Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thi hành pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Đặc điểm tỉnh hình tỉnh Đắk Lắk có ảnh hưởng thi hành pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk

2.1.1. Tình hình tự nhiên, kinh tế – xã hội thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk với diện tích 13.125,4 km2 nằm trên địa bàn Tây Nguyên, phía bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Đắk Nông. Là tỉnh có đường biên giới dài 70km chung với nước Campuchia, trên đó có quốc lộ 14C chạy dọc theo biên giới hai nước rất thuận lợi cho việc phát triển vùng biên kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng.

Tỉnh Đắk Lắk có 49 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 35,7% dân số. Giai đoạn 2021-2025, Đắk Lắk có 54 xã Khu vực III, 5 xã Khu vực II, 71 xã, phường, thị trấn thuộc Khu vực I; 519 thôn Đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hiện toàn tỉnh có 496.387 hộ, trong đó có 154.144 hộ đồng bào dân tộc thiểu số (theo chương trình thống kê khảo sát năm 2021 của Ban Dân tộc tỉnh Đắk Lắk).

Thị xã Buôn Hồ được thành lập vào ngày 23/12/2008 theo Nghị định số 07/NĐ-CP của Chính phủ, là đô thị trung tâm có vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật của khu vực phía Bắc tỉnh Đắk Lắk, có vị trí an ninh quốc phòng đặc biệt quan trọng nằm ở phía Đông Bắc của thành phố Buôn Ma Thuột, cách trung tâm tỉnh Đắk Lắk 40km về phía Đông Bắc, chạy dọc theo Quốc lộ 14: Phía Đông giáp huyện Krông Năng, Ea Kar; Phía Tây giáp huyện Cư M’Gar; Phía Nam giáp huyện Krông Pắk; Phía Bắc giáp huyện Krông Búk. Bên cạnh đó Thị xã Buôn Hồ còn có các tuyến quốc lộ huyết mạch nối liền các tỉnh Gia Lai, Kon Tum với Thành phố Buôn Ma Thuột. Hệ thống giao thông thuận lợi, đường ô tô đến hầu hết các trung tâm đông dân cư theo tuyến Quốc lộ 14, quốc lộ 29 và các tuyến đường liên xã, liên phường, thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa, dịch vụ thương mại. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thị xã Buôn Hồ có 28.205,89 ha diện tích tự nhiên và 101.554 nhân khẩu, có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các phường: Đạt Hiếu, An Lạc, An Bình, Thiện An, Đoàn Kết, Thống Nhất, Bình Tân và các xã: Ea Siên, Ea Drông, Ea Blang, Bình Thuận, Cư Bao. Trên địa bàn thị xã có 22 dân tộc anh em cùng sinh sống như Ê Đê, Gia Rai, Kinh, Tày, Nùng…đã tạo nên một nền văn hóa phong tục đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc.

Thị xã Buôn Hồ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng cho vùng Cao nguyên Nam Trung Bộ, mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.700 mm, nhiệt độ trung bình là 23,4 độ C rất thuận lợi cho các loại cây công nghiệp như cà phê, cao su, ca cao, tiêu và cây lương thực như ngô lai, đậu tương và các loại cây ăn trái khác.

Hiện nay, Buôn Hồ đã là “tâm điểm” của vùng chuyên canh cây cà phê nổi tiếng, được trải rộng ra các huyện lân cận, bao gồm huyện Cư M’gar, Krông Năng, Ea H’Leo với diện tích gần 100.000 ha. Ðồng thời, đây cũng là vùng có hệ sinh thái phong phú và đa dạng với các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ tiêu biểu như: đèo Hà Lan, rừng thông Buôn Tring… nên rất có tiềm năng trong việc phát triển du lịch sinh thái, gắn với văn hóa truyền thống của người dân bản địa. Ở đó Buôn Hồ được coi như một “địa chỉ đỏ” có sức lan tỏa, ảnh hưởng rộng khắp toàn vùng. Với những đặc trưng đó, Buôn Hồ được xác định là đô thị kinh tế-sinh thái- văn hóa cấp vùng của tỉnh.

Khai thác thế mạnh của thiên nhiên, điều kiện văn hóa, xã hội để phát triển du lịch văn hóa – sinh thái, hướng dẫn người dân trong việc tạo việc làm, tham gia các hoạt động dịch vụ du lịch, cải thiện đời sống cho đồng bào nhằm phát triển kinh tế – xã hội địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững quốc phòng – an ninh, là vấn đề đang được cấp ủy, chính quyền của tỉnh Đắk Lắk và thị xã Buôn Hồ quan tâm thực hiện, góp phần phát triển một cách toàn diện hoạt động kinh tế – xã hội của Thị xã.

  • Bên cạnh những thuận lợi như vậy thì thị xã Buôn Hồ cũng có một số khó khăn nhất định như:

Đa số nhân dân trên địa bàn còn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm hơn 70 % dân số, còn lại là kinh doanh buôn bán, sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

Đời sống nhân dân trong các xã vùng sâu còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các đồng bào dân tộc thiểu số, vì vậy nên có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, trình độ dân trí trong vùng.

Địa hình khá phức tạp, độ dốc cao ảnh hưởng đến các vấn đề tưới tiêu trong sản xuất và đời sống cũng như các hoạt động giao thông vận tải nội địa. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Dân số cơ học tăng nhanh trong khi đó diện tích đất tự nhiên cố định hiện là áp lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội là vấn đề đang cần giải quyết.

Với những đặc điểm kinh tế, xã hội của thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk có thể thấy để đảm bảo tăng trưởng ổn định, đảm bảo an ninh trật tự, tạo môi trường xã hội lành mạnh, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Thời gian gần đây, tình hình tội phạm hình sự, tội phạm hoạt động có tổ chức, buôn lậu, ma túy, tín dụng đen, tham nhũng… đang là những vấn đề nhức nhối trong xã hội, gây mất ổn định về an ninh, trật tự.

Ở thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, là tỉnh miền núi nên tình hình an ninh nông thôn tiềm ẩn nhiều vấn đề bất ổn mà một trong những nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ các tệ nạn xã hội liên quan đến người nghiện ma túy. Phát sinh nhiều nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nguy cơ mất trật tự an toàn xã hội… Những tác động thái phức tạp đó đan xen, tác động lẫn nhau có thể làm cho những bức xúc, rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội tăng lên, thách thức trực tiếp đến an ninh xã hội, an ninh con người…của thị xã Buôn Hồ nói riêng và của tỉnh Đắk Lắk nói chung.

