thể kinh doanh có quyền: “Tự do kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật không cấm”. Việc TDKD này được thể hiện qua việc chủ thể kinh doanh có toàn quyền trong việc lựa chọn đối tượng kinh doanh, mô hình kinh doanh, loại hình kinh doanh… Khoản 21 Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2020 định nghĩa: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”. “Tự do” có thể hiểu là không bị ép buộc, ràng buộc bởi bất kỳ yếu tố nào. Theo tác giả Bùi Xuân Hải, TDKD có thể hiểu là: “khả năng mà các tổ chức, cá nhân có thể làm những gì mà họ muốn, có thể lựa chọn, có thể tự quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, trong đó có quyền thành lập cơ sở kinh doanh, lựa chọn mô hình doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề, quy mô kinh doanh và địa bàn kinh doanh; được tự do lựa chọn đối tác, bạn hàng, được tự chủ kinh doanh, tự quyết định các vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh doanh và kể cả quyền tổ chức lại doanh nghiệp, giải thể, nộp đơn xin phá sản doanh nghiệp…”.

Như vậy, khái niệm Quyền tự do kinh doanh được tác giả hiểu như sau: “Dưới góc độ quyền chủ thể, Quyền tự do kinh doanh là quyền của các chủ thể kinh doanh được tự do lựa chọn, tự do quyết định các vấn đề trong quá trình gia nhập thị trường, tự do hoạt động kinh doanh trong những ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh mà pháp luật không cấm. Dưới góc độ là một chế định pháp luật, Quyền tự do kinh doanh là một hệ thống các quy phạm pháp luật và khung pháp lý do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện và đảm bảo thực hiện Quyền tự do kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh”.

QTDKD bao gồm ba đặc điểm chính là: Quyền tự do kinh doanh thuộc nhóm quyền kinh tế, có tính chất tài sản; nội dung, phạm vi và sự hiện thực hóa Quyền tự do kinh doanh luôn phụ thuộc vào sự ghi nhận, tôn trọng, nghĩa vụ thực hiện và bảo đảm từ phía Nhà nước; Quyền tự do kinh doanh vừa mang tính lịch sử vừa mang tính xã hội. Nội dung của Quyền tự do kinh doanh là một hệ thống quyền của chủ thể kinh doanh bao gồm năm nhóm quyền cơ bản có mối quan hệ hữu cơ với nhau gồm: “Quyền tự do thành lập doanh nghiệp”; “Quyền tự do lựa chọn ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh”; “Quyền tự do giao kết hợp đồng”; “Quyền tự do quyết định các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; quyền tự do cạnh tranh”.

1.2. Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

1.2.1. Khái niệm quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại

Đối với sự phát triển của một đất nước, doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP), góp phần tăng thu ngân sách và giải quyết những vấn đề xã hội. Trong đó, hệ thống ngân hàng giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia. Dựa vào chức năng, loại hình hoạt động thì ngân hàng có nhiều loại hình khác nhau như: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng hợp tác xã… Trong các loại hình ngân hàng thì ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn về quy mô hoạt động, thị phần, hệ thống kênh phân phối…

Ở Mỹ, “Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Ở Pháp, “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Tại Ấn Độ, “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Ở Ba Lan, Luật Ngân hàng Ba Lan: “Ngân hàng là một tổ chức có tư cách pháp nhân để hoạt động theo quy định của pháp luật cũng như theo điều lệ của ngân hàng đó”.

Ở Việt Nam, “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” hay “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”. ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, vì thế ngân hàng thương mại cũng bình đẳng như các chủ thể kinh doanh khác và đương nhiên có Quyền tự do kinh doanh. Như vậy, tác giả hiểu Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại như sau: “Dưới góc độ quyền chủ thể, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là khả năng được tự do lựa chọn, tự do quyết định mọi vấn đề của ngân hàng thương mại khi thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận dựa trên cơ sơ phù hợp với quy định của Nhà nước và pháp luật. Dưới góc độ là một chế định pháp luật, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là tập hợp các quy phạm pháp luật và những đảm bảo của Nhà nước đưa ra nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại thực hiện Quyền tự do kinh doanh của mình”.

1.2.2. Đặc điểm quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Nhìn chung, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng tương tự so với Quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh khác. Tuy nhiên, vì lý do Hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động mang tính đặc thù, do vậy cách thức Nhà nước quản lý Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng sẽ có những khác biệt riêng. Điều này làm nên đặc điểm của Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại.

Thứ nhất, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn gắn liền với bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại mang tính đặc thù, kinh doanh ngân hàng ẩn chứa nhiều rủi ro và có thể ảnh hưởng đến kinh tế quốc gia. Phương thức kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng rất đặc thù là “đi vay để cho vay”, huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi cho chính các tổ chức, cá nhân vay lại. Đảm bảo an toàn Hoạt động kinh doanh ngân hàng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại vốn là hai mục tiêu song song và bổ sung cho nhau của Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành thị trường tài chính tiền tệ tại Việt Nam. Do đó, Nhà nước cần đưa ra các chính sách phù hợp nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại.

Thứ hai, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn gắn liền với các tính chất đặc thù của hoạt động ngân hàng. Các tính chất đặc thù của hoạt động ngân hàng bao gồm:

CTKD của ngân hàng thương mại bao gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Tổ chức tín dụng. Không phải tất cả các chủ thể đều có quyền kinh doanh ngân hàng thương mại mà chỉ những chủ thể được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận thì mới được Hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm các điều kiện về vốn, cổ đông sáng lập, ban điều hành, số lượng cổ đông theo quy định, đề án thành lập, điều lệ… Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Đối tượng kinh doanh của ngân hàng thương mại là tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đối với các doanh nghiệp khác thì tiền tệ là phương tiện thanh toán còn đối với ngân hàng thương mại thì tiền tệ là đối tượng kinh doanh. Việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại, tuy nhiên đối tượng kinh doanh của ngân hàng thương mại ẩn chứa nhiều rủi ro, có thể tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc gia, chính vì thế Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại được Nhà nước đặt ra nhiều giới hạn. Do vậy, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn được hiểu là trong giới hạn và trong khuôn khổ pháp luật.

Kinh doanh ngân hàng là Hoạt động kinh doanh có điều kiện, ẩn chứa rủi ro và tính nhạy cảm cao. ngân hàng thương mại muốn được Hoạt động kinh doanh trên thị trường thì phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng và các luật khác có liên quan. Trên thực tế, rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ các doanh nghiệp nào, ngành nghề nào, loại hình kinh doanh nào, tuy nhiên, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng mang những đặc điểm khác biệt bởi tính hệ thống và dây chuyền. Kinh doanh ngân hàng chủ yếu dựa trên niềm tin của khách hàng do vậy chỉ cần một biến động nhỏ có thể gây ảnh hưởng đến Hoạt động kinh doanh. Nếu ngân hàng làm ăn thuận lợi thì kéo theo nền kinh tế cũng phát triển, ngược lại, nếu ngân hàng làm ăn thua lỗ, bị phá sản sẽ tác động dây chuyền gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội. Vì thế, Hoạt động kinh doanh ngân hàng cần được Nhà nước giám sát một cách chặt chẽ và toàn diện.

Thứ ba, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại chịu sự chi phối của Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Nhà nước mà cụ thể là Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng thương mại thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật bao gồm: Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước và các Luật khác có liên quan. Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định: “Việc thành lập, tổ chức và hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Về bản chất, ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận như bao doanh nghiệp khác trên thị trường. Tuy nhiên, đối tượng kinh doanh của ngân hàng thương mại chủ yếu là tiền tệ và dịch vụ tài chính. Với đặc thù của ngân hàng thương mại, để ngăn ngừa những nguy cơ xấu xảy ra, Nhà nước buộc phải sử dụng pháp luật để hạn chế các tác động tiêu cực có thể xảy ra, đảm bảo an toàn cho chính các ngân hàng thương mại và cho nền kinh tế. Về mức độ tự do, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại có đặc điểm là bị tác động và ảnh hưởng trực tiếp bởi khá nhiều quy định điều chỉnh của pháp luật. Nếu so với các doanh nghiệp khác trên thị trường, quyền tự do của ngân hàng thương mại có thể nói là tương đối bị hạn chế. Mặc dù, hoạt động của ngân hàng thương mại chịu sự chi phối và điều tiết của Nhà nước nhưng điều đó không làm mất đi Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Nếu pháp luật ngân hàng không chặt chẽ thì sẽ không đảm bảo an toàn hoạt động của các ngân hàng thương mại, khi đó Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng không được bảo đảm. Như vậy, Quyền tự do kinh doanh luôn được hiểu là trong khuôn khổ pháp luật.

NHTM là một loại hình ngân hàng trong hệ thống ngân hàng, tuy nhiên so với các loại hình ngân hàng khác thì Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là rộng hơn, nếu như các Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng chính sách, ngân hàng phát triển, ngân hàng hợp tác xã… do chịu sự chi phối của các chủ trương, chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ thúc đẩy các đối tượng vay vốn thì ngân hàng thương mại lại ít chịu sự chi phối đó hơn, vì vậy quyền tự do về huy động vốn, cho vay là tương đối thông thoáng và mức lãi suất thường cao hơn. Có thể nói ngân hàng thương mại có Quyền tự do kinh doanh rộng hơn so với các loại hình ngân hàng khác trong hệ thống ngân hàng.

1.2.3. Nội dung cơ bản quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

1.2.3.1. Quyền tự do thành lập ngân hàng thương mại

Quyền tự do thành lập ngân hàng thương mại là quyền của các chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, việc thành lập ngân hàng thương mại có nhiều tác động đối với xã hội. Vì thế, khi thành lập ngân hàng thương mại phải được thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Nội dung của quyền tự do thành lập ngân hàng thương mại bao gồm các tiêu chí sau:

Một là, tiêu chí về năng lực tài chính phù hợp của ngân hàng thương mại được thành lập. Các chủ thể kinh doanh muốn xin cấp phép thành lập ngân hàng thương mại phải có đủ vốn pháp định để đảm bảo năng lực Hoạt động kinh doanh ngân hàng một cách an toàn và hiệu quả. Trong kinh doanh ngân hàng, nguồn vốn không những dùng cho Hoạt động kinh doanh, vận hành bộ máy, đảm bảo tính ổn định mà nó còn là thước đo lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng. Vì thế, tiêu chí về năng lực tài chính là cơ sở để ngân hàng thương mại sau khi được thành lập đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mình khi đi vào Hoạt động kinh doanh.

Hai là, tiêu chí về năng lực tài chính phù hợp của chủ thể xin cấp phép thành lập ngân hàng thương mại. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ẩn chứa nhiều rủi ro, do vậy, chủ sở hữu sáng lập ngân hàng phải có uy tín cao, năng lực tài chính phù hợp. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Ba là, tiêu chí về trình độ, năng lực và uy tín của đội ngũ lãnh đạo, điều hành và kiểm soát viên. ngân hàng thương mại phải có ban lãnh đạo, ban điều hành và ban kiểm soát có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có trình độ chuyên môn phù hợp, có uy tín về năng lực tài chính, về kinh nghiệm quản lý, điều hành hoạt động của ngân hàng thương mại. Tiêu chí này giúp đảm bảo ngân hàng thương mại được lãnh đạo, điều hành một cách an toàn, hiệu quả.

Bốn là, tiêu chí về sự phù hợp của điều lệ của ngân hàng thương mại với các quy định pháp luật. Điều lệ là sự thỏa thuận giữa các chủ thể xin cấp phép thành lập ngân hàng thương mại và giữa các chủ sở hữu ngân hàng thương mại với nhau, được soạn thảo trên cơ sở khuôn mẫu chung của pháp luật, các quy định về hoạt động của ngân hàng thương mại. Khi phát sinh tranh chấp, điều lệ là căn cứ pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất được đưa ra để giải quyết tranh chấp. Do đó, sự phù hợp của điều lệ với pháp luật rất quan trọng đảm bảo Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại uy tín và tuân thủ pháp luật.

Năm là, tiêu chí về sự khả thi của đề án thành lập, phương án kinh doanh của ngân hàng thương mại được thành lập. Để đáp ứng tiêu chí này, ngân hàng thương mại cần phải xác định đề án thành lập, phương án kinh doanh cụ thể, xác định hiệu quả và những lợi ích kinh tế có thể mang lại cho chính mình và xã hội, từ đó đảm bảo ngân hàng thương mại ra đời và Hoạt động kinh doanh hiệu quả.

Với Hoạt động kinh doanh đặc thù là hoạt động ngân hàng – Hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro và có ảnh hưởng mang tính dây chuyền, ngân hàng thương mại cần phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về năng lực để được phép thành lập, đi vào hoạt động và đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong quá trình kinh doanh. Mặc dù, Luật Doanh nghiệp đã ghi nhận “tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam” nhưng đối với lĩnh vực ngân hàng thì quyền tự do thành lập ngân hàng thương mại còn rất nhiều hạn chế bởi do đặc trưng của hoạt động ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng.

1.2.3.2. Quyền tự do lựa chọn đối tác của ngân hàng thương mại

Quyền tự do lựa chọn đối tác có vai trò quan trọng đối với các chủ thể kinh doanh. Về nguyên tắc, các doanh nghiệp có quyền lựa chọn khách hàng, bạn hàng, các đối tác để giao kết hợp đồng. Trong kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại có rất nhiều đối tác: doanh nghiệp, tổ chức kinh tế; đơn vị kinh doanh: công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Nhà nước, cơ quan Nhà nước, hợp tác xã và cơ quan, đơn vị trực thuộc các tổ chức trên… Do đó, việc lựa chọn đối tác rất có ý nghĩa đối với Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại cần có được sự tự chủ cần thiết để chủ động đưa ra các quyết định hợp lý. Quyền tự do lựa chọn đối tác của ngân hàng thương mại được thể hiện chủ yếu: Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Quyền tự do lựa chọn đối tác huy động vốn: Vốn là vấn đề rất quan trọng đối với ngân hàng thương mại, trong khi vốn điều lệ là một phần rất nhỏ trong số vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại. Vì vậy, huy động vốn là mảng kinh doanh quyết định sống còn của ngân hàng thương mại. Bản chất của việc huy động vốn là ngân hàng thương mại sẽ đi vay vốn từ các đối tác khác nhau trong xã hội bằng nhiều hình thức như nguồn tiền gửi, tiền vay, trái phiếu… Các ngân hàng thương mại phải trả lãi cho khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân gửi vào và để thu hút người gửi tiền, ngân hàng thương mại đưa ra nhiều phương án như cạnh tranh lãi suất, sử dụng các hình thức khuyến mại, tặng quà, các đợt bóc thăm trúng thưởng… Dưới góc độ này, ngân hàng thương mại là những chủ thể bỏ chi phí ra để được sử dụng vốn của các chủ thể khác. Do đó, ngân hàng thương mại đương nhiên có quyền chọn khách hàng làm sao cho giảm thiểu được nhiều chi phí sử dụng nhất. ngân hàng thương mại có quyền tự do lựa chọn đối tác, cách thức huy động vốn theo quy định pháp luật miễn là đảm bảo an toàn cho ngân hàng thương mại.

Quyền tự do lựa chọn đối tác cấp tín dụng: Ở góc độ này, ngân hàng thương mại là chủ thể cho vay vốn, đồng nghĩa với việc chuyển tài sản của mình cho người khác và chấp nhận việc có thể không hoàn trả lại được. Chính vì vậy, ngân hàng thương mại cần phải thận trọng xem xét uy tín và năng lực trả nợ của khách hàng để đưa ra các quyết định cấp tín dụng phù hợp. Như vậy, ngân hàng thương mại có quyền tự do lựa chọn phương án kinh doanh gồm tín dụng và đầu tư. Trong đó tín dụng là hoạt động chính của ngân hàng thương mại, là cơ sở để tạo thu nhập, góp phần phát triển ngân hàng và cũng là hoạt động rủi ro nhất. Việc cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vay để tài trợ dự án, cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng… là quyền của NHTM; mặc dù vay vốn ngân hàng là do nhu cầu của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, tuy nhiên trong thực tế thì quyền cho vay là của ngân hàng; dựa vào đánh giá của ngân hàng về uy tín, tài sản của đối tác vay mà ngân hàng đưa ra quyết định cho vay của mình.

Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn được tự do lựa chọn các đối tác khác trong việc quản trị chiến lược kinh doanh, đổi mới công nghệ, phát triển hình ảnh thương hiệu, mô hình quản trị rủi ro (QTRR)…

1.2.3.3. Quyền tự do hợp đồng của ngân hàng thương mại Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Quyền tự do hợp đồng là bộ phận quan trọng cấu thành nội dung Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Nội dung của quyền tự do hợp đồng được pháp luật bảo đảm thể hiện ở việc các ngân hàng thương mại được: “Quyền tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng”; “Quyền tự do xác định đối tượng hợp đồng”; “Quyền tự do thỏa thuận những nội dung giao kết của hợp đồng”; “Quyền tự do thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng trong quá trình thực hiện”; “Quyền tự do thỏa thuận các điều kiện để thực hiện hợp đồng”; “Quyền tự do xác định các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng”; “Quyền tự do lựa chọn hình thức hợp đồng”… Tuy nhiên, quyền tự do hợp đồng của ngân hàng thương mại không mang tính tuyệt đối, mà nó luôn có giới hạn, vì vậy, pháp luật quy định các giới hạn của quyền tự do hợp đồng của ngân hàng thương mại.

Trong Hoạt động kinh doanh hàng ngày, ngân hàng thương mại thường phải tiến hành giao dịch hàng trăm hàng nghìn khách hàng khác nhau, nên việc thỏa thuận nội dung cho từng hợp đồng là điều không thể. Cụ thể trong hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại với vai trò là kênh trung gian thu hút vốn từ mọi nguồn bên ngoài và sử dụng vốn đó để cho các chủ thể cần vốn vay. Với tính chất như vậy, ngân hàng thương mại sẽ chủ động quyết định các nội dung để đưa vào từng hợp đồng sao cho phù hợp. Khi khách hàng thấy các nội dung đó phù hợp với mình thì sẽ tìm đến ngân hàng thương mại để thực hiện việc giao kết hợp đồng. Do đó, một hợp đồng tín dụng có nội dung càng có lợi cho khách hàng thì khả năng thu hút khách hàng là càng cao.

Đối với hoạt động ngân hàng thương mại, quyền tự do hợp đồng của ngân hàng thương mại được thể hiện rõ nét ở chỗ hợp đồng phải là kết quả của tự do thỏa thuận giữa ngân hàng thương mại và đối tác. Mặt khác khi thỏa thuận và ký kết xong các nội dung hợp pháp của hợp đồng thì các bên phải tôn trọng, thực hiện và chịu trách nhiệm về các thỏa thuận của mình. Hoạt động ngân hàng là vấn đề quan trọng, nhạy cảm, có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nên việc tự do hợp đồng bắt buộc phải tuân theo các quy định cụ thể của pháp luật hiện hành và điều đó làm nên giới hạn của Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại.

1.2.3.4. Quyền tự do lựa chọn các biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Theo nghĩa rộng, bảo đảm trong hợp đồng tín dụng (gọi tắt là “bảo đảm tín dụng”) là việc lập ra các điều kiện để đánh giá năng lực trả nợ đúng hạn của người đi vay. Bảo đảm tín dụng không chỉ là cho vay phải bảo đảm bằng tài sản (biện pháp thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh) mà còn có nghĩa là đánh giá các dự án khả thi và đặc biệt là có khả năng hoàn vốn cho ngân hàng. Việc này là biện pháp tích cực, đảm bảo rủi ro, mang tính dự phòng rủi ro, vì thế cần được ưu tiên áp dụng. Như vậy, có thể hiểu rằng: “Bảo đảm tín dụng là hàng loạt các giải pháp nhằm mục đích buộc người vay vốn phải thanh toán đầy đủ gốc lãi và đúng hạn cho ngân hàng phát vay”. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Theo nghĩa hẹp, bảo đảm tín dụng là những biện pháp để bảo đảm việc thu hồi vốn vay như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản hiện hữu của chính khách hàng vay hoặc bên thứ ba. Hay nói cách khác, để bảo đảm việc thu hồi vốn vay và dự phòng khi khách hàng không trả nợ vay thì bảo đảm tín dụng được xem như là sự cam kết của người đi vay đối với người cho vay dựa trên các quy định của Nhà nước. Từ các định nghĩa trên, tác giả định nghĩa: “BPBĐ trong hợp đồng tín dụng (hay còn gọi là biện pháp bảo đảm tiền vay) là những biện pháp mà các Tổ chức tín dụng áp dụng nhằm ngăn ngừa và hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động cho vay của mình, đặc biệt là bảo đảm cho việc thanh toán đầy đủ gốc lãi và đúng hạn cho Tổ chức tín dụng đó”.

Các biện pháp bảo đảm trong BLDS được ngân hàng lựa chọn gồm: “cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản”. Trong đó, các biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, tín chấp là các biện pháp bảo đảm được ngân hàng thương mại sử dụng là chủ yếu. Thông thường biện pháp bảo lãnh, tín chấp cũng ít được sử dụng hơn. biện pháp bảo đảm được ngân hàng thương mại sử dụng thường xuyên là cầm cố, thế chấp, đây là hai biện pháp bảo đảm an toàn nhất và phù hợp với nhu cầu các tổ chức, doanh nghiệp hiện nay.

Trên thực tế, bảo đảm tín dụng không phải là một bảo đảm chắc chắn để ngân hàng thương mại thu hồi vốn vay. Nó chỉ là một biện pháp để phòng ngừa và có thể khắc phục rủi ro hoặc một phần rủi ro. Theo tác giả, biện pháp hàng đầu về bảo đảm tín dụng là ngân hàng thương mại chủ động tìm kiếm các khách hàng có phương án đầu tư, sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay để nâng cao độ an toàn trong hoạt động tín dụng của mình. Như vậy, pháp luật đã ghi nhận ngân hàng thương mại được lựa chọn và tự chủ quyết định các biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng của mình.

1.2.3.5. Quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của ngân hàng thương mại

Xuất phát từ yêu cầu khách quan trong kinh doanh, các chủ thể khi phát sinh tranh chấp kinh tế nói chung luôn muốn đạt được sự nhanh chóng, thuận lợi, tiết kiệm và bảo đảm bí mật. Nhà nước đã thừa nhận và cho phép chủ thể kinh doanh được tự do định đoạt để lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khi tranh chấp xảy ra. Các tranh chấp hợp đồng thường xuyên xảy ra trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm: tranh chấp về hợp đồng thế chấp cầm cố và bảo lãnh bằng tài sản giữa ngân hàng và bên đi vay, bên có tài sản, hợp đồng tín dụng; tranh chấp về tiền gửi tại ngân hàng, Tổ chức tín dụng; tranh chấp về bảo lãnh thực hiện hợp đồng hay bảo lãnh thanh toán; tranh chấp về tài trợ thương mại và các tranh chấp khác.

Để giải quyết tranh chấp của ngân hàng thương mại, có nhiều cách thức khác nhau trên tinh thần đảm bảo tối đa quyền lựa chọn cho các bên tranh chấp. Hình thức giải quyết tranh chấp chủ yếu được áp dụng tại Việt Nam bao gồm: thương lượng; hòa giải; Trọng tài và Tòa án. Như vậy, ngân hàng thương mại có 4 phương thức giải quyết tranh chấp của có thể áp dụng. Việc này tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại được lựa chọn theo nguyện vọng, ý chí của mình. Tuy nhiên, trong thực tế khi giao kết hợp đồng tín dụng, lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nào là do ngân hàng thương mại lựa chọn, hai bên sẽ thỏa thuận và ghi nhận các biện pháp giải quyết tranh chấp trong hợp đồng tín dụng khi giao kết hợp đồng.

1.2.3.6. Quyền tự do tổ chức lại, giải thể ngân hàng thương mại

Kể từ năm 2011, nền kinh tế trong nước bắt đầu tăng trưởng chậm lại cùng với nhiều rủi ro ngân hàng trước đó bắt đầu có tác động xấu đến kinh tế vĩ mô. Nhiều ngân hàng thương mại có thanh khoản thấp, nợ xấu gia tăng đe dọa sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Do đó, việc tổ chức lại ngân hàng thương mại là yêu cầu cấp thiết đặt ra từ giai đoạn này. Theo đó, pháp luật cho phép: “Tổ chức tín dụng được tổ chức lại dưới hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản”. ngân hàng thương mại có thể chia các tài sản, quyền và nghĩa vụ, thành viên, cổ đông của ngân hàng hiện có để thành lập hai hoặc nhiều ngân hàng mới. ngân hàng thương mại có thể tách bằng cách chuyển một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ, thành viên, cổ đông của ngân hàng hiện có để thành lập một hoặc một số ngân hàng mà không chấm dứt tồn tại của ngân hàng bị tách. “Hợp nhất tổ chức tín dụng là việc hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành một tổ chức tín dụng mới (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất”. “Sáp nhập tổ chức tín dụng là việc một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập”. Chuyển đổi hình thức pháp lý của ngân hàng thương mại bao gồm: “Ngân hàng thương mại, công ty tài chính chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần và ngược lại; Ngân hàng thương mại, công ty tài chính chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và ngược lại”.

Giải thể Tổ chức tín dụng là việc Tổ chức tín dụng tiến hành các thủ tục pháp lý về giải thể, nhằm chấm dứt tư cách pháp nhân và các quyền, nghĩa vụ liên quan của Tổ chức tín dụng. Việc giải thể có thể do Tổ chức tín dụng tự nguyện xin giải thể hoặc rơi vào trường hợp bắt buộc giải thể. Như vậy, ngân hàng thương mại có thể tự nguyện xin giải thể khi thỏa mãn điều kiện là có khả năng thanh toán hết nợ và phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản. Khi tiến hành giải thể, ngân hàng thương mại phải tiến hành thanh lý tài sản dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước và theo trình tự, thủ tục thanh lý tài sản do Ngân hàng Nhà nước quy định. Trong quá trình thanh lý, nếu phát hiện ngân hàng thương mại không có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ, Ngân hàng Nhà nước ra quyết định chấm dứt thanh lý và yêu cầu ngân hàng thương mại nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng thương mại. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại

  • Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại hiện nay chịu sự ảnh hưởng các yếu tố khác nhau, cụ thể:

Thứ nhất, về chế độ chính trị: Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” đang trong giai đoạn quá độ, mặc dù hệ thống chủ trương, chính sách pháp luật chưa hoàn chỉnh, tuy nhiên đây là hình thái Nhà nước tiến bộ nhất. Chế độ chính trị ở nước ta hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo, là chế độ nhất nguyên chính trị, do nhân dân làm chủ. Vì vậy, Quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh luôn được đảm bảo; Đảng và Nhà nước luôn bình đẳng đối với các thành phần kinh tế, tạo điều kiện tốt nhất cho các chủ thể kinh tế phát triển.

Thứ hai, về trình độ phát triển kinh tế – xã hội: Chế độ chính trị là tiền đề hình thành nên Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại còn trình độ phát triển kinh tế – xã hội là điều kiện đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Nếu như trước đây nước ta là đất nước kém phát triển thì thị trường tài chính – ngân hàng – chứng khoán cũng như Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nói chung không phát triển. Tuy nhiên hiện nay đất nước ta đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ. Kinh tế phát triển làm phát sinh nhu cầu tín dụng tăng cao; song song với đó là sự thừa vốn của các tổ chức, cá nhân là điều kiện để ngân hàng thương mại huy động vốn, cho vay thuận lợi. Như vậy, trình độ phát triển kinh tế – xã hội không quyết định Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại nhưng lại là cơ sở, điều kiện cho việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại.

Thứ ba, về mức độ nghi nhận và sự minh bạch của pháp luật: Mặc dù, Quyền tự do kinh doanh là quyền cơ bản của con người, tuy nhiên để đảm bảo tính khả thi và trung hòa lợi ích các thành phần trong xã hội thì Nhà nước phải đặt Quyền tự do kinh doanh trong những giới hạn và yêu cầu tất cả các chủ thể kinh doanh tôn trọng, thực hiện. Vì thế, việc pháp luật ghi nhận Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật sẽ góp phần tăng cường hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Hệ thống ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia, nếu hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, không mâu thuẫn, chồng chéo, không gây ra tình trạng vướng mắc, khó khăn trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại thì chính là điều kiện để cho các ngân hàng thương mại yên tâm đầu tư, kinh doanh. Nếu cơ sở pháp lý không đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho ngân hàng thương mại thì pháp luật lại chính là rào cản đối với Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại.

1.3. Ý nghĩa của việc quy định và bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Trong những năm qua, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam do có những đặc điểm về loại hình kinh doanh cũng như những đặc điểm riêng về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại nên việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung.

Thứ nhất, việc Nhà nước quy định và bảo đảm thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là cơ sở pháp lý vững chắc để chủ thể kinh tế yên tâm kinh doanh, mạnh dạn đầu tư vốn để kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại giúp ngân hàng thương mại phát huy tối đa vai trò của mình trong nền kinh tế – xã hội.

Thứ hai, việc Nhà nước quy định và bảo đảm thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là cơ sở để đảm bảo niềm tin vào ngân hàng thương mại của khách hàng, qua đó khách hàng trong và ngoài nước yên tâm gửi tiền và vay tiền để tìm kiếm lợi nhuận kinh doanh.

Thứ ba, việc Nhà nước quy định và bảo đảm thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là nguồn động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước. ngân hàng thương mại là nơi cung cấp nguồn vốn cho các chủ thể kinh tế đầu tư, kinh doanh là chủ yếu. Việc đảm bảo quyền tự do huy động vốn, quyền tự do sử dụng các dịch vụ ngân hàng chính điều kiện thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Thứ tư, việc Nhà nước quy định và đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho ngân hàng thương mại là sơ sở để đảm bảo, chóng độc quyền trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, qua đó, các chủ thể kinh tế sẽ được hưởng các chính sách tín dụng thông thoáng hơn, có lợi hơn cho mình. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã tổng hợp và trình bày khái quát về Quyền tự do kinh doanh nói chung và Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại nói riêng. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Từ đó, tác giả khái niệm Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại như sau: “Dưới góc độ quyền chủ thể, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là khả năng được tự do lựa chọn, tự do quyết định mọi vấn đề của ngân hàng thương mại khi thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận dựa trên cơ sơ phù hợp với quy định của Nhà nước và pháp luật. Dưới góc độ là một chế định pháp luật, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là tập hợp các quy phạm pháp luật và những đảm bảo của Nhà nước đưa ra nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại thực hiện Quyền tự do kinh doanh của mình”.

Quyền tự do kinh doanh của các ngân hàng thương mại và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng là hai mặt của một vấn đề tồn tại song song và bổ sung cho nhau tạo động lực phát triển cho hệ thống các ngân hàng thương mại. Nội dung cơ bản của Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm: “Quyền tự do thành lập ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do lựa chọn đối tác của ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do hợp đồng của ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do lựa chọn các biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng”; “Quyền tự do thỏa thuận các phương thức giải quyết tranh chấp của ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do tổ chức lại, giải thể ngân hàng thương mại”. Làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ở chương 1 sẽ là tiền đề để tác giả tiếp cận được thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ở nước ta hiện nay đồng thời là cơ sở cho việc thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài trong các chương sau. Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH

One thought on “Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464