Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Điều 14 Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013).
Quyền con người cũng là một trong những nội dung và mục tiêu của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội; Hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó có việc bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của tòa án nhân dân (TAND) là hết sức quan trọng. Bởi lẽ, người dưới 18 tuổi là nhóm người đang trong quá trình phát triển cả về tâm lý, sinh lý và ý thức, với kinh nghiệm cuộc sống còn ít ỏi, khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật còn có những hạn chế. Người dưới 18 tuổi khó tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào một số quan hệ pháp luật nhất định, trong đó có quan hệ pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Do đó, khi tham gia vào hoạt động Tố tụng hình sự với tư cách người bị hại, người dưới 18 tuổi là chủ thể đặc biệt, rất cần những cơ chế đặc thù để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Nhận thức được tầm quan trọng của quyền con người, nhất là quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử của toà án. Trong những năm qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk luôn xác định bảo đảm quyền con người nhất là bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong xét xử phải được đặt lên hàng đầu, đã có những bước tiến rõ rệt. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tiễn quá trình giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của tòa án nhân của tỉnh Đắk Lắk vẫn còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết và bất cập. Cơ chế đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án chưa rõ ràng, còn nhiều yếu kém nhất định như quá trình giải quyết vụ án hình sự có dấu hiệu quá tải, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn một số thiếu sót nhất định; bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án hình sự chưa có nhận thức đúng đắn về việc tự bảo vệ mình trước sự pháp luật,…. Những hạn chế trong bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân của tỉnh Đắk Lắk do những nguyên nhân khách quan và chủ quan của quá trình thực thi và áp dụng pháp luật của nhận thức và ý thức trách nhiệm của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, cần nghiên cứu để có những giải pháp căn cơ, góp phần bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là cần thiết và cấp bách.
Chính xuất phát từ những lý do trên, nên tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bảo đảm quyền con người trong Tố tụng hình sự nói chung và bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự nói riêng, trong đó có quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi. Về cơ bản, các công trình này có thể được chia thành hai nhóm sau:
2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Vũ Công Giao (2013)[14], Chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, tác giả đã phân tích một số điểm mới về chế định quyền con người trong đó có một số quyền liên quan đến hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo đảm quyền con người như quyền bình đẳng trước pháp luật; cấm tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình; quyền được xét xử kịp thời, công bằng, công khai; không bị kết án hai lần cho cùng một tội; quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa…
Đào Trí Úc (2013), Bảo đảm quyền con người trong Tố tụng hình sự theo Hiến pháp năm 2013 của đã phân tích cơ sở lý luận, nội dung, các quan điểm khác nhau về nguyên tắc suy đoán vô tội trên thế giới và trong luật hình sự quốc tế. Trên cơ sở đó, tác giả bình luận nguyên tắc suy đoán vô tội trong Hiến pháp năm 2013 và trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành [60].
Vũ Hồng Anh (2013), Những vấn đề đặt ra đối với việc thực thi các bảo đảm tố tụng với bị can, bị cáo theo Hiến pháp năm 2013 của thì cho rằng, để triển khai thi hành Hiến pháp về các biện pháp bảo đảm quyền của bị can, bị cáo cần chú ý làm sáng tỏ nhiều vấn đề như nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Lại Văn Trình (2011), Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị cáo trong Tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả đã góp phần làm rõ thêm nhiều vấn đề lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong Tố tụng hình sự. Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh [59].
Nguyễn Hòa Bình (chủ biên) (2016), Bảo đảm quyền con người, quyền công dân – tư tưởng xuyên suốt trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Nxb Chính trị quốc gia, tr.40. Sách chuyên khảo [5].
Nguyễn Huy Hoàn Đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay của đã nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề đảm bảo quyền con người trong đó có quyền của bị cáo trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện Luận án phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đặc điểm và nội dung của những đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp trong đó đề cập đến bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân; khái quát thực trạng đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số quan điểm, giải pháp tiếp tục bảo đảm quyền con người (trong đó có quyền của bị cáo) trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay [21]. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Ngoài ra còn có các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ như: Bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là người; chưa thành niên trong Tố tụng hình sự, của Phan Thị Thanh Tâm (2017), Luận án tiến sĩ luật học, HVKHXH; Bùi Bảo Trâm (2008), Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị; tạm giữ, bị can, bị cáo, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội; Ngô Thị Thanh (2013), Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự, Đại học quốc gia Hà Nội; Võ Thị Khánh Hoài (2015), Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội.
Các công trình này tập trung phân tích cơ chế bảo đảm quyền con người của các chủ thể khác nhau trong các hoạt động khác nhau của Tố tụng hình sự. Trong các công trình này, việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên nói chung và bị hại là người chưa thành niên nói riêng mới chỉ được đề cập ở mức khái lược, mang tính chất giới thiệu chung chứ chưa khảo cứu sâu hơn.
2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của tòa án. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Nguyễn Thị Loan, Trần Thị Thanh Hằng (2021) Thủ tục tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi [18]. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả trình bày, phân tích các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, là những người đang ở độ tuổi phát triển, đang trong quá trình hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý cũng như nhân cách sống. Trong tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam, việc hoàn thiện các quy định về tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội rất cấp thiết, không chỉ là để tiệm cận gần hơn các quy định của luật pháp quốc tế mà còn nhằm đảm bảo tốt nhất quyền con người, đặc biệt là quyền của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.
Nguyễn Xuân Hà (2016), Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên, trong “Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Nxb Chính trị quốc gia, tr.352 [16]. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Nguyễn Thị Lộc (2019) [28]. Quyền riêng tư của người bị hại dưới 18 tuổi trong Tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu về người bị hại dưới 18 tuổi, quy định về quyền riêng tư và các quy định bảo vệ quyền riêng tư của người bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật quốc tế và một số luật chuyên ngành của Việt Nam. Từ đó đối chiếu với thực tế xâm hại quyền riêng tư của người bị hại dưới 18 tuổi hiện nay và đưa ra một số kiến nghị. Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 4/2021.
Phan Thị Thanh Mai (2015), Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi đã có những bổ sung, thay đổi đáng kể nhằm khắc phục những bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục này nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định. Những hạn chế đó không chỉ không bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi mà còn làm cho việc giải quyết vụ án khó đạt hiệu quả cao [29].
Vũ Duy Linh (2920), Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về bị hại trong Tố tụng hình sự Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện. Bài báo tập trung làm rõ sự hình thành và phát triển của các quy định về bị hại trong hệ thống pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau. Trong mỗi giai đoạn, bị hại đều có những đặc trưng riêng về khái niệm cũng như địa vị pháp lý của họ [27] .
Nguyễn Thanh Hương (2020), Nâng cao hiệu quả hoạt động lấy lời khai bị hại trong các vụ án mua bán người của Kiểm sát viên. Trong các vụ án mua bán người, lời khai của bị hại được coi là nguồn chứng cứ phổ biến, gần như là điểm xuất phát, cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành điều tra, xác minh, thu thập các nguồn chứng cứ liên quan khác. Bài viết tập trung phân tích một số khó khăn, thách thức trong hoạt động lấy lời khai người bị hại trong các vụ án mua bán người, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này [17].
Trương Minh Hiếu (2018), Bào chữa chỉ định theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam cho người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Luật học, HVKHXH [20].
Trần Thu Hạnh (2018), “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học đại học quốc gia Hà Nội: Luật học, số 3, tr 54 – 59 [174].
Nguyễn Hải Ninh (2019) “Pháp luật Tố tụng hình sự đối với việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội dưới 18 tuổi”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 08 [31]. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Nguyễn Thị Bích Vân (2016), Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự (trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn Hà Giang), Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội [61].
Vũ Xuân Tuân (2018), Bảo vệ quyền trẻ em bị xâm hại tình dục tại các tỉnh Tây Nam Bộ, Luận văn thạc sĩ pháp luật về quyền con người, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [57].