Trong thời gian tới có tệ nạn xã hội gây suy thoái, biến chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống của người nghiện và các hoạt động phạm pháp liên quan đến ma túy diễn ra trong một bộ phận không nhỏ người dân địa phương, mà còn diễn biến phức tạp ở cấp cao hơn, ảnh hưởng tiêu cực của các chất ma túy mới dễ tiếp cận một bộ phận không nhỏ người dân. Trong khi đó, năng lực và tổ chức của bộ máy nhà nước còn có hạn chế với những biểu hiện tinh vi, phức tạp của tệ nạn ma túy, gây bức xúc trong dư luận. Cùng với đó, khoảng cách giàu – nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại.

Từ việc xác định thúc đẩy sự phát triển và giữ vững sự ổn định xã hội, mỗi quốc gia – dân tộc nói chung, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk nói riêng chủ động thực hiện các chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc thực thi pháp luật đối với công tác phòng, chống ma túy và công tác cai nghiện và phục hồi sau cai nghiện.

2.1.2. Thực trạng tình hình người nghiện ma túy Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Theo số liệu thống kê từ năm 2018 đến nay của Ban Chỉ đạo của tỉnh Đắk Lắk cho thấy tình trạng người sử dụng ma túy dẫn đến nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh có xu hướng khó kiểm soát, qua các năm và diễn biến ngày càng phức tạp, cụ thể như sau:

  • Bảng 2.1: Tổng hợp thống kê người nghiện ma túy, tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk

Qua tìm hiểu thực tế và nghiên cứu các số liệu người nghiện ma túy trên địa bàn cho thấy, việc thống kê người nghiện ma túy gặp rất nhiều khó khăn, số người sử dụng ma túy dẫn đến nghiện ma túy, người sau cai nghiện chưa tái nghiện, số người nghiện đi làm ăn xa, số lưu tra tại các năm trước do đang chấp hành án phạt tù, thời điểm báo cáo…việc xác định tình trạng nghiện ma túy trên địa bàn thường thông qua tình trạng sử dụng chất ma túy trái phép gây ra tình trạng nghiện.

Ngoài ra, còn rất nhiều người chưa được xác định tình trạng nghiện ma túy tổng hợp, do tính chất của ma túy tổng hợp tác động trong thời gian dài khó đánh giá, người nghiện dễ tái nghiện và chưa có cơ quan chức năng đánh giá độc lập việc cai nghiện thành công. Người nghiện ma túy tại cộng đồng đa số không nghề nghiệp hoặc có việc làm nhưng không ổn định thường thay đổi chỗ ở hoặc đi làm ăn xa. Số thống kê người nghiện chỉ tập trung vào người nghiện có hồ sơ quản lý tại địa bàn, ngoài ra còn nhiều người nghiện ma túy khó thống kê do không có mặt tại địa phương nơi cư trú.

Việc không khai báo tình trạng nghiện các chất ma túy khi sử dụng trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk còn phổ biến. Từ năm 2018 đến nay, các lực lượng chức năng Công an thị xã, phòng Lao động – TB&XH đã cố gắng thu thập hồ sơ quản lý người nghiện để thực hiện các biện pháp quản lý người nghiện thực hiện các biện pháp kiềm chế nghiện ma túy trên địa bàn, cụ thể:

Năm 2018, toàn thị xã có 30 người nghiện ma túy. Năm 2019, toàn thị xã có 32 người nghiện ma túy. Năm 2020, toàn thị xã có 29 người nghiện ma túy. Năm 2021, toàn thị xã có 30 người nghiện ma túy.

  • Tính đến năm tháng 12/2022, toàn thị xã có 31 người nghiện ma túy.

Công tác thống kê người nghiện ma túy nhằm thu thập số liệu, cập nhật thường xuyên thông tin về người nghiện ma túy vào hệ thống cơ sở dữ liệu người nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh để có biện pháp quản lý phù hợp.

2.2  Thực tiễn thi hành pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Việc phân định thẩm quyền các sở, ngành thành viên theo chức năng, nhiệm vụ được UBND tỉnh giao, phối hợp thực hiện thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Các huyện, thành phố dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo tỉnh, từ việc thiết lập hồ sơ đến đưa người nghiện ma túy bị thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở LĐ-TB&XH quản lý) theo quy định pháp luật hiện hành.

2.2.1. Công tác chỉ đạo, thiết lập hồ sơ, đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện

  • Chỉ đạo thực hiện

Luật Xử lý VPHC được Quốc hội thông qua đã thể hiện quan điểm mới, đề cao tính nhân đạo, tôn trọng quyền con người đối với người nghiện ma túy. Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan đã ban hành các văn bản quy định chi tiết và tổ chức thực hiện. Thực tiễn, áp dụng triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh đã bộc lộ nhiều vướng mắc, khó khăn khi mới triển khai. Tỉnh Đắk Lắk (Ban chỉ đạo tỉnh) đã chỉ đạo các Sở, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể tổ chức thực hiện triển khai từ thiết lập hồ sơ đến thực hiện đưa người nghiện ma túy vào các cơ sở cai nghiện trên địa bàn.

Trên cơ sở Nghị quyết số 77/2014/QH13 ngày 10/11/2014 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2015, trong đó có nội dung về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 26/12/2014 của Chính phủ về tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy trong tình hình mới, trong đó Thủ tướng Chính phủ yêu cầu phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng và Tòa án để rút ngắn thời gian lập hồ sơ đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Sở LĐ – TB&XH tỉnh (cơ quan Thường trực Tiểu ban chỉ đạo 09, Tiểu ban phòng, chống tệ nạn xã hội) đã tham mưu thể chế văn bản của Trung ương bằng các Quyết định, Kế hoạch của UBND tỉnh, sau khi được thống nhất giữa các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố và chính quyền địa phương, tạo ra hệ thống văn bản pháp lý trong chỉ đạo các cấp chính quyền triển khai đồng bộ. Trên cơ sở chỉ đạo của tỉnh Đắk Lắk, các huyện, thành phố Buôn Ma Thuột nói chung và thị xã Buôn Hồ nói riêng đã thể chế ban hành các văn bản triển khai thực hiện chỉ đạo của tỉnh về công tác cai nghiện ma túy nói chung và thực hiện biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định Luật xử lý VPHC và các văn bản liên quan.

