Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk

2.1.2. Tổ chức của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk

Đắk Lắk là một tỉnh nằm trên địa bàn Tây Nguyên có vị trí chiến lược rất quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng – an ninh. Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm đồng, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Tây giáp vương quốc Campuchia và tỉnh Đắk Nông.

Tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 13.085 km2, đơn vị hành chính gồm 01 Thành phố Buôn Ma Thuột, 01 Thị xã Buôn Hồ và 13 huyện (Ea Kar, Krông Păk, M’Đrắk, Krông Năng, Ea H’Leo, Krông Búk, Cư M’Gar, Buôn Đôn, Ea Súp, Krông Bông, Cư Kuin, Krông Ana, Lắk). Trong đó có 02 huyện giáp ranh biên giới Campuchia: Huyện Buôn Đôn và huyện Ea Súp.

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin đã thực sự trưởng thành với sự thay đổi lớn về nhân sự và khối lượng công việc phải giải quyết. Từ khi thành lập mới chỉ có 05 cán bộ, công chức (trong đó có 01 Chánh án, 01 Thẩm phán và 03 chức danh khác) với lượng án khoảng từ 50 vụ án đến 60 vụ án các loại mỗi năm. Tuy nhiên, được sự quan tâm của Ban cán sự Đảng và Lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, hiện nay Toà án nhân dân huyện Cư Kuin có tổng số biên chế 10 cán bộ công chức gồm: 02 Thẩm phán trung cấp; 03 Thẩm phán sơ cấp; 03 Thư ký và 02 chức danh khác. Trong đó: 01 Thẩm phán có trình độ cao cấp lý luận chính trị, 04 Thẩm phán có trình độ trung cấp lý luận chính trị; Trình độ chuyên môn đào tạo sau đại học: 03 Thạc sĩ luật; 02 đang học Thạc sĩ luật. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin hiện nay đều đã được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp; đa số cán bộ, công chức của Toà án nhân dân huyện Cư Kuin có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phong trào thi đua khen thưởng cần phát huy nội lực của đơn vị, tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Tòa án cấp trên, cấp ủy Đảng và Hội đồng nhân dân huyện; kiên quyết khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm trong công tác chuyên môn, công tác xây dựng ngành, công tác xây dựng Đảng; tập trung thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ chính trị của ngành tại địa phương và đảm bảo thực hiện tốt công tác an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn huyện.

Bên cạnh, sự phát triển mạnh về kinh tế – xã hội, án HN&GĐ trên địa bàn huyện Cư Kuin trong những năm gần đây có sự gia tăng. Mặc dù, cơ sở vật chất còn gặp nhiều khó khăn nhưng với sự quyết tâm phấn đấu vượt qua mọi khó khăn của đội ngũ, cán bộ công chức và sự chỉ đạo kịp thời của Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Thường trực Huyện ủy huyện Cư Kuin, hàng năm tập thể Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin đã giải quyết vượt chỉ tiêu mà Tòa án nhân dân tối cao đã đề ra đối với các loại án, hạn chế mức thấp nhất các vụ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán.

2.1.2. Kết quả giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Về công tác thụ lý vụ án

Trong 05 năm qua (2017 -2021) Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin đã thụ lý giải quyết các vụ án về HN&GĐ như sau:

  • Bảng 2.1: Kết quả thụ lý và giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm 05 năm (2017 – 2021)

Theo kết quả thống kê cho thấy, trong 5 năm gần đây, số lượng án HN&GĐ mà Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin thụ lý không những tăng nhanh về số lượng mà tính chất phức tạp cũng gia tăng (trừ năm 2021 có giảm chút ít). Số vụ việc về HN&GĐ mà Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin phải thụ lý và giải quyết là khá lớn, trong đó chủ yếu là tranh chấp về ly hôn. Ngoài ra, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin cũng thụ lý các loại án tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nhưng chiếm tỷ lệ ít hơn so với lượng vụ tranh chấp về ly hôn (5%).

Để giải quyết số lượng lớn án như vậy đòi hỏi phải có sự cố gắng rất lớn của đội ngũ cán bộ, Thẩm phán, Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin. Trong quá trình thụ lý và giải quyết các vụ án phần lớn đều đúng thời hạn luật định, các bản án, quyết định được ban hành đúng theo trình tự quy định của pháp luật, không có đơn thư khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm quyền của đương sự trong giải quyết, xét xử các vụ án HN&GĐ.

  • Về công tác hòa giải Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Trong việc giải quyết các vụ án dân sự nói chung và án HN&GĐ nói riêng, Tòa án đóng vai trò là cơ quan trung gian hòa giải, giúp đỡ các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cụ thể về vấn đề này tại Điều 54 như sau: “Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự” [20]. Như vậy, thủ tục hòa giải trong vụ án HN&GĐ là thủ tục bắt buộc Tòa án phải thực hiện. Có thể thấy, việc hòa giải trong tố tụng, trước khi xét xử có ý nghĩa rất quan trọng, nó thể hiện tính trách nhiệm cao của những người có thẩm quyền xét xử, luôn đề cao việc tạo điều kiện cho đương sự có cơ hội chia sẻ, trình bày và tự nguyện thỏa thuận về những vấn đề yêu cầu của vụ án, đây cũng là một nội dung thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người của pháp luật Việt Nam, trước những người có quyền ra quyết định việc ly hôn của hai người, sau những mâu thuẫn, họ vẫn có cơ hội để trao đổi với nhau nhằm tìm ra cách giải quyết tốt nhất. Hòa giải là một thủ tục đặc trưng và bắt buộc, phải được tiến hành kể cả khi có yếu tố cho rằng không hề khả quan và khó có kết quả. Bỏ qua thủ tục này thì dù đã có quyết định, bản án thì cũng bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và là căn cứ để kháng cáo, kháng nghị hủy quyết định bản án. Nhiều trường hợp cho thấy, do thiếu hiểu biết về quy định pháp luật, thiếu nhận thức về quyền, lợi ích hợp pháp, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đến khi tham gia thủ tục hòa giải tại phiên tòa, sau khi nghe các Thẩm phán phân tích, người vợ hoặc người chồng mới hiểu ra và đoàn tụ với nhau. Thủ tục hòa giải là một thủ tục cần thiết và mang lại nhiều lợi ích tốt đẹp cần phát huy không chỉ trong hoạt động tố tụng giải quyết vụ việc tại Tòa án mà còn trong thủ tục tại địa phương.

  • Bảng 2.2: Kết quả giải quyết và hòa giải thành vụ án HN&GĐ 05 năm (2017 – 2021)

Có thể nhận thấy, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin luôn coi trọng công tác hòa giải trong vụ án HN&GĐ để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho người dân và tiết kiệm được thời gian giải quyết vụ án.

Qua thực tiễn thụ lý, giải quyết các vụ án HN&GĐ trên địa bàn huyện Cư Kuin nhận thấy những nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp về HN&GĐ bao gồm:

  • Nguyên nhân về bất bình đẳng giới.

Bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt đối với nam và nữ về cơ hội, sự tham gia, tiếp cận, kiểm soát và thụ hưởng các nguồn lực. Sự phân biệt đối xử giữa nam giới và phụ nữ, tư tưởng trọng nam khinh nữ có thể xem như yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Trong quan hệ HN&GĐ, người phụ nữ thường là người chịu trách nhiệm làm các công việc trong gia đình vì họ được coi là phù hợp với công việc nội trợ, chăm sóc con cái, còn quan hệ bên ngoài và kiếm tiền nuôi sống gia đình, việc phát triển kinh tế là việc của người đàn ông, trong các cơ quan tổ chức, vai trò lãnh đạo cũng không khuyến khích mà vị trí đấy dành cho nam giới, chính quan niệm này làm cho người phụ nữ bị hạn chế không phát huy được những thế mạnh của mình, không đóng góp được cho xã hội. Mặc dù Luật Bình đẳng giới đã được ban hành, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nhưng giữa lý thuyết và thực tế vẫn còn là một khoảng dài. Chính những lý do này khiến người vợ (trong một số ít trường hợp có thể là người chồng) cảm thấy mình không được tôn trọng, không được đối xử công bằng, không được chia sẻ, cảm thông, dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Nguyên nhân bạo lực gia đình.

Theo khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”. Theo báo cáo tổng kết công tác của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin qua các năm cho thấy có khá lớn các vụ án HN&GĐ có nguyên nhân xuất phát từ bạo lực gia đình, chủ yếu là người chồng bạo lực đối với người phụ nữ và con cái trong gia đình. Bạo lực gia đình không chỉ xảy ra ở những vùng nông thôn, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, mà nó còn xảy ra nhiều trong những gia đình trí thức, những người có nhận thức xã hội cao. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ly hôn.

Ngoài các nguyên nhân kể trên, ly hôn còn bao gồm nhiều nguyên nhân khác: mâu thuẫn vợ chồng (chiếm 35%), do tính tình không hợp (22%), do ngoại tình chiếm 14%, do một bên mất tích (10%), do người chồng say xỉn, không chăm lo cho gia đình (chiếm 5%)…

Để đảm bảo quyền cho đương sự trong vụ án HN&GĐ, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin trong quá trình giải quyết vụ án luôn giải thích rõ các quy định pháp luật hiện hành như quyền ly hôn đơn phương, quyền của phụ nữ đối với con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn… Nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào điệu kiện thực tế của vợ chồng (như tư cách đạo đức, hoàn cảnh công tác, thu nhập…) để giao con cho người đó, để đảm bảo lợi ích mọi mặt cho con được tốt hơn. Theo quy định khoản 3 Điều 81 Luật HN&GĐ: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con” [20].Thực hiện theo quy định này, trong các vụ án hôn nhân và gia đình mà vợ chồng không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con, trường hợp con dưới 36 tháng tuổi, người mẹ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, thì trong mọi trường hợp con sẽ giao cho người mẹ nuôi dưỡng, đối với trường hợp con trên 36 tháng tuổi, Thẩm phán và Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin xác minh đầy đủ, cụ thể tại cơ sở như Ban tự quản địa phương, trường học, Hội phụ nữ tại địa phương… để đưa ra phán quyết chính xác, phù hợp nhất về việc chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ sau hôn nhân, đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của đứa trẻ.

Một quyền lợi quan trọng khác của đương sự trong vụ án HN&GĐ cũng được Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin quan tâm bảo vệ đó là quyền về tài sản. Điều 33 Luật HN&GĐ quy định về tài sản chung của vợ chồng, cụ thể: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung” [20]. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Với những quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, công nhận việc người phụ nữ làm nội trợ ở nhà được coi là có tạo ra thu nhập. Do đặc điểm về tâm sinh lý sức khỏe, giới tính, đặc điểm công việc nên sự đóng góp công sức của người vợ vào việc xây dựng khối tài sản chung không ngang bằng với người chồng nhưng không vì thế mà xem nhẹ công sức đóng góp của họ trong việc tạo lập khối tài sản chung, quyền sở hữu của họ đối với tài sản chung vẫn ngang bằng nhau. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, vì có những trường hợp do điều kiện, hoàn cảnh của từng gia đình mà người vợ không trực tiếp lao động tạo ra tài sản, họ chỉ làm những công việc như nội trợ, chăm sóc con cái… thì quyền sở hữu của họ đối với tài sản chung vẫn ngang bằng với người chồng. Đối với những tài sản có giá trị lớn như nhà ở, quyền sử dụng đất, xe ô tô… pháp luật quy định: “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người” [21]. Bên cạnh đó Luật HN&GĐ cũng ghi nhận “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng” [20]. Trên thực tế người chồng thường nắm giữ toàn bộ tài sản trong gia đình và thường đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dẫn đến nhiều tranh chấp phát sinh khi vợ chồng mẫu thuẫn dẫn đến ly hôn.

2.2. Thực tiễn thực hiện quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

2.2.1. Thực hiện quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân

Trong trường hợp cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không còn mong muốn tiếp tục chung sống nữa thì một trong hai bên, vợ hoặc chồng có thể yêu cầu Tòa án giải quyết cho họ được ly hôn; trường hợp người thứ ba nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến không thể nhận thức và điều khiển được hành vi của mình và là nạn nhân của bạo hành gia đình thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trường hợp người có vợ, chồng đã bị tuyên bố mất tích có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

  • Thực hiện quyền yêu cầu về thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợ chồng cùng yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn, thể hiện ý chí của cả hai vợ chồng cùng muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân, thể hiện bằng việc cả hai vợ chồng cùng ký vào đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Trường hợp vợ chồng có đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án thụ lý việc dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuy nhiên để đảm bảo các đương sự thật sự tự nguyện ly hôn và thật sự tự nguyện thỏa thuận các vấn đề liên quan thì pháp luật quy định trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải, nếu một trong các bên có sự thay đổi về bất cứ một nội dung nào đã được ghi nhận trong biên bản hòa giải thì có quyền thay đổi, nếu có sự thay đổi mà hai bên không thỏa thuận được sự thay đổi đó thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự, nếu các bên đương sự không có ý kiến gì thay đổi thì Tòa án sẽ ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho các đương sự. Như vậy, khi Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho vợ chồng theo yêu cầu của vợ chồng thì cũng quan tâm đến vấn đề giải quyết việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, cấp dưỡng nuôi con chung, chia tài sản chung nhằm để đảm bảo cho con trẻ được hưởng sự quan tâm chăm sóc giáo dục tốt nhất khi bố mẹ ly hôn; đồng thời cũng nhằm bảo vệ cho người vợ, thường là người phải chịu thiệt thòi hơn sau khi ly hôn.

  • Thực hiện quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Ly hôn do một bên yêu cầu là trường hợp chỉ có một bên vợ hoặc chồng yêu cầu được Tòa án giải quyết việc ly hôn, thể hiện bằng việc chỉ có một bên vợ hoặc chồng ký vào đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Trường hợp này, Tòa án thụ lý như một vụ án dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng thì Tòa án tiến hành hòa giải cho các bên đương sự trước hết là về quan hệ hôn nhân, có khả năng khắc phục mâu thuẫn, khả năng quay về tiếp tục chung sống với nhau hay không; nếu qua quá trình hòa giải tại Tòa án, người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thay đổi ý định, không muốn ly hôn nữa thì họ sẽ rút đơn khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, như vậy Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp người khởi kiện vẫn không rút đơn khởi kiện, người bị kiện đồng ý theo nguyện vọng ly hôn của người khởi kiện; đồng thời giữa họ thống nhất được việc phân chia hay không phân chia tài sản chung, vấn đề con chung, ai sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cụ thể như thế nào; nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung như thế nào; nghĩa vụ về tài sản, về các loại hợp đồng dân sự của vợ chồng đã được thỏa thuận giải quyết xong… thì Tòa án lập biên bản ghi nhận ý kiến của các bên. Trong thời hạn 07 ngày, các bên được quyền thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó, nếu sau 07 ngày mà các bên đương sự không có thay đổi ý kiến thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho các đương sự, và quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không được quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp tại phiên hòa giải, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, người bị đơn vẫn không đồng ý, vẫn muốn hòa giải đoàn tụ thì Tòa án xem xét tình trạng hôn nhân của họ đã đến mức trầm trọng chưa, khả năng hàn gắn để quay về còn hay không, nếu có căn cứ cho thấy họ là nạn nhân của nạn bạo hành gia đình, người chồng, vợ kia vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng… thì Tòa án xét xử chấp nhận cho họ được ly hôn.

  • Thực hiện quyền yêu cầu giải quyết ly hôn khi vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích

Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật HN&GĐ: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” [20]. Một người chỉ bị tuyên bố đã mất tích khi có Quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Quyết định tuyên bố mất tích không đương nhiên làm chấm dứt mối quan hệ hôn nhân giữa người bị tuyên bố mất tích với vợ, chồng của họ mà nó chỉ là căn cứ để cho người vợ, chồng của người bị tuyên bố mất tích có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với người bị tuyên bố mất tích. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng, là sự gắn kết giữa người vợ và người chồng thông qua các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp người vợ, chồng đã biệt tích, không có sự liên lạc gì với gia đình, vợ con thời gian trên hai năm, đã bị Tòa án tuyên bố mất tích thì thực tế họ đã không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với người vợ, chồng mình trong một thời gian dài. Như vậy, nếu họ có yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết cho họ được ly hôn. Trong trường hợp này, Quyết định tuyên bố một người mất tích đối với họ là căn cứ để Tòa án giải quyết cho vợ, chồng được ly hôn. Ly hôn trong trường hợp vợ, chồng bị tuyên bố đã mất tích là thừa nhận sự tan vỡ của quan hệ vợ chồng khi một bên đã vắng mặt một thời gian dài, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong một thời gian dài. Việc quy định cho người vợ, chồng của người bị tuyên bố mất tích được ly hôn thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam.

Trên thực tế, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin đã thụ lý và giải quyết khá nhiều các vụ tranh chấp về ly hôn. Ví dụ sau đây là một minh chứng.

Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 6 năm 2020 của bà LTH: bà H và ông NHL tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 24/5/2005. Họ có 2 con gái chung là LTQ (2006) và LQA (2009) [25].

Đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng và ông L bỏ nhà đi từ đó cho đến nay, không liên lạc được. Vì vậy, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L. Về tài sản chung của vợ chồng: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung.

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông L nhiều lần nhưng ông L vẫn không lên làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án tiến hành lập biên bản làm việc yêu cầu bà H phải có nghĩa vụ cung cấp địa chỉ, nơi cư trú của ông L cho Tòa án. Tuy nhiên, bà H không cung cấp được địa chỉ của ông L nên Tòa án tiến hành xác minh thì được biết ông L đã bỏ đi khỏi địa phương từ giữa năm 2016. Khi đi ông L không khai báo tạm trú, tạm vắng nên không biết ông L hiện nay đang ở đâu, làm gì.

Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích” [22]. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Sau khi thủ tục tuyên bố ông L mất tích được thực hiện theo quy định của pháp luật, yêu cầu xin ly hôn của bà H được giải quyết theo thủ tục chung được quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật HN&GĐ: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” [20].

2.2.2. Thực hiện quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản

Phân chia tài sản sau ly hôn (gồm nhà, đất, tài sản có giá trị, tiền mặt…) theo pháp luật nhìn chung là chia đôi, trong đó có quan tâm đến quyền và lợi ích của phụ nữ. Bên cạnh đó, con cái cũng là một biến số có tác động đáng kể đến các quyết định phân chia tài sản trong các vụ án HN&GĐ.

Thực tế ở huyện Cư Kuin cho thấy, đối với những vụ án chỉ giải quyết về vấn đề quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là quan hệ cốt lõi trong quan hệ hôn nhân thì việc giải quyết tương đối đơn giản. Ngược lại, mặc dù là quan hệ phát sinh từ quan hệ hôn nhân của vợ chồng nhưng những vụ án liên quan đến tranh chấp tài sản giữa vợ chồng thì thường rất phức tạp, kéo dài, rất khó giải quyết trong việc giải quyết hậu quả của việc ly hôn giữa vợ và chồng. Bởi vì, tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng. Một khi cuộc hôn nhân đã đổ vỡ, quan hệ hôn nhân chấm dứt thì việc giải quyết hậu quả mà cụ thể là việc phân chia tài sản chung của vợ chồng là điều rất quan trọng.

Với những tranh chấp này, Tòa án nhân dân huyện đã áp dụng nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Điều 58 của Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và các Điều 60, 61, 62 , 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và các Điều 60, 61, 62 , 63 và 64 của Luật này để giải quyết” [20].

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì tồn tại hai chế độ tài sản của vợ chồng, gồm: Chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định. Việc phân chia tài sản của vợ chồng như thế nào sẽ phụ thuộc vào chế độ tài sản của vợ chồng. Nếu giữa vợ chồng đã có sự lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì khi ly hôn, Tòa án căn cứ vào nội dung sự thỏa thuận về tài sản đó của vợ chồng để phân chia tài sản cho vợ chồng. Nếu như có những nội dung về tài sản của vợ chồng chưa được thỏa thuận hoặc đã có sự thỏa thuận nhưng thỏa thuận không đầy đủ, không rõ ràng hoặc vợ chồng không có thỏa thuận nào về tài sản thì áp dụng các quy định của pháp luật theo chế độ tài sản theo luật định để phân chia tài sản cho họ khi có yêu cầu. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng theo luật định vẫn áp dụng nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, các đương sự tự nguyện thỏa thuận về vấn đề chia tài sản chung như thế nào; nếu như các đương sự không thể thống nhất được việc phân chia tài sản chung và yêu cầu Tòa án phân chia thì Tòa án áp dụng các nguyên tắc phân chia theo quy định của pháp luật để giải quyết.

2.2.3. Thực hiện quyền đối với con chung Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Khi quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng chấm dứt thì hậu quả lớn nhất về mặt tình cảm là đối với những đứa con của họ. Bản thân những đứa trẻ không thể quyết định được những gì đang xảy ra, và nếu giữa cha mẹ chúng quyết định ly hôn thì chúng là những người bị động buộc phải chấp nhận. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống hằng ngày và ảnh hưởng rất lớn đến tâm sinh lý của chúng. Do đó, đối với vấn đề quan hệ giữa cha mẹ và con sau khi cha mẹ ly hôn rất được Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin quan tâm giải quyết, mục đích đảm bảo cho đứa trẻ những điều tốt nhất; hạn chế được ít nhất ảnh hưởng tiêu cực đến đứa trẻ theo tinh thần của Điều 81 của Luật HN&GĐ năm 2014: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình… ” [20].

Khi ly hôn vợ chồng bắt buộc phải thỏa thuận với nhau về việc ai sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; ai sẽ là người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người con đó. Bên trực tiếp nuôi con phải tạo điều kiện để bên không trực tiếp nuôi con được gần gũi con, tiếp xúc với con, tạo cho con tâm lý thoải mái, nhẹ nhàng để con không bị cô đơn, thiệt thòi, thiếu thốn tình cảm. Cả hai bên nên có sự thống nhất trong cách nuôi nấng, giáo dục, định hướng cho con sau này. Một số trường hợp do vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về vấn đề ai là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc các con nên Tòa án huyện Cư Kuin đã căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con như nhu cầu về vật chất, tinh thần, điều kiện học hành, đi lại… để ra quyết định theo nguyên tắc: con dưới ba mươi sáu tháng tuổi sẽ do người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hoặc giữa cha, mẹ có thỏa thuận khác nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho con; con từ 07 tuổi trở lên thì xem xét đến nguyện vọng của con mong muốn được ở với ai để giao con cho người nào là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là tốt nhất, đảm bảo tốt nhất về mọi mặt cho đứa trẻ. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Đây là quyền của cha mẹ đối với con đồng thời cũng là nghĩa vụ của người cha mẹ đối với con nhằm gắn kết mối tình cảm giữa cha mẹ và con cái, đồng thời tạo môi trường tốt nhất cho đứa trẻ. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Liên quan đến nội dung này có thể tham khảo ví dụ sau đây:

Ông A và bà B kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, có 01 con chung là cháu D sinh năm 2011. Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng ông A và bà B chỉ kéo dài được 5 năm. Đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn (nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, thậm chí có khi còn xảy ra đánh nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017.

Ông A cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ngày 15 tháng 6 năm 2019 ông A đã làm đơn yêu cầu Tòa án huyện Cư Kuin giải quyết cho ông được ly hôn với bà B. Về vấn đề con chung ông A yêu cầu Tòa án giao cháu D cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi (ông A tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu D số tiền 3.000.000đ/tháng). Về tài sản chung ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết, vợ chồng tự thỏa thuận chia.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà B cho rằng, quá trình chung sống giữa bà và ông A chỉ có những mâu thuẫn nhỏ nhặt, không đến mức phải ly hôn, do đó bà V không đồng ý ly hôn với ông T và yêu cầu Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ. Quá trình giải quyết, Tòa án huyện Cư Kuin đã tiến hành hòa giải cho các bên, tuy nhiên ông A và bà B đều giữ nguyên quan điểm của mình. Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương được biết: Quá trình chung sống, giữa ông A và bà B có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi từ khoảng giữa năm 2017 đến nay.

Căn cứ vào lời khai của các đương sự, kết quả xác minh tại địa phương nơi, căn cứ vào tình trạng của cuộc hôn nhân giữa ông A và bà B, Tòa án huyện Cư Kuin đã đưa vụ án ra xét xử.

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật HN&GĐ năm 2014, Tòa tuyên xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông A. ông A được quyền ly hôn với bà B. Về con chung giao cháu D cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, ông A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu D số tiền 3.000.000đ/tháng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi.

Có thể nhận thấy, Tòa án huyện Cư Kuin đã áp dụng đúng quy định của pháp luật để giải quyết cho ông A được ly hôn với bà B.

2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk

2.3.1. Những kết quả đạt được Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Trong 05 năm qua, mặc dù số lượng vụ án tranh chấp HN&GĐ phải đưa ra xét xử tại Tòa án huyện Cư Kuin không nhiều nhưng có xu hướng gia tăng và tính chất phức tạp cao, liên quan đến nhiều quyền lợi quan trọng của các đương sự như tranh chấp liên quan đến tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tranh chấp về quyền nuôi con trực tiếp sau khi ly hôn, hoặc là những vụ án mà đương sự không hợp tác với Tòa án để giải quyết, cố tình trốn tránh, buộc phải đưa ra xét xử…

  • Bảng 2.3: Kết quả xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình 05 năm (2017 – 2021).

Trong quá trình xét xử các vụ án HN&GĐ, Tòa án huyện Cư Kuin đã có nhận thức sâu sắc về việc bảo đảm quyền của đương sự khi tham gia tố tụng vụ án HN&GĐ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ. Để đảm bảo hơn nữa quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ đòi hỏi phải có đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án có trình độ và am hiểu pháp luật là rất quan trọng có ý nghĩa quyết định. Thực tế trong quá trình giải quyết các vụ án HN&GĐ, tính chất các vụ án ngày càng phức tạp, do vậy đòi hỏi người tiến hành tố tụng khi giải quyết các tranh chấp phải có nghiệp vụ chuyên sâu, nắm vững các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự để áp dụng vào giải quyết các vụ án một cách triệt để. Việc bảo đảm quyền của nguyên đơn, bị đơn trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình nhằm hướng đến bảo đảm hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.

Điều đó cho thấy, nhu cầu giải quyết các vụ việc HN&GĐ tại Tòa án huyện Cư Kuin ngày càng nhiều; bên cạnh những tranh chấp đã xảy ra thì đã phát sinh một số loại tranh chấp mới; trong điều kiện nền kinh tế hội nhập, tần suất làm việc của các cơ quan Tòa án, trong đó có giải quyết các tranh chấp về dân sự, ngày càng lớn; kết quả thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự đã đáp ứng bước đầu về số lượng vụ việc HN&GĐ được giải quyết, nhưng bên cạnh đó vẫn cần nâng cao chất lượng, hiệu quả của các phiên tòa, và để đạt được mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, cần nâng cao ý thức trách nhiệm, chuyên môn nghiệp vụ của các Thẩm phán; tôn trọng, đảm bảo quyền bình đẳng và không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các bên trong quá trình giải quyết vụ việc HN&GĐ. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Những kết quả đó cho chúng ta thấy giá trị to lớn của việc thể chế hóa pháp luật về quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết vụ việc HN&GĐ và kết quả của việc thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết vụ việc HN&GĐ. Việc ghi nhận và cụ thể hoá quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết vụ việc HN&GĐ trong Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể tố tụng có cơ hội tốt nhất thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết vụ việc HN&GĐ không chỉ là sự bình đẳng giữa các cá nhân mà còn là sự bình đẳng giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức trong Tố tụng dân sự. Cùng với việc ghi nhận và cụ thể hoá quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết vụ việc HN&GĐ, các văn bản pháp luật còn quy định quyền bình đẳng của các chủ thể tham gia tố tụng trong tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ việc HN&GĐ. Điều này thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với các chủ thể tham gia tố tụng, đặc biệt là đối với các đương sự. Đây chính là điều kiện để đương sự có thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời cũng giúp cho Tòa án có thể giải quyết các vụ việc HN&GĐ một cách thuận lợi, nhanh chóng hơn, tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền của của Nhà nước và của đương sự.

Thực tiễn giải quyết các vụ việc HN&GĐ của Toà án nhân dân huyện Cư Kuin những năm gần đây cho thấy rằng, quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết vụ việc HN&GĐ ngày càng được thực hiện tốt hơn. Trong quá trình giải quyết các vụ việc HN&GĐ, Tòa án đã tôn trọng và bảo đảm cho mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ Tố tụng dân sự của mình một cách bình đẳng. Tòa án đã xác định và triệu tập đầy đủ các đương sự tham gia tố tụng cũng như thực hiện các biện pháp pháp lý để bảo đảm cho đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng như quan tâm làm tốt việc hướng dẫn các đương sự thực hiện nghĩa vụ về cung cấp chứng cứ, đồng thời tích cực xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp cần thiết theo quy định để giải quyết vụ án đúng pháp luật. Vì vậy, trên thực tế, các đương sự đã thực hiện được tương đối tốt các quyền và nghĩa vụ Tố tụng dân sự của họ, ví dụ như quyền đưa ra yêu cầu; quyền phản đối yêu cầu của đương sự khác; quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu; quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ; quyền yêu cầu thay người tiến hành Tố tụng dân sự, người tham gia Tố tụng dân sự; quyền ủy quyền hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; quyền đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp không thể tự thực hiện việc xác minh, thu thập chứng cứ; quyền được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập; quyền tham gia hoà giải, tham gia phiên toà; quyền được hỏi người khác tại phiên toà; quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án và quyền khiếu nại đối với các quyết định, hành vi trái pháp luật của những người tiến hành Tố tụng dân sự… Đặc biệt là việc đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa được thực hiện sâu rộng theo đúng tinh thần cải cách tư pháp và trên cơ sở quy định của pháp luật.

2.3.2. Những hạn chế. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên thì việc thực hiện quyền của đương sự trong giải quyết các vụ án HN&GĐ tại Toà án nhân dân huyện Cư Kuin vẫn còn một số hạn chế nhất định. Những hạn chế đó được thể hiện chủ yếu trong các hoạt động Tố tụng dân sự của các đương sự và của Tòa án. Cụ thể:

  • Về phía các đương sự.

Trong một số vụ án, các đương sự thực hiện quyền trong giải quyết các vụ án HN&GĐ không đúng, đưa ra yêu cầu không phù hợp nên không được Tòa án chấp nhận yêu cầu. Mặt khác, do trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự còn hạn chế, nên xảy ra tình trạng đương sự không thể tự mình thu thập tài liệu, chứng cư nhưng vẫn không yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập tài liệu, chứng cứ, mặc dù Tòa án đã giải thích quy định của pháp luật về vấn đề này; hoặc có đương sự ỷ lại, phụ thuộc vào Tòa án, cho rằng việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ là trách nhiệm của Tòa án. Trong khi, về nguyên tắc Tòa án chỉ hỗ trợ, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ khi có yêu cầu của đương sự.

Bên cạnh đó, trong nhiều vụ án, đương sự không hợp tác với Tòa án, cố tình né tránh, gây khó khăn nhằm kéo dài vụ án để chậm thực hiện nghĩa vụ. Một số đương sự không thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ; không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án; không cung cấp địa chỉ mới của bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; không có mặt khi đo đạc, định giá, nhiều trường hợp còn cản trở Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ….Việc thực hiện quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu của những người tham gia tố tụng trên thực tế chưa tốt.

  • Về phía Tòa án Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Vẫn còn nhiều vụ việc HN&GĐ mà Toà án nhân dân huyện Cư Kuin giải quyết không đúng pháp luật, không đáp ứng và bảo đảm quyền bình đẳng vợ chồng trong giải quyết các vụ việc HN&GĐ của các đương sự, cụ thể như:

Sự bình đẳng trong tranh tụng chưa được đảm bảo: Mục đích của tranh tụng tại phiên tòa nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa các đương sự với nhau, với cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm sự công minh của pháp luật.

Về nguyên tắc tranh tụng, Bộ luật Tố tụng dân sự đã ghi nhận các giá trị của quyền con người, song trên thực tế vẫn chưa ghi nhận nguyên tắc cốt lõi mang tính chất tuyên ngôn nhằm đảm bảo quyền con người trong Tố tụng dân sự nói chung, quyền của đương sự trong giải quyết các vụ án HN&GĐ nói riêng. Tranh tụng là một nguyên tắc để từ đó, xác định chứng cứ, đánh giá chứng cứ, ra bản án thông qua một quá trình tranh tụng minh bạch. Thông qua việc áp dụng nguyên tắc tranh tụng, Thẩm phán xét xử theo pháp luật và bằng pháp luật; các đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở các chứng cứ được đánh giá khách quan, rõ ràng. Tuy nhiên, việc tranh tụng tại phiên tòa chưa thực chất và chưa hiệu quả; thủ tục tranh luận tại phiên tòa không được tiến hành hoặc chỉ tiến hành đại khái; ranh giới giữa phần “Hỏi” và phần “Tranh luận” không rõ ràng.

Trong thực tiễn, việc tranh luận dân chủ tại một số phiên tòa còn chưa đáp ứng được yêu cầu, một số vụ án không có Luật sư tham gia. Bên cạnh đó, trách nhiệm và năng lực của Kiểm sát viên còn nhiều bất cập, họ chưa chủ động xét hỏi, thẩm vấn làm sáng tỏ sự thật vụ án. Tại nhiều phiên tòa, việc điều khiển tranh luận của Chủ tọa còn hạn chế, tình trạng tranh luận lan man, công kích giữa các bên còn xảy ra; Phán quyết của Tòa án chưa thật sự khách quan, không dựa vào kết quả tranh luận tại phiên tòa… Những vấn đề trên dẫn đến thực trạng số vụ án sơ thẩm bị sửa, bị hủy ở cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hằng năm vẫn còn xảy ra.

Việc xem xét giải quyết các yêu cầu của người tham gia tố tụng chưa được đảm bảo. Thực tế, việc xem xét, giải quyết những yêu cầu của người tham gia tố tụng chưa được đảm bảo, đặc biệt là đối với yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng. Theo các Luật sư, hầu hết khi bị yêu cầu thay đổi, tâm lý người tiến hành tố tụng và ngay cả các cơ quan tố tụng thường thấy bị xúc phạm, tự ái nên có xu hướng bác bỏ yêu cầu thay người này, viện vào lý do “không có chứng cứ”. Nhiều trường hợp người bị hại bị tước quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng.

Bên cạnh đó, việc lựa chọn người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng chưa hoàn toàn căn cứ vào ý chí của đương sự và ở khía cạnh nào đó, phụ thuộc vào việc cho phép hay không cho phép của Tòa án. Tuy nhiên, trường hợp nào cho phép hoặc không cho phép thì luật chưa quy định đầy đủ và cụ thể. Đây chính là một trong những lý do có thể dẫn tới sự tùy tiện của Tòa án trong vấn đề cho phép hoặc không cho phép một ai đó được làm người đại diện. Tòa án cũng có quyền trong việc chấp nhận hay không chấp nhận tư cách của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Chính vì vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong một chừng mực nào đó, quyền tự do lựa chọn người đại diện cho mình của các đương sự trong vụ việc HN&GĐ đã bị hạn chế, tác động đến việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người, quyền tự do bình đẳng của đương sự. Hiệu quả giải quyết vụ án HN&GĐ tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin chưa thực sự thuyết phục, khách quan cũng một phần xuất phát từ những quy định chưa cụ thể, minh bạch của pháp luật.

2.2.3. Nguyên nhân của hạn chế

Từ thực trạng giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình tại Toà án nhân dân huyện Cư Kuin, có thể xác định những hạn chế là do những nguyên nhân cơ bản sau: Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Thứ nhất, số lượng án HN&GĐ của Toà án nhân dân huyện Cư Kuin phải giải quyết khá nhiều dẫn đến tình trạng quá tải do số lượng công chức Thư ký quá ít và phải kiêm nhiệm thêm nhiều công việc khác dẫn đến chất lượng giải quyết các vụ án còn chưa cao, nhiều vụ án bị sửa, bị hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán. Bên cạnh đó quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Thẩm phán còn rườm rà, thủ tục bổ nhiệm lại lâu; phải có ý kiến của nhiều cơ quan, đơn vị liên quan, trong khi hướng dẫn về các vấn đề cụ thể có lúc lại chưa kịp thời, rõ ràng dẫn đến việc bổ nhiệm còn chậm trễ.

Thứ hai, việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng xét xử còn hạn chế và còn mang tính hình thức, vì sự cả nể với nhau trong công việc, trong gặp gỡ hàng ngày nên ngại nhận xét ưu khuyết điểm của nhau. Vì khối lượng công việc nhiều nên không tổ chức được các buổi thảo luận nghiệp vụ, nghiên cứu những vụ án khó phức tạp để cùng nhau trao đổi quan điểm giải quyết. Năng lực của một số Thẩm phán và Thư ký còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ.

Thứ ba, cơ cấu bộ máy của Toà án nhân dân cấp huyện nói chung và Toà án nhân dân huyện Cư Kuin nói riêng hiện nay còn đơn giản, không được tổ chức theo lĩnh vực xét xử, nên khó khăn trong việc đầu tư, đào tạo chuyên ngành cho các Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án, Thư ký…, ảnh hưởng đến chất lượng công tác của Tòa án, đặc biệt là công tác giải quyết, xét xử các loại vụ việc đòi hỏi chuyên môn sâu và những kỹ năng nghiệp vụ đặc thù như các vụ việc về đất đai, sở hữu trí tuệ, kinh doanh thương mại, các vụ việc có liên quan đến gia đình và người chưa thành niên…

Thứ tư, hoạt động giải quyết vụ án HN&GĐ của Tòa án còn chịu sức ép về số lượng và thời hạn giải quyết vụ án, làm hạn chế thời gian hòa giải trong một vụ án, dẫn đến tình trạng ly hôn ngày càng phổ biến. Nhiều vụ án HN&GĐ vì tính chất phức tạp của vụ án đã đưa ra xét xử nhiều lần nhưng vẫn không giải quyết dứt điểm là những trở ngại đối với việc bảo đảm thực thi quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đương sự khi ly hôn. Trong khi đó công tác hòa giải vụ án ly hôn tại cơ sở chưa đạt hiệu quả. Theo quy định tại Điều 52 Luật HN&GĐ năm 2014: “Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải ở cơ sở được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở”. Như vậy, hòa giải ở cơ sở (tức hòa giải trong nội bộ gia đình, cộng đồng dân cư như thôn, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và thậm chí là ở cả cơ quan làm việc của vợ chồng) thì không còn là thủ tục bắt buộc, dẫn đến tình trạng chính quyền địa phương, cơ sở không muốn thực hiện công tác hòa giải vì tâm lý cả nể, ngại va chạm. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của hoạt động này bởi hòa giải viên, ban tự quản thôn xóm thường là những người quen biết với nhau, thậm chí có thể có mối quan hệ gần gũi, thân thiết với vợ chồng, nên có thể hiểu rõ về mỗi người cũng như quan hệ hôn nhân của họ. Từ đó, có thể đưa ra những lời khuyên đúng đắn và thiết thực nhất cho những người trong cuộc. Tuy nhiên, về mặt thực tế thì hoạt động này không phải lúc nào cũng mang lại kết quả như mong đợi, ở nhiều nơi nó chỉ mang tính “hình thức” và tỷ lệ các cặp vợ chồng quay lại với nhau sau khi được hòa giải ở cơ sở là không nhiều. Nhiều cặp vợ chồng né tránh việc hòa giải do ngại tiếp xúc, ngại đưa vấn đề ra bàn bạc với sự có mặt của nhiều người hoặc vì cha mẹ, con cái, danh tiếng, địa vị xã hội nên không yêu cầu địa phương hòa giải. Chính vì vậy, họ lựa chọn nộp đơn trực tiếp đến Tòa án, dẫn đến số lượng vụ án HN&GĐ mà Tòa án phải thụ lý và giải quyết là khá lớn. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Thứ năm, thực tế áp dụng Luật HN&GĐ năm 2014 những năm qua cho thấy, mặc dù đã điều chỉnh có hiệu quả nhiều quan hệ về HN&GĐ phát sinh trong thực tiễn, nhưng vẫn còn những hạn chế, vướng mắc bất cập như:

Về vấn đề nuôi con: Theo quy định của Luật HN&GĐ, khi cha mẹ ly hôn, đối với trẻ em trên 07 tuổi phải lấy ý kiến của con để xem xét nguyện vọng của con muốn được sống với ai sau khi bố mẹ ly hôn. Điều này dẫn đến trên thực tế có nhiều đương sự không muốn cho con biết cha mẹ ly hôn, vì vậy thuê (mượn) người để giả làm con mình mà các em cũng không có giấy tờ tùy thân nào để Tòa án cũng kiểm tra nhân thân. Quy định này trên thực tế đã không đạt được mục đích của nó là tôn trọng ý kiến tự quyết của các em. Hơn nữa, việc đưa trẻ em đến phiên tòa ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu, có nhiều cháu rất buồn bã và bị ảnh hưởng đến tâm lý, học hành sa sút. Hơn nữa trẻ mong muốn ở với ai chỉ là một điều kiện để Tòa án xem xét và còn mang nặng cảm tính vì trẻ con không nhận thức đầy đủ về các điều kiện chăm sóc của người bố và người mẹ. Các cháu chỉ muốn chung sống với ai cháu cảm thấy yêu thương hơn.

Về vấn đề ly hôn với người mất năng lực hành vi dân sự: Trên thực tế có trường hợp khi kết hôn cả hai bên đều khỏe mạnh, minh mẫn, nhưng sau khi kết hôn thì người vợ/chồng bị những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý, dẫn đến không thể cư xử, sinh hoạt như người bình thường, không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Trong trường hợp này bên còn lại có quyền ly hôn. Vấn đề đặt ra là nếu người này không có điều kiện về kinh tế, không có điều kiện chăm sóc con cái tốt nhưng lại muốn được nuôi con thì phải chứng minh người kia bị mất năng lực hành vi dân sự bằng một phán quyết của Tòa án. Điều này sẽ rất khó khăn cho Tòa án khi tiến hành trưng cầu giám định năng lực hành vi dân sự vì trong trường hợp bệnh nhân cũng như người nhà của bệnh nhân không đồng ý để Trung tâm pháp y tiến hành giám định thì Trung tâm không thể thực hiện được và sẽ không kết luận được người này có bị mất năng lực hành vi dân sự hay không. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Về vấn đề ly hôn với người đang chấp hành án phạt tù: Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể, dẫn đến tình trạng khi nhận được yêu cầu xin ly hôn với người đang chấp hành án phạt tù, dẫn đến khó khăn trong việc xác định thẩm quyền nơi thụ lý giải quyết của Tòa án (Tòa án nơi có địa chỉ của trại giam hay nơi người chấp hành án đăng ký hộ khẩu thường trú). Chưa kể trong rất nhiều trường hợp đương sự không đồng ý ly hôn và yêu cầu chờ họ ra tù để giải quyết, đây cũng là khó khăn cho việc giải quyết ly hôn, vì không thể trích xuất người đang chấp hành án ra để hòa giải giải quyết vụ án. Điều này gây khó khăn cho Thẩm phán khi giải quyết, nếu có chấp nhận đơn ly hôn để giải phóng cho người vợ/chồng thì cũng có một chút khiên cưỡng, do Tòa án lập luận theo hướng mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng.

Thứ sáu, công tác thi hành bản án quyết định của Tòa án về việc giao con cho cha/ mẹ nuôi và cấp dưỡng tiền nuôi con còn nhiều khó khăn. Thi hành án là công đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết vụ án. Hoạt động của Tòa án là những hoạt động xoay quanh hoạt động xét xử để nhân danh công lý và phán quyết sự công bằng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quyền lực của Tòa án chỉ dừng lại ở việc ra phán quyết đúng sai, những phán quyết của Tòa án chỉ có giá trị đích thực khi những phán quyết đó được tổ chức thi hành nghiêm chỉnh và triệt để. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án còn gặp rất nhiều trở ngại, đặc biệt là vấn đề giao con cho cha/mẹ nuôi và yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Trong nhiều vụ án, mặc dù quá trình giải quyết tại Tòa các đương sự đã thống nhất với nhau giao con chung cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng, thỏa thuận với nhau về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng quá trình thực hiện, vì hiềm khích với nhau, những thỏa thuận trên không được một trong các bên chấp hành, cố tình làm khó như không giao con, không cho thăm nom, chăm sóc con, không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con. Cơ quan thi hành án gặp nhiều khó khăn trong việc buộc thi hành cưỡng chế các yêu cầu này vì không có chế tài rõ ràng, liên quan đến con chung, rất khó giải quyết và để tranh chấp kéo dài.

Thứ bảy, độc lập của Thẩm phán chưa được bảo đảm toàn diện. Độc lập của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng là yếu tố cốt lõi bảo đảm cho hoạt động xét xử, cho việc bảo vệ quyền của đương sự đã được luật hóa. Tuy nhiên, việc bảo đảm độc lập cho Thẩm phán khi xét xử trên thực tế là chưa toàn diện trước những áp lực xã hội, áp lực chính trị, áp lực nghề nghiệp và cả áp lực cuộc sống gia đình và bản thân.

Tiểu kết chương 2

Thực hiện quyền của đương sự trong các vụ án HN&GĐ trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2021 tại Toà án nhân dân huyện Cư Kuin ngày càng được nâng cao và chú trọng, phù hợp với các quy định của pháp luật. Các đương sự được bảo đảm và thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng trong vụ án HN&GĐ. Các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng giải quyết các vụ án án HN&GĐ trên địa bàn huyện đã thực hiện đúng và có hiệu quả nhiệm vụ của mình, tôn trọng quyền của đương sự trong các vụ án HN&GĐ, góp phần giải quyết có hiệu quả các vụ án HN&GĐ phát sinh trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi những hạn chế trong quá trình giải quyết các vụ án HN&GĐ. Việc chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ nhằm đảm bảo hơn nữa quyền của đương sự tại Toà án nhân dân huyện Cư Kuin tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới là rất cần thiết. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân

One thought on “Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân

  1. Pingback: Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464