Nguyễn Chí Tâm (2018), Phòng, chống xâm hại trẻ em của công an huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ luật hoc, Học viện quốc gia Hồ Chí Minh [44].
Nguyễn Hữu Thịnh (2018), Bảo đảm quyền của bị hại là người dân tộc thiểu số trong điều tra các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ pháp luật về quyền con người, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [46]. Ngoài ra còn có các bài tạp tạp chí nghiên cứu khoa học như: “Tình hình các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Trà Vinh – thực trạng và dự báo”, của tác giả Diệp Huyền Thảo (2015), Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 06, tr. 23 – 29.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập, nghiên cứu đến nhiều góc độ khác nhau và có những đóng góp nhất định vào lý luận và thực tiễn trong việc bảo vệ quyền con người nói chung và bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của tòa án nói riêng ở nước ta hiện nay. Các công trình đã phân tích một cách hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, đến nay, dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật hành chính, chưa có một công trình nào nghiên cứu về “Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk“. Vì vậy, đây là đề tài nghiên cứu không trùng lắp, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân, đánh giá đúng thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, từ đó đề xuất các giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng về bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế cũng như nguyên nhân của thực trạng này.
- Phân tích, luận chứng các quan điểm và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk dưới góc độ của chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Phạm vi về nội dung: Với mục đích nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2018 đến năm
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật và quan điểm của Đảng về Nhà ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể như:
- Chương 1: Sử dụng những phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để làm rõ hơn phần lý luận của đề tài.
- Chương 2: Sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh để đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Chương 3: Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích để đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Về mặt lý luận, đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền con người trong Tố tụng hình sự của đối tượng bị hại là người dưới 18 tuổi, góp phần làm rõ những thuật ngữ, khái niệm có liên quan, phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu luận văn giúp phân tích, làm rõ thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Xác định rõ vai trò trách nhiệm của Toà án trong việc đảm bảo quyền con người; nhận diện việc vi phạm quyền con người trong hoạt động xét xử hình sự, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho cong tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật;
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
- Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thời gian tới.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1.1. Các khái niệm liên quan
- Khái niệm Bị hại
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tại Khoản 1, Điều 62 quy định khái niệm bị hại thay cho người bị hại, theo đó “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” [36].
Theo quy định này, bị hại bao gồm cả cá nhân và cơ quan, tổ chức; thiệt hại do tội phạm gây ra được phân chia bao gồm: Cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng hậu quả của sự thiệt hại của bị hại không phải là điều kiện bắt buộc trong mọi trường hợp. Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho bị hại phải có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả gây ra cho bị hại. Đây là điều kiện rất quan trọng giúp chúng ta phân biệt giữa bị hại với nguyên đơn dân sự trong các vụ án hình sự. Các cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp bị thiệt hại chỉ được tham gia vào quá trình tố tụng với tư cách là bị hại chỉ khi được các cơ quan tiến hành tố tụng thừa nhận.
Như vậy, dưới góc độ pháp luật hình sự (luật hình sự và Tố tụng hình sự), khái niệm bị hại được hiểu như sau: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. Trường hợp bị thiệt hại do vi phạm hành chính hoặc vi phạm pháp luật dân sự gây ra thì thông thường không gọi là bị hại mà dùng khái niệm “người bị thiệt hại”. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
- Đặc điểm tố tụng của bị hại trong điều tra vụ án trộm cắp tài sản:
- Thứ nhất, bị hại khi tham gia vào Tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân liên quan đến vụ án.
Đặc điểm này được hiểu một khi bị hại tham gia vào quan hệ Tố tụng hình sự họ chỉ xem trọng và đặt vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân. Bởi vì, bị hại là người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại nặng nề nhất so với những người tham gia vào tố tụng khác và cũng vì quyền và lợi ích của bản thân bị thiệt hại nên có thể bị ảnh hưởng nhiều đến việc cung cấp lời khai của họ, việc đưa ra đồ vật, tài liệu và yêu cầu có liên quan đến vụ án trong đó làm sao trong quá trình giải quyết vụ án phải đảm bảo được quyền, lợi ích của bản thân như họ muốn. Trong những trường hợp vì quyền và lợi ích bị tội phạm xâm hại nên bị hại tham gia tố tụng với mong muốn vụ án được giải quyết kịp thời nhằm bù đắp lại những thiệt hại mà họ đã và đang phải gánh chịu.
- Thứ hai, việc khai báo vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của bị hại.
Đây cũng là điểm khác biệt so với những chủ thể khác tham gia Tố tụng hình sự để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân liên quan đến vụ án. Bị hại có quyền khai báo vào bất cứ thời gian nào và ở bất cứ đâu trong suốt quá trình tiến hành tố tụng, nhưng họ phải chịu trách nhiệm về lời khai của mình. Quyền khai báo ở đây là cho phép bị hại được lựa chọn cách bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong điều kiện tốt nhất trước những thiệt hại, còn những nghĩa vụ chịu trách nhiệm trong việc khai báo đòi hỏi bị hại phải khai báo trung thực, đúng đắn trước những thiệt hại đã xảy ra trong vụ án. Như vậy, ở đây có thể xem bị hại đồng thời là người làm chứng trong trách nhiệm khai báo.
Thứ ba, bị hại được quyền khiếu nại quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như, đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản theo quy định của pháp luật.
Theo đặc điểm này thì cơ quan tiến hành tố tụng cho phép bị hại được khiếu nại các quyết định hoặc hành vi tố tụng mà thấy chưa thỏa đáng hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định khi thấy quyền và lợi ích của mình chưa được đảm bảo hoặc có những vi phạm tố tụng ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Đặc điểm này cũng lý giải phần nào mong muốn của bị hại là nhanh chóng, kịp thời xử lý nghiêm minh tội phạm, những thiệt hại của họ được bồi thường xứng đáng và thỏa đáng. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
- Khái niệm bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng định nghĩa quyền là: “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [266, tr.63]. Quyền cơ bản của mỗi công dân được quy định trong Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Quyền của người tham gia Tố tụng hình sự, đặc biệt là bị hại được quy định trong chính sách hình sự của quốc gia đó. Cũng theo từ điển Tiếng Việt, “bảo đảm” là: “Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [26, tr. 23].
Theo quy định tại điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại thì: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. [39]
Bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của tòa án là thành tố quan trọng để vụ án được xét xử khách quan, công bằng thông qua đó góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, thượng tôn công lý trong xã hội toà án. Bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự được thể hiện trên ba phương diện, đó là:
Thứ nhất, hình thành hệ thống pháp luật quốc gia trên cơ sở các tiêu chí quốc tế về quyền con người;
Thứ hai, có các biện pháp bảo đảm thực thi có hiệu quả pháp luật về quyền con người;
Thứ ba, có cơ chế giám sát thực thi quyền con người. Bảo đảm quyền của người bị hại trong xét xử gắn với phương thức sống của cá nhân, các mối quan hệ xã hội và các hoạt động sống của con người trong xã hội. Những quyền cần thiết và cơ bản để con người tham gia vào quá trình sống và được nhà nước công nhân đó là: quyền được sống, quyền được tôn trọng danh dự nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về thân thể…
Bảo vệ chăm sóc giáo dục người dưới dưới 18 tuổi là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trong suốt sự nghiệp lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để phù hợp với pháp luật quốc tế và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi là bị hại trong các Vụ án hình sự thể hiện ở sự thống nhất trong những quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp, về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền của người dưới 18 tuổi theo những tính chất, đặc thù vốn có.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong xét xử của tòa án như sau: “Bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của tòa án là tổng thể các tiền đề , điều kiện nhằm thực hiện hoá quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong thực tế”.
1.1.2. Đặc điểm về bảo đảm quyền của người bị hại dưới dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tạị tòa án nhân dân: Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tạị tòa án cấp tỉnh được thể hiện thông qua những đặc điểm sau đây:
Theo khoa học về y học, độ tuổi chưa thành niên là độ tuổi khá nhạy cảm. Vì ở lứa tuổi này, các em chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, do bộ não của các em đang trong quá trình hoàn thiện, cơ thể và tâm sinh lý của các em có những sự thay đổi mạnh mẽ. Chính vì sự chưa hoàn thiện của hệ thống não bộ dẫn đến người dưới 18 tuổi có những sự khác biệt so với người đã thành niên về trạng thái tâm lý, ý thức, như: đặc điểm về thể chất, nhu cầu và nhận thức.
- Đặc điểm về thể chất của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử
Ở người dưới 18 tuổi, sự phát triển cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc. Sự phát triển không cân bằng của hệ tim và mạch, tim phát triển nhanh hơn các mạch máu đã dẫn đến sự thiếu máu trong từng bộ phận trên vỏ não và đôi khi còn làm rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch, dẫn đến sự rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch. Do đó, các em thường có cảm giác mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, dễ bị kích động, nổi nóng. Đồng thời, tuyến nội tiết ở các em hoạt động mạnh gây ra sự mất cân bằng trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương, dễ dẫn đến phát sinh những hành vi bất thường, nhiều em đã không làm chủ được bản thân, không kiềm chế được xúc động mạnh nên đã có những hành vi bồng bột, sai lầm.
- Đặc điểm về nhu cầu của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử
Sự phát triển của trẻ em trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, ở từng độ tuổi khác nhau, nhưng tựu chung lại có những nhu cầu cơ bản như: nhu cầu được yêu thương, đồng cảm; nhu cầu an toàn; nhu cầu khẳng định bản thân; nhu cầu giao lưu; nhu cầu tự do, độc lập, thích khám phá. Đối với những trường hợp trẻ em được sống trong môi trường giáo dục tốt, có sự định hướng thì những nhu cầu này được đảm bảo để họ phát triển và hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên, đối với những trường hợp không được bảo đảm những nhu cầu trên như: Không nhận được sự yêu thương, đồng cảm của cha mẹ, thầy cô, những việc làm của họ không nhận được sự tôn trọng của những người xung quanh hoặc sống trong gia đình có cha mẹ thường xuyên cãi nhau, gia đình không có cấu trúc hoàn chỉnh hoặc những mối quan hệ, giao lưu của các em không được định hướng, chọn lọc thì nguy cơ bị xâm hại cao hơn bình thường. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
- Đặc điểm về nhận thức của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử
Người bị hại dưới 18 tuổi là tất cả những người ở mọi độ tuổi dưới 18 mà không phải chỉ ở độ tuổi 14 – 18 như đối với người bị buộc tội. Người dưới 18 tuổi dễ bị tội phạm xâm hại, dễ bị đưa đến nguy cơ nạn nhân hóa do sức khỏe, khả năng tự bảo vệ bản thân còn hạn chế, do ngây thơ, cả tin, thiếu hiểu biết xã hội. Khi bị tội phạm xâm hại, họ có nguy cơ bị tổn thương cao hơn (cho rằng tổn thất mình phải gánh chịu là quá lớn, xã hội quá bất công, cuộc đời quá bất hạnh, người lớn quá vô tâm, một số bị hại dưới 18 tuổi lại có diễn biến tâm lý tiêu cực theo chiều hướng tự đổ lỗi cho bản thân, tự oán trách bản thân) hoặc ngược lại chưa ý thức được về tổn thất mà mình đã trải qua hoặc những hậu quả mà mình sẽ phải gánh chịu trong những giai đoạn sắp tới của cuộc đời.
Thực tiễn cho thấy, những người dưới 18 tuổi còn rất non nớt về nhân sinh quan nên nhận thức của họ thường một chiều và ở một vài khía cạnh chưa đầy đủ. Do chưa phát triển hoàn thiện về thể lực, trí tuệ, chưa có khả năng nhận thức đầy đủ về những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày. Đồng thời, các em chưa có nhận thức đầy đủ về pháp luật nên trong nhiều trường hợp không biết hành vi của người phạm tội là nguy hiểm cho bản thân và xã hội. Cùng với những nhu cầu của cá nhân, dẫn đến các em thường dễ mắc sai lầm, dễ bị các đối tượng phạm tội lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Từ những sự khác biệt trong trạng trái thể chất, tâm sinh lý và đặc điểm về nhu cầu, nhận thức mà người dưới 18 tuổi trở thành chủ thể đặc biệt trong các mối quan hệ xã hội, đặc biệt trong quan hệ pháp lý. Trong mối quan hệ pháp luật hình sự, người dưới 18 tuổi là người bị hại phải chịu những tác động mạnh mẽ nhất từ hành vi phạm tội, dẫn đến có những đặc điểm tâm sinh lý sau:
Khi bị tội phạm xâm hại, người bị hại thường có trạng thái tâm lý không ổn định, tinh thần hoảng loạn, thậm chí mất khả năng điều khiển hành vi của mình. Đặc biệt, đối với bị hại là người dưới 18 tuổi, những đối tượng còn non nớt về tâm lý, tinh thần, sự ảnh hưởng đến tâm lý càng trở nên sâu sắc hơn. Trong một số vụ án, đặc biệt là án xâm hại tình dục trẻ em, mua bán trẻ em, các em do bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý, lo lắng, sợ hãi khi sự việc xảy ra, không muốn tiết lộ hoặc để cho người khác biết được bí mật đời tư của mình và những hậu quả mà các em đã phải gánh chịu. Thậm chí, trong những vụ án người bị hại chưa thành niên có mối quan hệ với người phạm tội (quan hệ tình cảm, quan hệ huyết thống…) nên có thể từ chối khai báo hoặc che giấu hành vi phạm tội cho người thân. Trong một số trường hợp, do người bị hại chưa thành niên bị đe dọa, cưỡng ép hoặc bị mua chuộc bằng vật chất nên đã không tố giác, không hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT), từ chối khai báo, từ chối giám định gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Mặt khác, do ở thời điểm này, tâm lý của các em còn non nớt nên khi bị xâm hại sẽ để lại những hậu quả rất nặng nề, không chỉ gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm thậm chí là tính mạng và sức khỏe của các em, mà còn tác động tiêu cực đến tâm lý, tình cảm, để lại dư chấn mạnh mẽ, ảnh hưởng lớn tới sự phát triển bình thường của các em sau này. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Từ những đặc điểm của bị hại là người dưới 18 tuổi cho thấy, do có sự phát triển chưa hoàn thiện về tâm, sinh lý của lứa tuổi, người dưới 18 tuổi có thái độ, nhận thức chưa hoàn chỉnh trong giao tiếp xã hội, đòi hỏi xã hội phải dành cho họ những đối xử phù hợp với lứa tuổi. Điều này đồng nghĩa với việc cần thiết phải có cơ chế riêng biệt trong Tố tụng hình sự khi xét xử các vụ án có bị hại là người dưới 18 tuổi.
- Chủ thể bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử
Cho dù là loại quan hệ pháp luật nào, chủ thể tiến hành tố tụng luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa các quy định của pháp luật vào thực tiễn. Trong Tố tụng hình sự, nhất là đối với những vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, việc đòi hỏi đội ngũ những người tiến hành tố tụng có đầy đủ các phẩm chất, năng lực, giữ công tâm và mực thước trong vai trò cầm cân nảy mực là một đòi hỏi thể hiện sự “khắt khe” trong việc lựa chọn người tiến hành tố tụng. Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định “Người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi”. Ngoài ra, để thống nhất trong việc áp dụng, Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 26/12/2018 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi cũng có đề cập về vấn đề này. Tuy nhiên, theo các tác giả, quy định này cần được hướng dẫn chi tiết và cụ thể hơn để bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong việc áp dụng. Bởi lẽ, nội dung của Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định một cách chung chung về người tiến hành tố tụng; cụ thể: “được đào tạo” hoặc “có kinh nghiệm”, “có hiểu biết cần thiết”, trong thực tiễn tố tụng, rất khó để xác định các vấn đề này.
- Về đối tượng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
Bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án về xâm hại sức, khỏe về bạo hành, về bị xâm hại tình dục….có đầy đủ các quyền như bị hại là người chưa thành niên. Bên cạnh đó họ còn được bảo đảm những quyền đặc thù để có thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình đó là: Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của con người nói chung trong đó có quyền của người dưới 18 tuổi. Đây là quyền hiến định. Do đó, bị hại là người chưa thành niên khi bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán sẽ được giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, kịp thời.
Quyền được điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với tâm lý, lứa tuổi. Hiện nay người chưa thành niên đặc biệt là bị hại trong các vụ án hình sự đã được các cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình như việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên đây là bước tiến lớn trong việc xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật cho hoạt động tố tụng phù hợp với tâm lí của người chưa thành niên như phòng lấy lời khai, phòng xử án thân thiện được quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC quy định về phòng xử án. Các cơ quan THTT không chỉ đứng dưới góc độ pháp luật mà còn phải đứng dưới góc độ chuyên môn như tâm lý học và giáo dục học để làm sáng tỏ nguyên nhân và bối cảnh giải quyết của vụ việc. Việc xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện với người dưới 18 tuổi là một trong những giải pháp bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án hình sự, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi được thể hiện trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và các văn bản mà Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện được thể hiện trong các văn bản pháp luật hình sự, Tố tụng hình sự, hàng loạt các chế định mang tính cá biệt nhằm đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Quyền ưu tiên được đảm bảo giữ bí mật thông tin cá nhân của người dưới 18 tuổi. Mọi hoạt động tố tụng liên quan đến người dưới 18 tuổi cần được tiến hành trong môi trường thuận tiện cho việc đảm bảo bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm của họ.
Quyền có sự hiện diện bắt buộc của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có hiểu biết về người dưới 18 tuổi đó là người đại diện, người bào chữa, người bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đại diện Nhà trường, Đoàn thanh niên và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải có mặt và tham gia đầy đủ các hoạt động tố tụng theo quyết định hoặc theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán khi được phân công tiến hành tố tụng, hội thẩm nhân dân phải nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dưới 18 tuổi đây là những người phải có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lí, đã được tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có sự tham gia của người dưới 18 tuổi.
1.1.3. Ý nghĩa bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
- Thể hiện sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện các Công ước quốc tế về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
Ở Việt Nam, việc tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế nói chung, trong đó có các điều ước quốc tế về quyền con người được quy định cụ thể trong Luật Điều ước quốc tế năm 2016. Theo Điều 76, Luật Điều ước quốc tế: “Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, phê duyệt kế hoạch thực hiện, quyết định biện pháp chỉ đạo, điều hành hoặc biện pháp khác để thực hiện điều ước quốc tế”.
Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á, thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990. Việc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em là cam kết chính trị mạnh mẽ của nước ta đảm bảo cho trẻ em có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Việc vận dụng các giá trị, tư tưởng tiến bộ của nhân loại về bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các Vụ án hình sự là một nỗ lực lớn của Đảng và Nhà nước, mặt khác đó là một thành tích được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Việc tham gia công ước này thể hiện quyết tâm cao độ của Việt Nam trong việc thúc đẩy và tôn trọng các nhân quyền cũng như các quy định của pháp luật quốc tế về nhân quyền. Việc vận dụng, phát triển các quan điểm chung của cộng đồng quốc tế có tính đến bối cảnh đặc thù về dân tộc, lịch sử, văn hóa, chính trị của nước toà án nhằm bảo vệ đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương trong xã hội. Việt Nam đã xây dựng Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Phát triển quan điểm của các quốc gia có nghĩa vụ hàng đầu trong việc bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi, Việt Nam đã đẩy mạnh nghiên cứu nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ của các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước như: Quốc hội, Chính Phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và trách nhiệm của các tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp; trách nhiệm của thiết chế truyền thông, báo chí trong định hướng dư luận xã hội liên quan đến vấn đề này.
Đảng và Nhà nước đã nghiên cứu để giám sát và ngăn ngừa tình trạng vi phạm quyền con người, ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân trên các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt trong tư pháp hình sự, bảo vệ quyền của người tham gia tố tụng là bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án hình sự và có sự hỗ trợ kịp thời đối với nạn nhân khi xảy ra vụ việc. Mặt khác, đã hướng tới xây dựng cơ quan chuyên trách về quyền con người, phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam.
Những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã chủ động tham gia vào các diễn đàn và hoạt động quyền con người khu vực cũng như toàn cầu. Đảng toà án luôn khẳng định, việc bảo đảm quyền con người là một mục tiêu, động lực của cách mạng, là trách nhiệm lớn của Đảng và Nhà nước.
- Góp phần thực thi hiệu quả quyền của người bị hại dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý, là những đối tượng dễ bị tổn thương, vì vậy trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi cần phải bảo đảm quyền và lợi ích của họ theo quy định pháp luật. Xuất phát từ ý nghĩa nhân văn, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã dành hẳn một chương với tên gọi “Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi” nằm trong phần thứ bảy “Thủ tục tố tụng đặc biệt” với nhiều nội dung mới được sửa đổi, bổ sung. Dù tham gia với tư cách nào thì người chưa thành niên cũng được hưởng sự bảo vệ đặc biệt:
Một là, sự bảo vệ chung như những người tham gia tố tụng khác;
Hai là, sự bảo vệ đặc biệt dành riêng cho người chưa thành niên, đặc biệt là trẻ em tham gia Tố tụng hình sự. Các chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước toà án đối với người dưới 18 tuổi đã và đang làm hài hòa các văn kiện quốc tế về người chưa thành niên mà Việt Nam là thành viên như Công ước quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế khác có liên quan, như Nghị định thư không bắt buộc của Công ước quyền trẻ em về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em, Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hợp quốc về quản lý tư pháp người chưa thành niên. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Thực tiễn hiện nay cho thấy những vụ án có bị hại là người dưới 18 tuổi ngày càng diễn biến phức tạp, nhất là tội phạm về bạo hành về xâm hại tình dục về quy mô và cách thức thực hiện. Đây là vấn nạn trên toàn Việt Nam, hậu quả mà các em gánh chịu là những tổn thất về sức khỏe thể chất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập, hòa nhập xã hội và thậm chí có thể hủy hoại tương lai của các em. Trong nhiều năm qua, Nhà nước và các cơ quan ban ngành đã có nhiều biện pháp để phòng chống, giảm thiểu và đẩy lùi hiện tượng bạo hành và xâm hại trẻ em này.
- Góp phần thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội, Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân theo phương hướng: Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước toà án ký kết” [3].
Hiện nay, sự tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đến công tác bảo đảm quyền con người, nhất là bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án, vẫn chuyển biến theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực. Trong điều kiện như vậy, công tác này đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Để có được điều đó là do các chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền con người, trước hết và chủ yếu là Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội, đã tích cực và chủ động thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền con người; hệ thống thiết chế và thiết chế bảo đảm quyền con người được xây dựng theo hướng hoàn thiện; sự tham gia tích cực của con người và các tổ chức xã hội vào công tác bảo đảm quyền con người.
Việc bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân trên thực tế còn tồn tại nhiều bất cập về tổ chức, hoạt động của một số thể chế liên quan đến quyền con người. Chính việc nhìn nhận những mặt tích cực và tiêu cực như vậy sẽ cho phát huy được những mặt tích cực, đồng thời đề ra được những giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay, nhất là bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.
1.2. CÁC NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Trách nhiệm của Cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cơ quan Tòa án nói riêng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Vụ án hình sự có người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi là phải bảo đảm thực hiện các nguyên tắc tiến hành Tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi.