  • Thiết lập hồ sơ

Công an thị xã chỉ đạo thực hiện thiết lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc thông qua các hành vi vi phạm của người nghiện ma túy. Đây là lực lượng chủ chốt trong việc phát hiện, truy lùng, tìm kiếm, thử và bắt người nghiện ma túy trên địa bàn. Thống kê, từ năm 2018 đến nay, lực lượng Công an tỉnh đã bắt hơn 100 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy ngoài cộng đồng, trong đó thiết lập hồ sơ thi hành pháp luật về biện pháp XLHC cai nghiện bắt buộc cho 70 người tại thị xã Buôn Hồ (năm 2018 lập 15 hồ sơ; năm 2019 lập 20 hồ sơ; năm 2020 lập 19 hồ sơ; năm 2021 lập 11 hồ sơ; đến tháng 12/2022 lập 5 hồ sơ).

  • Bảng 2.2. Thống kê thiết lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc công an thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk

Ngoài ra, các vụ án đấu tranh, bắt giữ tội phạm liên quan đến ma túy từ năm 2018 đến nay, nhiều người nghiện ma túy vi phạm tội phạm hình sự và VPHC. Đối với các trường hợp người nghiện ma túy VPHC liên quan đến thụ lý vụ án được chuyển thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông qua các lực lượng chức năng Công an thị xã đã phát hiện bắt giữ 35 vụ, 40 đối tượng phạm tội (Năm 2018, phát hiện bắt 5 vụ, 10 đối tượng; Năm 2019, phát hiện bắt 8 vụ, 11 đối tượng; Năm 2020, phát hiện bắt 7 vụ, 6 đối tượng;

Năm 2021, phát hiện bắt 6 vụ, 8 đối tượng; năm 2022, phát hiện bắt 4 vụ, 5 đối tượng). Tổng thụ lý điều tra 33 vụ, 34 bị can.

Việc thiết lập hồ sơ thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cơ sở để thực hiện áp dụng đưa người nghiện ma túy theo quy định. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Việc thiết lập hồ sơ đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp XLHC gửi hồ sơ phòng Tư pháp và phòng LĐ- TB&XH đã phối hợp kiểm tra, phân loại đúng đối tượng áp dụng, làm cơ sở đề nghị Tòa án quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hay thi hành pháp luật về biện pháp khác theo hình thức pháp luật quy định.

  • Đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp xử lý hành chính

Đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đối với người nghiện thuộc thẩm quyền của ngành LĐ-TB&XH. Từ năm 2018 đến nay, ngoài các nhiệm vụ được giao, ngành đã phát huy vai trò của mình trong công cuộc giảm thiểu số người nghiện ngoài cộng đồng, từ việc đề nghị áp dụng các biện pháp cai nghiện, phối hợp với đội cảnh sát Phòng chống ma túy, Công an thị xã Buôn hồ theo dõi sát sao các đối tượng bị nghiện, cai nghiện, tái nghiện ngoài cộng đồng. Tổ chức thực hiện công tác cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy. Có thể thấy đây là hoạt động mang tính chất thường xuyên và liên tục tham mưu và thực hiện công tác cai nghiện ma túy trên địa bàn.

Phòng Y tế (Thường trực tiểu ban phòng chống HIV/AIDS) thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở y tế phối hợp thực hiện trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy. Tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế của các đơn vị liên quan về việc thực hiện xác định tình trạng nghiện ma túy, điều trị hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy. Phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH, công an thị xã hướng dẫn chỉ đạo thực hiện một số nội dung của Thông tư liên tịch số 17/TTLT- BYT- BLĐTBXH-BCA của liên bộ Y tế, Công an, LĐ-TB&XH.

Công an thị xã trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn các lực lượng chức năng, cấp xã xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; tổ chức đưa người đã có quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; truy tìm đối tượng bỏ trốn; phối hợp đảm bảo an ninh trật tự tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Viện Kiểm sát nhân dân huyện, Tòa án nhân dân huyện có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật đẩy mạnh công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy và xem xét, quyết định thi hành pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15. Các sở, ban, ngành, mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể tỉnh, UBND các huyện, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy theo chức năng, nhiệm vụ được phân công. Tiếp tục rà soát tham mưu xây dựng, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định thực hiện pháp luật về phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy; chú trọng vào công tác phòng ngừa, quản lý và cai nghiện ma túy; đồng thời xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của ngành, đơn vị và địa phương mình. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nhờ sự phối hợp giữa các cấp các ngành có liên quan chỉ đạo thực hiện chấp hành pháp luật về biện pháp XLHC đối với người nghiện ma tuý, thi hành pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của các huyện, thành phố đã có chuyển biến tích cực. Vì vậy, số người nghiện ma tuý đã được kiềm chế đáng kể về phát sinh người nghiện mới. Thực tế cho thấy rằng, trong thời gian triển khai thực hiện thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại các đơn vị cấp xã, lực lượng công an đã lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các đơn vị địa phương thiết lập hồ sơ, mở các đợt cao điểm kiểm soát và xử lý VPHC sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó tập trung vào việc xử lý các hành vi vi phạm thi hành pháp luật về biện pháp XLHC giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Đồng thời thực hiện thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tổ chức hướng dẫn thực hiện đúng quy trình xử lý các vi phạm quy định về người nghiện ma tuý sử dụng trái phép các chất ma tuý đã có chuyển biến tích cực, nhanh chóng, khách quan, được nhân dân tin tưởng và ủng hộ trong đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

Các ngành chức năng đã phát huy và hoàn thành đảm bảo vai trò của mình trong công cuộc giảm thiểu số người nghiện ngoài cộng đồng từ việc đề nghị áp dụng các biện pháp cai nghiện ma tuý, tổ chức thiết lập hồ sơ quản lý người nghiện qua việc theo dõi sát sao của các ngành chức năng, cơ sở cai nghiện ma tuý.

2.2.2. Triển khai hoạt động cai nghiện ma túy

Tỉnh Đắk Lắk hiện có 01 trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở LĐ-TB&XH quản lý. Cơ cấu tổ chức bộ máy có 01 phòng nghiệp vụ chuyên môn; Thực hiện chức năng tiếp nhận, tổ chức cai nghiện, chữa trị, giáo dục, phục hồi sức khoẻ, hành vi nhân cách và dạy nghề cho người nghiện ma túy được đưa vào cơ sở.

  • Cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện
  • Giai đoạn 2018-2020: Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với Cơ sở cai nghiện ma túy, thực hiện tiếp nhận cai nghiện ma túy với hai hình thức là cai nghiện bắt buộc và cai nghiện tự nguyện. Ngoài ra còn thực hiện hình thức cắt cơn, giải độc cho công tác cai nghiện ma túy tại cộng đồng.

  • Bảng 2.3 Tiếp nhận điều trị cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy giai đoạn 2018-2020
  • Bảng 2.4. Tổng hợp tiếp nhận điều trị cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện giai đoạn 2020 đến tháng 11/2022

Nằm trong tình trạng chung về công tác thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa người vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Năm 2015, toàn tỉnh mới thực hiện đưa 13 người nghiện ma tuý được thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Sau quá trình chỉ đạo triển khai, tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc thực hiện các quy định pháp luật thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, từ công tác thiết lập hồ sơ theo quy định pháp luật, đến quyết định của Toà án nhân dân cấp huyện còn nhiều vướng mắc trong tổ chức, thực hiện.

Năm 2021 So với năm 2020, có 30 người thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tăng. Đây là thành quả nhờ những nỗ lực của các lực lượng chức năng trong tổ chức thực hiện, giữa các ngành, các cấp cũng như sự chuyển biến trong phối hợp thực hiện thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy trên địa bàn.

  • Năm 2022, so với năm 2021, có 31 người đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Điều trị nghiện ma túy bằng thuốc methadol tại cộng đồng

Chương trình điều trị Methadol bắt đầu triển khai tháng 10/2012, đến nay có 02 cơ sở điều trị Methadol tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, điều trị 100 người nghiện các chất dạng thuốc phiện.

  • Cai nghiện ma túy tại cộng đồng

Cai nghiện tại cộng đồng được thực hiện tại Nghị định số 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021. Kết quả đã tuyên truyền vận động, lập hồ sơ và tổ chức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng đến năm 2022 có 89 người nghiện ma túy tự nguyện tham gia chương trình.

Chương trình thực hiện thí điểm cai nghiện ma túy tại cộng đồng do Sở LĐ-TB&XH thực hiện từ năm 2011, đã thành lập. Việc tổ chức cho người nghiện và gia đình họ khai báo và đăng ký các hình thức cai nghiện: Tổ chức các hoạt động tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về công tác cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng; giới thiệu các quy trình, thủ tục, các hình thức cai nghiện để mọi người dân được biết, tự giác vận động tham gia chưa được hiệu quả. Quá trình thực hiện, các đơn vị huyện, thị xã thành phố gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức thực hiện hình thức cai nghiện này.

2.2.3. Tổ chức kiểm tra và xử lý vi phạm khi thi hành pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Công tác kiểm tra được thực hiện tại UBND các huyện, thành phố về tình hình triển khai công tác thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Công tác phổ biến, hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến việc thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng LĐ- TB&XH trong việc thực hiện các quy định phối hợp trong thiết lập hồ sơ; Phòng Y tế trong việc tham gia đào tạo chuẩn đoán tình trạng nghiện ma túy; công an huyện, thành phố thực hiện thành lập các đội nghiệp vụ, tổ công tác thực hiện nhiệm vụ trực tiếp phụ trách, hướng dẫn công an xã thực hiện nhiệm vụ lập hồ sơ thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Kết quả đạt được đã có sự phối hợp, thống nhất giữa các đơn vị có liên quan giữa Phòng LĐ-TB&XH, Phòng Y tế, Cơ quan công an, Tòa án cấp huyện trong công tác lập, kiểm tra, đối chiếu và quyết định biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn.

2.2.4 Sơ kết, tổng kết báo cáo tình hình thi hành pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Trong những năm gần đây, các cơ quan tổ chức có liên quan, đặc biệt là UBND thị xã đã từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cấp, các ngành và các tổ chức chính trị – xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cai nghiện và hỗ trợ sau cai nghiện, kìm hãm sự gia tăng số người nghiện mới, quản lý chặt chẽ người nghiện ngoài cộng đồng, không để phát sinh tụ điểm phức tạp, góp phần xây dựng môi trường xã hội an toàn, lành mạnh phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của thị xã. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xây dựng và triển khai thực hiện dự án “Xây dựng xã, phường, thị trấn không có tệ nạn ma túy” đến 07 phường 05 xã trên địa bàn thị xã.

Kịp thời tham mưu xây dựng kế hoạch về việc mở đợt cao điểm triệt xóa các điểm sử dụng ma túy và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy trên địa bàn; chủ động xây dựng các kế hoạch các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm.

Xây dựng tờ trình đề nghị UBND thị xã xử phạt vi phạm hành chính đối với một số cơ sở kinh doanh dịch vụ Karaoke; ngoài ra còn tham mưu, hướng dẫn lực lượng công an các xã, phường lập hồ sơ giáo dục xã phường, cai nghiện bắt buộc đối với các đối tượng nghiện trên địa bàn.

Về phối hợp tuyên truyền, phát động luật phòng, chống ma túy, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy, cách phòng, chống ma túy; Kết quả triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống ma túy thông qua các phương tiện truyền thông; tham gia hưởng ứng các đợt cao điểm về phòng, chống ma túy và xóa việc trồng cây có chứa chất ma túy tại địa phương.

  • Về công tác phòng ngừa nghiệp vụ:

Phòng lao động – thương binh và xã hội phối hợp với Công an xã, phường lập hồ sơ giáo dục xã phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo nghị định 116/2021/NĐ-CP.

Công an thị xã phối hợp với Công an xã, phường quản lý đối tượng ra tù về tội ma túy và quản lý đối tượng đã cai nghiện ma túy trở về địa phương trên địa bàn thị xã.

2.3 Đánh giá tình hình thi hành pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2.3.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân

Thứ nhất, số người được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, sau khi tháo gỡ được khó khăn khi thực hiện năm sau cao hơn năm trước. Đáp ứng được yêu cầu đề ra trong việc phòng, chống tệ nạn xã hội của tỉnh, giải quyết được lượng lớn số người nghiện còn tồn tại ngoài cộng đồng không thực hiện các biện pháp cai nghiện tự nguyện, sử dụng thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadol.

Ngay sau khi phát hiện đối tượng nghiện ma túy và xem xét, thu thập thông tin để xác định đối tượng thuộc diện cai nghiện bắt buộc để hoàn tất lập hồ sơ đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan Công an cho người nghiện bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ đọc và ký vào thông báo về việc bị lập hồ sơ thi hành pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (đảm bảo theo thủ tục của Tòa). Đồng thời, làm việc với người thân trong gia đình của người bị đề nghị theo 2 hướng: nếu gia đình cam kết có đủ điều kiện và quản lý được người nghiện trong thời gian cho bảo lãnh thì tiến hành cho gia đình bảo lãnh; nếu gia đình không có điều kiện quản lý đối tượng hoặc có đơn từ chối tiếp nhận thì chuyển người đó vào cơ sở cai nghiện trên địa bàn để quản lý lưu trú tạm thời.

Thứ hai, quá trình phát hiện và lập hồ sơ đề nghị, việc thi hành pháp luật về biện pháp đưa người nghiện đi cai cơ bản được thực hiện đúng quy trình theo luật định, không bỏ sót các giai đoạn nên hầu hết các đối tượng sau khi phát hiện ra đã và đang có hành vi tái nghiện đều bị cơ quan có thẩm quyền thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ và xử lý, các cơ quan chức năng đã gặp không ít vướng mắc và bất cập trong việc giải quyết các đối tượng để đưa đi cai nghiện. Nếu không giải quyết kịp thời thì số người nghiện trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk ngày càng diễn biến phức tạp, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến an ninh, đe dọa đến cuộc sống của người dân xung quanh. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Qua triển khai thực hiện tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, Phòng LĐ- TB&XH đã tổng hợp khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện, kiến nghị lên Sở, Ngành để tiếp tục đề nghị lên cấp cao hơn như Bộ, ngành Trung ương sớm ban hành các văn bản hướng dẫn; rà soát sửa đổi, thay thế những quy định liên quan đến công tác cai nghiện ma túy cho phù hợp với tình hình hiện nay theo quy định của Luật Phòng chống ma túy; Luật xử lý VPHC, xem xét đề nghị Chính phủ sửa đổi giảm thủ tục hành chính, hồ sơ đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ- CP, đồng thời rút ngắn công đoạn chuyển hồ sơ từ UBND cấp xã đến Tòa án nhân dân cấp huyện để sớm xem xét, quyết định đảm bảo tính kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.

Thứ ba, việc phối hợp của các cơ quan liên quan trong công tác đưa người đi cai nghiện bắt buộc về cơ bản có những chuyển biến tích cực. Ngoài việc họ phải tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục, đội ngũ này cần phải linh hoạt, sáng tạo trong việc tháo gỡ những vướng mắc và đề ra những biện pháp giải quyết phù hợp. Ngoài ra, ở các cuộc họp nâng cao chuyên môn cũng như trong việc tiếp xúc, làm việc trực tiếp ở thực tiễn, đội ngũ này luôn là người nắm bắt được tình hình thực tế, thấy rõ những ưu điểm, bất cập, hay những vướng mắc xảy ra nên trình độ chuyên môn đần được đảm bảo, quy trình thực hiện đúng thẩm quyền, không chồng chéo, bị động, không phụ thuộc mà linh động thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất.

Theo đó, các ngành như: Công an, LĐ-TB&XH các huyện, thị xã, thành phố phải thống nhất lập hồ sơ, chuyển qua Tòa án cấp huyện. Toà án cấp huyện ra quyết định có đưa người nghiện thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện hay không. Việc đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với rất nhiều thủ tục hành chính theo quy định thì cần 13-17 loại giấy tờ, rất rườm rà và trái với tinh thần cải cách hành chính. Thời gian từ khi bắt được một đối tượng nghiện ma túy, xử phạt hành chính, thi hành pháp luật về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đến thiết lập hồ sơ thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quy trình từ đến gần 60-75 ngày, là quá dài và gây thêm phức tạp trong việc quản lý người nghiện.

Bên cạnh đó, đối với người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định thì giao cho tổ chức xã hội quản lý trong thời gian chờ lập thủ tục thi hành pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, không thể đòi hỏi các tổ chức này phải có chuyên môn để đi điều trị, cắt cơn, giải độc. Thị xã Buôn Hồ, Tỉnh Đắk Lắk cũng quy định chuyển người không có nơi cư trú ổn định trong thời gian chờ lập hồ sơ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do các cơ sở này có đầy đủ chức năng về y tế, trang thiết bị, chế độ hỗ trợ cho người bị quản lý và đội ngũ cán bộ tại cơ sở cai nghiện.

  • Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trước đây, các chế tài quản lý mới chỉ áp dụng cho người được xác định là nghiện ma túy. Trong khi đó, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị xử phạt hành chính cao nhất là 01 triệu đồng nên không đủ sức răn đe. Một số trường hợp sử dụng ma túy dẫn đến loạn thần, “ngáo đá” gây ra một số vụ án nghiêm trọng, làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Luật xử lý vi phạm hành chính năm (sửa đổi bổ sung năm 2020), Luật phòng chống ma túy năm 2021 và các Nghị định: 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021, Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021; Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15… ra đời đã cơ bản giải quyết được những bất cập nêu ra ở trên. Cụ thể:

Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 đã quy định rõ các biện pháp quản lý người sử dụng ma túy. Đây là biện pháp phòng ngừa, không phải xử phạt hành chính, không liên quan đến lý lịch, nhân thân của người đó. Việc quy định như vậy thể hiện rõ tinh thần giáo dục nhằm giúp họ tránh xa ma túy. Đồng thời, pháp luật đã có những quy định mới so với trước đây về các đối tượng từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp phải đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Bên cạnh đó, một trong những nội dung mới của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 là quy định về đưa vào cơ sở CNBB đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Tiếp đó, ngày 24/3/2022, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 quy định về trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở CNBB.

Ngoài ra, một số khó khăn, vướng mắc khác cũng đã được các văn bản quy phạm pháp luật mới giải quyết như việc hiện nay đã thống nhất được mẫu văn bản sử dụng trong hồ sơ đề nghị; thời gian lập hồ sơ và xem xét đề nghị áp dụng đã được rút ngắn đáng kể…

Ngoài ra những kết quả đạt được do công tác phối hợp của các cơ quan ban ngành trên địa bàn như:

Ngành Công an quản lý ngày càng tốt hơn các đối tượng đã cai nghiện ma tuý, từng bước nắm bắt và quản lý chặt chẽ những người nghiện tái nghiện nhiều lần, có tiền án, tiền sự với tư cách là những người vi phạm pháp luật và tội phạm.

Tại Công an phường, xã đã thành lập Tổ Cảnh sát phòng, chống ma túy tập trung vào phát hiện các đường dây, ổ nhóm mua bán ma tuý, đấu tranh chống tổ chức sử dụng và sử dụng ma túy, giám sát việc cai nghiện ma túy tại cộng đồng và gia đình, quản lý sau cai nghiện;

Phòng lao động thương binh và xã hội làm tốt công tác lập hồ sơ cai nghiện và đưa người nghiện ma tuý vào các Cơ sở chữa bệnh theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Phân công cán bộ Công an phối hợp với Trạm Y tế, tổ trưởng dân phố, trưởng bản, trưởng thôn, trưởng xóm, gia đình và các đoàn thể xã hội giám sát quản lý từng người nghiện ma túy và các đối tượng phạm tội về ma tuý tại cộng đồng.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ nhất, theo quy định của Luật Xử lý VPHC năm 2012, việc thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phải trải qua nhiều tầng rất rườm rà, gây khó khăn cho các cấp, ngành trong quá trình thực hiện.

Việc thi hành pháp luật về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nghiện ma túy rất khó khăn do sự lệ thuộc vào chất gây nghiện, người nghiện buộc phải tìm kiếm sử dụng, vừa là tiền đề để có biện pháp cai nghiện (cai nghiện tự nguyện) và tiếp tục thực hiện các trình tự, thủ tục tiếp theo để lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc đạt hiệu quả. Thực tiễn vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc khi triển khai tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cụ thể là:

Chưa có biện pháp XLHC thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đối với người nghiện dưới 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đối với người không có nơi cư trú ổn định thì đưa vào cơ sở cai nghiện để quản lý và thi hành pháp luật về biện pháp giáo dục, cai nghiện đối với họ. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thực tế quản lý các đối tượng nghiện ma túy tại xã, phường, thị trấn rất khó khăn, theo quy định khoản 1, Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP “người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị thi hành pháp luật về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện thì bị thi hành pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”. Nhiều người nghiện ma túy dù đang chấp hành Quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn vẫn tiếp tục hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa hết thời hạn chấp hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn nên không thể lập hồ sơ thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Việc truy tìm đối tượng bị thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn, theo Điều 17, Nghị định 221/2013/NĐ-CP. Trong đó quy định về trường hợp bị thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn trước khi vào cơ sở và các trường hợp đang chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc bỏ trốn. Tuy nhiên tại Thông tư 14/2014/TT- BLĐTBXH chưa có hướng dẫn biểu mẫu đối với trường hợp bỏ trốn trước khi thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, việc đó gây khó khăn, lúng túng cho cơ quan công an thực hiện khi truy tìm đối tượng. Việc thông báo bằng văn bản về việc lập hồ sơ cho người đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện có thẩm quyền của họ trên thực tế gây không ít khó khăn cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do người nghiện khi nhận được thông báo sẽ bỏ trốn khỏi nơi cư trú.

Quy định người nghiện thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với người có nơi cư trú ổn định theo khoản 1, Điều 9, Nghị định 221/2013/NĐ-CP, trong đó yêu cầu: Quyết định của UBND cấp xã giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị thi hành pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thực tế, chưa có quy định xử lý như thế nào đối với trường hợp người nghiện có nơi cư trú ổn định nhưng không có gia đình hoặc gia đình không còn ai tại địa phương.

Nhiều trường hợp lợi dụng quy định tại khoản 2, 3 Nghị định 221/2013/NĐ- CP, đang tham gia hoặc xin tham gia chương trình điều trị nghiện bằng thuốc thay thế methadol, gây không ít khó khăn trong thẩm quyền thi hành thực thi công vụ.

Thứ hai, các biện pháp thực thi còn chưa phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội và trình độ quản lý của chính quyền cấp xã tại Việt Nam hiện nay nói chung và thị xã Buôn Hồ, Đắk Lắk nói riêng, do cơ sở vật chất hiện có tại địa phương, cụ thể là trạm y tế cấp xã về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực chưa bảo đảm được nhiệm vụ, thiết kế của các trạm y tế cấp xã không phù hợp để cắt cơn và hỗ trợ y tế cho quy trình cai nghiện. Việc đầu tư xây dựng mới cơ sở điều trị cắt cơn trên địa bàn xã hoặc liên xã rất khó khăn về vốn và năng lực vận hành, đồng thời không bảo đảm tính hiệu quả thực hiện Đề án đổi mới công tác cai nghiện trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Việc liên kết với các xã khác hoặc kết hợp với các cơ sở cai nghiện và các cơ sở khác được phép điều trị cắt cơn, rất khó thực hiện do cơ chế phối hợp chưa rõ ràng và các cơ sở thường cách xa khu tập trung dân cư, hiện tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk chỉ có một cơ sở công lập. Biện pháp này không phù hợp, vì những trường hợp phải áp dụng cai nghiện bắt buộc thường là những người có ý thức tuân thủ không tốt và quyết tâm cai nghiện không cao, sau khi tập trung cắt cơn ít ngày, nếu họ được đưa trở lại ngay môi trường xã hội thì rất có thể sẽ tái sử dụng ma túy.

Chưa có những hướng dẫn cụ thể xác định tình trạng nghiện, thuốc, phác đồ điều trị, cai nghiện các loại ma túy mới.

Các đối tượng hoạt động phạm tội về ma túy ngày càng có nhiều thủ đoạn hoạt động, tinh vi, xảo quyệt, manh động để đối phó, chống đối lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy. Quá trình đấu tranh bắt quả tang các đối tượng không khai nhận hành vi gây khó khăn trong công tác điều tra. Bắt quả tang các đối tượng hoạt động phạm tội về ma túy có khả năng lây nhiễm HIV cho lực lượng bắt. Hiện chưa có sẵn thuốc phơi nhiễm và xét nghiệm định kỳ cho lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy.

Việc xét nghiệm ma túy các đối tượng gặp nhiều khó khăn do các đối tượng thường chống đối, né tránh. Việc tạm giữ các đối tượng để xác định tình trạng nghiện ma túy phục vụ cho công tác lập hồ sơ chưa được pháp luật quy định. Đa số việc xác định tình trạng nghiện ma túy còn thực hiện mang tính hình thức.

Việc đưa đối tượng đi cơ sở cai nghiện bắt buộc gặp khó khăn và nguy hiểm. Việc triển khai thực hiện dự án “Xây dựng xã, phường thị trấn không có tệ nạn ma túy” tuy có triển khai thực hiện nhưng chưa được các ban ngành đoàn thể quan tâm, chưa thực hiện đồng bộ nên kết quả không cao.

Sau khi có quyết định của Tòa án đối tượng thường bỏ trốn dẫn đến phát sinh thông báo truy tìm. Chưa có quy định cụ thể về việc tạm giữ hành chính đối tượng có quyết định của Tòa án, về áp giải các đối tượng trong trường hợp tìm thấy đối tượng bỏ trốn, chưa có quy định về thời hiện đối với các đội tượng đã bị áp dụng biện pháp đưa vào ơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng trốn không thi hành. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Chưa có kinh phí chủ động cho công tác xét nghiệm ma túy đối với người nghi sử dụng ma túy.

Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy chưa được cấp các trang thiết bị, dụng cụ để thử chất ma túy, thử nhanh nước tiểu tìm chất ma túy. Chưa được cấp các trang bị để bảo vệ cơ thể để phòng tránh lây nhiễm HIV.

Tình trạng sử dụng ma túy tổng hợp tại các cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự như: Karaoke, Nhà trọ, Nhà nghỉ, Khách sạn rất khó kiểm soát, phát hiện. Các vụ sử dụng trái phép chất ma túy được phát hiện, xử lý đa phần là do thực hiện các biện pháp nghiệp vụ. Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy chưa được luật hóa để tiến hành các biện kiểm tra định kỳ công khai để ngăn ngừa hoạt động tệ nạn và phạm tội về ma túy.

Bệnh viện đa khoa cấp huyện toàn tỉnh Đăk Lăk nói chung và Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ nói riêng chưa xét nghiệm và xác định tình trạng nghiện được số đối tượng sử dụng các loại ma túy mới xuất hiện trên địa bàn thị xã như: Cỏ mỹ, bóng cười, nước vui. Dẫn tới chưa xử lý các đối tượng sử dụng các loại ma túy mới.

Tâm lí bao che, bảo vệ thành viên gia đình của người nhà các đối tượng nghiện. Thực tế nhiều gia đình bao che cho thành viên gia đình đến mức người nghiện nặng, có biểu hiện ăn trộm thì mới báo cơ quan Công an. Chưa có chế tài pháp luật xử lý hành vi không chấp hành xét nghiệm ma túy, hành vi bao che đối tượng liên quan đến ma túy. Công tác hỗ trợ các vấn đề xã hội sau cai nghiện ma tuý còn nhiều hạn chế, số người sau cai nghiện được học nghề, dạy nghề, tạo việc làm, hỗ trợ vay vốn tín dụng ưu đãi… chưa đạt chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra. Chủ yếu là người đang cai nghiện được bố trí lao động trị liệu, dạy nghề và cấp chứng chỉ sơ cấp đối với những nghề giản đơn tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.

Công tác tuyên truyền phòng chống các tệ nạn về ma túy đã được chú trọng thực hiện thường xuyên liên tục. Nhưng phải nhìn thẳng thực tế biện pháp phòng ngừa xã hội này có hai mặt tích cực và tiêu cực. Nếu tuyên truyền đến công dân chấp hành tốt pháp luật thì hiệu quả tích cực. Trường hợp tuyên truyền đến một bộ phận nhỏ công dân không có ý thức chấp hành pháp luật sẽ dẫn tới tò mò về chất ma túy, coi sử dụng ma túy để thể hiện bản thân, coi phạm tội về ma túy là biện pháp để mưu sinh, kiếm sống và một số đối tượng phạm tội sẽ hoạt động tinh vi hơn.

Qua giám sát, Ban Pháp chế hội đồng nhân dân thị xã Buôn Hồ cũng đã chỉ ra nhiều hạn chế về công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy, đó là: Hệ thống văn bản quy định liên quan đến công tác phòng, chống ma túy và cai nghiện ma túy được ban hành tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện, phát sinh những bất cập, chưa phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương; công tác cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng hiệu quả chưa cao. Cấp ủy, chính quyền địa phương ở một số nơi chưa thật sự coi trọng trong công tác cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện, địa phương chưa đề ra những biện pháp, giải pháp cụ thể, khả thi để thực hiện có hiệu quả mặt công tác này; còn hiện tượng khoán trắng cho ngành Công an. Công tác quản lý, giám sát các đối tượng còn lỏng lẻo, chưa chú trọng giúp đỡ, giáo dục người nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng, tình trạng kỳ thị vẫn còn diễn ra trong cộng đồng, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tái nghiện. Các chương trình an sinh xã hội như xóa đói, giảm nghèo, học nghề, tạo việc làm, hỗ trợ vay vốn cho các đối tượng này còn hạn chế… dẫn đến, tỷ lệ người tái nghiện còn cao. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ ba, hiệu quả công tác điều trị nghiện ma túy khi thực hiện cai nghiện ma túy tại các cơ sở cai nghiện với các biện pháp tổ chức cai nghiện bắt buộc, cai nghiện tự nguyện, cai nghiện tại gia đình, cộng đồng khi trở về cộng đồng tỷ lệ tái nghiện rất cao. Đối với nhiều trường hợp điều trị nghiện bằng thuốc thay thế methadol vẫn đồng thời vi phạm vì sử dụng ma túy khác. Thậm chí đối với người nghiện ma túy chấp hành án phạt tù nhiều năm khi trở về địa phương vẫn tái nghiện.

Việc chữa trị tình trạng nghiện ma túy chưa có biện pháp hiệu quả áp dụng đối với từng loại chất ma túy do người sử dụng. Điều trị nghiện ma túy còn phụ thuộc vào thể trạng từng người (gen, sức khỏe, tâm lý, môi trường …) nên gặp rất nhiều khó khăn trong điều trị hiệu quả. Đây là lý do giải thích tại sao rất khó bỏ ma túy và việc tái nghiện thường xảy ra sau quá trình điều trị, quản lý bắt buộc; người nghiện có thể phải mất nhiều thời gian cố gắng mới từ bỏ được ma túy.

Thứ tư, chính sách đầu tư, nguồn nhân lực phát triển hệ thống trợ giúp xã hội cho người sau cai, người có tiền sử nghiện ma túy còn hạn chế, thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện chưa chú trọng đầu tư cho công tác dự phòng. Nguồn lực tài chính rất hạn chế, chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao, trong tổ chức thực hiện và cơ sở cai nghiện ma túy trên địa bàn có một số hạng mục đã xuống cấp, còn nhiều hạng mục cần được đầu tư để thực hiện các hoạt động chuyên môn cai nghiện cũng như nhu cầu văn hóa, giải trí của người cai nghiện phù hợp với lộ trình chuyển đổi theo Đề án “Đổi mới công tác cai nghiện ma túy” thực hiện nhiệm vụ cai nghiện.

Kinh phí cho công tác phòng chống ma túy tuy đã được quan tâm nhưng còn thiếu so với thực tế. Kinh phí xét nghiệm chất ma túy, kinh phí đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc, kinh phí cho cán bộ quản lý giáo dục đối tượng nghiện về quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường chưa sẵn nguồn bố trí.Kinh phí đảm bảo thực hiện theo Thông tư số 148/2014/TT-BTC- BLĐTB&XH với nhiều mức chi còn thấp hoặc chưa được quy định. Thực tế, công tác lập hồ sơ, truy tìm đối tượng để đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện được trích từ kinh phí chi thường xuyên của đơn vị nên còn gặp rất nhiều khó khăn tổ chức, triển khai thực hiện. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

  • Nguyên nhân

Do hệ thống văn bản pháp luật về phòng, chống ma túy và xử lý VPHC hiện nay còn có những bất cập nhất định. Tính thực tiễn là yêu cầu cao nhất của pháp luật. Nếu pháp luật không xuất phát từ yêu cầu thực tiễn hoặc nói cách khác là không điều chỉnh những quan hệ thực tiễn mà xã hội đòi hỏi, thì pháp luật tự nó không thể đi vào cuộc sống.

Ngoài Nghị định 116/2021/NĐ-CP đã được đề cập, Luật xử lý vi phạm hành chính (Sửa đổi, bổ sung) đã kéo theo việc ra đời Nghị định 140/2021/NĐ- CP ngày 31/12/2021 về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, thay thế cho các Nghị định cũ. Hai Nghị định được ra đời trong cùng một bối cảnh nhưng nội dung về việc lập biên bản giao nhận có sự khác nhau. Cụ thể tại khoản 4, Điều 13 Nghị định 140/2021/NĐ-CP quy định rõ: “Việc giao, nhận hồ sơ phải được lập biên bản”, tuy nhiên tại Nghị định 116/2021/NĐ-CP hoàn toàn không có quy định này. Nếu không có sự ràng buộc giữa các cơ quan trong việc lập biên bản giao nhận hồ sơ đề nghị áp dụng CNBB thì sẽ dẫn đến khi hồ sơ CNBB bị quá thời hạn giải quyết sẽ không làm rõ được trách nhiệm cụ thể.

CNBB là một biện pháp xử lý hành chính, do đó các quy định điều chỉnh việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính nói chung cũng đồng thời điều chỉnh việc xem xét áp dụng biện pháp CNBB.

Luật phòng, chống ma túy còn chưa có sự phù hợp và đồng bộ với Luật xử lý VPHC. Nhiều quy định sửa đổi, bổ sung quy định về thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đối với người nghiện ma túy bằng thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nhiều quy định trình tự, thủ tục đưa vào cai nghiện bắt buộc không phù hợp với thực tiễn: thủ tục đưa vào cai nghiện quá phức tạp, qua nhiều cơ quan xét duyệt, mất nhiều thời gian, người nghiện có nhiều cơ hội bỏ trốn.

Nguyên nhân của tệ nạn ma túy ở nước ta có rất nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân đầu tiên và quan trọng, đó là việc phân công quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy chưa hợp lý và điều này cần được tháo gỡ ở tầm quốc gia, Chính phủ. Thời gian qua, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn cả nước nói chung và thị xã Buôn Hồ nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp, tội phạm không chỉ tập trung ở thành thị mà đã phát triển ở hầu hết các địa bàn nông thôn; loại ma túy thẩm lậu vào nước ta chủ yếu là Heroin, các loại ma túy tổng hợp và các loại chất gây nghiện. Nhiều vụ ma túy được phát hiện, bắt giữ với số lượng ma túy lớn, nhiều đối tượng.

Người nghiện gia tăng, tạo ra nhu cầu sử dụng ma tuý rất lớn, càng kích thích số đối tượng mua bán, vận chuyển ma tuý từ nước ngoài vào nước ta. Tệ nạn ma túy cũng là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và sức khỏe cộng đồng; trở thành hiểm họa lớn, đe dọa giống nòi, gây mất ổn định chính trị – xã hội… Gần đây là hiện tượng “ngáo đá” gây lo lắng cho xã hội.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nghiên cứu thực tiễn, các số liệu thực hiện thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa người nghiện ma túy bắt buộc trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2018-2022 cho thấy tình hình nghiện ma túy trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk đang diễn ra theo xu hướng phức tạp, đòi hỏi các ngành, các cấp chính quyền có các biện pháp, kế hoạch, giải pháp cơ bản làm giảm hành vi sử dụng các chất ma túy trái phép tạo sự ổn định về an ninh, trật tự xã hội và phát triển kinh tế địa phương.

Cùng với sự nỗ lực cố gắng của các lực lượng chức năng trong việc giữ gìn ổn định an ninh, trật tự, an toàn xã hội, trong thời gian qua, tỉnh Đắk Lắk đã tích cực làm tốt công tác đưa người nghiện đi cai. Trong đó phải kể đến là việc ban hành các văn bản hướng dẫn quy trình từ khâu lập hồ sơ, phối hợp thực hiện nhằm đạt được hiệu quả trong xác định đối tượng nghiện cũng như trình tự thủ tục đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bên cạnh đó, Tỉnh Đắk Lắk đã linh hoạt tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn, có sự đầu tư ban đầu về cơ sở vật chất, chủ động đưa ra các biện pháp áp dụng với những đối tượng chưa xác định được nơi cư trú ổn định để góp phần vào giảm tác hại của ma túy đến tình hình an ninh, trật tự xã hội địa phương. Tuy nhiên, rất nhiều khó khăn, bất cập còn tồn tại, đòi hỏi phải có những giải pháp cụ thể bảo đảm hiệu quả thi hành pháp luật về biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

One thought on “Luận văn: Thực trạng xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  1. Pingback: Luận văn: Xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464