Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK

2.1.1. Khái quát về Tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Hệ thống Tòa án nhân dân của tỉnh Đắk Lắk được thành lập ngay sau khi giải phóng tỉnh Đắk Lắk vào tháng 3 năm 1975 để xét xử các vụ án chống đối chính quyền cách mạng, các vụ án về kinh tế và trật tự, an toàn xã hội góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Đến cuối năm 1976, Tòa án nhân dân tỉnh và hệ thống Tòa án nhân dân cấp huyện được chính thức thành lập. Khi mới thành lập có Tòa án tỉnh và 5 đơn vị Tòa án cấp huyện, sau đó tăng dần lên 18 đơn vị. Ngày 01/01/2004 tỉnh Đắk Lắk được chia tách thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông theo Nghị Quyết số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội khóa XI – kỳ họp thứ 4. Hiện nay, Cơ cấu của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk có Tòa án nhân dân cấp tỉnh và 15 đơn vị Tòa án nhân dân cấp huyện, thị xã và thành phố [56].

Trong những năm qua, mặc dù nhiệm vụ đặt ra là rất nặng nề, là một trong những địa phương có số lượng các vụ việc phải giải quyết hàng năm khá lớn (Gần 9.000 nghìn vụ án/năm). Đơn cử, theo thống kê, trong giai đoạn 2018- 2022, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý 48.411 vụ, việc các loại; đã giải quyết 45.450 vụ, việc; đạt tỷ lệ 93,88%. (Trong đó các Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tỉnh thụ lý 5.357 vụ, việc; giải quyết 5.240 vụ, việc đạt tỷ lệ 97,81%. Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý 43.054 vụ, việc các loại; đã giải quyết 40.210 vụ, việc đạt tỷ lệ 93,39%). Số lượng, tính chất các loại vụ án ngày càng phức tạp, đặc biệt là những vụ án trọng điểm gây nhiều bức xúc trong nhân dân ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, thẩm quyền của Tòa án được mở rộng; các yêu cầu công tác theo các Nghị quyết của Quốc hội tiếp tục được bổ sung với chỉ tiêu cao; việc tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 với nhiều nội dung quan trọng liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, đòi hỏi việc triển khai phải đảm bảo phù hợp quy định của Hiến pháp và tinh thần cải cách tư pháp.

Về phân bổ biên chế Tòa án cấp huyện thì đơn vị cấp huyện có nhiều biên chế là Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột 51 biên chế; đơn vị Tòa án cấp huyện có ít biên chế là Tòa án nhân dân huyện Krông Bông là 09 biên chế. Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk được giao tổng chỉ tiêu biên chế là 330 người nhưng hiện nay số biên chế của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk mới có 321 người (bao gồm cấp huyện, thị xã và thành phố Buôn Ma Thuột là 244 người; cấp tỉnh là 77 người), trong đó: công chức nữ có 157 người chiếm 48,90%, số công chức là người dân tộc thiểu số chiếm 6,54%, 90 Thẩm phán sơ cấp, 39 Thẩm phán trung cấp, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án 192 người; 247 Đảng viên. Về trình độ chuyên môn 100% Thẩm phán, thẩm tra viên, thư ký có trình độ cử nhân luật trở lên. Tòa án hai cấp hiện có 46 cán bộ, công chức là Thạc sĩ luật học và nhiều người đang học cao học Luật; Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Về bộ máy Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk gồm 05 Tòa chuyên trách; Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa hành chính, Tòa lao động và 03 phòng nghiệp vụ gồm: Văn phòng, Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án, Phòng tổ chức cán bộ và thi đua khen thưởng [56].

Về tổ chức, biên chế Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk hiện có 85 công chức, người lao động trong biên chế, trong đó có 23 Thẩm phán, 48 Thư ký, 06 Thẩm tra viên và 08 chức danh khác.

Ngày 07/12/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã công bố Quyết định số 1865/QĐ-TCCB của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc tổ chức các Tòa chuyên trách tại Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào Quyết định số 1865/QĐ-TCCB, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã thành lập Tòa Gia đình và người chưa thành niên, bố trí các chức danh tư pháp và bổ nhiệm chức vụ quản lý như sau: Ông Nguyễn Duy Thuấn – Chánh tòa; Bà Nguyễn Thị Hằng – Phó Chánh tòa; Ông Trần Anh Tuấn – Thẩm phán; Ông Hoàng Văn Nam, bà Vũ Thị Hồng Phúc, ông Nguyễn Duy Nguyên và bà Lại Thị Minh Hiền – Thư ký Tòa án. Về thẩm quyền của Tòa Gia đình và người chưa thành niên: Giải quyết các vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc các vụ án hình sự mà bị cáo là người đã đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường Gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác; xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đối với người chưa thành niên; giải quyết các vụ, việc hôn nhân Gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Sự đổi mới này cho phép trẻ em, Gia đình và các chuyên gia có trình độ chuyên môn tham gia đầy đủ hơn vào quá trình tố tụng, bên cạnh đó các thủ tục tố tụng được tiến hành thân thiện, phù hợp với từng lứa tuổi. Đội ngũ Thẩm phán, Thư ký chuyên trách được lựa chọn làm việc tại Tòa Gia đình và người chưa thành niên phải có kiến thức về tâm lý học, từ đó đảm bảo đưa ra những phán quyết đúng đắn, vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em.

2.2. THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

2.2.1. Tình hình xét xử các vụ án xâm phạm quyền lợi ích của người bị hại dưới 18 tuổi của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk từ năm 2018 – 2022

Tình hình giải quyết các Vụ án hình sự nói chung và các Vụ án hình sự bảo vệ quyền của người dưới 18 tuổi nói riêng được thể hiện rõ nét trong báo cáo tổng kết của các cơ quan tiến hành tố tụng và Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2018 – 2022, trong 5 năm, các cơ quan tố tụng tỉnh Đắk Lắk đã khởi tố 214 vụ/229 bị can; truy tố 203 vụ/228 bị can; xét xử 175 vụ/220 bị cáo về các tội xâm hại trẻ em. Điều này cho thấy tình tình các tội xâm phạm trẻ em có những diễn biến phức tạp, số lượng các vụ án có chiều hướng tăng, giảm thất thường. Sự tăng giảm không đồng đều của tình hình các tội xâm phạm quyền lợi của người bị hại dưới 18 tuổi cũng cho thấy được sự diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm, ẩn chứa những nguy cơ gia tăng nhóm tội phạm này trong thời gian tới. Tình hình giải quyết các vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm quyền của người bị hại dưới 18 nói riêng của Tòa án nhân dân được thể hiện rõ nét trong báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2015 – 2019 cụ thể như sau:

Năm 2018, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý tổng cộng 5.927 vụ (cũ 264 vụ, mới 5.663 vụ); đã giải quyết: 5.677 vụ; còn lại 250 vụ (có 01 vụ quá hạn), tỷ lệ giải quyết đạt: 95,78%. Trong đó số vụ án xâm phạm quyền của người bị hại dưới 18 được giải quyết là 53 vụ với 65 bị cáo [51].

Năm 2019, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã giải quyết 1.711/1.717 vụ thụ lý, đạt tỷ lệ 99,65%; so với cùng kỳ năm 2015, thụ lý tăng 67 vụ, giải quyết tăng 68 vụ, tỷ lệ giải quyết giảm 0,05%; có 15 bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan, chiếm tỷ lệ 0,87%. Trong đó số vụ án xâm phạm quyền của người bị hại dưới 18 được giải quyết là 43 vụ với 54 bị cáo [53].

Năm 2020, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã giải quyết 1.675/1679 vụ thụ lý, đạt tỷ lệ 99,76%; so với cùng kỳ năm 2019, thụ lý giảm 38 vụ, giải quyết giảm 36 vụ, tỷ lệ giải quyết tăng 0,11%; có 05 bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan, chiếm tỷ lệ 0,30%. Tòa án nhân dân cấp huyện đã giải quyết 6.729/6.743 vụ thụ lý, đạt tỷ lệ 99,79%; so với cùng kỳ năm 2015, thụ lý giảm 308 vụ, giải quyết giảm 300 vụ, tỷ lệ giải quyết tăng 0,13%; có 25 bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan, chiếm tỷ lệ 0,37%. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử lưu động 32 vụ với 40 bị cáo. Trong đó, số vụ án xâm phạm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi đã được giải quyết là 49 vụ với 52 bị cáo[54], Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Năm 2021, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk thụ lý 8.328 vụ việc các loại (Thụ lý cũ: 2.859 vụ việc, thụ lý mới: 5.469 vụ việc), đã chuyển thẩm quyền 278 vụ việc, còn lại phải giải quyết là 8.050 vụ việc; đã giải quyết 4.090 vụ việc, đạt tỷ lệ 50,81%; còn lại 3.960 vụ việc chưa giải quyết, trong đó có 2.822 vụ việc đang tạm đình chỉ, 01 vụ việc quá hạn luật định. So với năm công tác 2017, tổng lượng án thụ lý tăng 979 vụ việc, giải quyết giảm 197 vụ việc, tỷ lệ giải quyết giảm 9,18%. Trong đó, số vụ án xâm phạm quyền của người bị hại dưới 18 đã được giải quyết là 39 vụ với 47 bị cáo [55].

Năm 2022, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk thụ lý 9.850 vụ việc các loại, giải quyết 5.057 vụ việc, đạt tỷ lệ 51,34%; còn lại 4.793 vụ việc chưa giải quyết, trong đó có 3.031 vụ việc đang tạm đình chỉ, 08 vụ việc quá hạn luật định chưa được giải quyết. So với năm 2017, tổng lượng án thụ lý tăng 312 vụ việc, giải quyết giảm 112 vụ việc, tỷ lệ giải quyết tăng 0,53%. Trong đó, số vụ án xâm phạm quyền của người bị hại dưới 18 được giải quyết là 37 vụ với 41 bị cáo [56].

Tình hình các tội xâm phạm quyền lợi của người bị hại dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2018 – 2022 cao nhất qua các năm là năm là năm 2018 với 49 vụ, thấp nhất là năm 2022 với 37 vụ. Tình hình các tội xâm phạm quyền lợi của người bị hại dưới 18 tuổi có xu hướng diễn biến phức tạp. Trong đó tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142) cao nhất là năm 2018, 2020 với 37 vụ chiếm tỉ lệ lần lượt là 69,8% và 75,5 thấp nhất là năm 2022 với 26 vụ chiếm tỉ lệ 70,3%; Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi cao nhất là năm 2018 với 14 vụ, chiếm tỉ lệ 26,4%, thấp nhất là năm 2021 với 3 vụ chiểm tỉ lệ 7,7%; Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi cao nhất là năm 2020, 2021 với 3 vụ mỗi năm và chiếm tỉ lệ là 15,8% và 9,7%. Trong khi đó tội dâm ô người 16 tuổi chiểm tỷ lệ cao nhất là năm 2019 với 3 vụ chiếm tỉ lệ 9,7%; thấp nhất là năm 2021 với 3 vụ chiểm tỉ lệ 7,7% . Tội làm nhục người khác (Điều 155) xảy ra ít trong năm 2021 là 2 vụ và năm 2022 là 1 vụ điều này được thể hiện qua bảng 2.1.

Hậu quả, có 8 trường hợp tử vong, 163 trường hợp bị tổn thương bộ phận sinh dục, 13 trường hợp có thai, 7 trường hợp phải bỏ học và 160 trường hợp bị tác động mạnh, mang thương tật về thể chất, tinh thần, thường xuyên có thái độ lo sợ, tự ti, từ đó làm suy giảm nhận thức và mất năng lực giao tiếp xã hội. Trong 6 tháng đầu năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra hai cấp tỉnh Đắk Lắk giải quyết 17 tố giác, tin báo tội phạm và khởi tố 16 vụ/16 bị can về các tội xâm phạm tình dục trẻ em. Có thể nói, đây chỉ là số vụ việc đã được xử lý, thông tin, do người bị hại trình báo với cơ quan chức năng. Trên thực tế, có nhiều trẻ em đã bị xâm hại mà gia đình cũng như người bị hại chưa dám lên tiếng vì tâm lý e ngại, sợ xấu hổ với bà con hàng xóm hay sợ ảnh hưởng đến cuộc sống tương lai của con em mình sau này. Trong khi đó, công tác điều tra, làm rõ hành vi phạm tội của những đối tượng xâm hại trẻ em tại những địa bàn vùng sâu, vùng xa của cơ quan chức năng còn gặp rất nhiều khó khăn.

Bảng 2.1: Thống kê tình hình các tội xâm phạm quyền lợi người dưới 18 tuổi xét theo tội danh căn cứ vào số liệu của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Các vụ án xâm hại trẻ em thường tập trung nhiều ở những địa bàn vùng núi, vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, nơi có nhiều phòng trọ, gia đình thiếu sự quan tâm đến con cái. Qua nghiên cứu các vụ án cho thấy đối tượng phạm tội trong nhà nạn nhân chiếm tỉ lệ khá cao với 57/221 vụ chiếm tỉ lệ 25,79% [55]. Chúng ta có thể thấy rằng nguyên nhân này xuất phát từ việc gia đình thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục con cái. Điển hình như vụ án Hiếp dâm của 2 bị cáo Phan Phi Long và Nguyễn Đình Vũ, cụ thể: chiều 23/9/2021, Long, Vũ và một số người bạn, trong đó có cháu gái cùng tổ chức ăn nhậu tại một khu rẫy ở thôn 1C, xã Ea Wy, huyện Ea H’leo. Quá trình ăn nhậu, Long nảy sinh quan hệ tình dục với cháu gái nên nói với Vũ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi nhậu xong, Vũ điều khiển xe máy chở cháu gái đi về, còn Long điều khiển xe máy đi theo sau. Khi đi qua một căn nhà hoang ở thôn 1C, xã Ea Wy thì cả 2 dừng xe rồi đưa cháu gái vào trong nhà để quan hệ tình dục. Tại đây, cháu gái đòi đi về nhưng 2 bị cáo không cho. Sau đó, cả 2 đã tìm cách để thực hiện hành vi thú tính mặc cho nạn nhân vùng vẫy, la hét, chống cự. Trong lúc các đối tượng đang thực hiện hành vi đồi bại thì có tiếng xe máy cày đi ngang qua. Lúc này, sợ bị phát hiện nên Long và Vũ đã dừng lại rồi chở cháu gái đi về. Khi về đến nhà, cháu gái đã kể lại toàn bộ sự việc cho gia đình nghe và gia đình đã trình báo đến Công an huyện Ea H’leo.Tại thời điểm Long và Vũ thực hiện hành vi phạm tội thì cháu gái mới được 14 tuổi 3 tháng. Ngày 31/3, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo Phan Phi Long 19 năm tù và Nguyễn Đình Vũ 13 năm tù cùng về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Sau đó, 2 bị cáo đã có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. (Trích bản án số 16/2021/HSST ngày 14/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk).

Nhiều vụ án xâm hại tình dục xảy ra do xuất phát từ việc gia đình không quan tâm trong việc quản lý, chăm sóc các em trong cuộc sống hàng ngày; trong khi đó, các trẻ em gái hoặc các trẻ bị bệnh tâm thần hoặc hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là những đối tượng non nớt về kinh nghiệm sống và thiếu khả năng tự bảo vệ mình trước các cạm bẫy của xã hội, rất dễ trở thành đối tượng bị xâm hại tình dục.

Về phương thức, thủ đoạn phạm tội đa phần các bị cáo sử dụng dùng vật chất để dụ dỗ bị hại chiếm 94/221 vụ với tỉ lệ 42,53%; các đối tượng sử dụng vũ lực để gây án chiến tỉ lệ 32,13% (71/221 vụ) và những thủ đoạn khác như lợi dụng sự kém hiểu biết của trẻ, trẻ còn quá nhỏ tuổi, trẻ bị thiểu năng trí tuệ… chiếm tỉ lệ 25,34% (56/221 vụ).

  • Bảng 2.2. Phương thức, thủ đoạn phạm tội

Về độ tuổi của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án qua bảng số liệu của toà án có thể thấy bị hại từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất với 38,46%; kế đến là độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chiếm tỉ lệ 26,7%, tiếp theo là từ đủ 6 tuổi đến dưới 13 tuổi chiếm tỉ lệ 25,34% và thấp nhất là độ tuổi dưới 6 tuổi chiếm tỉ lệ 9,5%.

  • Bảng 2.3. Độ tuổi của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm hại trẻ em trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2018 – 2022

2.2.2. Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

  • Bảo đảm phối hợp trong giai đoạn xét xử các vụ án bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi

Trong giai đoạn từ 2018 đến năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã làm tốt công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân với các cơ quan Tố tụng hình sự, trong các Vụ án hình sự có bị hại dưới 18 tuổi. Thực trạng xét xử các vụ án có bị hại là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn 2018 – 2022, cho thấy Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phối hợp chặt chẽ với CQĐT, VKS cùng cấp trong các hoạt động điều tra, truy tố để giải quyết kịp thời, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội và áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm hại trẻ em, nhất là hành vi xâm hại người dưới 18 tuổi.

Phối hợp chuyển, nhận hồ sơ vụ án và bản cáo trạng: Viện kiểm sát bàn giao hồ sơ vụ án có bị hại là người dưới 18 tuổi và bản cáo trạng cho Tòa án để xét xử sơ thẩm theo quy định tại Điều 244 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng hình sự, thông tin cho Tòa án để bố trí, sắp xếp thời gian, tiếp nhận hồ sơ nhanh chóng, kịp thời. Khi bàn giao hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát chuẩn bị đầy đủ các tài liệu chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng để bàn giao hồ sơ cho Tòa án. Nếu hồ sơ vụ án chưa đầy đủ (như chưa giao được cáo trạng cho bị can, chưa có bản thống kê vật chứng, thiếu danh sách những người cần triệu tập đến phiên tòa) hoặc sắp xếp tài liệu không đúng trình tự so với bảng kê tài liệu, vật chứng; đánh số bút lục nhầm lẫn, thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung, khắc phục ngay.

Phối hợp trước khi mở phiên tòa: Tòa án ghi rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hình thức tổ chức phiên tòa tại phòng xử án hình sự thông thường hay phòng xử án giải quyết các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên để Kiểm sát viên chuẩn bị trang phục phù hợp khi tham gia phiên tòa; Trường hợp Viện kiểm sát đề nghị triệu tập bị hại đến phiên tòa thì Tòa án xem xét quyết định việc triệu tập đến phiên tòa. Nếu buộc phải triệu tập bị hại có mặt tại phiên tòa thì bố trí phòng xử án phù hợp hoặc phải có màn che ngăn cách với khu vực của bị cáo tại phiên tòa; xem xét, đề nghị bác sĩ, chuyên gia tâm lý hỗ trợ bị hại, áp dụng các biện pháp bảo vệ bị hại tại phiên tòa; Trường hợp Viện kiểm sát cần đề nghị nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh hoặc công khai một số tài liệu, chứng cứ bằng dữ liệu điện tử tại phiên tòa trong vụ án có bị hại là người dưới 18 tuổi thì phải trao đổi với Tòa án để bố trí phương tiện, kỹ thuật phục vụ tại phiên tòa phù hợp với điều kiện thực tế của Tòa án.

Phối hợp khi xét xử sơ thẩm tại phiên tòa: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khi tham gia phiên tòa phải thực hiện theo quy định của Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/09/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên (sau đây viết tắt là Thông tư số 02/2018), Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về phòng xử án. Trường hợp thấy cần thiết phải công bố công khai tại phiên tòa các chứng cứ, tài liệu là dữ liệu điện tử, công bố lời khai đã được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong quá trình giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên phối hợp với Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thực hiện việc công bố. Việc công bố tài liệu, chứng cứ công khai tại phiên tòa được thực hiện khách quan, đúng pháp luật…Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch này còn quy định về phối hợp trong việc lấy lời khai, hỏi cung người tham gia tố tụng; trung cầu giám định và trong giai đoạn điều tra, truy tố…

Đối với các vụ án mà bị hại cần được trợ giúp pháp lý, Tòa án đã chủ động liên lạc với các cơ quan trợ giúp pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Trước tình hình các tội xâm phạm người dưới 18 tuổi ngày càng phức tạp TA đã có những bước tiến mới trong việc bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án như sau:

Về tòa gia đình và người chưa thành niên. Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk được thành lập ngày 07/12/2018. Đây là Tòa gia đình và người chưa thành niên trên cả nước với thẩm quyền chuyên biệt xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình, các vụ án dân sự, hình sự liên quan đến người chưa thành niên, đặc biệt là bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án trẻ em. Đây là bước tiến quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp, triển khai có hiệu quả các chủ trương và quan điểm của Đảng và Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và xử lý người chưa thành niên phạm tội; đồng thời chứng tỏ cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền trẻ em, đặc biệt là hoạt động tư pháp, thông qua việc xây dựng một hệ thống tư pháp toàn diện mà Tòa gia đình và người chưa thành niên là trung tâm, với sự tham gia, phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Đây là phương thức thực hiện tinh thần khoản 3 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc xét xử kín. Theo báo cáo tổng kết công tác hoạt động của Tòa gia đình và người chưa thành niên giai đoạn 2018 – 2022, Tòa gồm có 7 biên chế (trong đó có 5 Thẩm phán và 2 thư ký); có 01 chánh tòa và 01 phó chánh Tòa [53].

  • Bảo đảm việc phân công người tiến hành tố tụng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Căn cứ Thông tư liên tịch số 06/2018 và Thông tư số 02/2018/TT- Tòa án nhân dân tối cao Thông tư số 02/2018 của Tòa án nhân dân tối cao. Khi có quyết định xét xử các vụ án xâm pham trẻ em, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh lựa chọn phân công các Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử Vụ án hình sự có bị hại là người dưới 18 tuổi luôn đáp ứng điều kiện của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về người tiến hành tố tụng các Vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi (Điều 415). Tòa án nhân dân tỉnh luôn cử các Thẩm phán có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi là người có thâm niên công tác trong lĩnh vực tư pháp; quản lý, đào tạo, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục người dưới 18 tuổi; người được đào tạo về giáo dục thanh, thiếu niên, nhi đồng hoặc những người khác có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi.

Về thành phần tham gia xử án: Theo báo cáo tổng kết công tác hoạt động của Tòa gia đình và người chưa thành niên trong giai đoạn 2016 – 2019, thì tổng số cán bộ công chức của Tòa gia đình và người chưa thành niên là 38 người gồm 18 thầm phán và 20 thư ký [53]. Để đáp ứng yêu cầu xét xử hiện nay, dội ngũ nhân sự phải nắm chắc quy định của pháp luật về người chưa thành niên, về hôn nhân gia đình. Trình độ ngoại ngữ của các Thẩm phán còn hạn chế. Vì vậy, nhiều trường hợp còn khó khăn khi giải quyết các vụ án đòi hỏi nghiên cứu, xem xét các tài liệu bằng tiếng nước ngoài. Nhiệm kỳ của Thẩm phán được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn theo Công văn số 226/TANDTC-TCCB: Những người được chủ tịch nước bổ nhiệm chức danh Thẩm phán (lần đầu) có nhiệm kỳ là 05 năm; những người được chủ tịch nước bổ nhiệm lại chức danh Thẩm phán hoặc bổ nhiệm lại vào ngạch thẩm phán (thông qua thi nâng ngạch) có nhiệm kỳ là 10 năm, hết nhiệm kỳ, Thẩm phán sẽ được xem xét và bổ nhiệm lại. Với quy định gắt gao hiện nay, nếu trong nhiệm kỳ gặp sai sót dẫn đến hủy án, Thẩm phán có thể không được xem xét bổ nhiệm lại, hoặc thông qua thi nâng ngạch không đạt yêu cầu đồng nghĩa với việc trở lại làm Thư ký. Quy định như vậy, có tác dụng thúc đẩy Thẩm phán có trách nhiệm hơn trong công tác xét xử, không để tình trạng án tồn, án hủy xảy ra.

Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập: Việc quy định nhiệm kỳ đối với một chức danh Thẩm phán là quá ngắn, đối với tình hình kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay, số vụ án ngày càng đa dạng và gia tăng về số lượng, hàng năm mỗi Thẩm phán trung bình phải giải quyết hàng chục vụ án mỗi lĩnh vực, đồng thời phải bảo đảm không có án tồn, án hủy, điều này khiến Thẩm phán không yên tâm với công việc, không kiên quyết, mạnh dạn trong việc giải quyết án vì tâm lý e ngại án bị hủy không được tái bổ nhiệm dẫn đến tình trạng vụ án giải quyết bị kéo dài hoặc án giải quyết bị quá hạn, Thẩm phán không còn chuyên tâm vào từng vụ án mà chỉ quan tâm đến số lượng giải quyết, nhiều trường hợp đến hạn báo cáo cuối năm, các Thẩm phán phải cố dồn án giải quyết cho kịp chỉ tiêu và tiến độ. Điều này gây ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của các đương sự, cũng như không thể bảo đảm chất lượng xét xử. Trong tình trạng các vụ án xâm phạm người dưới 18 tuổi diễn biến phức tạp và đa dạng, việc có một đội ngũ bảo đảm về số lượng, chất lượng chuyên sâu, am hiểu và có kinh nghiệm xét xử về lĩnh vực này, đặc biệt là thật sự có trách nhiệm với công tác của mình sẽ thuận lợi hơn rất nhiều trong việc giải quyết các vụ án hình sự.

Quy trình tuyển chọn, cử Hội thẩm nhân dân và năng lực trình độ của Hội thẩm nhân dân trong giai đoạn hiện nay còn nhiều hạn chế. Hội thẩm nhân dân đóng vai trò quan trọng trong công tác xét xử. Nhưng hiện nay, Hội thẩm nhân dân chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm hoặc công chức Nhà nước đã nghỉ hưu nên rất ít người được đào tạo chính quy có trình độ đại học hoặc trên đại học về luật mà chủ yếu chỉ có trình độ trung cấp về luật. Điều này gây trở ngại không nhỏ trong công tác xét xử những vụ án liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm trẻ em. Trên thực tế rất ít Hội thẩm thực hiện đúng trách nhiệm và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho mình, chế định Hội thẩm tham gia xét xử còn mang nặng tính hình thức. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

  • Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, Đoàn Thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt

Việc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án của các cá nhân, tổ chức xã hội…sẽ bảo đảm cho người dưới 18 tuổi được hỗ trợ về mặt tinh thần (có thể cả về pháp lý), ổn định về tâm sinh lý cho người dưới 18 tuổi, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời có thể hạn chế được sự lạm quyền hoặc vi phạm pháp luật của những người tiến hành tố tụng.

Cùng với việc phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Tòa án nhân dân tỉnh lựa chọn mời Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử giải quyết vụ án. Hội thẩm nhân dân phải là “giáo viên, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi” (khoản 2 Điều 6 Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC.

Việc tham gia của người đại diện, nhà trường và tổ chức của người dưới 18 tuổi là rất quan trọng để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, cũng như trợ giúp cho người dưới 18 tuổi về tâm lý, đồng thời cũng có thể giám sát được hoạt động của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người đại diện nói chung và người đại diện của người dưới 18 tuổi nói riêng là người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 20 Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • Bảo đảm thực hiện các nguyên tắc tiến hành Tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Trách nhiệm Tòa án trong quá trình xét xử Vụ án hình sự có người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi là phải bảo đảm thực hiện các nguyên tắc tiến hành Tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi. Trong giai đoạn từ 2018-2022. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk luôn bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi.

Tòa án tuân thủ các quy định về thủ tục đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi sao cho bảo đảm các quyền và lợi ích tốt nhất cho họ. Các quy định về thủ tục tố tụng cần bảo đảm sự thân thiện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi của người dưới 18 tuổi. Khi áp dụng quy định của pháp luật về các thủ tục Tố tụng hình sự, ngoài việc cần bảo đảm thực thi công lý, thì việc xử lý người phạm tội của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chú trọng đến việc bảo vệ lợi ích tốt nhất cho đối tượng bị xâm hại là người dưới 18 tuổi, người phạm tội phải bị nghiêm trị để mang lại công lý, niềm tin cho người dưới 18 tuổi.

Quyền riêng tư là một trong những quyền con người, quyền công dân cơ bản được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quyền riêng tư đối với trẻ em lại càng được đặc biệt chú trọng vì trẻ em thuộc nhóm yếu thế, chưa phát triển đầy đủ về nhận thức, thể chất để có thể tự bảo vệ mình trước các hành vi tác động, xâm hại đến mình. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

  • Cách thức tổ chức phiên tòa xét xử vụ án có người bị hại là người dưới 18 tuổi

Phòng xử án hình sự của Tòa gia đình và người chưa thành niên không có vành móng ngựa, bị cáo là người chưa thành niên được tiếp xúc với người đại diện hợp pháp, người giám hộ, người thân, người bào chữa. Trong các vụ án hình sự có bị hại là người dưới 18 tuổi, đặc biệt là các vụ án xâm phạm trẻ em, Tòa gia đình và người chưa thành niên đã sắp xếp riêng cho bị hại, tránh để bị hại tiếp xúc với bị cáo làm ảnh hưởng đến tâm lý của bị hại trong quá trình xét xử. Việc cách ly cũng bảo đảm lời khai của bị hại được khách quan. Tuy nhiên trụ sở làm việc của Tòa gia đình và người chưa thành niên chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi vì chỉ có 02 phòng xử án, 01 phòng hòa giải nên thiếu phòng cách ly, phòng xử án, phòng hòa giải. Các phòng xử án, hòa giải có diện tích nhỏ, trong trường hợp có nhiều đương sự thì không đủ sức chứa, người dự khán phải ngồi tràn ra ngoài phòng [53]. Vấn đề thiếu phòng chức năng là Phòng cách ly bị hại là trẻ em là vấn đề khó khăn đặt ra trong giai đoạn hiện nay.

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

2.3.1. Ưu điểm trong bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Một là, Trong quá trình xét xử, giải quyết các vụ án mà nạn nhân là người dưới 18 tuổi, có thể nói rằng Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã luôn bám sát các nguyên tắc về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi nói riêng, được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự; pháp luật hôn nhân và gia đình; pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, đó là: chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục cho người dưới 18 tuổi; hành vi bạo lực nói chung và bạo lực về tình dục nói riêng phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật; nạn nhân bị bạo lực được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực nói chung và bạo lực đối với người dưới 18 tuổi nói riêng.

Hai là, Trong quá trình xét xử các vụ án hình sự và xét xử các vụ án mà nạn nhân là người dưới 18 tuổi, Tòa án nhân dân tỉnh đã chủ động phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo giải quyết tốt vụ án, đặc biệt là các vụ án lớn, trọng điểm được dư luận xã hội quan tâm. Đến nay, TAND tỉnh đã xây dựng được quy chế phối hợp giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng, định kỳ trao đổi, thống nhất những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật, nhằm đảm bảo giải quyết tốt vụ án, tránh tình trạng trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhiều lần giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng hạn luật định.

Ba là, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc Thông tư liên tịch số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi; Công văn số 68/TANDTC ngày 08/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử tội phạm xâm phạm tình dục và bạo hành trẻ em; Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141,142,143,144,145,146,147 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Bốn là, Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao, trong thời gian qua Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh các vụ án mà nạn nhân là người dưới 18 tuổi, đáp ứng yêu cầu chính trị của các địa phương.

Năm là, Công tác tổ chức các phiên toà xét xử các vụ án hình sự mà nạn nhân là người dưới 18 tuổi đều được Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk cân nhắc kỹ lưỡng, đảm bảo vừa làm rõ các tình tiết của vụ án, đồng thời đảm bảo thuần phong mỹ tục, các yếu tố văn hoá; bảo vệ danh dự, phẩm giá của con người và không gây tác động tiêu cực đến tâm lý của người bị hại, đặc biệt là người dưới 18 tuổi. Hình phạt mà các Tòa án áp dụng đối với các bị cáo phạm tội liên quan đến bạo lực đối với người dưới 18 tuổi về cơ bản đảm bảo nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về bạo lực đối với người dưới 18 tuổi nói riêng trong tình hình hiện nay. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk cũng đã chú trọng việc phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương để làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật và tinh thần đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm về bạo lực người dưới 18 tuổi nói riêng trong nhân dân, góp phần tuyên truyền, phổ biến pháp luật nâng cao nhận thức của người dân trong việc xây dựng gia đình văn hóa, xã hội văn minh, bảo vệ quyền và lợi ích cũng như danh dự, nhân phẩm của trẻ em gái. Tại phiên tòa, bên cạnh việc xét hỏi để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo, xác định sự thật của vụ án, Hội đồng xét xử luôn chú trọng công tác giáo dục pháp luật thông qua việc giải thích pháp luật, phân tích cho các bị cáo và những người tham dự phiên tòa hiểu rõ về hậu quả và những hệ lụy phát sinh từ hành vi bạo lực đối với người dưới 18 tuổi.

2.3.2. Hạn chế trong bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Xuất phát từ đặc trưng của các vụ án đối với người dưới 18 tuổi là các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, trong quá trình giải quyết các vụ án bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk còn gặp một số hạn chế như sau:

Thứ nhất, Các tội liên quan đến bạo lực đối với người bị hại dưới 18 tuổi xảy ra chủ yếu tập trung ở các tội: Cố ý gây thương tích, hiếp dâm, hiếp dâm người đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, dâm ô với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; đặc biệt còn có tội giết người mà nạn nhân là người dưới 18 tuổi…các đối tượng phạm tội đa số là nam giới, ở nhiều độ tuổi khác nhau, thường sử dụng bạo lực như đe dọa, đánh đập, giam giữ nạn nhân, ép nạn nhân phải thực hiện theo yêu cầu của mình, một số trường hợp có hành vi dụ dỗ và dọa nạt, lợi dụng nạn nhân thiếu hiểu biết nhận thức hoặc không có khả năng tự bảo vệ nên không dám tố cáo hành vi của mình. Nạn nhân là người dưới 18 tuổi ở các lứa tuổi khác nhau; có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, thiếu sự quan tâm, chăm sóc của người lớn, thiếu sự hiểu biết. Có nạn nhân mới chỉ 08 – 09 tuổi, chưa có khả năng nhận biết về các hành vi đồi bại mà các em đang phải hứng chịu từ chính những người có quen biết hoặc người thân trong gia đình. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Thứ hai, Trong một số vụ án việc xác định tuổi của người bị hại gặp nhiều khó khăn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của người bị hại để xác định người bị hại có phải là người dưới 13, 16 hoặc dưới 18 tuổi hay không. Có trường hợp bị hại không có giấy khai sinh gốc, hoặc có giấy khai sinh nhưng ngày, tháng, năm sinh không chính xác hoặc giấy khai sinh chỉ ghi năm sinh. Có vụ án cha mẹ người bị hại nhớ nhầm ngày sinh của người bị hại (ngày âm lịch, ngày dương lịch) nên cấp phúc thẩm phải hủy án của cấp sơ thẩm. Cũng có trường hợp lời khai của bố, mẹ bị hại và giấy tờ, lý lịch trong hồ sơ về ngày, tháng, năm sinh giống nhau nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại thu được những chứng cứ khác với tài liệu kể trên.

Có trường hợp không xác định được năm sinh của người bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng đã làm các thủ tục để tiến hành giám định tuổi của họ nhưng kết quả giám định của các cơ quan chuyên môn lại khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với tài liệu điều tra khác nên gây khó khăn cho Cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án trong việc đánh giá, sử dụng tài liệu chứng cứ.

Thứ ba, Khi xảy ra hành vi xâm hại tình dục đối với người dưới 18 tuổi, để có căn cứ khởi tố, truy tố và xét xử đối tượng về tội danh gì trong các tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, thì cần phải có kết luận giám định pháp y và những vật chứng có liên quan để làm căn cứ, khẳng định ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Trên thực tế, có nhiều vụ xâm hại tình dục đối với người dưới 18 tuổi nhưng không đủ cơ sở để đưa người phạm tội ra trước pháp luật. Có nhiều trường hợp người dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, gia đình biết nhưng lưỡng lự trong cách giải quyết do lo sợ ảnh hưởng đến tương lai của các em, dẫn đến trình báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng, nên đã vô tình tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết. Có một số trường hợp, sau khi bị xâm hại tình dục suốt một thời gian dài, người bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội do sợ danh dự, nhân phẩm của bản thân và gia đình bị ảnh hưởng. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (vùng kín bị hóa sẹo, không thu được tinh dịch…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi.

Thứ tư, Đặc trưng cơ bản của hành vi bạo lực gia đình là hành vi của các thành viên trong gia đình gây tổn hại cho nhau. Do đó, khi xảy ra các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về bạo lực đối với người dưới 18 tuổi thì thường được hòa giải hoặc giải quyết nội bộ trong gia đình, chứ không có đơn trình báo tới các cơ quan chức năng để xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự. Vì vậy rất khó khăn cho công tác nắm tin báo, tố giác về tội phạm.

Thứ năm, Về phía các nạn nhân bị bạo lực là người dưới 18 tuổi do không nhận thức được đầy đủ quyền của mình nên không dám đấu tranh mà cam chịu bạo lực dẫn đến quá trình đấu tranh làm rõ hành vi phạm tội của các bị can gặp khó khăn (bị can không nhận tội, bị hại không hợp tác điều tra); vụ án xảy ra ở nơi vắng vẻ, chỉ có đối tượng và nạn nhân tại hiện trường, không có nhân chứng trực tiếp. Do vậy, việc thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn.

Thứ sáu, Người có hành vi phạm tội và người bị hại thường có quan hệ thân thích hoặc quan hệ phụ thuộc, như: Vợ – chồng, cha – con, con nợ – chủ nợ…mà người bị hại vì quan hệ tình cảm hoặc vì bị đe dọa trả thù mà không dám đứng ra tố cáo người có hành vi phạm tội hoặc không hợp tác với cơ quan điều tra để lấy lời khai, không đi giám định thương tích …

Thứ bảy, Về sử dụng kết quả giám định: Công tác giám định tư pháp đóng vai trò rất quan trọng trong việc xử lý vụ án hình sự. Kết luận giám định là chứng cứ (điểm d Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) để xác định có hay không có hành vi phạm tội, cơ chế hình thành dấu vết, tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; những tình tiết liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án, để đảm bảo việc xử lý vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật. Trong thực tế điều tra, truy tố, xét xử còn có khó khăn, vướng mắc trong giải quyết vụ án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người. Khi giám định lại thì cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng kết quả giám định nào (kết quả giám định lần đầu; kết quả giám định lại lần thứ nhất hay kết quả giám định lại lần thứ hai…) để làm căn cứ truy tố và xét xử đối với hành vi phạm tội?

Thứ tám, Tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi quy định tại khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự:

  • a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ tủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;
  • b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. …Khoản 3 Điều 142 quy định…
  • c) Đối với người dưới 10 tuổi. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Như vậy, điều luật chưa quy định hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi. Tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145, 146 Bộ luật hình sự năm 2015 mới chỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với người đủ 18 tuổi. Như vậy, nếu một người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn hiện nay một bộ phận không nhỏ ở độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi có hành vi phạm tội này. Đây là điểm hạn chế trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này. Tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự có đề cập đến việc công khai xin lỗi người bị hại. Tuy nhiên, thủ tục công khai việc xin lỗi như thế nào thì hiện nay chưa được giải thích cụ thể nên khó áp dụng trong thực tiễn, đặc biệt là trong thực tiễn xét xử các vụ án về xâm hại người dưới 18 tuổi.

2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế trong việc bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Qua thực tiễn, tác giả nhận thấy nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân được thể hiện:

Thứ nhất, nguyên nhân về các quy định của pháp luật. Chưa thống nhất trong quy định có liên quan đến xâm hại trẻ em và bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm hại trẻ em. Khái niệm về trẻ em và độ tuổi của trẻ em hiện nay được quy định trong nhiều văn bản luật và dưới luật, nhưng không có sự thống nhất, rõ ràng, thậm chí còn chồng chéo nhau về độ tuổi của trẻ em. Việc quy định không thống nhất, rõ ràng về độ tuổi của trẻ em đã gây khó khăn, bất cập trong công tác bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ xâm hại trẻ em.

Thiếu những quy định xử lý các cơ quan, tổ chức, cá nhân không tố giác hành vi xâm hại người dưới 18 tuổi; không thực hiện hoặc thực hiện chậm trễ trách nhiệm bảo vệ người dưới 18 tuổi bị xâm hại.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước toà án khá nhiều và cồng kềnh. Ngoài Luật còn có những văn bản hướng dẫn chi tiết như: nghị định, thông tư, nghị quyết… Các văn bản dưới luật này lại rải rác, được ban hành có tính hệ thống không cao gây khó khăn cho việc áp dụng, thực thi trên thực tế. Thêm vào đó, phương pháp liệt kê được sử dụng phổ biến trong quá trình xây dựng pháp luật giúp các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng áp dụng để giải quyết án xâm phạm người bị hại dưới 18 tuổi nhưng tính dự báo sẽ không cao, sẽ là trở ngại cho công tác điều tra, truy tố, xét xử khi có những tình tiết mới phát sinh mà pháp luật chưa dự liệu được và không có cơ sở để giải quyết. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Thứ hai, nguyên nhân từ phía các Cơ quan tiến hành tố tụng. Theo yêu cầu công tác thì đội ngũ cơ quan tiến hành tố tụng phải nắm chắc các quy định của pháp luật về tư pháp người chưa thành niên, về hôn nhân gia đình. Vấn đề năng lực trình độ của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán xét xử còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được sự đòi hỏi của thực tế. Nhiều cán bộ còn chưa nắm vững khái niệm và trình tự hoạt động giải quyết án thuộc thẩm quyền. Trình độ ngoại ngữ của các cán bộ tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án còn hạn chế. Vì vậy, nhiều trường hợp còn khó khăn khi giải quyết các vụ án đòi hỏi phải xem xét, nghiên cứu các tài liệu bằng tiếng nước ngoài.

Thứ ba, nhận thức về pháp luật của bản thân bị hại và gia đình còn hạn chế Trong nhiều vụ án mặc dù tại Cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo là đối với họ. Nhưng do trong quá trình xét xử gia đình bị cáo và bi hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa bị hại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm phạm đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện… qua đó gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đó.

Trong các vụ án xâm hại người dưới 18 tuổi, bị hại và gia đình của bị hại thường có tâm lý e ngại, lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống nên nhiều gia đình chưa dám lên tiếng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân. Khi xảy ra vụ việc, họ thường không trình báo với cơ quan có thẩm quyền mà dấu diếm, bỏ qua hoặc tự thỏa thuận với người có hành vi phạm tội và gia đình của người phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, do thời gian xảy ra lâu, sự hợp tác không chặt chẽ của người phạm tội, người bị hại nên việc giám định của cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn, cũng ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Có trường hợp bị hại quan hệ tình dục, bị bạo hành khủng bố học đường với nhiều người trong thời gian dài, nên khi cơ quan tiến hành điều tra thì không có chứng cứ buộc tội tất cả các đối tượng. Cũng như có trường hợp biết sự việc thì gia đình bị cáo và bị hại tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, sau đó không thống nhất được mức bồi thường nên bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội, nhưng việc khai báo không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nên việc điều tra và nhận định các chứng cứ gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Bên cạnh đó, một số loại tội liên quan đến người dưới 18 tuổi xảy ra trông nội bộ gia đình, như bạo lực gia đình nên việc phát hiện, tố giác và xử lý gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính là do nhận thức của người bị xâm hại còn hạn chế, không tố giác kịp thời các hành vi này. Trong các trường hợp này bị hại có thái độ cam chịu hoặc không hợp tác với chính quyền địa phương, đoàn thể có biện pháp kịp thời mà âm thầm chịu đựng cho đến khi không thể chịu đựng được nữa mới gửi đơn tố cáo hành vi xâm hại. Khi Tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ thì không cung cấp được chứng cứ chứng minh là có hành vi xâm hại gây khó khăn cho TA trong việc giải quyết, xét xử vụ án.

Nhận thức pháp luật của một số người dân còn nhiều hạn chế. Nhiều người chưa nhận thức được hành vi của họ thực hiện là hành vi vi phạm pháp luật hoặc danh dự, nhân phẩm của họ đã bị xâm hại, phổ biến nhất là hành vi giao cấu với trẻ em, quấy rối tình dục, bạo lực gia đình… Thông thường giữa bị cáo và bị hại có quan hệ tình cảm, thậm chí có trường hợp gia đình bị hại còn tổ chức đám cưới cho hai người tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện hành vi giao cấu với bị hại. Do đó, việc xử lý, phát hiện hành vi phạm tội chưa triệt để, một số trường hợp còn che dấu, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Chương 2 của luận văn trên cơ sở những quy định của pháp luật về đảm bảo quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong họat động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, đã làm rõ những nội dung như sau:

Thứ nhất, tác giả đã khái quát những nội dung liên quan đến các vụ án hình sự có bị hại là người dưới 18 tuổi trong họat động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thông qua những nội dung sau: khái quát chung về các đặc điểm kinh tế, xã hội của trong họat động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; tình hình các vụ án hình sự có người bị hai dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; đặc điểm các vụ án có người bị hại dưới 18 tuổi trong họat động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Thứ hai, thực trạng bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong họat động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thông qua những nội dung: thực trang bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn tiền khởi tố và khởi tố; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử.

Thứ ba, Luận văn chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế trong đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong họat động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464