Các nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là những nội dung hoàn toàn mới mà định hướng của nó xuyên suốt toàn bộ các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi. Bằng việc quy định các nguyên tắc này, Bộ luật Tố tụng hình sự đã góp phần hoàn thiện cơ chế tố tụng để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn xử lý các vụ án có người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng, đồng thời bảo đảm sự tương thích với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, đồng bộ với Luật Trẻ em. Các nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 414 chương XXXII, Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều luật này đã quy định đầy đủ, toàn diện 07 nguyên tắc mà cơ quan, người tiến hành tố tụng phải quán triệt,tôn trọng và nghiêm túc thực hiện khi tiến hành tố tụng đối với những vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, trong đó, có 06 nguyên tắc cần được bảo đảm áp dụng trong hoạt động xét xử các Vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi là người bị hại [39]. Các nguyên tắc đó gồm:
1.2.1. Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi
Khi tiến hành tố tụng, cơ quan Tòa án nói riêng và các cơ quan tố tụng nói chung phải tuân thủ các quy định về thủ tục đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi sao cho bảo đảm các quyền và lợi ích tốt nhất cho họ. Các quy định về thủ tục tố tụng cần bảo đảm sự thân thiện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi của người dưới 18 tuổi. Như vậy, khi áp dụng quy định của pháp luật về các thủ tục Tố tụng hình sự, ngoài việc cần bảo đảm thực thi công lý, thì việc xử lý người phạm tội của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chú trọng đến việc bảo vệ lợi ích tốt nhất cho đối tượng bị xâm hại là người dưới 18 tuổi, người phạm tội phải bị nghiêm trị để mang lại công lý, niềm tin cho người dưới 18 tuổi.
1.2.2. Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Nguyên tắc này được dựa trên quy định của chuẩn mực quốc tế: “Mọi điều riêng tư của trẻ em phải được hoàn toàn tôn trọng trong mọi giai đoạn tố tụng” và “Quyền riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng trong tất cả các giai đoạn tố tụng, nhằm tránh những tổn hại gây ra do sự công khai hóa quá mức hay do sự quy chụp”. Thực tiễn cho thấy, việc giữ bí mật cá nhân cho người dưới 18 tuổi là người bị hại rất quan trọng, bởi họ đang ở độ tuổi phát triển, cần được bảo vệ nhân cách và phẩm giá cũng như sự an toàn và phúc lợi của họ. Việc để lộ thông tin về người bị hại là người dưới 18 tuổi ra công luận có thể gây ra những hậu quả hết sức nặng nề.
Quyền riêng tư là một trong những quyền con người, quyền công dân cơ bản được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quyền riêng tư đối với trẻ em lại càng được đặc biệt chú trọng vì trẻ em thuộc nhóm yếu thế, chưa phát triển đầy đủ về nhận thức, thể chất để có thể tự bảo vệ mình trước các hành vi tác động, xâm hại đến mình.
Điều 21 Luật Trẻ em năm 2016 đã quy định: “1. Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. 2.Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư”. Để đảm bảo thực thi các chính sách về trẻ em, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 9/5/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em. Trong đó, Điều 33 của Nghị định giải thích rõ thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em là các thông tin về tên, tuổi; đặc điểm nhận dạng cá nhân; thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án; hình ảnh cá nhân; thông tin về các thành viên trong gia đình; người chăm sóc trẻ em; tài sản cá nhân; số điện thoại; địa chỉ thư tín cá nhân; địa chỉ, thông tin về nơi ở, quê quán…Do đó, bảo đảm giữ bí mật cho người dưới 18 tuổi trong các Vụ án hình sự không những là trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, mà còn là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức khi tham gia tiến hành tố tụng, trong đó có cơ quan Tòa án.
1.2.3. Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, Đoàn Thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt
Việc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án của các cá nhân, tổ chức xã hội…sẽ bảo đảm cho người dưới 18 tuổi được hỗ trợ về mặt tinh thần (có thể cả về pháp lý), ổn định về tâm sinh lý cho người dưới 18 tuổi, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời có thể hạn chế được sự lạm quyền hoặc vi phạm pháp luật của những người tiến hành tố tụng.
1.2.4. Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi
Nguyên tắc này được dựa trên quy tắc tối thiểu của Liên Hiệp Quốc. Đó là: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về mọi vấn đề tác động đến trẻ em và những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích đáng…”. Với mục đích đó, người dưới 18 tuổi phải được đặc biệt trao cơ hội để nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng nào có liên quan đến họ, trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp. Và mặc dù người dưới 18 tuổi đã có người bào chữa và người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho họ nhưng khi tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, cụ thể ở đây là Hội đồng xét xử cần phải tôn trọng những ý kiến của họ về các thủ tục tố tụng.
1.2.5. Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi
Quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý là những quyền đặc biệt của người dưới 18 tuổi. Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý, sự nhận thức của người dưới 18 tuổi về mặt pháp luật còn hạn chế, người dưới 18 tuổi có quyền nhờ luật sư, người đại diện, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do vậy, Tòa án (Hội đồng xét xử) cần phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo quyền bào chữa cho người dưới 18 tuổi là người bị hại. Tôn trọng và bảo đảm quyền bào chữa có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng xét xử và việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
1.2.6. Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi
Việc giải quyết các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi là người bị hại cần được giải quyết nhanh chóng, kịp thời, điều này vừa nhằm mục đích bảo đảm các quyền lợi tốt nhất cho người dưới 18 tuổi, đồng thời bảo đảm bảo vệ bí mật đời tư của người bị hại là người dưới 18 tuổi bị các hành vi phạm tội xâm hại.
1.3. NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN
1.3.1. Quy định về việc tham gia tố tụng của luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là người dưới 18 tuổi
Quyền được bào chữa, được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi là yêu cầu bắt buộc. Quyền này được quy định trong Hiến pháp, Luật Trẻ em, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Trợ giúp pháp lý…Cụ thể hóa quy định bảo đảm việc tham gia tố tụng của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, Điều 10 Thông tư liên tịch số 06/2018 đã quy định: “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo cho người bị hại dưới 18 tuổi, người đại diện hoặc người thân thích của họ về việc mời người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ khi tham gia tố tụng”; trường hợp những người này không mời thì tùy trường hợp Cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết như sau: Chỉ định người bào chữa nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Yêu cầu Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cử người thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 của Thông tư này; Yêu cầu cơ quan, tổ chức có người bị hại là thành viên cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Người dưới 18 tuổi là nhóm người đang trong quá trình phát triển cả về tâm lý, sinh lý và ý thức, với kinh nghiệm cuộc sống còn ít ỏi, khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật còn có những hạn chế. Người dưới 18 tuổi khó tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào một số quan hệ pháp luật nhất định, trong đó có quan hệ pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Do đó, khi tham gia vào hoạt động Tố tụng hình sự với tư cách người bị hại, người dưới 18 tuổi là chủ thể đặc biệt, rất cần những cơ chế đặc thù để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Vì vậy, pháp luật Tố tụng hình sự đã dành những quy định riêng về thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi là bị hại nhằm tránh làm tổn thương, giảm thiểu những hậu quả tiêu cực mà quá trình tố tụng có thể gây ra cho họ, tạo điều kiện để người bị hại là người dưới 18 tuổi có thể nhanh chóng trở lại cuộc sống bình thường sau khi tham gia quá trình Tố tụng hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định 1 chương riêng (Chương XXVIII) gồm 18 điều, từ Điều 413 đến Điều 430 quy định về “Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi” nhằm giải quyết những Vụ án hình sự có liên quan đến người tham gia tố tụng là NCTN.
Các cơ quan chức năng đã ban hành 03 Thông tư quy định về vấn đề này, đó là:
- Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về phòng xử án (sau đây gọi là Thông tư số 01/2017/TT- Tòa án nhân dân tối cao);
- Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án án TANDTC “Quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa án gia đình và người chưa thành niên”(sau đây gọi là Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC);
- Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP- BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định về thủ tục tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 06/2018).
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn nói trên, thì khi tiến
1.3.2. Quy đinh về phân công người tiến hành tố tụng Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Đối với các Vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi là người bị hại, quy định người tiến hành tố tụng có những sự khác biệt nhất định so với vụ án không có người dưới 18 tuổi. Việc phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử Vụ án hình sự có bị hại là người dưới 18 tuổi phải đáp ứng điều kiện của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về người tiến hành tố tụng các Vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi (Điều 415), phải là “người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi”. Điều này được cụ thể hóa tại Thông tư liên tịch số 06/2018 và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC quy định chi tiết việc xét xử Vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa Gia đình và người chưa thành niên (Tòa GĐ&NCTN) thì Thẩm phán khi được phân công giải quyết vụ án có người dưới 18 tuổi phải đảm bảo có ít nhất một trong các điều kiện sau:
- Có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi;
- Đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi;
1.3.3. Quy định về việc xác định tuổi của người bị hại dưới 18 tuổi
Để có căn cứ áp dụng đúng chính sách về trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thì việc xác định tuổi của người bị hại dưới 18 tuổi là một yêu cầu bắt buộc trong giai đoạn nghiên cứu hồ sơ vụ án.
Theo Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018, việc xác định tuổi của người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:
- Giấy chứng sinh;
- Giấy khai sinh;
- Chứng minh nhân dân;
- Thẻ căn cước công dân;
- Sổ hộ khẩu;
- Hộ chiếu.
Trường hợp các giấy tờ, tài liệu này có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện người thân thích, nhà trường, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh thì tùy từng trường hợp cụ thể cần căn cứ khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xác định tuổi của họ: Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh; Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh; Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh; Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.
Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi (khoản 3 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).
Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ. Ví dụ: Kết luận giám định A có độ tuổi trong khoảng từ 13 tuổi 06 tháng đến 14 tuổi 02 tháng thì xác định tuổi của A là 13 tuổi 06 tháng.
1.3.4. Quy định về việc tham gia tố tụng của đại diện, nhà trường và các tổ chức chính trị – xã hội
Việc tham gia của người đại diện, nhà trường và tổ chức của người dưới 18 tuổi là rất quan trọng để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, cũng như trợ giúp cho người dưới 18 tuổi về tâm lý, đồng thời cũng có thể giám sát được hoạt động của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người đại diện nói chung và người đại diện của người dưới 18 tuổi nói riêng là người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 20 Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đây là điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, vì trước đây Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định người đại diện là người tham gia tố tụng. Khoản 1 Điều 420 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Người đại diện của người dưới 18 tuổi là thầy giáo, cô giáo, đại diện của nhà trường, Đoàn Thanh niên, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của Tòa án”. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định cụ thể về người đại diện của người dưới 18 tuổi gồm có những ai. Do đó, khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 06/2018 đã hướng dẫn như sau: “Người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự.
Người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi được xác định theo thứ tự sau đây:
- Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi;
- Người giám hộ;
- Người do Tòa án chỉ định”.
Người giám hộ của người dưới 18 tuổi là người giám hộ đương nhiên hoặc người được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 8 tuổi cư trú hoặc Tòa án chỉ định theo quy định tại các Điều 46, 47, 48 và 54 Mục 4 Chương III của Bộ luật Dân sự. Người giám hộ đương nhiên của người bị hại dưới 18 tuổi: theo quy định tại điểm a,b Điều 47 BLDS năm 2015 thì trường hợp người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha,mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ thì có người giám hộ đương nhiên, Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được xác định theo quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015. Cụ thể là việc xác định người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên theo thứ tự sau đây: Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
- Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ;
- Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ;
- Trường hợp không có người giám hộ như hai trường hợp trên thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.
Ngoài ra, người giám hộ của người bị hại chưa thành niên được Ủy ban nhân dân cấp xã cử được thực hiện theo Điều 54 của BLDS năm 2015 hoặc người giám hộ, người đại diện do Tòa án chỉ định khi có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52, 53 của BLDS; tranh chấp về việc cử người giám hộ theo Điều 54 của BLDS.
Về quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho người bị hại là người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng theo quyết định của Tòa án được quy định trong nhiều điều khoản khác nhau của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Điều 331, 338, 418, 420, 421, 422, 423, 469, 470.
Người đại diện tham gia phiên tòa được quy định bao gồm: Người đại diện của người dưới 18 tuổi; Đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi lao động, sinh hoạt. Trường hợp vắng vì lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan lần thứ nhất, lần thứ hai thì Tòa án phải hoãn phiên tòa. Trường hợp những người này vắng mặt lần thứ hai không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan nhưng để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi thì Tòa án cũng có thể hoãn phiên tòa3. Những người này phải có mặt tại phiên tòa theo quyết định của Tòa án.
1.3.5. Quy định về cách thức tổ chức phiên tòa xét xử có người bị hại là người dưới 18 tuổi
Về thẩm quyền: Trong giai đoạn xét xử, thực hiện nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng hình sự: bảo đảm xét xử thân thiện, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC quy định về phòng xử án và Thông tư số 02/2018/TT- Tòa án nhân dân tối cao ngày 21/9/2018 quy định chi tiết việc xét xử Vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa Gia đình và người chưa thành niên. Theo các quy định này, thẩm quyền xét xử các Vụ án hình sự có bị hại là người dưới 18 tuổi được xác định như sau: Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Đối với Tòa án đã thành lập Tòa GĐ&NCTN, các “Vụ án hình sự mà bị cáo là người đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác” thì xét xử tại Phòng xử án hình sự của Tòa GĐ&NCTN.
Đối với Tòa án chưa thành lập Tòa GĐ&NCTN, thì khi xét xử các Vụ án hình sự nói trên “phòng xử án phải được bố trí thân thiện, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi”.
Đối với các vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi theo các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 Bộ luật hình sự được hướng dẫn theo Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Xét xử tại Phòng xét xử thân thiện.
- Cách bố trí phòng xử án:
Phòng xét xử của Tòa GĐ&NCTN: Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC quy định về Phòng xét xử của Tòa GĐ&NCTN khác hoàn toàn so với các phòng xét xử khác. Trong phòng xử án, vị trí của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phiên họp trong phòng xử án được “bố trí trên cùng một mặt phẳng, sắp xếp theo hình thức bàn tròn; tường trong phòng xử án có màu xanh”. Bàn, ghế trong phòng xử án được thiết kế theo kiểu dáng bàn, ghế văn phòng. Người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng tại phiên tòa được ngồi cạnh người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Việc bố trí phòng xử án theo không gian mới như trên sẽ tác động tâm lý tốt tới người dưới 18 tuổi, không làm họ hoảng sợ. Việc tổ chức phiên tòa theo hình thức này sẽ tốt hơn việc xét xử vụ án tại hội trường thông thường.
Phòng xét xử bố trí thân thiện: Đối với các Tòa án chưa có Phòng xét xử thân thiện thì khi xét xử các vụ án quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC, phòng xử án phải được bố trí thân thiện, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi.
- Về trang phục: Khi xét xử những vụ án có bị hại dưới 18 tuổi tham gia tố tụng được thực hiện theo Quyết định số 1738/QĐ-TANDTC ngày 23/11/2017 Ban hành quy chế cấp phát, sử dụng quản lý trang phục, giấy chứng minh Thẩm phán, giấy chứng nhận chức danh tư pháp, giấy chứng nhận Tòa án nhân dân, trang phục khi xét xử các Vụ án hình sự có bị hại là người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng thì Thẩm phán mặc trang phục làm việc hành chính của Tòa án nhân dân: áo trắng, quần tối màu (không mặc áo choàng).
- Quy định về xét xử các vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi theo các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 Bộ luật hình sự năm 2015: Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Đối với những vụ án có người bị hại dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán thì Tòa án phải xét xử kín; đối với những vụ án khác có yêu cầu của người dưới 18 tuổi, người đại diện của họ hoặc để giữ bí mật đời tư, bảo vệ người dưới 18 tuổi thì Tòa án cũng có thể xử kín nhưng phải tuyên án công khai. Khi tuyên án, Hội đồng xét xử chỉ đọc phần quyết định trong bản án.
Tòa án cần hạn chế triệu tập bị hại đến phiên tòa nếu vẫn giải quyết được vụ án bằng việc áp dụng các biện pháp thay thế khác (ví dụ: sử dụng lời khai của họ ở giai đoạn điều tra, truy tố; mời họ đến Tòa án hoặc địa điểm hợp pháp khác để lấy lời khai trước bằng văn bản, bằng ghi âm, ghi hình có âm thanh…);
Trường hợp phải triệu tập bị hại đến phiên tòa, Tòa án cần tạo điều kiện để họ làm quen, tiếp xúc với môi trường Tòa án, với quy trình và thủ tục xét xử; bố trí cho họ ngồi ở phòng cách ly và sử dụng các thiết bị điện tử (ví dụ: micro, loa, ti vi, camera…) để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của họ khi họ khai báo, tham gia tố tụng tại phiên tòa; trường hợp không bố trí được phòng cách ly thì để họ ngồi ở phòng xử án nhưng phải có màn che ngăn cách với khu vực của bị cáo và khoảng cách giữa Hội đồng xét xử với người bị hại không quá 03 mét. Trong các vụ án xâm hại tình dục đối với trẻ em, Tòa án cần bố trí khu vực riêng cho người bị hại, tránh để bị tiếp xúc với bị cáo làm ảnh hưởng đến tâm lý của bị hại trong quá trình xét xử và về sau, đồng thời cũng đảm bảo lời khai khách quan của các bị hại;
Câu hỏi đối với bị hại là người dưới 18 tuổi phải phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển, trình độ văn hóa, hiểu biết của họ. Câu hỏi cần ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu; không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc; chỉ đặt câu hỏi làm rõ tình tiết vụ án; không đặt câu hỏi chỉ để tranh luận. Câu hỏi đối với bị hại dưới 10 tuổi không quá 10 từ và thời gian hỏi không liên tục quá 01 giờ. Tránh việc yêu cầu bị hại tường thuật lại chi tiết quá trình phạm tội;
Sử dụng sơ đồ hoặc mô hình cơ thể có đánh số thứ tự các bộ phận để người bị hại là người dưới 18 tuổi xác định các bộ phận bị xâm hại. Không được xác định bộ phận xâm hại bằng cách để bị hại chỉ trực tiếp vào bộ phận cơ thể của mình hoặc của người khác;
Khi bị cáo đề nghị được hỏi bị hại là người dưới 18 tuổi, thì phải chuyển câu hỏi cho người bào chữa hoặc Hội đồng xét xử hỏi. Không được để bị hại và bị cáo đối chất tại phiên tòa;
Tòa án phải xem xét và đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp theo quy định tại Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự khi bị hại, người thân thích của bị hại yêu cầu hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kiến nghị bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và người thân thích của họ.
Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật nói chung và chính sách pháp luật hình sự đã cơ bản hoàn thiện, các quyền con người được tôn trọng, bảo vệ và đặc biệt là các quyền trẻ em. Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có sự điều chỉnh mạnh mẽ về tư pháp người dưới 18 tuổi nói chung; trong đó cùng với việc tiếp tục bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi với những quy định hết sức cụ thể. Mặc dù vậy, chính sách hình sự mới chỉ tập trung điều chỉnh các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội, còn trong trường hợp người dưới 18 tuổi là người bị xâm hại thì vẫn còn thiếu những quy định chuyên biệt, cần tiếp tục được các nhà làm luật nghiên cứu, bổ sung.
1.4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
1.4.1. Chất lượng của hệ thống pháp luật
Chất lượng của hệ thống pháp luật là một trong những cơ sở để bảo đảm cho việc thực hiện và áp dụng pháp luật đạt được kết quả cao trong thực tiễn, chất lượng pháp luật càng tốt thì việc bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con người trong xét xử các vụ án hình sự nói riêng được tốt hơn. Ngược lại nếu chất lượng của pháp luật thấp, tính khả thi kém thì việc thực hiện chúng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, khi đó quyền của con người không được bảo đảm, có thể bị xâm hại trực tiếp đến quyền của con người.
Có nhiều tiêu chí để xác định chất lượng của hệ thống pháp luật trong đó có các tiêu chí cơ bản là: Tính toàn diện, đồng bộ; tính thống nhất, tính phù hợp, ngôn ngữ, kỹ thuật xây dựng pháp luật và tính khả thi của hệ thống pháp luật.
1.4.2. Chất lượng đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng và tổ chức, hoạt động của các cơ quan tố tụng
Nhằm đảm bảo vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Đảng và Nhà nước ta đề ra chủ trương, đường lối đối mới, cải cách toàn diện hệ thống chính trị theo hướng tinh giảm gọn nhẹ, nâng cao năng lực, tăng cường trách nhiệm, trong đó cải cách hệ thống các cơ quan tư pháp với trọng điểm là 03 cơ quan: Công an – Viện kiểm sát – Tòa án.
Về cơ quan điều tra: Cơ quan điều tra chủ yếu thuộc cơ quan hành pháp nên chưa bảo đảm tính độc lập trong hoạt động điều tra, xử lý tội phạm. Không có cơ quan được giao trách nhiệm đầu mối quản lý toàn bộ tố giác, tin báo về tội phạm.
Việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm chỉ giao cho Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là chưa phù hợp. Hầu hết cơ quan điều tra nước ta không độc lập như các nước mà tổ chức bên trong bộ máy hành chính và phụ thuộc vào bộ máy hành chính. Thủ trưởng cơ quan điều tra vừa là người tiến hành tố tụng đồng thời vừa là người lãnh đạo bộ máy hành chính nên trong nhiều trường hợp không có sự tách bạch rành mạch giữa quan hệ hành chính với tính chất là “quyền uy – phục tùng” với quan hệ tố tụng tư pháp có tính chất là “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Quy định về việc phân công tiến hành tố tụng giữa Thủ trưởng với Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, giữa Viện trưởng và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, giữa Chánh án và Phó Chánh án Toà án (các Điều 34, Điều 36 và Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự) còn chưa cụ thể, rõ ràng. Trong mọi trường hợp, việc tiến hành tố tụng của cấp Phó đều là thực hiện thay cấp Trưởng, theo sự phân công của cấp Trưởng. Việc cấp Phó ký thay cấp Trưởng đã dẫn đến vướng mắc khi cấp Trưởng thay đổi, huỷ bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của cấp Phó gặp nhiều khó khăn.
Về cơ quan Viện kiểm sát: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chưa có quy định đề cập trực tiếp đến việc tranh tụng; cơ chế để bảo đảm thực hiện việc tranh tụng cũng chưa được quy định trong Bộ luật này. Về thực tiễn, đội ngũ kiểm sát viên, luật sư và các chức danh tư pháp khác chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng tranh tụng; chưa có kinh nghiệm thực tiễn về tranh tụng nên việc tranh luận, đối đáp tại phiên tòa giữa các bên chưa đi vào trọng tâm các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, làm hạn chế chất lượng, hiệu quả hoạt động tranh tụng; các chủ thể tranh tụng còn chịu ảnh hưởng của thói quen và kinh nghiệm tham gia phiên tòa theo quy định cũ. Bên cạnh đó, số vụ án có luật sư tham gia chiếm tỷ lệ thấp; vẫn còn xảy ra tình trạng vắng mặt luật sư tại phiên tòa, dẫn đến Tòa án phải hoãn phiên tòa, kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Về cơ quan Tòa án: Hiệu quả của hoạt động tư pháp thể hiện chủ yếu ở hoạt động xét xử của tòa án. Trên thực tế, công tác xét xử vẫn còn xảy ra tình trạng một số bản án phải cải sửa, hoặc tính thuyết phục chưa cao, gây xôn xao dư luận. Nguyên nhân chính, ngoại trừ các yếu tố về tính công tâm, trách nhiệm, trình độ chuyên môn của đội ngũ thẩm phán, phải kể đến vai trò tham gia tố tụng của đội ngũ luật sư. Điều này được thể hiện, vẫn còn những lời bào chữa, tranh tụng của luật sư chưa thuyết phục, chưa sắc sảo, chỉ mang tính thủ tục, hình thức.
Tòa án là cơ quan xét xử nhưng lại đang được pháp luật giao thực hiện một số thẩm quyền không phù hợp với chức năng xét xử, ảnh hưởng đến yêu cầu bảo đảm sự khách quan trong Tố tụng hình sự như: Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cho Tòa án được xét xử về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố (Điều 196) là không phù hợp vì Viện kiểm sát không truy tố thì Hội đồng xét xử không có căn cứ để xét xử bị cáo, mặt khác ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền bào chữa của bị cáo.
Thẩm quyền xét xử của Toà án trong một số trường hợp chưa được Bộ luật điều chỉnh, Điều 171 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án theo lãnh thổ đối với bị cáo phạm tội ở nước ngoài, còn đối với trường hợp vụ án có người bị hại là người nước ngoài, hoặc tài sản có liên quan đến người nước ngoài hoặc có nhiều bị cáo là người nước ngoài thì chưa quy định. Điều luật cũng chưa dự liệu Tòa án nào có thẩm quyền xét xử đối với trường hợp một bị can, bị cáo nhưng thực hiện tội phạm ở nhiều địa phương khác nhau. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Tình trạng ngân sách không đủ cho hoạt động tòa án lại khá cao. Cụ thể, nhiều tòa án không đủ ngân sách để trả phí luật sư tham gia các vụ án bào chữa chỉ định, không đủ chi phí xét xử lưu động. Không những thế, cơ chế “khoán chi” đối với các hoạt động hành chính của tòa án cũng được áp dụng phổ biến ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng xét xử. Thực tế, cơ chế khoán chi chỉ phù hợp với hoạt động hành chính bởi các hoạt động đó có thể dự liệu trước do tính đơn giản và lặp lại của chúng. Ngược lại, các hoạt động tư pháp phụ thuộc rất nhiều vào mức độ phức tạp, tính chất của từng loại vụ án nên khó có thể áp dụng cơ chế khoán [369]
Vai trò, trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân chưa cao chủ yếu là do kiêm nhiệm, cơ cấu Hội thẩm theo từng lĩnh vực (như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, tài chính, hưu trí…). Mặc dù đã có quy định trách nhiệm của hội thẩm nhân dân nhưng những quy định thực chất là hình thức và thiếu tính thực tiễn. Hội thẩm nhân dân không phải chịu trách nhiệm hành chính nào liên quan đến chất lượng xét xử. Vì thế, dù luôn chiếm đa số trong Hội đồng xét xử và các phán quyết của Hội đồng xét xử được quyết định theo đa số, nhưng trên thực tế không tránh khỏi khi xét xử các hội thẩm bị phụ thuộc vào ý kiến của thẩm phán.
1.4.3. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp
Trong quá trình thực hiện việc thi hành án, tổ chức thi hành án, một số hạn chế xuất phát từ một số quy định của pháp luật, cụ thể như: Việc ghi nhận cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị án bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo là nơi người đó thường trú (Khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự) là chưa phù hợp với bối cảnh hiện nay, nhất là đối với các trường hợp người bị kết án có chỗ ở không ổn định, thường xuyên di chuyển, gây khó khăn, trở ngại ảnh hưởng đến quyền sinh sống, quyền cư trú của họ.
Công tác giám định tư pháp còn bất cập như không ra quyết định kịp thời, nội dung của quyết định trưng cầu giám định chưa đầy đủ, còn yêu cầu cơ quan giám định giải đáp, kết luận các vấn đề mang tính pháp lý; một số cơ quan được trưng cầu giám định từ chối, né tránh; thời gian giám định còn dài, nhiều kết luận giám định chưa rõ ràng, chính xác, dẫn đến phải giám định lại hoặc giám định bổ sung, ảnh hưởng đến tiến độ điều tra, xử lý vụ án, thậm chí phải tạm đình chỉ hoặc không xử lý được.
Nhiều lĩnh vực chuyên môn chưa có cơ quan giám định chuyên trách và người giám định thuộc chuyên môn đó nên các cơ quan tố tụng lúng túng trong việc trưng cầu giám định. Quy định diện người bào chữa còn hẹp, không bao gồm Trợ giúp viên pháp lý, người thân thích của bị can, bị cáo có khả năng bào chữa, trong khi đó quy định về bào chữa viên nhân dân chưa cụ thể nên hầu như không được áp dụng trong thực tiễn; quy định về người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không cụ thể, rõ ràng nên thực tiễn áp dụng không thống nhất. Quy định cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa theo từng giai đoạn tố tụng là không cần thiết, rườm rà về thủ tục, lãng phí thời gian, giấy tờ (Điều 56 Bộ luật Tố tụng hình sự).
1.4.4. Cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan tư pháp Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
Công tác phối hợp giữa các cơ quan Tư pháp được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời và nghiêm túc trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật. Sự phố hợp hoạt động giữa các cơ quan tư pháp giúp đem lại những kết quả, ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao chất lượng công tác tư pháp. Cụ thể, về các cơ quan có hoạt động tư pháp đã thường xuyên phối hợp xây dựng và tham gia nhiều dự án luật, pháp lệnh, đặc biệt là các dự án luật liên quan đến hoạt động của cơ quan tư pháp như Bộ luật hình sự, Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước… Các dự án luật đều được xây dựng bảo đảm tiến độ, chất lượng và sự thống nhất cao của các Cơ quan tiến hành tố tụng. Các cơ quan đã chú trọng phối hợp trong công tác ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, qua đó tháo gỡ nhiều vướng mắc trong áp dụng pháp luật của các Cơ quan tiến hành tố tụng, thi hành án địa phương, đảm bảo áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Sự phố hợp chặt chẽ hoạt động giữa các cơ quan tư pháp giúp hạn chế tối đa những trường hợp bị oan sai, không bỏ lọt tội phạm và đảm bảo cho việc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
1.4.5. Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động xét xử
Thực hiện Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ, đổi mới tác phong công tác, ngành Toà án tỉnh cũng chú trọng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hoạt động chuyên môn.
Nhằm nâng cao chất lượng công tác xét xử, một trong những yêu cầu của Nghị quyết là phải bảo đảm tính trang trọng, nghiêm minh của phiên xét xử và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đến dự phiên toà. Muốn vậy, ngoài tác phong, thái độ của các đối tượng tham gia tố tụng, điều kiện cơ sở vật chất mà chủ yếu là hội trường xét xử đóng vai trò không nhỏ. Việc đầu tư kinh phí cải tạo trụ sở làm việc với đầy đủ các phòng chức năng: Hội trường xét xử, phòng nghị án, phòng lấy lời khai đương sự, phòng làm việc cho cán bộ, thẩm phán… Hội trường xét xử nhìn chung đảm bảo về diện tích và được bài trí sắp xếp theo quy định: Khu vực làm việc của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác được bố trí riêng biệt, hợp lý; nhân dân đến dự phiên toà được bố trí ghế ngồi… Trong điều kiện nguồn kinh phí của Tòa án nhân dân Tối cao có hạn, ngành cũng rất cần sự quan tâm đầu tư của chính quyền các địa phương để đồng bộ hoá trụ sở làm việc của Tòa án nhân dân theo quy chuẩn.
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, luận văn đã khái quát cơ sở lý luận về bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong xét xử của tại Tòa án nhân dân, trong đó nêu bật các khái niệm công cụ về bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân; đặc điểm, ý nghĩa bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của tòa án; nội dung quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của tòa án.
Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về quyền con người và bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi qua thực tiễn xét xử ở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; những tồn tại, hạn chế bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân cũng như những nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế đó.
Những cơ sở lý luận tại Chương 1 sẽ làm tiền đề để phân tích, đánh giá thực trạng thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại Chương 2. Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi