Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Quan điểm bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
3.1.1 Quán triệt quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền của trẻ em
Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước đã xác định những tư tưởng và đường lối chỉ đạo về quyền trẻ em làm cơ sở cho việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền trẻ em trong thực tế. Nhìn chung, có thể thấy rằng, các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền trẻ em được hình thành, đúc rút từ các yếu tố khác: lịch sử, truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam, nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế về quyền trẻ em thực tiễn và những yêu cầu đặt ra trong công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các quan điểm này được thể hiện trong các văn kiện của Đảng (cương lĩnh chính trị, Nghị quyết, Chỉ thị) và các văn kiện của cơ quan Nhà nước.
Ngay từ khi mới thành lập và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta đã đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc “nam nữ bình quyền” như là cơ sở của sự giải phóng phụ nữ, trao quyền bình đẳng cho phụ nữ, đồng thời cũng khẳng định quyền bình đẳng giữa trẻ em gái và trẻ em trai, chống mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên giới tính và lứa tuổi. Những tư tưởng tiến bộ về quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử – một trong những nguyên tắc nền tảng của chuẩn mực quốc tế và Liên hợp quốc về quyền con người – đã tiếp tục được khẳng định trong những văn kiện tiếp theo của Đảng và được thể chế hóa thành luật và chính sách của Nhà nước ta. Chủ trương của Đảng về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung cũng như về quyền trẻ em nói riêng là một trong những ưu tiên trọng yếu của chiến lược phát triển con người xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử và cách mạng Việt Nam. Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với việc khẳng định con người là trung tâm của sự phát triển và chăm lo đến quyền và lợi ích chính đáng của tất cả mọi người là mục tiêu của phát triển. Đại hội XI của Đảng (năm 2011) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tái khẳng định những giá trị nền tảng này và phát triển, bổ sung những nội dung mới trong mục tiêu “Về phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện chính sách xã hội”, đó là: con người là trung tâm của chiến lược phát triển; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện chính sách xã hội đúng đắn, công bằng, bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi; thực hiện bình đẳng giới, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em… Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Nhằm bảo đảm cho thế hệ trẻ Việt Nam phát triển toàn diện, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa của thế giới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Những quan điểm được thể hiện trong các văn kiện của Đảng là cơ sở quan trọng để hình thành các chính sách và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cũng như các cấp chính quyền trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động vì trẻ em, tôn trọng, bảo đảm và thực thi các quyền trẻ em.
Sau khi tham gia ký kết các điều ước quốc tế về quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng, đặc biệt là Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc năm 1989 và hai Nghị định thư bổ sung năm 2000, Nhà nước Việt Nam đã tích cực nội luật hóa các quy định của hệ thống pháp luật quốc tế về quyền trẻ em vào trong hệ thống pháp luật quốc gia, đồng thời đẩy mạnh triển khai, thực thi chính sách bảo đảm quyền trẻ em. Hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước Việt Nam liên quan đến việc thực thi quyền trẻ em, về cơ bản, phù hợp với các điều khoản của Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc.
Xuất phát từ 4 nguyên tắc của Công ước về quyền trẻ em, có thể khái quát hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền trẻ em dựa trên 4 nhóm quyền:
- Thứ nhất, nhóm quyền được sống (quyền sống, được chăm sóc sức khỏe và y tế ở mức cao nhất có thể).
- Thứ hai, nhóm quyền được phát triển (quyền được hưởng thụ mọi hình thức giáo dục, có mức sống đầy đủ và điều kiện cho sự phát triển thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức, môi trường văn hóa, xã hội của trẻ em).
- Thứ ba, nhóm quyền được bảo vệ (quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử, lạm dụng hay sự thờ ơ, chống lại mọi sự xâm hại, quyền được bảo vệ của trẻ không có gia đình, không quốc tịch, tị nạn).
- Thứ tư, nhóm quyền được tham gia (quyền được tôn trọng ý kiến, được bày tỏ quan điểm, tự do tiếp cận thông tin, lập hội, hội họp hòa bình). Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Việc phân chia 4 nhóm quyền nói trên chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi trên thực tế, các nhóm quyền có liên hệ chặt chẽ, thống nhất, không thể tách rời và đôi khi chuyển hóa lẫn nhau. Để thực thi các quyền của trẻ em, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách, có thể khái quát dưới hai hình thức chính là nhóm chính sách chung và nhóm chính sách về các vấn đề, lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn, trong nhóm chính sách chung gồm có: Thứ nhất, mọi trẻ em đều có quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục với sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội. Thứ hai, bình đẳng và không phân biệt đối xử đối với mọi trẻ em. Thứ ba, Nhà nước quan tâm đặc biệt tới nhóm trẻ em thuộc đối tượng chính sách, trẻ em khuyết tật, trẻ em nạn nhân chất độc da cam, trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, trẻ em thuộc hộ nghèo và cận nghèo, trẻ em là người dân tộc thiểu số. Thứ tư, chính sách bình đẳng dân tộc và đại đoàn kết dân tộc tạo cho mọi trẻ em đều có quyền bình đẳng về cơ hội trong việc tiếp cận chăm sóc, bảo vệ, giáo dục và phát triển. Thứ năm, thực hiện chính sách nhân đạo, khoan dung và giáo dục, xử lý chuyển hướng đối với trẻ em làm trái pháp luật [2].
3.1.2 Giải pháp bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
- Thứ nhất, bảo đảm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Theo nghĩa thứ nhất, hoạt động xét xử kể từ thời điểm thụ lý, khi đó mới phát sinh vị trí pháp lý của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, vị trí pháp lý của Hội thẩm lại xuất hiện muộn hơn, đó là thời điểm có quyết định phân công xét xử của Chánh án và Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nếu theo nghĩa thứ hai, hoạt động xét xử chỉ diễn ra tại phiên tòa, trong khi đó vị trí pháp lý của Thẩm phán và Hội thẩm lại xuất hiện sớm hơn. Hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm chủ yếu diễn ra tại phiên tòa, song trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán và Hội thẩm cũng có những hoạt động tác nghiệp khác bổ trợ cho hoạt động xét xử tại phiên tòa như nghiên cứu hồ sơ, xác minh, thu thập chứng cứ và các công việc cần thiết khác. Vì vậy, có thể hiểu, xét xử của Hội thẩm và Thẩm phán là các hoạt động kể từ thời điểm họ được giao nhiệm vụ xét xử vụ án khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến khi kết thúc phiên tòa bao gồm hoạt động xem xét đánh giá chứng cứ tại phiên tòa và các hoạt động bổ trợ khác để đưa ra quyết định, bản án giải quyết vụ án. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nghĩa là phải tự mình đưa ra kết luận giải quyết vấn đề trên cơ sở quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào bất kỳ yếu tố nào khác. Đó là những tư tưởng chủ đạo, định hướng trở thành xử sự bắt buộc chung đối với Thẩm phán và Hội thẩm khi được phân công xét xử vụ án.
Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm là tổng hợp các phương tiện, biện pháp về xã hội, pháp luật, kinh tế, tổ chức nhằm hạn chế và ngăn chặn những tác động vào hoạt động xét xử. Sự độc lập đó được xem là sự độc lập trên thực tế đối với các yếu tố bên ngoài và những yếu tố chủ quan của Hội thẩm và Thẩm phán trong thực hiện nhiệm vụ xét xử. Hiến pháp năm 2013 quy định về nguyên tắc xét xử độc lập có nội dung mới là Thẩm phán, Hội thẩm độc lập trong mọi hoạt động của mình theo quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho tới khi kết thúc phiên tòa chứ không chỉ giới hạn bởi “khi xét xử” như quy định của Hiến pháp năm 1992. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là hai mặt thống nhất của một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng. Độc lập tức là tuân theo pháp luật và tuân theo pháp luật để được độc lập. Nếu chỉ tuân theo pháp luật mà không có sự độc lập thì chỉ là sự tuân theo một cách hình thức, không có hiệu quả. Điều đó thể hiện là các phán quyết trong bản án, quyết định của hội đồng xét xử phải phù hợp với mọi tình tiết khách quan của vụ án, việc xét xử phải đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân… không được kết luận dựa trên ý chí chủ quan, cảm tính của cá nhân mỗi thành viên của Hội đồng xét xử.
Nguyên tắc độc lập khi xét xử còn thể hiện trong quan hệ giữa các cấp Toà án với nhau. Hiện nay, Toà án cấp trên quản lý Toà án cấp dưới cả về tổ chức, tài chính và chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, phải tách bạch từng mối quan hệ trong hoạt động nghiệp vụ, mối quan hệ giữa Toà án cấp trên và Toà án cấp dưới là mối quan hệ tố tụng, chứ không phải là mối quan hệ quản lý hành chính. Tòa án cấp trên hướng dẫn Toà án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử, nhưng không được quyết định hoặc gợi ý cho Toà án cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể.
Độc lập với các yếu tố bên trong được hiểu là căn cứ duy nhất mà Thẩm phán, Hội thẩm dựa vào để ra phán quyết trong vụ án là các căn cứ pháp luật. Nghĩa là khi xét xử, các thành viên của Hội đồng xét xử độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét, đánh giá chứng cứ mà không bị phụ thuộc vào quan điểm của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử. Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, nắm bắt dư luận xã hội nhưng khi ra quyết định về vụ án, Thẩm phán và Hội thẩm phải thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét các vấn đề của vụ án một cách độc lập, khách quan, không bị ảnh hưởng, bị ràng buộc bởi các quan điểm, ý kiến bên ngoài của vụ án. Hội đồng xét xử phải xem xét, thẩm tra, đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, khoa học, toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Quyết định của Tòa án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Chỉ có thành viên của Hội đồng xét xử mới được tham gia nghị án. Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng. Các vấn đề cần giải quyết của vụ án phải được thảo luận và biểu quyết theo đa số.
Ngoài ra, độc lập xét xử không có nghĩa là không có sự kiểm sát và giám sát. Hoạt động xét xử của Toà án luôn chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát và sự giám sát của Toà án cấp trên. Hai nội dung của nguyên tắc này có quan hệ biện chứng với nhau. Chỉ khi Thẩm phán và Hội thẩm không bị phụ thuộc thì họ mới có điều kiện để tuyệt đối tuân thủ pháp luật và ngược lại, chỉ khi Thẩm phán và Hội thẩm tuyệt đối tuân thủ pháp luật, lấy pháp luật là căn cứ duy nhất để xét xử thì họ mới độc lập, không bị phụ thuộc vào ai. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
- Thứ hai, bảo đảm tính công khai, minh bạch, kịp thời
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; công khai và minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của người dân. Quyền tham gia quản lý nhà nước được xem là quyền chính trị quan trọng nhất của công dân, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội, “được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra”. Quyền này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, và một trong những nội dung để Nhân dân tham gia quản lý Nhà nước chính là việc Nhân dân tham gia xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Với bản chất của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, pháp luật phải thể hiện được ý chí của Nhân dân, phản ánh trung thực ý chí của Nhân dân. Muốn vậy, trước hết, người dân cần được biết, được tiếp cận thông tin, được có ý kiến, được tham gia vào quá trình xây dựng văn bản pháp luật và Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm quyền đó bằng cách tạo ra và vận hành một cơ chế công khai, minh bạch để thu hút được sự tham gia của người dân có hiệu quả. Ở đây cũng cần hiểu người dân tham gia với tư cách là người chủ quyền lực chứ không phải là một thiết chế tư vấn được hỏi đến khi Nhà nước thấy cần thiết.
Xét xử công khai là cách tốt nhất để bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Ngoài việc xét xử công khai thì việc công khai hoá toàn văn các phán quyết, quyết định của Toà án dưới dạng ấn phẩm hay internet hoặc cả hai cách trên để thông tin đến toàn thể công chúng, từ đó công chúng và các quan chức có thể thấy được cách thức của Toà án áp dụng pháp luật trong các vụ án cụ thể.
Việc đăng tải các bản án, quyết định của hệ thống Toà án là một trong các cơ chế hữu hiệu để nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của Tòa án, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử. Khi các bản án được công khai, điều đó có ý nghĩa rằng Hội đồng xét xử và cá nhân Thẩm phán sẽ phải cẩn trọng hơn đối với bản án nói riêng và cả hoạt động tố tụng nói chung. Về hình thức, bản án sẽ phải đảm bảo trình bày đúng quy định, văn phong, lập luận, từ vựng của Thẩm phán phải mang tính chuẩn mực ngày càng cao. Về nội dung, muốn có một bản án chất lượng, đòi hỏi toàn bộ quá trình tố tụng trước đó phải được thực hiện nghiêm túc, việc nghiên cứu tài liệu, chứng cứ phải đầy đủ, khách quan, căn cứ pháp luật được vận dụng phải chính xác…qua đó đưa ra những giải pháp phù hợp trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, định hướng đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, ban hành những quy định để giải quyết các vướng mắc pháp luật.
Sự ra đời của Trang tin điện tử án lệ là nơi cung cấp các thông tin chính thức của Toà án nhân dân tối cao về hoạt động của án lệ; đồng thời, tạo ra một kênh thông tin phong phú, có khả năng phổ cập, tương tác rộng rãi với các đối tượng khác nhau như người dân, Thẩm phán ó nhu cầu tìm hiểu về án lệ. Khi xét xử các vụ việc liên quan đến quyết định đã trở thành án lệ, các Thẩm phán phải có trách nhiệm viện dẫn án lệ, áp dụng án lệ đó nếu nhận thấy vụ việc đang xét xử có tính tương tự. Án lệ là sự bổ sung cho sự thiếu hụt của các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật khi chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh. Ngoài ra, án lệ góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính, thực hiện lộ trình công khai và minh bạch hóa thông tin nhằm phục vụ nhân dân tốt nhất. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Ngoài ra, việc Toà án nhân dân triển khai việc xét xử trực tuyến góp phần thúc đẩy tiến trình tố tụng diễn ra nhanh chóng, kịp thời mà vẫn đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản của tố tụng như: nguyên tắc Tòa án xét xử công khai, nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể, quy định xét xử trực tiếp, bằng lời nói.
- Thứ ba, bảo đảm tính chính xác và hiệu lực, hiệu quả của bản án, quyết định
Bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là văn bản đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố, xét xử, có ý nghĩa trên nhiều phương diện. Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định: “Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành”. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp. Trên cơ sở đó, Điều 106 Hiến pháp 2013 cũng đã quy định: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” thể hiện sức mạnh, tính hiệu quả của pháp luật trên thực tế và có ý nghĩa lớn đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm.
Bản án, quyết định của Toà án là văn bản tố tụng khác nhau do Toà án ban hành trong quá trình giải quyết vụ án. Bản án của tòa án quyết định việc bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Quyết định của hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cá nhân, cơ quan và tổ chức hữu quan phải chấp hành bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
3.2. Giải pháp bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
3.2.1 Giải pháp chung
Việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân là cơ sở các nhà nghiên cứu khoa học sửa đổi các quy định cho phù hợp với tình hình mới đồng thời còn là cơ sở pháp lý cho các nhà thực thi pháp luật được hiệu quả. Công cuộc cải cách tư pháp trong những năm gần đây được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và được đặt trong mối quan hệ với việc đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Những vấn đề về lý luận và trong thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật các chế định này chỉ ra rằng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, việc hoàn thiện và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật đối với bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án là yêu cầu cần thiết.
Việc hoàn thiện pháp luật là yêu cầu luôn được đặt ra ở bất kỳ thời điểm nào. Bởi lẽ, một số quy định của luật vẫn quy định mang tính định hướng, cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể làm cơ sở cho việc thực thi. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
Một là, hoàn thiện quy định pháp luật về việc xây dựng, tổ chức mô hình Tòa án có thẩm quyền xét xử theo hướng đảm bảo tính độc lập, khách quan và hiệu quả.
Tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử có nghĩa là không gắn với đơn vị hành chính. Khi đã tổ chức Toà án không theo đơn vị hành chính thì quy định lựa chọn, bầu cử, quản lý Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và các chức danh tư pháp chắc chắc cũng được quy định lại cho phù hợp. Mặt khác, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác xét xử, tránh trường hợp nhiều tổ chức Đảng hoặc cấp ủy Đảng đã và đang lãnh đạo “trực tiếp và toàn diện” hoạt động của Tòa án và can thiệp vào việc giải quyết một số vụ án có thể làm ảnh hưởng đến độc lập xét xử. Vì vậy, điều cần thiết đó phải ban hành quy định về lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác xét xử; Đảng quy định cụ thể hóa các loại vụ án Tòa án cần phải báo cáo tổ chức Đảng theo nguyên tắc tổ chức Đảng chỉ cho ý kiến về các nhiệm vụ chính trị cần phải thực hiện trong thời điểm xét xử các vụ án đó. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Hai là, để tăng cường tính độc lập của Thẩm phán, cần nghiên cứu áp dụng hình thức bổ nhiệm Thẩm phán không có nhiệm kỳ. Theo đó, nhiệm kỳ ổn định, lâu dài là một yếu tố cần thiết để đảm bảo chất lượng, tính độc lập của Thẩm phán.
Nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán nên sửa đổi quy định không coi Thẩm phán là công chức Nhà nước, mà cần phải coi Thẩm phán là một ngạch tư pháp riêng. Đổi mới cơ chế tuyển chọn Thẩm phán cần mở rộng nguồn để tuyển chọn. Để có được những Thẩm phán thật sự có năng lực, cần tuyển chọn Thẩm phán không chỉ từ đội ngũ cán bộ, công chức Toà án mà còn từ đội ngũ các chức danh tư pháp khác như: điều tra viên, công tố viên, Luật sư, các nhà khoa học đầu ngành. Ngoài ra, cần xây dựng quy chế quản lý, giám sát đối với Thẩm phán và Hội thẩm trong việc thực thi nhiệm vụ, nếu áp dụng không đúng các quy định của pháp luật cần phải có biện pháp chế tài hành chính cụ thể nhằm tránh áp dụng pháp luật một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của Thẩm phán và Hội thẩm; giữ gìn phẩm chất đạo đức và nâng cao năng lực, trình độ của Thẩm phán; tạo các điều kiện thuận lợi để các Thẩm phán yên tâm thực hiện nhiệm vụ xét xử, đảm bảo an toàn tuyệt đối cơ quan Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm và gia đình họ khi thi hành công vụ.
Ba là, thay đổi cơ chế lập và tiêu chí phân bổ ngân sách cho hoạt động xét xử
Để Tòa án có khả năng độc lập thực hiện chức năng tư pháp thì Tòa án phải có đầy đủ ngân sách cần có. Nếu không, Tòa án sẽ không có đủ nguồn lực để bảo đảm thực hiện quyền năng tư pháp một cách hiệu quả, chứ chưa nói đến một cách độc lập do đó trao quyền cho mỗi Tòa án tự dự toán ngân sách hàng năm, căn cứ vào nhu cầu của mình và dựa vào những tiêu chí đã được xác định. Tiêu chí phê duyệt ngân sách cho hoạt động xét xử cần phải được nghiên cứu và quy định khác so với các tiêu chí chung về phân bổ ngân sách hiện nay [5].
Bốn là, hoàn thiện việc quy định của các cơ quan chuyên trách và thủ tục đặc biệt đối với trẻ em
Ngoài những nguyên tắc tổ chức chung trong bộ luật, thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phải tuân thủ theo các nguyên tắc tại Điều 414 Bộ luật tố tụng hình sự trong đó có những nguyên tắc quyết định trong việc bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động xét xử như: Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiệt, phù hợp với tâm lý lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt; tôn trọng quyền được tham gia; trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi. Người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải đáp ứng các yêu cầu chung như: phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội, có nhiều hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi. Mặt khác, tại phiên toà xét xử các vụ án đói với người dưới 18 việc xét hỏi, tranh tụng được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của trẻ em. Phòng xử án phải bố trí thân thiện, phù hợp như vị trí của người tiến hành tố tụng, người tham dự phiên toà.
Năm là, hoàn thiện các thiết chế hỗ trợ thực thi chính sách, pháp luật và việc quyết định hình phạt đối với phiên toà xét xử có trẻ em tham gia Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Việc quy định và bổ sung người đại diện nhà trường, tổ chức, đại diện đoàn thanh niên và tổ chức khác nới người 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt tham gia tố tụng để đảm bảo cho lợi ích người dưới 18 tuổi, bảo đảm rằng hoàn cảnh của người bị buộc tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội được xem xét toàn diện, khách quan làm căn cứ cho việc xác định trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt. Sự tham gia của các chủ thể này còn góp phần quyết định hiệu quả việc áp dụng các biện pháp xử lý không tước đoạt tự do đối với người dưới 18 phạm tội như: hoà giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã phường, thị trấn khi được miễn trách nhiệm hình sự; áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hay phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
Sáu là, hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thủ tục xét xử sơ thẩm đối với trẻ em (người dưới 18 tuổi)
Chương XII Bộ luật hình sự năm 2015 với tên gọi: Những quy định đối với người dưới 18 phạm tội, bao gồm các mục: quy định chung về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi; các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự; biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; hình phạt; quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xoá án tích. Nhưng trong thực tế trong mục này các Nhà làm luật chỉ quy định giảm mức hình phạt đã tuyên (Điều 105) mà không quy định bất cứ điều luật nào về miễn hình phạt đối với người dưới 18 phạm tội. Do vậy, cần kiến nghị các cơ quan, các Nhà làm luật nghiên cứu bổ sung thêm quy định về miễn hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 ghi nhận nguyên tắc miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bằng việc quy định những trường hợp cụ thể được miễn trách nhiệm hình sự mà thực chất đây là những căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này. Do vậy, cần nghiên cứu để tách khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự để quy định thành một điều luật độc lập “Các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”.
Việc quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là chưa phù hợp thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy, quy định như hiện nay thì diện các tội phạm mà trẻ em phải chịu trách nhiệm hình sự là khá rộng và quan trọng là không rõ ràng, minh bạch, bản thân các em không thể hoặc khó có thể biết được chính xác thế nào là tội phạm nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, dẫn đến công tác phòng ngừa không đạt hiệu quả.
Cần hoàn thiện hệ thống chế tài đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo hướng tăng cường khả năng áp dụng các chế tài không tước tự do, đồng thời bổ sung cơ chế tha tù trước thời hạn có điều kiện; bổ sung các chế định pháp lý về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại; hoàn thiện các cơ sở pháp lý cụ thể về xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các em tái hoà nhập cộng đồng. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Hoàn thiện pháp luật về xét xử vụ án dân sự như: Về thời hiệu khởi kiện, đây là vấn đề rất cần được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện ngay để Tòa án các địa phương thống nhất trong cách xác định thời hiệu đối với những trường hợp người khởi kiện chứng minh được việc nhận kết quả giải quyết khiếu nại chậm chễ vì lý do khách quan như thiên tai, hỏa hoạn hoặc cơ quan hành chính nhà nước cố tình trì hoãn thì Tòa án cần xem xét chấp nhận để đảm bảo quyền lợi cho người dân; Cần bổ sung hướng dẫn trong trường hợp người khởi kiện nộp đơn khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Toà án để bảo đảm đủ điều kiện thụ lý. Bên cạnh đó, pháp luật cần quy định hợp lý các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật về điều kiện, hình thức của khởi kiện vụ án dân sự. Việc thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự luôn khó khăn và mất nhiều thời gian do cơ quan hành chính Nhà nước cố tình trì hoãn hoặc tìm cách né tránh không cung cấp những chứng cứ gây khó khăn cho hoạt động tố tụng của Tòa dẫn đến vụ án bị tạm đình chỉ kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự trong vụ án. Do đó, cần có chế tài để xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án và có biện pháp khắc phục hậu quả, trong đó có nội dung “buộc cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn các tài liệu chứng cứ cho Tòa án”
3.2.2 Giải pháp cụ thể
Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung các quy phạm tăng cường vị trí độc lập của hệ thống Tòa án với tư cách là cơ quan thực hiện quyền tư pháp và mở rộng thẩm quyền xét xử và thẩm quyền phán quyết đối với hoạt động hành pháp và lập pháp.
Thứ hai, hoàn thiện quy định chỉ có Tòa án thực hiện quyền tư pháp mà trọng tâm là công tác xét xử, những chức trách nhiệm vụ thuộc các cơ quan khác như: trách nhiệm phát hiện tội phạm và khởi tố vụ án hình sự; trách nhiệm thu thập chứng cứ…để phù hợp với vai trò, chức năng, vị trí của Tòa án trong Nhà nước hiện đại.
Thứ ba, bảo đảm những điều kiện để các chức danh tư pháp như Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký được độc lập trong xét xử và chỉ tuân theo pháp luật để Tòa án làm tốt chức năng bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Tính độc lập đó thể hiện ở việc Thẩm phán có quyền quyết định các vụ việc vô tư, không thiên vị, không chịu sự hạn chế, tác động hay ảnh hưởng từ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào; Nghiên cứu, xây dựng sự đãi ngộ, tôn vinh trong xã hội.
Thứ tư, cải cách mô hình tố tụng theo hướng tranh tụng bảo đảm sự bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa giữa Kiểm sát viên với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
Thứ năm, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với các chức danh tư pháp. Tăng cường chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật công vụ; nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra và thực hiện kỷ luật công vụ. Tiếp tục cải thiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc cho Tòa án; Triển khải hiệu quả đề án trang thiết bị, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác chuyên môn, quản lý hướng tới nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện Tòa án điện tử.
Thứ sáu, Toà án nhân dân tối cao tăng cường mở các lớp tập huấn các văn bản pháp luật mới; thực hiện kịp thời việc tổng kết kinh nghiệm xét xử, giải đáp thắc mắc về nghiệp vụ xét xử cho Tòa án địa phương; phối hợp với Viện kiểm sát cùng cấp tổ chức các “Phiên tòa rút kinh nghiệm”, theo tinh thần cải cách tư pháp nhằm đúc kết thêm kinh nghiệm thực tiễn, đảm bảo các phiên tòa đều được diễn ra khách quan và đúng quy định của pháp luật. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Thứ bảy, tăng cường sự phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan hành chính ở địa phương như UBND các cấp, các cơ chuyên môn như Tài nguyên môi trường, xây dựng… thuận lợi trong việc thu thập các tài liệu, chứng cứ đồng thời nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách, các văn bản pháp luật chuyên ngành để làm sáng rõ bản chất vụ án hành chính cũng như phối kết hợp trong việc thi hành các quyết định của Toà án. Bên cạnh đó, tăng cường công tác phối hợp đề ra các giải pháp phòng ngừa, khắc phục những lỗ hổng, thiếu sót trong công tác quản lý hành chính để hạn chế thấp nhất tình trạng khiếu kiện.
Thứ tám, nâng cao vai trò của đội ngũ Luật sư, trợ giúp viên pháp lý, thiết chế bổ trợ tư pháp khác trong hoạt động xét xử sơ thẩm góp phần đáng kể hỗ trợ Tòa án, đương sự trong việc thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sụ góp phần hỗ trợ tích cực cho Tòa án trong việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời.
Thứ chín, nâng cao ý thức pháp luật của người dân nói chung và của các chủ thể tham gia trong khởi kiện và xét xử sơ thẩm vụ án hành chính; có biện pháp đẩy mạnh công tác tuyền truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức và hiểu biết về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính giúp thực hiện tốt hơn quyền khởi kiện cũng như các quyền và lợi ích khác của người dân tại Tòa án.
Thứ mười, nâng cao nhận thức của các đương sự thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án bằng hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Đối tượng tuyên truyền, phổ biến pháp luật là toàn dân, trình độ hiểu biết pháp luật chưa cao và mục tiêu của tuyên truyền, phổ biến pháp luật là làm cho các công dân hiểu mình là ai, mình làm gì và làm như thế nào, công dân hiểu và nắm được các quy định của pháp luật để giải quyết công việc, để bảo vệ quyền lợi của mình. Hiện thức các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn như: tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền thông qua các Hội nghị, tuyên truyền thông qua công tác hoà giải ở cơ sở, qua công tác xét xử của Tòa án.
3.2.3 Một số kiến nghị Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Một là, ghi nhận địa vị pháp lý của người dưới 18 tuổi trong pháp luật Việt Nam vẫn còn chưa thống nhất với chuẩn mực, pháp luật quốc tế và ngay trong hệ thống pháp luật quốc gia. Do đó, các nhà làm luật cần nghiên cứu để chế độ bảo hộ đặc biệt về việc bảo đảm quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế áp dụng bình đẳng cho Việt Nam (Luật trẻ em quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi) dẫn đến việc phân biệt đối xử giữa người dưới 16 tuổi phạm tội và người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi trong chính sách pháp luật Việt Nam là chưa tương thích và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử về quyết định hình phạt (về nguyên tắc xử lý, về biện pháp trong trường hợp thường xuyên không thực hiện nghĩa vụ, tổng hợp hình phạt) qua đó tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể để Tòa án quyết định hình phạt chính xác, công bằng đúng pháp luật cũng như bảo đảm tương thích với luật pháp quốc tế.
Ba là, Việt Nam đã có hệ thống các Tòa án chuyên trách và thủ tục đặc biệt để xét xử người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, hệ thống này không áp dụng đối với thời điểm xét xử người phạm tội đã đủ 18 tuổi điều đó dẫn đến sự chưa công bằng. Mặt khác, các Tòa chuyên trách giải quyết vụ án là trẻ em cũng mới thành lập và đang từng bước hoàn thiện nên phần nào cũng ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử do vậy cần nghiên cứu, thay đổi để thành lập bộ phận chuyên trách giải quyết, xét xử các vụ án liên quan đến trẻ em để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc áp dụng pháp luật, việc quyết định hình phạt đối với trẻ em để kịp thời xử lý, khắc phục và tránh oan, sai và bỏ lọt tội phạm, vi phạm quyền trẻ em và thiếu công bằng trong hoạt động xét xử.
Năm là, do nhận thức chưa được phát triển một cách hoàn thiện nên trẻ em có thể chỉ vì một sai lầm hoặc bị kích động, rủ rê, lôi kéo mà thực hiện hành vi tội phạm trong khi không ý thức được hậu quả cũng như mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà mình gây ra. Tuy nhiên, nếu phải đối mặt với những chỉ trích, thậm chí là bị phân biệt đối xử từ phía dư luận và xã hội, người chưa thành niên rất dễ bị tổn thương về tinh thần, sẽ rất khó để các em có thể hòa nhập cuộc sống sau này, từ đó dễ đi vào con đường sai lầm cũ. Người chưa thành niên bị buộc tội cần phải có quyền được giữ bí mật cá nhân trong suốt quá trình tố tụng nhằm tránh những tổn hại có thể xảy ra do sự công khai quá mức hay sự quy chụp.
Sáu là, cần thúc đẩy sự tham gia của các cơ quan bảo vệ trẻ em: Bộ giáo dục và đào tạo; Ủy ban quốc gia về trẻ em; Tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Việt Nam vào việc giám sát thực thi pháp luật đối với trẻ em. Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế; tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế đặc biệt là công tác xét xử các vụ án liên quan đến trẻ em.
Tiểu kết chương 3
Những vấn đề lý luận nghiên cứu ở chương 1, phân tích đánh giá thực trạng ở chương 2, nhất là trên cơ sở làm sáng tỏ những hạn chế, bất cập của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó cho phép tôi đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật; các giải pháp khác nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền quyền thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm.
Để đảm bảo quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm của Toà án cần được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện, hệ thống. Trong số đó, các giải pháp quan trọng là: tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; nâng cao trình độ, năng lực, nhận thức của người tiến hành tố tụng; nâng cao năng lực, vị thế của đội ngũ Thẩm phán, luật sư; hoàn thiện chế độ trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng đối với việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân đồng thời triển khai có hiệu quả những luận điểm của văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam, cũng như trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử có ý nghĩa quan trọng đối với sự nhận thức khoa học trên bình diện lập pháp, lý luận và thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy, tuy các quy định của pháp luật đã đem lại những hiệu quả nhất định giúp Toà án trong việc bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động xét xử, giải quyết các vụ án và khắc phục các sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án, nhưng những quy định này vẫn còn một số hạn chế dẫn đến việc nhận thức, cách hiểu không thống nhất trong thực tiễn áp dụng. Từ lý do đó, luận văn đã phân tích, làm rõ về mặt lý luận liên quan đến việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm như: khái niệm trẻ em; ý nghĩa việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm; nội dung và cơ chế việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn việc việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm, cũng như những nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế đó; xác định rõ vai trò trách nhiệm của Toà án trong việc việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng kết quả nghiên cứu của đề tài không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết; những giải pháp, kiến nghị nêu trong đề tài chưa phải đã đầy đủ, hoàn thiện. Do đó, bản thân tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các chuyên gia pháp luật, nhà khoa học, luật gia, đồng nghiệp để hoàn thiện hơn các vấn đề đã được nghiên cứu trong luận văn. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử