Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng hoạt động giải quyết, xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Theo số liệu thống kê từ năm 2018 đến năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý 16.042 vụ, việc các loại; đã giải quyết 14.308 vụ, việc; đạt tỷ lệ 89,19%, cụ thể:
Năm 2018: Tổng thụ lý 3.712 vụ, việc các loại. Đã giải quyết 3.257 vụ, việc. Đạt tỷ lệ 87,74%. Trong đó: Án hình sự: thụ lý 465 vụ – 950 bị cáo, giải quyết 462 vụ – 945 bị cáo, đạt tỷ lệ 99,4%; Án dân sự: thụ lý 1094 vụ việc giải quyết 775 vụ việc, đạt tỷ lệ 70,84; Án hôn nhân gia đình: thụ lý 1780 vụ việc, giải quyết 1699 vụ việc; Án lao động: thụ lý 14 vụ, việc, giải quyết 10 vụ việc, đạt tỷ lệ 71,42%; Án Kinh doanh thương mại: thụ lý 134 vụ việc, giải quyết 90 vụ việc, đạt tỷ lệ 67,16%; Án hành chính: thụ lý: 19 vụ, giải quyết 16 vụ, đạt tỉ lệ: 84,21%. Xử lý vi phạm hành chính: thị lý và giải quyết 205 trường hợp, đạt tỷ lệ 100%. Trong tổng số 2.470 vụ việc Dân sự, Hôn nhân gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao động đã giải quyết có 2.228 vụ việc hòa giải thành, đạt tỷ lệ 90%. Trong tổng số 16 vụ án hành chính đã giải quyết có 04 vụ đối thoại thành, đạt tỷ lệ 25%.
Năm 2019: Tổng thụ lý 3.320 vụ, việc. Đã giải quyết 3.002 vụ, việc. Đạt tỷ lệ: 90,4%. Trong đó: Án hình sự: thụ lý 361 vụ – 609 bị cáo, giải quyết 360 vụ – 608 bị cáo, đạt tỉ lệ 99,7%; Án dân sự: thụ lý 1.146 vụ việc, giải quyết 921 vụ việc, đạt tỷ lệ 80,36%; Án Hôn nhân gia đình: thụ lý 1.448 vụ việc, giải quyết 1.387 vụ việc, đạt tỷ lệ 95,8%; Án Kinh doanh thương mại: thụ lý 110 vụ việc; giải quyết 88 vụ việc, đạt tỷ lệ 80%; Án Lao động: thụ lý 18 vụ việc, giải quyết 15 vụ việc, đạt tỷ lệ: 83,3%; Án hành chính: thụ lý: 27 vụ, giải quyết 22 vụ, đạt tỷ lệ 81,5%. Yêu cầu tuyên bố phá sản: thụ lý: 02 vụ; đã giải quyết 01 vụ, đạt tỷ lệ: 50%. Xử lý vi phạm hành chính: thụ lý và giải quyết 208 trường hợp, đạt tỷ lệ 100%. Trong tổng số 2.441 vụ việc Dân sự, Hôn nhân gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao động đã giải quyết có 1.784 vụ việc hòa giải thành, đạt tỷ lệ 73,84%. Trong tổng số 22 vụ án hành chính đã giải quyết có 09 vụ đối thoại thành, đạt tỷ lệ 40,9%. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Năm 2020: Tổng thụ lý 3.515 vụ, việc. Đã giải quyết 3.091 vụ, việc. Đạt tỷ lệ: 87,9%. Trong đó: Án hình sự: thụ lý 348 vụ – 728 bị cáo, giải quyết 348 vụ – 728 bị cáo, đạt tỉ lệ 100%; Án dân sự: thụ lý 853 vụ việc, giải quyết 530 vụ việc, đạt tỷ lệ 62,13%; Án Hôn nhân gia đình: thụ lý 1.197 vụ việc, giải quyết 1.153 vụ việc, đạt tỷ lệ 96,32%; Án Kinh doanh thương mại: thụ lý 101 vụ việc; giải quyết 54 vụ việc, đạt tỷ lệ 53,46%; Án Lao động: thụ lý 11 vụ việc, giải quyết 08 vụ việc, đạt tỷ lệ: 72,72%; Án hành chính: thụ lý: 18 vụ, giải quyết 13 vụ, đạt tỷ lệ 78,57%. Yêu cầu tuyên bố phá sản: thụ lý: 02 vụ; đã giải quyết 01 vụ, đạt tỷ lệ: 50%. Xử lý vi phạm hành chính: thụ lý và giải quyết 204 trường hợp, đạt tỷ lệ 100%. Trong tổng số 2.441 vụ việc Dân sự, Hôn nhân gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao động đã giải quyết có 1.805 vụ việc hòa giải thành, đạt tỷ lệ 74,55%.
Năm 2021: Tổng thụ lý 2.818 vụ, việc. Đã giải quyết 2.467 vụ, việc. Đạt tỷ lệ: 87,54%. Trong đó: Án hình sự: Thụ lý: 435 vụ – 954 bị cáo, giải quyết: 431 vụ – 946 bị cáo, đạt tỉ lệ 99,08%; Án dân sự: Thụ lý 974 vụ việc, giải quyết 698 vụ việc, đạt tỷ lệ 71,6%; Án Hôn nhân gia đình: Thụ lý 1.303 vụ việc, giải quyết 1.269 vụ việc, đạt tỷ lệ: 97,4%; Án Kinh doanh thương mại: Thụ lý 85 vụ việc, giải quyết 54 vụ việc, đạt tỷ lệ: 63,5%; Án Lao động: Thụ lý 06 vụ việc, giải quyết 04 vụ việc, đạt tỷ lệ: 66,7%; Án hành chính: Thụ lý: 15 vụ, giải quyết 11 vụ, đạt tỉ lệ: 73,33; Yêu cầu tuyên bố phá sản: Thụ lý: 05 vụ, giải quyết 02 vụ, đạt tỉ lệ: 40%; Xử lý vi phạm hành chính: Thụ lý và giải quyết: 153 trường hợp, đạt tỉ lệ 100%. Trong tổng số 2.036 vụ việc Dân sự, Hôn nhân gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao động đã giải quyết có 1.605 vụ việc hòa giải thành, đạt tỷ lệ 78,93%
Năm 2022: Thụ lý 2.777 vụ, việc; đã giải quyết 2.491 vụ, việc (đạt tỉ lệ 89,7%); số vụ, việc còn lại là 286 vụ, việc . Trong đó: Án hình sự: Thụ lý và giải quyết 363 vụ/822 bị cáo (Đạt tỷ lệ 100%); Án Dân sự: Thụ lý 1.009 vụ, việc; giải quyết 782 vụ, việc; còn lại 227 vụ, việc (giải quyết đạt tỷ lệ 77,5%); Án Hôn nhân và gia đình: Thụ lý 1.311 vụ, việc; giải quyết 1.274 vụ, việc; còn lại 37 vụ, việc (giải quyết đạt tỷ lệ 97,2%); Án kinh doanh thương mại: Thụ lý 73 vụ, việc; giải quyết 53 vụ, việc; còn lại 20 vụ, việc ; Án lao động: thụ lý và giải quyết 03 vụ, đạt tỷ lệ 100%; Án hành chính: thụ lý và giải quyết 14 vụ, đạt tỷ lệ 100%. Xử lý vi phạm hành chính: Thụ lý và giải quyết 72 trường hợp, đạt tỷ lệ 100%. [6]
Thực tiễn trong thời gian qua, việc giải quyết, xét xử các vụ, việc tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk được thực hiện khách quan, chính xác cơ bản đúng trình tự, thủ tục tố tụng góp phần bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Các phiên toà được đổi mới theo hướng xác định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm pháp lý của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng; đảm bảo nguyên tắc tranh tụng công khai, dân chủ và nghiêm minh trong xét xử. Mặc dù hiện nay ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk chưa có số liệu chính thức thống kê về số vụ án bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, để đánh giá về vấn đề này, ta có thể phân tích, khảo sát và thống kê các báo cáo của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về số vụ án được giải quyết, xét xử trong từng năm, số vụ án bị hủy. Để từ đó, rút ra được đánh giá chung về vấn đề bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân để đảm bảo được quyền được xét xử công bằng và bảo đảm quyền được bảo vệ khi tham gia tố tụng trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Từ số liệu thống kê trên, có thể thấy trong giai đoạn 05 năm (2018 – 2022) tổng số án của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị cấp giám đốc thẩm, phúc thẩm hủy, sửa vẫn có tỷ lệ cao 0,8 % (tỷ lệ cho phép là 1,116%). Trong đó nhiều vụ hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán như: xác định sai tư cách tham gia tố tụng dẫn đến ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, xác định sai đối tượng khởi kiện dẫn đến vi phạm thẩm quyền xét xử, việc triệu tập đương sự không hợp lệ vi phạm tố tụng nghiêm trọng; chưa đánh giá đúng tính chất của các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, chưa áp dụng đúng các văn bản pháp luật nội dung dẫn đến chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong vụ án, cụ thể:
2.1.1 Quy định quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền kháng cáo Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 347/2022/HSST ngày 13/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột được tóm tắt nội dung như sau: Lê Quốc Thịnh quen biết cháu Trần Thị Thu Hằng (sinh ngày 25/11/2005) và nảy sinh tình cảm yêu đương với Hằng. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 02/2021, Thịnh đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Hằng. Quá trình điều tra vụ án, cháu Trần Thị Thu Hằng khai ngoài quan hệ tình dục với Lê Quốc Thịnh như trên thì cháu Hằng còn quan hệ tình dục với Nguyễn Văn Huy và Phan Hữu Hoài tại địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk vào tháng 12/2020 và tháng 01/2021.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Huy khai nhận vào năm 2020, Huy sử dụng mạng xã hội Facebook có tên là “Koo Anh” nhắn tin làm quen với tài khoản Facebook có tên “Tran Thi Thu Hang” của cháu Trần Thị Thu Hằng rồi cả hai nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau. Vào ngày 25/12/2020 và một ngày trong tháng 01/2021, Huy đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Hằng.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Hữu Hoài khai quá trình sinh sống, qua mối quan hệ xã hội thì Hoài quen biết với cháu Trần Thị Thu Hằng. Vào một ngày chưa xác định rõ đầu tháng 01/2021, Hoài đến nhà cháu Hằng chơi thì được cháu Hằng cho biết buổi tối cháu Hằng có sinh nhật bạn nhưng không có xe đi và nhờ Hoài chở đi thì Hoài đồng ý. Khoảng 18h00’ cùng ngày, Hoài điều khiển xe Mô tô đến chở cháu Hằng đi sinh nhật, trên đường đi thì cháu Hằng nói không đi sinh nhật nữa nên Hoài chở cháu Hằng đến quán cà phê Rainy ở hẻm 53 Lê Duẩn, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để uống cà phê. Sau khi uống cà phê xong, cháu Hằng nói với Hoài là đang có chuyện buồn, không muốn về nhà nên Hoài chở cháu Hằng đến nhà nghỉ “Nấm” trên đường Thăng Long, phường Tự An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để thuê phòng ngủ lại và quan hệ tình dục với nhau. Việc Hoài và cháu Hằng quan hệ tình dục như trên thì cháu Hằng hoàn toàn tự nguyện, Hoài không đe dọa, ép buộc gì cháu Hằng. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Đến tháng 06/2021, gia đình phát hiện cháu Hằng có thai. Ngày 14/9/2021, cháu Hằng sinh con là cháu Trần Văn Hưng tại Bệnh viện đại học Tây Nguyên. Sau đó, gia đình cháu Hằng đã tố cáo sự việc đến Cơ quan Công an. Tại bản kết luận giám định số 1596/C09C- Đ3, ngày 05/01/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Trần Văn Hưng (sinh ngày 14/9/2021) là con đẻ của Trần Thị Thu Hằng, không phải là con đẻ của Nguyễn Văn Huy.
Tại bản kết luận giám định số 565/KL-KTHS, ngày 20/5/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Trần Văn Hưng là con đẻ của Trần Thị Thu Hằng, không phải là con đẻ của Phan Hữu Hoài.
Tại bản kết luận giám định số 1197/ KL-KTHS, ngày 09/9/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Trần Văn Hưng là con đẻ của Trần Thị Thu Hằng với Lê Quốc Thịnh.
Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng khoản 2 Điều 145; điểm s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phan Hữu Hoài 4 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Lê Quốc Thịnh, Nguyễn Văn Huy; về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại bản án Hình sự phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về mức phạt, áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phan Hữu Hoài 01 năm 06 tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Qua vụ án Hình sự nêu trên, việc Toà án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 04 năm tù là không đúng. Bởi lẽ, bị cáo Phan Hữu Hoài 01 lần quan hệ tình dục với cháu Hằng vào một ngày trong tháng 01/2021 nên bị cáo chỉ chịu trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được xét xử công bằng là có căn cứ. Do vậy, khi tiến hành giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền được xét xử công bằng của con người.
2.1.2 Quy định về xoá án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HSST ngày 09/2/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột được tóm tắt nội dung như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/10/2017, Dương Ngọc Tuấn đang ở nhà thuộc thôn 1, xã Hoà Thuận, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk thì có Hoàng Văn Thành là bạn của Tuấn điều khiển chiếc xe mô tô mang BKS 47E1-223.72 mà Thành trộm cắp được của anh Lý Văn Thái và chị Nông Thị Lan đến. Sau đó, Thành hỏi Tuấn có mua chiếc xe này không thì Thành bán cho. Trước khi bán, Thành đã nói cho Tuấn biết về nguồn gốc chiếc xe này là do Thành trộm cắp mà có và Thành bán với giá 1.800.000 đồng. Tuấn xem xe xong rồi đồng ý mua và Tuấn đã sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, sau đó bị kẻ gian trộm cắp. Tại Bản kết luận định giá tài sản: Chiếc xe mô tô giá trị còn lại sau khi sử dụng là 17.025.000 đồng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HSST ngày 09/2/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Dương Ngọc Tuấn 09 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Sau khi xét xử sở thẩm bị báo Dương Ngọc Tuấn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 145/2018/HSST ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã sửa một phần bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về chấp hành hình phạt cho bị cáo bởi lẽ: Theo điểm b khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999 thì thời hạn xóa án tích trong trường hợp của bị cáo là 03 năm nhưng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 thì thời hạn xóa án tích là 02 năm do đó Dương Ngọc Tuấn đã được xóa án tích nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là bất lợi cho bị cáo nên cần sửa bỏ, không áp dụng. Hơn nữa, căn cứ khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: “Người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do lỗi vô ý”.
Qua vụ án, người viết nhận thấy rằng Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về xoá án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án theo hướng “Đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội”, trong đó đặc biệt chú ý đến việc rút ngắn thời hạn xoá án tích nhằm tăng cường hơn nữa chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người bị kết án là người dưới 18 tuổi, qua đó bảo vệ quyền của đối tượng “đặc thù” này cũng như tạo ra những điều kiện thuận lợi để các em thể tự cải tạo, tự giáo dục trong môi trường xã hội nhằm giúp các em hướng tới việc tái hoà nhập cộng đồng một cách tốt nhất.
2.1.3 Quy định về bảo đảm cung cấp chứng cứ, chứng minh chứng cứ và quyền định đoạt của đương sự Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2020/HSST ngày 5/2/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột thể hiện: Hồ Ngọc Lợi lập các tài khoản Facebook là “Nguyễn Hồng”, “Nguyễn Huỳnh”, “Nhã Uyên” với thông tin tương tự tài khoản Facebook “Nguyễn Hồng” của chị Nguyễn Thị Thu Hồng đang sử dụng. Vào các ngày 19/4/2019 và ngày 05/5/2019, từ các tài khoản này Lợi đã gửi các hình ảnh nhạy cảm của chị Hồng cho bố mẹ, người thân và bạn bè của người bị hại nhằm làm cho người bị hại cảm thấy nhục nhã, xấu hổ và không thể chia tay với Lợi. Mặt khác, thời gian chung sống với nhau, Lợi biết và lưu giữ quá nhiều bí mật đời tư của chị Hồng, giữa chị Hồng với Lợi còn có quay clip sex làm kỷ niệm nên Lợi dùng những bí mật đời tư trên ngầm đe doạ, ép buộc chị Hồng lệ thuộc vào bị cáo về mặt tinh thần, để chị Nguyễn Thị Thu Hồng phải miễn cưỡng giao cấu với bị cáo nhiều lần trong một thời gian dài yêu nhau ở nhiều địa điểm khác nhau.
Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định: Căn cứ điểm a, e khoản 2 Điều 155; điểm b khoản 2 Điều 143 Bộ luật hình sự. Toà tuyên bố: Bị cáo Hồ Ngọc Lợi phạm tội “Làm nhục người khác” và tội “Cưỡng dâm”. Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Hồ Ngọc Lợi 06 tháng tù, về tội “Làm nhục người khác”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 143; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt Hồ Ngọc Lợi 02 năm tù, về tội “Cưỡng dâm”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự về tội “Cưỡng dâm” và xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Tại bản án phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Quyết định giám đốc thẩm số: 35/2021/HS- GĐT ngày 08/7/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên hủy Bản án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra lại. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Trong vụ án hình sự nêu trên, đối tượng chứng minh được xác định là cơ sở của trách nhiệm hình sự, đó là sự việc phạm tội, người thực hiện tội phạm và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án. Những vấn đề đó cần được các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ để xác định bản chất vụ án, cụ thể: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chưa chứng minh được hành vi “cưỡng dâm” của bị cáo. Chưa xác định được clip sex bị cáo có từ khi nào? Ý thức chủ quan của bị cáo, bị hại như thế nào? Mới chỉ chứng minh được bị cáo có quan hệ tình dục với bị hại 01 lần vào ngày 28/4/2019, vậy những lần còn lại là những lần nào, diễn ra ở đâu, có chứng cứ gì để chứng minh? Và việc bị hại rút yêu cầu khởi tố thì Hội đồng xét xử phải đình chỉ xét xử vụ án về hành vi “Cưỡng dâm” thể hiện quyền định đoạt của đương sự tại bất cứ giai đoạn tố tụng nào.
Từ thực tiễn, quá trình chứng minh vụ án hình sự bao gồm nhiều bước như phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ. Trong đó đánh giá chứng cứ là một trong những bước quan trọng góp phần quyết định sự thành công của việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Việc đánh giá chứng cứ nhằm xác định tính khách quan, liên quan, tính pháp lý của chứng cứ và nhằm đi đến kết luận giá trị chứng minh của chứng cứ. Giá trị chứng minh của chứng cứ nếu được nhận thức đúng thì sẽ triển khai các hoạt động điều tra phù hợp, giúp kết luận, định tội danh và quyết định hình phạt đúng và ngược lại nếu nhận thức sai thì sẽ cho những kết quả thiếu đúng đắn.
2.1.4 Bảo đảm quyền trẻ em bằng thủ tục đặc biệt khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi
Bản án hình sự sơ thẩm số 187/HSST ngày 03/7/2020 với nội dung: Do không có nghề nghiệp ổn định, Lâm Tuyết Như nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho người khác kiếm lời. Đầu tháng 3 năm 2020, Như đến ở phòng trọ của bạn tại địa chỉ 203/19 Đinh Tiên Hoàng, phường Tự An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk và có quen biết Quân (không rõ nhân thân, lai lịch) ở cùng dãy trọ, là người bán ma túy thuốc lắc (MDMA) và khay (Ketamine). Chiều ngày 27 tháng 3 năm 2020, có Việt Anh (không rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc với Như qua mạng xã hội Facebook hỏi mua 10 viên thuốc lắc, Như đồng ý bán với giá 350.000 đồng/01 viên và hẹn gặp trước khách sạn Hiệp Thạnh tại 203/2 Đinh Tiên Hoàng, phường Tự An, thành phố Buôn Ma Thuột. Sau đó, Như liên hệ với Quân hỏi mua 10 viên thuốc lắc, Quân đồng ý và nói Như đến phòng trọ của Quân gặp Đức (không rõ nhân thân, lai lịch) lấy. Khi Như đến phòng trọ, Đức nói Như ra bãi cỏ gần phòng trọ lấy ma túy, Như ra lấy 10 viên thuốc lắc màu xanh hình chữ nhật cất vào túi quần bên trái và đi bộ đến điểm hẹn. Khi Như đang đứng trước khách sạn Hiệp Thạnh thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái của Như đang mặc 10 viên nén màu xanh hình chữ nhật, Như khai nhận là ma túy thuốc lắc mang đi bán nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang và được niêm phong theo quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã tuyên phạt bị cáo mức án 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tại bản án phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Tuyết Như – Sửa bản án sơ thẩm của Toà án với các lý do: Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Về tố tụng: Vi phạm Điều 415 Bộ luật tố tụng hình sự là khi xét xử vụ án hình sự liên quan đến người chưa thành niên phạm tội, thành phần Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh giúp cho Hội đồng xét xử hiểu được những đặc điểm tâm lý của Người chưa thành niên để đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp.
Về nội dung: Nhận thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế, gia đình có ông nội là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đã giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.
Từ vụ án trên thấy xét xử vụ án hình sự liên quan đến người dưới 18 tuổi phải theo những quy định chung, nhưng khi tiến hành xét xử cần tuân thủ những quy định riêng như: Về thành phần Hội đồng xét xử; trong trường hợp cần thiết Toà án có thể quyết định xử kín; tại phiên toà xét xử bị cáo là người dưới 18 tuổi phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng, đại diện của gia đình, tổ chức. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần phải làm rõ, xác minh thêm những tình tiết như: Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên bởi lẽ tuổi người chưa thành niên luôn gắn liền với trình độ phát triển về thể chất, tinh thần và mức độ, khả năng nhận thức tính chất huy hiểm của hành vi; Điều kiện sinh sống và giáo dục do đặc điểm người dưới 18 tuổi dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo vào các hoạt động không lành mạnh, cho nên cần phải xem xét điều kiện sinh sống, giáo dục đã tác động để đưa họ vào con đường thực hiện tội phạm; Nguyên nhân và điều kiện phạm tội không chỉ giúp cho việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa, mà còn nhằm giúp cho việc áp dụng biện pháp xử lý đối với người dưới 18 tuổi phù hợp với các quy định pháp luật.
2.2. Nhận xét về bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
2.2.1 Ưu điểm
Công tác xét xử các vụ án hình sự của Toà án bảo đảm xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm cũng như vi phạm thời hạn tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Việc xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, áp dụng hình phạt khác không phải là hình phạt tù phải bảo đảm có căn cứ, đúng pháp luật. Trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự bảo đảm không để án quá hạn luật định do nguyên nhân chủ quan của Tòa án; hạn chế tối đa việc tạm đình chỉ nhiều lần đối với một vụ án, tạm đình chỉ giải quyết vụ án không có căn cứ pháp luật. Khắc phục triệt để các thiếu sót, vi phạm trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Giảm mạnh các bản án, quyết định tuyên không rõ, gây khó khăn cho công tác thi hành án. Tiếp tục làm tốt công tác hoà giải các vụ việc dân sự theo Chỉ thị số 04/2017/CT-CA ngày 03/10/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để nâng cao hơn nữa tỷ lệ hòa giải thành các vụ việc dân sự. Trong công tác giải quyết các vụ án hành chính, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 03/2018/CT-CA ngày 05/12/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết, xét xử các vụ án hành chính, hạn chế thấp nhất việc để án quá hạn không đúng quy định của pháp luật; nâng tỷ lệ đối thoại thành các khiếu kiện hành chính.
Sự thay đổi, bổ sung của các Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã phản ánh xu hướng đổi mới của hệ thống pháp luật bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam; là cơ sở quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền phát hiện nhanh chóng, kịp thời đối với mọi hành vi phạm tội xâm hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời quy định chặt chẽ các thủ tục tố tụng, hạn chế tới mức tối đa sự lợi dụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xâm hại đến việc bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử nói riêng trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Thực thi việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện, thực hoá các quyền trẻ em trong quá trình xét xử, giải quyết vụ án, biến những điều tốt đẹp trong các quy phạm pháp luật tố tụng thành thực tiễn sinh động trong hoạt động tư pháp. Bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử không chỉ đơn thuần là việc nhận các quyền của trẻ em trong hệ thống pháp luật mà còn ở chỗ hiện thực hoá nó trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử; cũng như bảo đảm sự giám sát có hiệu quả đối với quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử được thể hiện bởi các nguyên tắc, cụ thể sau:
- Một là, sự bình đẳng trước pháp luật
Sự bình đẳng không những thể hiện giữa các cá nhân trong xã hội, điều luật còn quy định rõ sự bình đẳng giữa mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trước Tòa án. Tòa án là cơ quan “cầm cân nảy mực” thể hiện vai trò của mình đảm bảo quyền bình đẳng và có trách nhiệm tạo điều kiện để các chủ thể trên được bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Bắt đầu từ khởi nguồn sự bình đẳng trước pháp luật, Tòa án là chủ thể có trách nhiệm bảo đảm hoặc tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự bình đẳng trươc pháp luật, qua đó Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý của mình việc giải quyết, xét xử đối với bất kỳ vụ án nào cũng đều phải theo một trình tự, thủ tục thống nhất theo quy định của pháp luật tố tụng không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội.
- Hai là, khả năng tìm ra sự thật khách quan
Yếu tố quan trọng nhất để tìm ra sự thật khách quan trong một vụ án là chứng cứ và chứng minh. Vì vậy, khả năng tìm ra sự thật khách quan trong vụ án được hiểu là những cơ chế cho phép tiếp cận và thu thập chứng cứ và chứng minh sự thật trong tố tụng. Chứng cứ là những gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật tố tụng quy định Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Như vậy, chỉ được coi là chứng cứ khi hội đủ các điều kiện sau: tính khách quan, có thật và liên quan đến vụ án hành chính; tính hợp pháp của chứng cứ được Tòa án sử dụng làm căn cứ tìm ra sự thật khách quan.
Bên cạnh đó, tiếp cận công lý để tìm ra sự thật khách quan còn cả bao gồm những yếu tố mang tính quyết định như cơ chế xét xử của Tòa án và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Bao trùm lên hoạt động xét xử của Tòa án (hiểu theo nghĩa rộng) là đề cao nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng. Theo đó, mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo quy định của Luật. Ngoài ra, cơ chế xét xử tập thể của Tòa án và quy định và quy định nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử hai cấp (sơ thẩm, phúc thẩm) cũng là một yếu tố quan trong cho việc xét xử một vụ án được chính xác, công minh.
Trên tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp, Luật tố tụng quy tắc đảm bảo tranh tụng trong xét xử. Tiếp cận công lý theo mô hình tranh tụng trong tố tụng là việc đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu chứng cứ; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Luật tố tụng.
Tòa án với vai trò là cơ quan xét xử có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai.
- Ba là, tính công khai, minh bạch, kịp thời Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn theo quy định của Luật, đảm bảo công bằng. Để tránh tình trạng trì trệ của Thẩm phán trong quá trình giải quyết một vụ án, Luật Tố tụng đưa ra những giới hạn về thời gian trong từng giai đoạn tố tụng.
Tính công khai, minh bạch trong việc giải quyết vụ án là một trong các tiền đề để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể theo dõi vụ án và qua đó kiểm soát được việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án.
- Bốn là, sự công minh của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan Nhà nước, nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực Nhà nước. Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể. Sự công minh của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là yếu tố quyết định trong việc ra một bản án chính xác từ đó công lý được bảo vệ. Một trong những yếu tố cơ bản quyết định tính công minh của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đảm bảo sự vô tư, khách quan trong tố tụng.
- Năm là, tính chính xác của các quyết định, bản án của Tòa án
Tính chính xác của các bản án, quyết định của Tòa án là kết quả việc tiếp cận công lý của các yếu tố đã trình bày ở trên. Tòa án có thể ra một quyết định, bản án chính xác nếu thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những định đề trên mà bao trùm lên nó sự tuân thủ pháp luật. Theo đó, mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo quy định của Luật.
2.2.2 Những hạn chế Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Việc trao cho Tòa án chức năng xét xử các vụ án tạo ra cơ chế riêng, độc lập, khách quan, công khai, dân chủ, công bằng hơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức trước khả năng bị xâm hại. Tuy nhiên hoạt động xét xử các vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk cũng gặp không ít khó khăn do nhiều nguyên nhân:
- Thứ nhất, quy định của pháp luật tố tụng còn hạn chế, bất cập
Về lệnh giam: Để tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng phát hiện, xử lý tội phạm, pháp luật cho phép họ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó hạn chế một số quyền tự do của bị cáo trong đó có việc tạm giam. Tuy nhiên, sự hạn chế tự do của bị cáo phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế, tránh sự lạm quyền, mà chỉ được thực hiện khi có căn cứ và theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Thực tế cho thấy, đối với các vụ án sau khi được Tòa án thụ lý và quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo, thời hạn tạm giam đối với bị cáo đang bị giam bằng thời hạn xét xử, tuy nhiên vì một số lí do vụ án chưa giải quyết được dẫn đến việc tạm giam bị cáo kéo dài như: gối lệnh giam “Cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm”, theo đó lệnh tạm giam này không có thời hạn, gây cách hiểu cho nhiều người là muốn giam bao lâu cũng được miễn sao cho đến ngày kết thúc phiên tòa sơ thẩm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.
Quy định của pháp luật liên quan đến thủ tục xét xử sơ thẩm đối với trẻ em (người dưới 18 tuổi) còn chưa thống nhất, bất cập dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau như: quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án và tha tù trước thời hạn có điều kiện.
- Thứ hai, tính độc lập của Tòa án, đặc biệt trong hoạt động xét xử
Quy định về tính độc lập của Thẩm phán là khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật và không chịu bất cứ một áp lực nào, là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên khi giải quyết, xét xử các vụ án, nguyên tắc này có được thực thi nghiêm túc hay không còn là cả một vấn đề đang bàn cãi chưa có hồi kết. Cụ thể như: Theo các quy định của Luật Tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng, Thẩm phán và Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án hoặc Phó Chánh án. Như vậy, Thẩm phán và Hội thẩm trở thành người tiến hành tố tụng và làm nhiệm vụ xét xử vụ án nào đó trên cơ sở một quyết định (bằng văn bản hoặc bằng miệng) của một trong số cán bộ lãnh đạo Toà án. Sau khi được phân công thụ lý hồ sơ vụ án thì quan hệ giữa Thẩm phán, Hội thẩm với lãnh đạo Toà án chỉ là mối quan hệ hành chính chứ không phải là mối quan hệ tố tụng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mối quan hệ hành chính đó lại chi phối hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm, hạn chế hoặc làm mất đi tính độc lập của Thẩm phán hay Hội thẩm khi tham gia xét xử. Trong một số trường hợp, vì nhiều lý do nên lãnh đạo Toà án đã can thiệp sâu vào công việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nên yêu cầu báo cáo, thỉnh thị hoặc thậm chí chỉ đạo những người tiến hành tố tụng xét xử theo ý chí của mình. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Việc xét xử sơ thẩm có Hội thẩm nhân dân tham gia, khi xét xử tuân theo nguyên tắc Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán. Tuy nhiên, việc thực thi quy định này trên thực tế phát sinh nhiều vướng mắc mà nguyên nhân chủ yếu là do trình độ, kỹ năng xét xử, năng lực và kiến thức pháp lý và hành chính của Hội thẩm còn yếu và không đều.
- Thứ ba, tính công khai, minh bạch, kịp thời còn hạn chế, bất cập
Mặc dù pháp luật Việt Nam không quy định về việc áp dụng án lệ nhưng trong thực tế xét xử, Tòa án các địa phương vẫn căn cứ vào những bản án của Tòa án nhân dân tối cao có vụ việc tương tự để định hướng xét xử; nếu vụ việc nào tương tự mà Tòa án địa phương lại xét xử khác so với bản án của Tòa án cấp trên thì sẽ bị sửa hoặc hủy án. Đây là thực tế tồn tại trong hệ thống Tòa án cả nước nhưng cho đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể về quyền giải thích pháp luật của Tòa án, hơn nữa vấn đề án lệ cũng rất cần các nhà lập pháp Việt Nam nghiên cứu trong quá trình xây dựng luật [3].
Các thiết chế bổ trợ tư pháp vẫn chưa thực sự phát triển và hoạt động rộng rãi, do đó, việc tham gia hỗ trợ các cơ chế này vào công tác xét xử sơ thẩm còn yếu và thiếu hiệu quả chưa phát huy vai trò hỗ trợ tích cực cho công tác xét xử sơ thẩm. Thực tiễn thực hiện pháp luật vẫn chưa coi trọng vai trò bào chữa của Luật sư nên hoạt động tranh tụng tại nhiều phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án chưa thực sự chuyển về chất theo kỳ vọng của những chủ trương cải cách tư pháp. Theo số liệu thống kê cho thấy người khởi kiện thực hiện quyền tự bào chữa cho mình chiếm 95% so với tổng số án mà Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã xét xử, số vụ án mà người bào chữa tham gia chiếm tỷ lệ rất thấp. Xuất phát từ các nguyên nhân: người dân chưa có thói quen nhờ người bào chữa và cũng chưa thấy rõ được vai trò của người bào chữa, vì điều kiện kinh tế, vì các cơ quan tiến hành tố tụng chưa giải thích rõ ràng về quyền nhờ người khác bào chữa; vì chất lượng tham gia bào chữa tại các phiên tòa của người bào chữa chưa cao. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Quyền được đưa ra đồ vật, tài liệu, yêu cầu: Quyền này chưa được đảm bảo đối với các bị cáo đang bị tạm giam vì quá trình thu thập tài liệu đối với họ là hạn chế. Trên thực tế không ít trường hợp đã bị bác bỏ, không kiểm tra và xem xét thật khách quan những chứng cứ mà bị cáo đưa ra. Tại phiên tòa, cách thẩm vấn của Thẩm phán chủ tọa chỉ ở dạng trả lời “Có” hoặc “Không” đã không gợi mở và tạo điều kiện cho các bị cáo cơ hội đưa ra các yêu cầu của mình.
Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án: trên thực tế thì tại Tòa án đã tồn tại nhiều sai sót từ khâu xác định người tham gia tố tụng dẫn đến ảnh hưởng quyền kháng cáo của họ. Việc phát hành bản án chậm hoặc không niêm yết trong trường hợp xét xử vắng mặt từ Tòa án cấp sơ thẩm nên không bảo đảm cho bị cáo thực hiện các quyền do pháp luật quy định.
- Thứ tư, tính chính xác của các quyết định, bản án của Tòa án còn thấp
Vẫn còn phán quyết của Tòa án chưa đem lại sự hài lòng và chưa bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân; còn có sự nể nang, can thiệp từ phía cơ quan Nhà nước ảnh hưởng đến tính khách quan và độc lập trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa án.
Bản án, quyết định của Toà án về vụ án chưa được bảo đảm thi hành hiệu quả, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Sự thiếu những quy định về việc xử lý kiên quyết trong trường hợp bên phải thi hành án là cơ quan Nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền nhưng không chịu thi hành án đã dẫn đến những dư luận xã hội không tốt trong việc chấp hành pháp luật của các cơ quan này cũng như hiệu quả của hoạt động thi hành án hành chính.
2.2.3 Nguyên nhân
Thứ nhất, số lượng các vụ án mà Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giải quyết ngày càng phức tạp, nhiều loại án mới phát sinh trên địa bàn, kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng còn hạn chế. Phương pháp, thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt với tính chất đặc biệt nghiêm trọng;
Thứ hai, trong công tác giải quyết, xét xử các vụ án nhiều trường hợp phải hoãn phiên tòa do các nguyên nhân khách quan, do vị trí địa lý xa xôi, đi lại khó khăn dẫn đến sự vắng mặt của người tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án. Trong một số trường hợp, việc cung cấp, bổ sung chứng cứ của các cơ quan chuyên ngành có liên quan không đầy đủ, không kịp thời và thiếu chính xác gây khó khăn, cản trở trong việc giải quyết, xét xử.
Thứ ba, do nhận thức pháp luật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm trong công tác của một số cán bộ tư pháp trong các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố còn hạn chế, chưa đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Điều này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các sai sót trong định tội danh, quyết định hình phạt và các vi phạm nghiêm trọng nêu trên. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
Thứ tư, công tác phối hợp của một số cơ quan, ngành liên quan có lúc chưa còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa toàn diện, kịp thời, chặt chẽ cũng gây nhiều khó khăn, việc giải quyết vụ án phải kéo dài.
Tiểu kết chương 2
Xuất phát từ các đặc điểm chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất cũng như tinh thần, pháp luật quốc tế đã đặt ra nhiều yêu cầu, chuẩn mực đối với việc bảo đảm quyền trẻ em. Đặc biệt là quy định trách nhiệm hình sự và việc xử lý trong thực tiễn, ví nó ảnh hưởng rất lớn đến hậu quả pháp lý của người dưới 18 tuổi. Hơn nữa, người dưới 18 tuổi là người đang trong quá trình phát triển về tâm – sinh lý, cũng như ý thức, suy nghĩ dễ bồng bột, nông nỗi và thiêú kiềm chế.
Khi xử lý cũng như tiến hành bất cứ hoạt động nào khác đối với trẻ em phải bảo đảm tốt nhất các lợi ích của họ trong đó có hoạt động tư pháp. Các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải xác định rõ độ tuổi của trẻ em. Tuổi càng ít thì khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội càng hạn chế, việc xử lý người dưới 18 phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
Khi xét xử Toà án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không có hiệu quả. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử