Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam” (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đồng phạm là hình thức phạm tội “đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ (về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện). So với tội phạm do một người thực hiện, đồng phạm thường nguy hiểm hơn, vì khi một nhóm người cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tăng lên đáng kể, nhất là khi có sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thức thực hiện, phát triển thành “phạm tội có tổ chức”, do đó việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm có một số điểm khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ.

Trong khoa học Luật hình sự, căn cứ vào các đặc điểm về mặt chủ quan và khách quan của tội phạm, đồng phạm được chia ra nhiều hình thức: đồng phạm có thông mưu trước, đồng phạm không có thông mưu trước; đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp. Ngoài ra còn có một trường hợp đặc biệt về đồng phạm, đó là đồng phạm có tổ chức – phạm tội có tổ chức. Trong các hình thức đồng phạm thì chỉ đồng phạm có tổ chức là tình tiết tăng nặng và tình tiết định khung hình phạt. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, hình thức đồng phạm có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định mức độ lỗi, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Trên cơ sở phân hóa các hình thức đồng phạm, cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá đúng đắn hơn, toàn diện hơn tính chất của trường hợp phạm tội, của vụ án và phân hóa vị trí, vai trò, trách nhiệm hình sự của cá nhân người phạm tội trong vụ án có đồng phạm.

Tuy vậy, thực tiễn công tác điều tra, truy tố và xét xử cho thấy nhận thức về đồng phạm nói chung và hình thức đồng phạm nói riêng hiện nay chưa được thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, vẫn còn nhiều quan điểm và ý kiến trái ngược nhau. Những ý kiến khác nhau này đã gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Trên địa bàn tỉnh Hà Giang, do nhận thức về bản chất pháp lý của các hình thức đồng phạm còn hạn chế nên việc phân định giữa đồng phạm thường và đồng phạm có tổ chức còn chưa thống nhất, ảnh hưởng đến công tác xét xử của một số Tòa án tại tỉnh Hà Giang. Đồng phạm có thông mưu trước là phạm tội có tổ chức hoặc ngược lại. Có những bản án tuy không có dấu hiệu sai phạm về mặt áp dụng pháp luật, nhưng việc quy định chưa rõ ràng về tình tiết phạm tội có tổ chức tại khoản 3 Điều 20 phần Chung Bộ luật hình sự (BLHS) đã dẫn tới nhận định một số bản án chưa làm rõ được nhận định “tính có tổ chức”, tính “câu kết chặt chẽ” theo tinh thần điều luật quy định về phạm tội có tổ chức, cũng như trong nhiều trường hợp chưa phân định rõ được vai trò trong các vụ án phạm tội có tổ chức. Việc quyết định hình phạt đối với các bị cáo nhiều khi bị đánh đồng, chưa lượng hóa được hình phạt phù hợp với vai trò và các tình tiết của vụ án đối với từng bị cáo.

Những vấn đề nêu trên là lý do để nghiên cứu đề tài “Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam” (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang). Việc nghiên cứu đề tài này là quan trọng và cần thiết để hoàn thiện và áp dụng đúng pháp luật hình sự nhằm bảo đảm xét xử vụ án hình sự được nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Đồng phạm cũng như phạm tội có tổ chức là những vấn đề có tính phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, trong thời gian đã qua được các luật gia ít nhiều đề cập đến trong những công trình nghiên cứu của mình dưới góc độ luật hình sự, tội phạm học hoặc xã hội học pháp luật. Có nhiều nghiên cứu về đồng phạm được công bố trên các sách, tạp chí, luận văn luận án. Nhưng tựu chung lại thì các nghiên cứu chủ yếu theo ba xu hướng đó là: tiếp cận dưới góc độ tội phạm học, luật hình sự và theo sự xuất hiện các vấn đề mới của xã hội. Dưới góc độ khoa học luật hình sự đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về phạm tội có tổ chức như một số công trình tiêu biểu của các tác giả như: GS.TSKH Lê Cảm với hệ thống sách chuyên khảo “Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung BLHS” (NXB Công an nhân dân, 2000) đã đề cập đến chế định đồng phạm trong đó có nói đến phạm tội có tổ chức, “Đồng phạm trong luật Hình sự Việt Nam” của TS. Trần Quang Tiệp (NXB Tư pháp, 2007) với nội dung trình bày về khái niệm đồng phạm, các loại người đồng phạm, các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự trong đồng phạm. Mặt khác, có một số bài viết, đề tài tập trung phân tích trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam, chẳng hạn như “Phạm tội có tổ chức và trách nhiệm hình sự đối với bọn phạm tội có tổ chức” của tác giả Nguyễn Vạn Nguyên, hay đề tài luận văn cao học của Nguyễn Minh Đức “Hình thức phạm tội có tổ chức trong chế định đồng phạm theo pháp luật Hình sự Việt Nam” năm 1997. Tiếp cận ở góc độ tội phạm học là một số bài viết của các tác giả nói về đồng phạm có tổ chức như: “Vấn đề tội phạm có tổ chức và trách nhiệm hình sự pháp nhân trong sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999” của GS.TS. Hồ Trọng Ngũ đăng trên tạp chí Lập pháp số 6/2009, bài nghiên cứu “Đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia trong hội nhập kinh tế quốc tế” của PGS.TS Trần Hữu Ứng đăng trên tạp chí Cộng sản điện tử. Một số bài viết của TS.Nguyễn Khắc Hải: “Đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức theo pháp luật hình sự Liên bang Nga” trong tạp chí Khoa học – ĐHQG Hà Nội số 23/2007, “Nhận diện tội phạm có tổ chức” (Kỷ yếu hội thảo khoa học về sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999) đã củng cố thêm những nhận thức cơ bản trong việc tìm hiểu về đồng phạm có tổ chức. Thêm vào đó, còn có các công trình như “Tội phạm có tổ chức – lịch sử và vấn đề hôm nay” của GS.TS.Hồ Trọng Ngũ trả lời cho câu hỏi: “tội phạm có tổ chức – nhận thức mới hay hiện tượng xã hội mới?”, bài viết “Tội phạm có tổ chức và việc bổ sung chế định tổ chức tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam” của TS.Lê Thị Sơn trong tạp chí Luật học số 12/2012, đề tài luận án của Nguyễn Trung Thành “Phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt Nam và việc đấu tranh phòng chống” năm 2002 đề cập chi tiết đến trường hợp đồng phạm có tổ chức ở cả góc độ khoa học luật hình sự và tội phạm học.

Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã đề cập trên một số góc độ về trường hợp phạm tội có tổ chức, nhưng phạm tội có tổ chức chỉ là một trong các hình thức đồng phạm. Nghiên cứu chuyên sâu về hình thức đồng phạm vẫn đang là một vấn đề còn bỏ ngỏ chưa thật sự được quan tâm trong khoa học luật hình sự. Vì thế, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về hình thức đồng phạm vẫn đang là điều cần được nghiên cứu để sửa đổi, và hoàn thiện.

3. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, phạm vi nghiên cứu thực tiễn của đề tài giới hạn trên địa bàn tỉnh Hà Giang và thời gian là 5 năm gần đây (2011-2014).

4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Từ việc phân tích những vấn đề lý luận về các hình thức đồng phạm, với các thông tin thực xét xử trên địa bàn tỉnh Hà Giang, luận văn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về các hình thức đồng phạm và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này.

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ sau cần giải quyết:

  • Đưa ra khái niệm, cơ sở, ý nghĩa phân loại các hình thức đồng phạm;
  • Xác định các nội dung phân loại hình thức đồng phạm;
  • Nghiên cứu quy định của pháp luật về các hình thức đồng phạm;

Nghiên cứu thực tiễn xét xử và xác định những tồn tại vướng mắc đối với việc xác định các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang, nguyên nhân và từ đó đưa ra giải pháp, biện pháp khắc phục.

5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận được sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra trong nghiên cứu là: phép biện chứng duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Từ đó trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp phân tích – chứng minh, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp lịch sử, liệt kê… Đặc biệt tác giả nhấn mạnh chú ý tới các phương pháp tổng hợp – hệ thống, đối chiếu so sánh, lịch sử phân tích, thống kê, khảo sát thực tiễn, phương pháp xã hội học… để đưa ra được những kết luận khoa học, đề xuất các phương án cụ thể sao cho phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự có liên quan đến các hình thức đồng phạm.

6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn có những đóng góp mới trong việc nghiên cứu, cụ thể là:

  1. Góp phần làm sáng tỏ một cách hệ thống và toàn diện một số vấn đề lý luận về các hình thức đồng phạm;
  2. Làm rõ thực tiễn xét xử và một số tồn tại vướng mắc đối với việc xác định các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang;
  3. Đưa ra một số đề xuất hoàn thiện thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các hình thức đồng phạm và một số giải pháp nâng cao hiệu quả các quy định này.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có phần mở đầu, 2 chương, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM

1.1. Khái niệm đồng phạm, hình thức đồng phạm

1.1.1. Khái niệm đồng phạm Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Tội phạm trên thực tế được thực hiện bởi một hoặc nhiều người. Khi tội phạm do nhiều người thực hiện có thể có đồng phạm, hoặc có thể không có đồng phạm tùy vào quy định của Bộ luật hình sự của từng nước. Nhiều người thực hiện tội phạm có thể là đồng phạm cũng có thể chỉ là trường hợp những người thực hiện tội phạm đã hành động trong sự độc lập hoàn toàn với nhau. Vậy khi nào có đồng phạm, khi nào không có đồng phạm? Việc trả lời câu hỏi pháp lý hình sự này phụ thuộc vào nhận thức, quan niệm về đồng phạm trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.

Trong lịch sử lập pháp nước ta, Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), đã đề cập đến vấn đề đồng phạm tại các điều 35, 36, 116, 411, 412, 454, 469, 539. Tuy nhiên, Bộ luật không đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm mà tính đồng phạm chỉ mới được thể hiện ở nguyên tắc trừng trị tội phạm: “Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc. Nếu tất cả người trong nhà đều phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng” [30, tr. 46].

Phạm vi đồng phạm không những bao gồm người khởi xướng, kẻ chủ mưu, người a tòng, thủ phạm, tòng phạm, kẻ đồng mưu, kẻ xúi giục mà còn bao gồm cả những người liên quan đến tội phạm: “Những kẻ mưu phản nước theo giặc thì xử chém, nếu đã hành động thì xử tội bêu đầu, kẻ biết việc ấy thì cũng đồng tội” (Điều 412). Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) được khắc in lần đầu năm 1812.

Mặc dù chịu ảnh hưởng của pháp luật Thanh triều Trung Hoa nhưng nhiều điều luật trong đó có các quy định về đồng phạm vẫn tiếp thu của Bộ luật Hồng Đức, ví dụ Điều 29: “Phàm cùng một tội thì lấy người tạo ý đầu tiên làm thủ, những người tùy tùng giảm một bậc. Nếu mọi người trong một nhà cùng phạm tội thì buộc tội một mình tôn trưởng” [19, tr. 181].

Từ năm 1958 đến trước Cách mạng Tháng tám năm 1945, thực dân Pháp xâm lược nước ta cho nên hệ thống pháp luật hình sự của nước ta lúc đó chịu ảnh hưởng bởi tư duy pháp lý của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa. Hoàng Việt hình luật năm 1933 chỉ còn hiệu lực ở miền trung, đã có hẳn chương IX quy định về chế định đồng phạm với tên gọi: “Nhiều người đồng một tội đại hình hoặc trừng trị – tùng phạm”. Tuy nhiên, bộ luật này cũng không có khái niệm về đồng phạm, chỉ dừng ở nguyên tắc trừng trị tội phạm. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng tám, chế định đồng phạm có sự phát triển, được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật hình sự, nhưng chỉ mới được đề cập ở một số khía cạnh nhất định, vẫn chưa có quy định về khái niệm đồng phạm.

Thời gian này, các văn bản pháp luật hình sự nước ta vẫn sử dụng các thuật ngữ “chính phạm”, “tòng phạm”. Thuật ngữ “đồng phạm” lần đầu tiên xuất hiện trong Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ: “Người phạm tội có thể bị xử, tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản. Các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên” [4, tr. 79]. Thuật ngữ “đồng phạm” ở đây được hiểu tương ứng với thuật ngữ “coauteur” trong luật hình sự Pháp với nghĩa là đồng thực hành [14, tr. 60].

Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồng phạm đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý, các báo cáo tổng kết của ngành tòa án. Báo cáo tổng kết công tác năm 1963 của Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra khái niệm “cộng phạm”: “Hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức, hoặc trực tiếp cùng tham gia tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội” [38, tr. 30]; hoặc Giáo trình Hình luật xã hội chủ nghĩa của Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội đã nêu ra khái niệm hoàn chỉnh hơn: “Hai hoặc nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội phạm thì gọi là cộng phạm” [44].

Bộ luật Hình sự của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 với bốn lần sửa đổi, bổ sung (1989, 1991, 1992, 1997), quy định tại Điều 17: “Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”.

Việc Bộ luật Hình sự năm 1985 được ban hành đã đánh dấu một bước phát triển về chất trong hoạt động lập pháp hình sự ở nước ta, Bộ luật này lần đầu tiên quy định khái niệm đồng phạm. Thuật ngữ đồng phạm được sử dụng thay thế cho thuật ngữ cộng phạm được sử dụng trong các văn bản pháp luật hình sự trước đây, mặc dù bản chất pháp lý không thay đổi, nhưng chính xác hơn. Đồng phạm ở đây chỉ sự kiện đồng phạm, quan hệ đồng phạm, người đồng phạm bao gồm cả người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức – khác với nghĩa người đồng phạm chỉ là người đồng thực hành trong Sắc lệnh 223-SL ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ.

Bộ luật hình sự năm 1999 đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm tại khoản 1 Điều 20 như sau: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm”. Trên cơ sở khái niệm đồng phạm được quy định tại Điều 20 BLHS 1999, có thể thấy, đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu phản ánh mối liên hệ về mặt khách quan và chủ quan giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm.

  • Dấu hiệu về mặt khách quan Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Dấu hiệu về mặt khách quan là dấu hiệu về số lượng người tham gia trong vụ án, dấu hiệu thể hiện tính liên kết về hành vi cùng thực hiện một tội phạm, và dấu hiệu hậu quả của do vụ án đồng phạm gây ra.

Số lượng người trong vụ án: trong vụ án đồng phạm phải có từ hai người trở lên, những người này đều phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

Tính liên kết về hành vi: Những người trong vụ án đồng phạm phải cùng nhau thực hiện một tội phạm. Hành vi của người đồng phạm này liên kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia. Hành vi của những người đồng phạm phải hướng về một tội phạm, phải tạo điều kiện, hỗ trợ cho nhau để thực hiện một tội phạm thuận lợi, nói cách khác hành vi của đồng phạm này là tiền đề cho hành vi của đồng phạm kia. Hành vi của tất cả những người trong vụ án đồng phạm đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại chung của tội phạm.

Hậu quả do tội phạm gây ra trong vụ án đồng phạm là hậu quả chung do toàn bộ những người đồng phạm gây ra. Hành vi của mỗi người trong vụ án đều là nguyên nhân gây ra hậu quả chung ấy, mặc dù có người trực tiếp, người gián tiếp gây ra hậu quả. Đây là đặc điểm về quan hệ nhân quả trong vụ án đồng phạm.

Hành vi của những người đồng phạm có thể thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động (hành vi của người trực tiếp thực hiện tội phạm, hành vi giúp sức), hoặc chỉ có thể là hành động (hành vi xúi giục, hành vi tổ chức việc thực hiện tội phạm).

  • Dấu hiệu về mặt chủ quan

Dấu hiệu chủ quan của đồng phạm là sự cố ý của những người tham gia thực hiện một tội phạm và trong sự tư do ý chí của mình, họ chủ động liên kết với nhau để thực hiện tội phạm. Đây là dấu hiệu bắt buộc mà thiếu nó, nếu thỏa mãn những dấu hiệu của mặt khách quan nêu trên vẫn không có đồng phạm. Tất cả những người trong vụ án đồng phạm phải có hình thức lỗi cố ý và cùng thực hiện một tội phạm. Sự cố ý của những người đồng phạm thể hiện mối liên hệ, tác động tâm lý giữa những người đồng phạm với nhau. Tất cả họ đều thấy rõ hành vi của toàn bộ những người trong vụ án đều nguy hiểm cho xã hội. Mỗi người đồng phạm đều thấy trước hành vi của mình và hành vi của người đồng phạm khác trong vụ án đồng phạm là nguy hiểm, thấy trước hành vi của tất cả những người đồng phạm đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại.

Các yếu tố phân tích trên đây là cơ sở để khẳng định hay loại trừ trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức trong trường hợp người thực hành thực hiện các hành vi vượt quá trong đồng phạm. Không xuất hiện đồng phạm nếu không có sự liên kết, sự tác động, ảnh hưởng về tâm lý giữa những người thực hiện tội phạm. Nói như vậy không đồng nghĩa với việc trong các vụ án có đồng phạm tất cả những người tham gia phải biết rõ về nhau, biết rõ về từng hành vi phạm tội của nhau. Thực tiễn xét xử cho thấy một số loại tội nghiêm trọng về an ninh quốc gia hoặc những đường dây mua bán ma túy có tổ chức, có đông người tham gia, do tính chất của tội phạm, mọi người chỉ có thể biết nhau qua từng “mắt xích”. Điều cơ bản là họ nhận thức được hành vi của mình có sự liên kết, gắn bó với hành vi của những người khác, giữa họ có sự liên kết ủng hộ về tinh thần…

Ngoài dấu hiệu cùng cố ý thực hiện tội phạm đã phân tích ở trên đồng phạm đòi hỏi phải có sự thống nhất về mục đích, động cơ phạm tội khi thực hiện những tội mà luật quy định mục đích, động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Ví dụ: Điều 91 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định rõ tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; Điều 167 Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế thì động cơ vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc.

Tóm lại, từ những phân tích trên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, chúng tôi cho rằng, có thể đưa ra khái niệm về đồng phạm như sau: “Đồng phạm là hình thức phạm tội do hai người trở lên cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm”.

1.1.2. Khái niệm hình thức đồng phạm Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nội dung và hình thức có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đồng phạm, nội dung đồng phạm và hình thức đồng phạm bao giờ cũng là một thể thống nhất, có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại nhau. Nội dung của đồng phạm là tất cả các mặt, các yếu tố, các quá trình tạo nên sự cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm. Hình thức đồng phạm là phương thức tồn tại và vận động của đồng phạm, thể hiện mối quan hệ liên kết, tương tác, tương hỗ giữa những người đồng phạm trong quá trình thực hiện tội phạm, có thể từ khi lên kế hoạch, chuẩn bị phạm tội đến khi triển khai hành vi phạm tội, tội phạm kết thúc và che dấu sự việc phạm tội, người phạm tội. Từ phương pháp luận của phép biện chứng duy vật về mối quan hệ giữa cặp phạm trù nội dung và hình thức, có thể khẳng định bất cứ một nội dung đồng phạm nào cũng tồn tại trong một hình thức đồng phạm nhất định và ngược lại không có một hình thức đồng phạm nào lại không chứa đựng nội dung đồng phạm nhất định. Hình thức đồng phạm do nội dung đồng phạm quyết định tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện. Vì vậy, hình thức đồng phạm cũng chịu sự quy định của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà những người đồng phạm thực hiện, phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà những người đồng phạm thực hiện. Mặt khác, hình thức đồng phạm có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung đồng phạm, có ảnh hưởng nhất định đến tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà những người đồng phạm thực hiện.

Như vậy, có thể hiểu“hình thức đồng phạm là sự thể hiện mối quan hệ giữa những người đồng phạm qua mức độ phối hợp và phân công việc thực hiện hành vi đồng phạm”. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể thấy hình thức của đồng phạm có những đặc điểm sau:

  • Thứ nhất, hình thức đồng phạm là sự thể hiện mối quan hệ liên kết giữa những người đồng phạm, cụ thể:

Về mặt khách quan, đồng phạm đòi hỏi phải có 2 người trở lên, những người này đương nhiên phải thỏa mãn các dấu hiệu của chủ thể tội phạm. Mặt khác, những người này phải cùng tham gia thực hiện tội phạm có nghĩa là họ có thể trực tiếp (hành vi của người thực hành) hoặc gián tiếp (hành vi của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) thông qua hành vi của người thực hành thực hiện một tội phạm cụ thể, trong đó hành vi của mỗi người là một bộ phận trong mối liên hệ thống nhất, tác động lẫn nhau để tạo nên kết quả chung là tội phạm. Ở đây, phải xác định hành vi của người thực hành là trung tâm. Thiếu hành vi của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức vẫn có thể có đồng phạm (những người đồng phạm đồng thực hành), còn nếu thiếu hành vi của người thực hành thì không thể có đồng phạm. Trong trường hợp thực hiện tội phạm vô ý, hành vi phạm tội của mỗi người tuy có mối liên hệ khách quan về thời gian, không gian nhưng lại hoàn toàn độc lập với nhau về ý thức đối với hậu quả. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Về mặt chủ quan của đồng phạm, như đã đề cập, là sự cố ý của những người tham gia thực hiện một tội phạm. Đây là dấu hiệu bắt buộc mà thiếu nó, nếu thỏa mãn những dấu hiệu của mặt khách quan nêu trên vẫn không có đồng phạm. Sự cố ý được thể hiện ở hai phương diện lý trí và ý chí. Về lý trí: Mỗi người đồng phạm vừa phải nhận thức được hành vi tham gia thực hiện tội phạm của mình là nguy hiểm cho xã hội, vừa phải nhận thức được hành vi của những người khác tham gia thực hiện tội phạm với mình cũng là nguy hiểm cho xã hội; họ phải thấy trước (hoặc buộc phải thấy) hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện. Về ý chí: Những người đồng phạm đều mong muốn có hành động phạm tội chung, cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức đề mặc hậu quả xảy ra.

Không phải mọi hình thức tội phạm có từ 2 người trở lên thực hiện đều là đồng phạm với nhau. Để một tội phạm do từ 2 người trở lên thực hiện trở thành đồng phạm của nhau không chỉ có dấu hiệu 2 người trở lên cũng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong cùng một vụ án mà những người này thực hiện tội phạm phải với lỗi cố ý, nghĩa là họ phải cùng làm chủ và có sự thống nhất giữa ý chí và sự biểu hiện ý chí, nghĩa là trong trường hợp này những người này hoàn toàn biết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và họ hoàn toàn mong muốn thực hiện tội phạm đó. Hình thức của đồng phạm chính là sự thể hiện ra bên ngoài của mặt khách quan.

  • Thứ hai, hình thức đồng phạm được phán ảnh qua tính chất, mức độ quan hệ liên kết giữa những người đồng phạm trong quá trình thực hiện tội phạm.

Đồng phạm là hình thức phạm tội từ hai người trở lên với sự liên kết giữa những người đồng phạm. Tính chất quan hệ liên kết thể hiện ở phương thức phân công, phối hợp hoạt động với nhau.

Phối hợp là bố trí cùng hành động hoặc hỗ trợ nhau cùng thực hiện theo một kế hoạch chung để đạt được mục đích chung. Trong đồng phạm những người phạm tội cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm. Nhưng cũng có trường hợp mối quan hệ giữa những người đồng phạm chỉ đơn giản là cùng cố ý thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, không có sự phân công, liên kết chặt chẽ với nhau.

Mức độ phối hợp giữa những người đồng phạm có thể rất lỏng lẻo. Ví dụ: A, B, C đi nhậu về qua nhà anh D thấy vắng vẻ, cửa cổng không khóa, xe máy dựng giữa sân, chìa vẫn ở ổ khóa xe nên lẻn vào dắt ra rồi cả ba lên xe phóng đi.

Trong trường hợp này, sự liên kết phối hợp giữa A, B, C không chặt chẽ. Tất cả những người tham gia đều là người thực hành, cùng thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội là trộm cắp tài sản.

Mức độ phối hợp giữa những người đồng phạm cũng có thể rất chặt chẽ. Ví dụ: A, B, C và D bàn bạc nhau thống nhất sản xuất pháo nổ. A và B được phân công trực tiếp sản xuất, còn C và D được phân công “tiếp thị”, vận chuyển số pháo này đem đi bán.

Trong trường hợp này, những người đồng phạm có thông mưu trước, giữa những người phạm tội đã thống nhất được với nhau từ khi chuẩn bị đến khi kết thúc kể cả những biện pháp lẩn tránh pháp luật, tạo ra trong ý thức mỗi người một kế hoạch phạm tội có sự phối hợp hợp nhịp nhàng của những người tham gia. Trong quá trình phạm tội, từ khi chuẩn bị đến khi kết thúc, mỗi người phạm tội đều thể hiện sự phối hợp và liên kết chặt chẽ với nhau. Mỗi người được giao một nhiệm vụ cụ thể và tất cả họ cùng nhau liên kết lại thực hiện tội phạm và che dấu tội phạm. Mỗi thành viên có thể là người tổ chức, người điều hành, người giúp sức hoặc người thực hành, họ giúp đỡ lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng thực hiện tội phạm.

Sự phân công vị trí, vai trò giữa những người đồng phạm cũng thể hiện mức độ phối hợp trong hoạt động của một nhóm, một tập thể. Sự phân công càng cụ thể càng cho thấy rõ mức độ lỗi, mức độ phối hợp tham gia thực hiện tội phạm thể hiện sự phân hóa vai trò giữa những người đồng phạm và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Trong một vụ án có đồng phạm, tùy thuộc vào quy mô và tính chất mà có thể có những người giữ những vai trò khác nhau theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự gồm: “Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.”

Trong đó, người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Người thực hành là người có vai trò quyết định trong việc thực hiện tội phạm,vì họ là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội như: trực tiếp nhận hối lộ, trực tiếp cầm dao đâm nạn nhân… Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích của phạm tội không đạt được, hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được xem xét theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự (chỉ chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác rõ ràng phụ thuộc vào hành vi của của người thực hành.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Chỉ trong trường hợp phạm tội có tổ chức mới có người tổ chức. Người tổ chức có thể có những hành vi như: khởi xướng việc tội phạm; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm; điều khiển hành động của những người đồng phạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm… Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm chỉ được coi là đồng phạm khi hành vi xúi giục đó có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của những người đồng phạm khác, và chỉ sau khi bị xúi giục, người thực hiện phạm tội mới có ý định phạm tội. Hành vi xúi giục phải cụ thể, nhắm vào tội phạm cụ thể và người phạm tội cụ thể, nếu chỉ có lời nói có tính chất gợi ý chung chung thì không phải là người xúi giục và không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của người thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Người này cũng có vai trò quan trọng trong một vụ án có đồng phạm, giúp việc phạm tội thuận lợi hơn. Người giúp sức có thể giúp bằng lời khuyên, cung cấp phương tiện phạm tội như dao, súng, hứa tiêu thụ tài sản phạm tội… Hành vi tạo những điều kiện về tinh thần thường được biểu hiện như: Hứa hẹn sẽ che giấu hoặc hứa ban phát cho người phạm tội một lợi ích tinh thần nào đó như: hứa gả con, hứa đề bạt, thăng cấp, tăng lương cho người phạm tội, bày vẽ cho người phạm tội cách thức thực hiện tội phạm như: nói cho người phạm tội biết chủ nhà thường vắng nhà vào giờ nào để đến trộm cắp, nói cho người phạm tội biết người bị hai hay đi về đường nào để người phạm tội phục đánh…

Hành vi tạo điều kiện vật chất cho việc thực hiện tội phạm là hành vi cung cấp phương tiện tội phạm như: cung cấp dao, súng, côn gỗ, xe máy, xe ô tô… để người phạm tội thực hiện tội phạm. Dù tạo điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm thì hành vi đó cũng chỉ tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện tội phạm chứ người giúp sức không trực tiếp thực hiện tội phạm. Hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm của người giúp sức cũng có thể là hành vi của người tổ chức, nhưng khác với người tổ chức, người giúp sức không phải là người chủ mưu. cầm đầu, chỉ huy mà chỉ có vai trò thứ yếu trong vu án đồng phạm. Nếu các tình tiết khác như nhau thì người giúp sức bao giờ cũng được áp dụng hình phạt nhẹ hơn những người đồng phạm khác.

1.2. Ý nghĩa, cơ sở phân loại, nội dung phân loại các hình thức đồng phạm Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

1.2.1. Ý nghĩa, cơ sở phân loại các hình thức đồng phạm

Trong đồng phạm, những người phạm tội có mối liên kết để thực hiện hoạt động phạm tội, với nhiều trường hợp diễn ra rất phức tạp, đa dạng. Trên cơ sở xác định đúng hình thức đồng phạm, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử sẽ nhận diện được đầy đủ hơn, chính xác hơn mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng người đồng phạm. Để xác định đúng hình thức đồng phạm, cần có sự phân loại các hình thức đồng phạm. Bởi lẽ, cơ sở để phân loại các hình thức đồng phạm là căn cứ phản ánh tính chất, mức độ quan hệ liên kết trong đồng phạm khi những người đồng phạm chia sẻ ý định phạm tội, kế hoạch hóa và hiện thực hóa hành vi phạm tội. Vì vậy, việc phân loại các hình thức đồng phạm là phương pháp để nhận thức đúng các hình thức đồng phạm. Hình thức đồng phạm cũng như bất kỳ một hình thức nào đều phải dựa trên những căn cứ phân loại nhất định.

Phân loại các hình thức đồng phạm là việc chia các hình thức đồng phạm thành các nhóm khác nhau dựa trên cơ sở một căn cứ xác định nhằm vào những mục đích nhất định. Phân loại theo căn cứ nào cho phù hợp phụ thuộc vào mục đích của sự phân loại chứ không nhất thiết phải trên cơ sở một căn cứ nhất định.

Trong khoa học luật hình sự trên thế giới cũng như Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về các hình thức đồng phạm. Việc chia hình thức đồng phạm thành những dạng khác nhau là bởi những căn cứ phân loại chúng không giống nhau. Mỗi cách phân loại lại dựa trên một căn cứ, một mục đích nhất định và cách lý giải cho sự phân loại đó cũng có sự hợp lý riêng của nó.

Khoa học luật hình sự nhiều nước Tây Âu cũng đã có nhiều nghiên cứu về việc phân loại các hình thức đồng phạm. Đánh giá về cách phân loại này, TS. Trần Quang Tiệp cho rằng:

Do không muốn làm rõ bản chất của tội phạm là hành vi nguy hiểm, xâm phạm đến lợi ích của giai cấp tư sản thống trị, nên các nhà hình sự khoa học tư sản không đưa ra căn cứ phân loại mà chia các hình thức đồng phạm thành các loại: hình thức đồng phạm chủ động, hình thức đồng phạm thụ động; hình thức đồng phạm cần thiết, hình thức đồng phạm lựa chọn; hình thức đồng phạm trước, hình thức đồng phạm sau [25, tr. 50].

Tại Việt Nam, các hình thức đồng phạm thường được chia thành: đồng phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu trước hay đồng phạm giản đơn (đồng phạm đồng thực hành) và đồng phạm phức tạp (đồng phạm có sự thực hiện các vai trò khác nhau). Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

  • Ngoài ra, còn tồn tại cách phân loại đồng phạm có tổ chức và đồng phạm thường.

Sau khi BLHS 1985 được ban hành, trong lý luận hình sự ở nước ta còn có một số quan điểm phân loại khác. Có quan điểm phân loại các hình thức đồng phạm theo hình thức tham gia của người đồng phạm với lập luận là để biết những hình thức tham gia như thế nào thì bị coi là đồng phạm. Theo cách phân loại này, có bốn hình thức đồng phạm là đồng phạm thực hành, đồng phạm xúi giục, đồng phạm tổ chức và đồng phạm giúp sức [7, tr. 40]. Cách phân loại này đã mắc phải sai lầm đó là nhầm lẫn giữa khái niệm hình thức đồng phạm với khái niệm người đồng phạm. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

Có cách phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ cùng tham gia của những người phạm tội. Theo quan điểm này, các hình thức đồng phạm được phân chia thành 3 hình thức: phạm tội không có thông mưu trước (đồng phạm đơn giản), phạm tội có thông mưu trước (đồng phạm phức tạp) và phạm tội có tổ chức (đồng phạm phức tạp). Theo GS.TSKH. Lê Cảm:

Phạm tội không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm đơn giản và có sự cấu kết không chặt chẽ của những người cùng thực hiện tội phạm; còn phạm tội có thông mưu trước là hình thức đồng phạm phức tạp và có sự cấu kết tương đối chặt chẽ của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm [5, tr. 153].

Theo chúng tôi, quan điểm này là hợp lý vì sự phân loại căn cứ vào dấu hiệu khách quan hay chủ quan chỉ mang tính chất tương đối. Đồng phạm không có thông mưu trước hay có thông mưu trước suy cho cùng là đồng phạm có hay không có có sự trao đổi, thảo luận, “bàn mưu tính kế” từ trước đó giữa những người đồng phạm. Về mặt chủ quan, cách phân loại này cho thấy rõ động cơ, mục đích của tội phạm, mức độ lỗi khác nhau giữa hai hình thức, tuy nhiên, chúng đều thể hiện ra bên ngoài thành những hình thức đồng phạm đơn giản hay phức tạp. Đồng phạm đơn giản phản ảnh cả dấu hiệu khách quan (người cùng tham gia đều có vai trò đồng thực hành) và dấu hiệu chủ quan (không có sự bàn bạc, tính toán đáng kể). Tương tự, đồng phạm phức tạp cũng phản ảnh cả dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan (có sự phân công, phối hợp chu đáo do có sự bàn bạc, tính toán kỹ từ trước).

Chúng tôi cho rằng phân loại theo căn cứ nào là hợp lý phụ thuộc vào cách tiếp cận của người phân loại. Nhưng dù là căn cứ gì thì nó cũng phải là sự phản ánh tính chất, mức độ quan hệ liên kết trong quá trình thực hiện hành vi đồng phạm. Việc phân loại các hình thức đồng phạm không có mục đích tự thân, tức là việc phân loại các hình thức đồng phạm phải đạt được mục đích là đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng hình thức đồng phạm, để phục vụ việc xây dựng các chế định Phần chung như chế định đồng phạm, các chế định có liên quan và các quy định của Phần các tội phạm luật hình sự.

1.2.2. Nội dung phân loại các hình thức đồng phạm Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

  • Đồng phạm giản đơn (đồng phạm đồng thực hành)

Giáo trình Luật hình sự của Cộng hòa nhân dân Mông Cổ đã đưa ra khái niệm đồng phạm giản đơn như sau: “Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm trong đó mỗi người đồng phạm đều có vai trò là người thực hành” [6, tr. 223].

Khoa học luật hình sự Việt Nam cũng từng có quan điểm tương tự khi đưa ra khái niệm: “Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm, trong đó những người cùng tham gia vào vụ phạm tội đều có vai trò là người thực hành” [45, tr. 183].

Ví dụ: A, B và C tổ chức uống rượu, sau đó đi hát karaoke và uống bia tại quán của chị H, A hỏi chị H tại sao ở đây không có “gái”, nếu không có thì chị phải làm gái cho chúng tôi. A và chị H cãi nhau, A dùng tay đập vỡ kính bàn, ném các ly bia vào tường. Chị H hoảng sợ nhờ anh Q hàng xóm sang can ngăn thì hai tên A và B chửi bới, hò hét, đập phá cho đến khi công an đến can thiệp. Tòa án nhân dân đã tuyên bố A và B phạm tội gây rối trật tự công cộng. Đây là hình thức đồng phạm giản đơn, trong đó cả hai tên đồng phạm là A và B đều là người đồng thực hành.

Ở hình thức đồng phạm này, mỗi người đồng phạm đều thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành của tội phạm thuộc điều luật thuộc phần các tội phạm của BLHS. Dấu hiệu cơ bản để phân biệt đồng phạm giản đơn và đồng phạm có một người thực hành là mỗi người đồng thực hành có thể thực hiện một phần hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm, nhưng tổng hợp hành vi của những người đồng thực hành thỏa mãn dấu hiệu khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm, thì tội phạm do những người đồng thực hành thực hiện vẫn được coi là tội phạm hoàn thành, đó là điều không có ở hình thức đồng phạm chỉ có một người thực hành. Đối với những tội phạm luật quy định chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt, thì tất cả những người đồng thực hành phải có đầy đủ các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt. Đồng phạm giản đơn còn có đặc điểm đặc trưng là thời gian, địa điểm phạm tội của những người đồng thực hành trùng hợp nhau. Khi định tội danh đối với hành vi của những người đồng phạm ở hình thức đồng phạm đồng thực hành, phải căn cứ vào điều luật tương ứng thuộc phần các tội phạm của BLHS và điều luật quy định đồng phạm thuộc phần chung của Bộ luật.

  • Đồng phạm phức tạp

Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm, trong đó có một hoặc một số người tham gia giữ vai trò người thực hành, còn những người đồng phạm khác giữ vai trò xúi giục, tổ chức hay giúp sức” [18, tr. 142]. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Ở hình thức đồng phạm phức tạp, hành vi phạm tội của những người đồng phạm không những khác nhau ở nội dung phạm tội và hình thức biểu hiện, mà còn có thể khác nhau về thời gian, địa điểm phạm tội. Phần lớn các hình thức đồng phạm phức tạp có thông mưu trước, bởi lẽ hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức thường được tiến hành trước thời điểm người thực hành thực hiện hành vi phạm tội. Sự thỏa thuận giữa những người đồng phạm ở hình thức đồng phạm này có thể trước thời điểm thực hiện tội phạm một thời gian dài, cũng có thể ngay trước thời điểm thực hiện tội phạm. Sự khác nhau cơ bản giữa đồng phạm phức tạp và đồng phạm giản đơn thể hiện ở chỗ, trong đồng phạm phức tạp chỉ có một hoặc một số người đồng phạm thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm, còn trong đồng phạm giản đơn thì tất cả những người đồng phạm đều thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Ví dụ: A đã có hành vi rủ rê, lôi kéo B và C đi “phạt tiền” anh H. A giao nhiệm vụ cho B vào gọi anh H ra để A gặp, khi anh H ra, A yêu cầu anh H nộp cho hắn 500.000 đồng; khi anh H nói không có tiền, A đã tát rồi dùng dao đâm vào bụng anh H. B thấy vậy cũng cầm ghế đuổi theo đánh anh H. Trong vụ án này tòa án đã kết luận A, B và C đồng phạm tội cướp tài sản; A giữ vai trò là người tổ chức, vừa là người thực hành, B giữ vai trò là người thực hành, C giữ vai trò là người giúp sức.

  • Đồng phạm không có thông mưu trước

Hiện nay, đồng phạm không có thông mưu trước được hiểu là hình thức đồng phạm mà những người đồng phạm không có bàn bạc, trao đổi trước với nhau về việc thực hiện tội phạm [42, tr. 189].

Ở hình thức đồng phạm này, mối liên hệ về mặt chủ quan giữa những người đồng phạm ở mức thấp nhất, chỉ giới hạn ở nhận thức của một người đồng phạm về việc tham gia hoạt động phạm tội của những người đồng phạm khác thường là vào thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm hoặc trong quá trình thực hiện tội phạm. Lý do đó không cho phép những người đồng phạm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, phối hợp chặt chẽ với nhau cũng như áp dụng các biện pháp che dấu, xóa dấu vết của tội phạm như đồng phạm có thông mưu trước.

Ví dụ: A rủ B, C và D lên xã H.L huyện V.T, tỉnh V để thăm em gái D. Đến cánh đồng thuộc xã H.L, cả bọn ngồi nghỉ thì anh G đi xe đạp qua chỗ B, C, D ngồi. B hỏi “thằng nào đấy?”, anh G vòng xe lại nói “không quen không trả lời” rồi đạp xe đi. Thấy vậy B, C, D đuổi theo, lúc này A từ nhà đi ra, cũng vừa đến đó, cả bốn tên xông vào đấm đá anh G làm anh ngã xuống đất. Tổ chức giám định pháp y tỉnh V đã tiến hành giám định thương tích đối với anh G và xác định tỷ lệ thương tật 17%. Tòa án kết luận A, B, C, D đồng phạm tội cố ý gây thương tích. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Đây là hình thức đồng phạm không có thông mưu trước. Cả bốn tên A, B, C, D đều là người đồng thực hành, chúng nhất trí với nhau ở hiện trường và bắt tay ngay vào việc thực hiện tội phạm. Cũng có thể đồng phạm không có thông mưu được hình thành khi có một người đang thực hiện tội phạm thì những người khác mới tham gia.

Đồng phạm không có thông mưu trước được chia thành hai loại: đồng phạm có một người thực hành không có thông mưu trước và đồng phạm có hai người thực hành trở lên không có thông mưu trước.

Đồng phạm có một người thực hành không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó giữa người thực hành với những người đồng phạm khác không có sự thỏa thuận, bàn bạc trước với nhau về việc cùng thực hiện tội phạm.

Đồng phạm có hai người đồng thực hành trở lên không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm giữa hai người đồng thực hành hay giữa họ với những người đồng phạm khác không có sự thỏa thuận, bàn bạc trước với nhau về việc cùng thực hiện tội phạm.

Đồng phạm có hai người thực hành trở lên không có thông mưu trước có thể là trường hợp có hai người thực hành trở lên, còn các người đồng phạm khác đóng vai trò người xúi giục, người giúp sức, cũng có thể xảy ra trường hợp toàn bộ những người đồng phạm là người đồng thực hành; còn đồng phạm có một người thực hành không có thông mưu trước thì đương nhiên người đồng phạm khác hoặc những người đồng phạm khác phải giữ vai trò người xúi giục, người giúp sức.

Trong hai hình thức đồng phạm trên thì đồng phạm có hai người thực hành trở lên không có thông mưu trước có mức độ tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với đồng phạm có một người thực hành không có thông mưu trước. Luận điểm này được luận chứng bởi cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây: sự gây thiệt hại cho khách thể dù ở hình thức cụ thể nào cũng luôn diễn ra trên cơ sở hành vi phạm tội làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động – các bộ phận cấu thành của quan hệ xã hội: chủ thể, nội dung, đối tượng của các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Sự làm biến đổi tình trạng này chính là phương thức gây thiệt hại cho quan hệ xã hội. Cùng không có thông mưu trước và các tình tiết khác tương đương, thì hai người thực hành trở lên có khả năng tác động làm biến đổi tình trạng của những đối tượng tác động cụ thể lớn hơn so với một người thực hành.

Luật hình sự Việt Nam đã thể hiện quan điểm này khi quy định tình tiết hai người thực hành trở lên là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS 1999), tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112), tội cưỡng dâm (Điều 113), tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114) với quy định nhiều người hiếp một người, nhiều người cưỡng dâm một người.

Đồng phạm không có thông mưu trước khác với trường hợp đông người phạm tội. Khi tội phạm được thực hiện bởi nhiều người và hành động có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì trường hợp đó được gọi là đồng phạm. Đồng phạm là hình thức phạm tội “đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ (về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện)… Đồng phạm không có thông mưu trước là một trong các hình thức của đồng phạm nên cũng phải có những điều kiện này. Còn đối với trường hợp đông người phạm tội chỉ là trường hợp một số người đã cùng thực hiện một tội phạm và cùng một thời gian, nhưng giữa những người này không có sự bàn bạc, liên hệ, ràng buộc, hỗ trợ nhau mà hành vi của từng người đều thực hiện độc lập. Trường hợp này không được coi là đồng phạm.

Ví dụ: Nhân lúc không có ai ở nhà, A cắt khóa lẻn vào nhà bà C lấy trộm chiếc xe tay ga trị giá 40 triệu đồng. B đi qua nhà bà C thấy cổng mở, nhưng lại không có ai ở nhà, thấy có chiếc xe máy số dựng ở ngoài sân, B lẻn vào dắt đi. Chiếc xe trị giá 25 triệu đồng.

Trong trường hợp này, A và B cùng phạm tội trộm cắp tài sản, tuy nhiên A và B không được coi là đồng phạm. Bởi, trong trường hợp trên chỉ đáp ứng được điều kiện có 2 người trở lên thực hiện tội phạm với lỗi cố ý nhưng không đáp ứng điều kiện là cùng thực hiện tội phạm. A và B không cùng bàn bạc nhau vào nhà bà C lấy trộm tài sản mà đây là hành vi khác nhau của hai chủ thể trong tội trộm cắp tài sản. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Như vậy, nhiều người tham gia thực hiện tội phạm có thể là đồng phạm hoặc có thể không, để xác định chính xác cần phải đặt chúng trong từng trường hợp cụ thể, các yếu tố cấu thành tội phạm.

  • Đồng phạm có thông mưu trước

Đồng phạm có thông mưu trước được đề cập đầu tiên trong Quốc triều hình luật tại Điều 454: “Những kẻ cùng mưu với nhau đi ăn cướp, nhưng khi đi thì lại không đi, người đi lấy được của về chia nhau, mà kẻ đồng mưu ở nhà cũng lấy phần chia, thì cũng xử tội như là có đi ăn cướp (ăn trộm cũng vậy). Nếu không lấy phần chia thì xử lưu đi châu gần” [30, t.r 164 – 165].

Hoàng Việt hình luật tuy chưa có khái niệm dự mưu nói chung nhưng cũng đã quy định về khái niệm dự mưu tội cố sát: “Dự mưu là trước việc làm đã quyết ý xâm phạm đến thân thể một người nào sẽ thấy hay sẽ gặp, không kể sự quyết ý ấy nhân tình – thế gì hay sự do gì cũng vậy” [15, tr. 117].

Bộ luật này cũng đã thể hiện quan điểm đánh giá đồng phạm có dự mưu có mức độ tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn đồng phạm không có dự mưu, cho nên những người đồng phạm có dự mưu phải chịu hình phạt nặng hơn:

Khi nào nhiều người cùng đánh hoặc hành hung hay bạo hành một người, nếu các phạm nhân không có bàn định trước và đồng mưu với nhau, thời ít ra chính phạm cũng bị phạt giam 2 tháng, đồng phạm sẽ bị phạt giam 2 tháng.

Nếu đã bàn định trước và hiệp ý đồng mưu với nhau rồi mới đánh hoặc có hành hung hay bạo hành thời chánh phạm ít ra sẽ bị phạt giam 6 tháng, đồng hay tòng phạm ít ra sẽ bị phạt giam 4 tháng [15, tr. 117].

Sau Cách mạng Tháng tám, trong các văn bản pháp luật hình sự Nhà nước ta, cũng đã quy định tình tiết có dự mưu trước là tình tiết tăng nặng đặc biệt của tội giết người. Thông tư số 442/TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng chính phủ quy định: “Cố ý giết người: phạt tù từ 5 năm đến 20 năm, nếu có trường hợp nhẹ thì có thể hạ xuống đến 1 năm, giết có dự mưu có thể phạt đến tử hình” [4, tr. 135].

Tình tiết có dự mưu được áp dụng đối với cả trường hợp phạm tội riêng lẻ và trường hợp đồng phạm. Trong trường hợp đồng phạm giết người có dự mưu, nói cách khác, đồng phạm giết người có thông mưu trước, thì phải coi đây là tình tiết tăng nặng đặc biệt của tội giết người. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Tổng kết thực tiễn xét xử, tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra khái niệm giết người có dự mưu “trước hết phải có ý định giết người từ trước khi giết và đã có sự chuẩn bị hoặc ít nhất là có kế hoạch để thực hiện ý định đó” [38, tr. 340].

Các sách pháp lý nước ta cũng đưa ra khái niệm: “Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm, trong đó những người đồng phạm có sự thỏa thuận, bàn bạc trước với nhau về tội phạm cùng thực hiện” [46, tr. 141].

Sự bàn bạc, thỏa thuận trước giữa những người đồng phạm về tội phạm cùng thực hiện có thể diễn ra ngay trước khi bắt tay vào việc thực hiện tội phạm hoặc ở một thời điểm cách xa thời điểm thực hiện tội phạm. Sự thỏa thuận, bàn bạc trước đó có thể chỉ liên quan đến một số khía cạnh cụ thể của việc thực hiện tội phạm hay che dấu tội phạm mà không nhất thiết phải thỏa thuận về toàn bộ hoạt động phạm tội. Sự thông mưu trước cũng có thể rất chi tiết, cụ thể, nói lên mức độ phối hợp cao giữa những người đồng phạm trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm. Cũng có thể có những trường hợp, những người đồng phạm không chỉ thỏa thuận, bàn bạc trước về một tội phạm nguy hiểm cho xã hội của một số nhóm tội phạm, loại tội phạm.

Như vậy có thể hiểu, đồng phạm có thông mưu trước là hình thức phạm tội, trong đó những người đồng phạm có sự thỏa thuận, bàn bạc trước với nhau về hoạt động phạm tội chung trước khi thực hiện tội phạm.

  • Phạm tội có tổ chức và vấn đề tổ chức tội phạm

Trong các hình thức đồng phạm có thông mưu trước, phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có thông mưu trước đặc biệt. Bên cạnh đặc điểm những người đồng phạm phải có sự thỏa thuận, bàn bạc với nhau về hoạt động phạm tội chung trước khi thực hiện tội phạm, phạm tội có tổ chức đòi hỏi mối quan hệ giữa những người đồng phạm phải là mối quan hệ có tổ chức. Cấp độ tổ chức càng chặt chẽ, càng mang tính hệ thống, thì mức độ tính nguy hiểm của đồng phạm có tổ chức càng cao.

Phạm tội có tổ chức lần đầu tiên được đề cập đến trong Thông tư số 442-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng Chính phủ với các tên gọi “Cướp đường hay trộm có tổ chức, “đánh bị thương có tổ chức” [38, tr. 135].

Nhưng thế nào là “có tổ chức” thì Thông tư này không giải thích, mặc dù tình tiết có tổ chức được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của các tội trên. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân tuy có đề cập đến phạm tội có tổ chức nhưng đều không quy định khái niệm về nó. Phạm tội có tổ chức chỉ mới được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của 9 tội phạm trong Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và 7 tội phạm trong Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân.

Dự thảo Thông tư ngày 16/3/1973 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an hướng dẫn thống nhất về nhận thức về hai Pháp lệnh trên đã đưa ra khái niệm phạm tội có tổ chức:

Phải xuất phát từ đặc điểm tình hình tội phạm ở nước ta mà hiểu thế nào là phạm tội có tổ chức. Đây là một hình thức cộng phạm của hai hay nhiều người:

Trong đó có một hoặc một số tên cầm đầu, hoặc một số tên đóng vai trò chủ chốt, cùng nhau bàn bạc trước về việc thực hiện một hoặc nhiều tội phạm nào đó, thủ đoạn phạm tội thường là tinh vi, xảo quyệt, vai trò của từng tên phân công giữa bọn chúng trong nhiều trường hợp có thể không dứt khoát, rõ ràng.

Hoặc lợi dụng hay núp dưới danh nghĩa một tổ chức công khai để bàn bạc nhau về việc thực hiện tội phạm; hoặc có khi chúng không bàn bạc nhau trước, nhưng do quan hệ công tác hàng ngày nên hiểu ý đồ nhau rồi cùng hành động phạm tội, mặc nhiên cấu kết nhau chặt chẽ [38, tr. 239].

Trong dự thảo thông tư này, hình thức phạm tội có tổ chức được phân biệt với hình thức cộng phạm thông thường ở 3 điểm: hình thức cộng phạm thông thường không có sự bàn bạc, phân công chặt chẽ trước; không có vai trò cầm đầu hoặc chủ chốt; thủ đoạn phạm tội đơn giản. Có thể nhận xét, khái niệm trên chưa mang tính khái quát cao, chưa đề ra được các đặc trưng của phạm tội có tổ chức.

Ở nước ta, BLHS 1985 tại khoản 3 Điều 17 cũng như BLHS 1999 tại khoản 3 Điều 20 quy định: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”. Tình tiết phạm tội có tổ chức không những được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 39 BLHS 1985, Điều 48 BLHS 1999, mà còn được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại nhiều điều luật. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Việc BLHS 1985, BLHS 1999 quy định khái niệm phạm tội có tổ chức, đồng thời xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hình thức đồng phạm đặc biệt này, đánh dấu bước trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn còn trừu tượng do tính chất định tính của cụm từ “câu kết chặt chẽ”, cho nên Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1988 hướng dẫn, bổ sung Nghị quyết số 02/ HĐTP ngày 5/01/1986 đã giải thích:

Phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Trong thực tế, sự câu kết này có thể thể hiện dưới các dạng sau đây:

  1. Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như: Đảng phái, hội, đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những tên chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội. Thí dụ: sau khi đã hết hạn tù, một số tên chuyên trộm cắp đã tập hợp nhau lại và thống nhất cùng nhau tiếp tục hoạt động phạm tội.
  2. Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước. Thí dụ: một số nhân viên nhà nước đã thông đồng với nhau tham ô nhiều lần; một số tên chuyên cùng nhau đi trộm cắp; một số tên hoạt động đầu cơ, buôn lậu có tổ chức đường dây để nắm nguồn hàng, vận chuyển, thông tin về giá cả…
  3. Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm. Thí dụ: Trong các trường hợp trộm cắp, cướp tài sản của công dân mà có phân công điều tra trước về nơi ở, quy luật sinh hoạt của gia đình chủ nhà, phân công chuẩn bị phương tiện và hoạt động của mỗi người đồng phạm; tham ô mà có bàn bạc trước về kế hoạch sửa chữa chứng từ sổ sách, hủy chứng từ, tài liệu hoặc làm giả giấy tờ; giết người mà có bàn bạc hoặc phân công điều tra sinh hoạt của nạn nhân, chuẩn bị phương tiện và kế hoạch che giấu tội phạm v.v… [39, tr. 76].

Tình tiết phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt cũng đã được bổ sung vào các điều luật mới qua các lần sửa đổi, bổ sung BLHS 1985. Bộ luật này khi mới ban hành chỉ có 29 điều luật quy định phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Lần sửa đổi, bổ sung BLHS 1989 đã bổ sung Điều 96a, trong đó tình tiết phạm tội có tổ chức được quy định tại điểm a khoản 2 của điều này. Lần sửa đổi, bổ sung BLHS 1991, số lượng tình tiết phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt không thay đổi, nhưng đến lần bổ sung, sửa đổi năm 1997, phạm tội có tổ chức đã trở thành tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của nhiều tội hơn. Ngoài 10 điều luật (Điều 185a,b,c,d,e,g,h,m,n) là các điều thay thế điều 96a của BLHS sửa đổi năm 1989, còn có 7 điều mới quy khác quy định phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt (Điều 112a, Điều 133, Điều 134a, Điều 137a, Điều 156, Điều 221a, Điều 228a). Như vậy, trong Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 1997, có tổng cộng 49 điều luật quy định phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Trong một số điều luật cũng có sự sửa đổi về vị trí của tình tiết phạm tội có tổ chức như tình tiết có tổ chức được tách thành một tình tiết riêng quy định ở điểm a khoản 2 Điều 112; tình tiết có tổ chức từ chỗ được quy định từ điểm c khoản 2 Điều 224 trong Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 1992,được quy định thành tình tiết đầu tiên (điểm a) của khoản 2 Điều này. Trong Bộ luật Hình sự năm 1999, tình tiết phạm tội có tổ chức được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của 76 điều luật. So với Bộ luật Hình sự năm 1985 với bốn lần sửa đổi vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997, Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm đáng chú ý sau:

Thứ nhất, 14 điều luật quy định tội phạm mới đã đưa phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng khung hình phạt (Điều 118, 127, 158, 170, 171, 189, 190, 226, 233, 251, 266, 267, 268, 280). Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Thứ hai, bổ sung phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của 19 điều luật quy định các tội phạm tương ứng trong Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 104, 122, 123, 124, 125, 126, 135, 140, 143, 164, 165, 176, 221, 245, 254, 255, 283, 290, 306).

Thứ ba, tình tiết phạm tội có tổ chức từ chỗ được quy định chung trong cùng một điểm với tình tiết có tính chất chuyên nghiệp trong Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được tách riêng quy định tại điểm a khoản 2 của 9 điều luật (Điều 120, 133, 134, 136, 138, 153, 156, 160, 250)

Mặc dù khái niệm phạm tội có tổ chức đã được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng về mặt lý luận còn có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất pháp lý của khái niệm này. Do luật hình sự của các nước trên thế giới quan niệm về vấn đề này khác về chất so với luật hình sự của nước ta ngay ở tên gọi của khái niệm như Bộ luật Hình sự Cộng hòa Pháp gọi là băng có tổ chức, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga gọi là nhóm có tổ chức mà băng, nhóm là chủ ngữ khác hẳn với phạm tội chỉ đóng vai trò là vị ngữ. Vì vậy, ở đây chúng tôi chỉ nêu ra một số quan điểm còn khác nhau xung quanh khái niệm phạm tội có tổ chức ở nước ta.

Loại quan điểm thứ nhất cho rằng, phạm tội có tổ chức dứt khoát phải là hình thức đồng phạm phức tạp, tức là phải có sự phân công vai trò giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Nếu giữa những người phạm tội đều có vai trò thực hiện tội phạm như nhau thì đó là đồng phạm giản đơn chứ không phải là phạm tội có tổ chức.

Quan điểm này sai lầm ở chỗ, đã tuyệt đối hóa một mặt của vấn đề được nghiên cứu, đó là vai trò của những người đồng phạm. Thực tiễn cũng đã chỉ ra rằng, sự phân công vai trò khác nhau giữa những người đồng phạm tuy là dấu hiệu phổ biến của hình thức phạm tội có tổ chức nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc, dấu hiệu duy nhất. Vì vậy, vẫn có những trường hợp phạm tội có tổ chức, mà trong đó những người đồng phạm không những cấu kết chặt chẽ về ý thức phạm tội, mà còn có sự phối kết hợp chặt chẽ với nhau khi thực hiện tội phạm nhưng khi thực hiện tội phạm thì mỗi người đều là người thực hành mà không có người tổ chức, người xúi giục hoặc là người giúp sức với vai trò rõ ràng, cụ thể.

Ví dụ: bản án số 159/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh T.B. Đã kết luận Bùi Văn H và Trương Văn L đồng phạm tôi trộm cắp tài sản với tình tiết phạm tội có tổ chức bởi lẽ: Bùi Văn H và Trương Văn L đều là phạm nhân quen biết nhau trong trại giam. Sau khi ra trại, L đến nhà H và chúng cùng nhau thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản của công dân.

Loại quan điểm thứ hai cho rằng, ở hình thức phạm tội có tổ chức, những người đồng phạm phải phạm nhiều tội hoặc phạm một tội, nhưng nhiều lần và có sự cấu kết chặt chẽ với nhau trong một thời gian dài. Theo quan điểm này, phạm vi những vụ đồng phạm được xác định là phạm tội có tổ chức sẽ quá thu hẹp vì chỉ có một số ít các tổ chức chống chính quyền nhân dân, tổ chức phạm tội khác mới thỏa mãn được điều kiện này. Nếu thực hiện theo quan điểm này, công tác điều tra, truy tố, xét xử sẽ nương nhẹ nhiều trường hợp có đầy đủ căn cứ để xác định là hình thức đồng phạm đặc biệt, có tính chất, mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, vì vậy sẽ giảm hiệu quả đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm nói riêng.

Loại quan điểm thứ ba, đồng nhất khái niệm phạm tội có tổ chức với đồng phạm có thông mưu trước. Loại quan điểm này sai lầm ở chỗ đã đồng nhất giữa cái chung là đồng phạm có thông mưu trước với cái riêng là hình thức phạm tội có tổ chức. Thực ra, đồng phạm có thông mưu trước và hình thức đồng phạm có tổ chức là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất: phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có thông mưu trước nhưng kèm theo nó là những dấu hiệu đặc trưng khác. Theo logic hình thức thì ngoại diên của khái niệm phạm tội có tổ chức nằm trong ngoại diên của khái niệm đồng phạm có thông mưu trước. Xét về mức độ tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn đồng phạm có thông mưu trước.

Một vấn đề đáng chú ý khác là cần phân biệt khái niệm phạm tội có tổ chức với khái niệm các tội phạm cụ thể có sử dụng cụm từ tổ chức được quy định trong BLHS: tội tổ chức tảo hôn, tội tổ chức đánh bạc… Khái niệm phạm tội có tổ chức khác với khái niệm các tội phạm có sử dụng cụm từ tổ chức nói trên như sau: Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Thứ nhất, phạm tội có tổ chức là trường hợp đồng phạm đặc biệt có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm, còn đối với các tội phạm có sử dụng cụm từ “tổ chức”, hành vi tổ chức người khác thực hiện hành vi phạm pháp cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS.

Thứ hai, một trong những điều kiện bắt buộc của phạm tội có tổ chức là số người phạm tội phải từ hai trở lên, trong khi đối với các tội phạm có cụm từ tổ chức, không nhất thiết phải có điều kiện này. Chỉ cần một người có hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể có sử dụng cụm từ tổ chức là có thể phạm tội này.

Thứ ba, việc xác định trách nhiệm hình sự đối với phạm tội có tổ chức phải căn cứ vào điều luật cụ thể quy định tội phạm, mà những người đồng phạm tham gia thực hiện và điều luật quy định chế định đồng phạm, trong khi đó việc xác định trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội cụ thể có sử dụng cụm từ có tổ chức chỉ cần căn cứ vào điều luật cụ thể quy định tội phạm đó.

Thứ tư, trong trường hợp phạm tội có tổ chức, những người đồng phạm cùng phạm một tội; đối với tội phạm có sử dụng cụm từ có tổ chức, thì chỉ người có hành vi tổ chức người khác thực hiện hành vi phạm pháp là phạm tội này, còn người thực hiện hành vi phạm pháp hoặc chỉ vi phạm pháp luật hành chính hoặc nếu phạm tội thì là phạm tội khác như tội đánh bạc,…

Thứ năm, trường hợp hai người trở lên cùng cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm có sử dụng cụm từ tổ chức và giữa những người này có sự câu kết chặt chẽ với nhau thì những người này đồng phạm tội đó dưới hình thức phạm tội có tổ chức. Việc giải quyết vụ án này tương tự như các vụ án phạm tội có tổ chức khác.

Đồng phạm có tổ chức có những đặc trưng cơ bản sau đây:

  • Nhóm tội phạm trước hết phải có thông mưu trước, ngoài sự bàn bạc thỏa thuận trước về việc cùng thực hiện tội phạm, những người đồng phạm thường chuẩn bị thực hiện và che dấu tội phạm một cách kỹ lưỡng với phương pháp, thủ đoạn thường tinh vi, xảo quyệt.
  • Nhóm tội phạm được hình thành với phương hướng hoạt động có tính chất lâu dài, bền vững, thường có sự phân công vai trò thực hiện tội phạm khác nhau giữa những người đồng phạm nhằm thực hiện nhiều tội, phạm tội nhiều lần.
  • Nhóm tội phạm ngoài ý đồ phạm tội thống nhất, phải có sự phối hợp hoạt động giữa các thành viên trong nhóm. Mỗi thành viên trong nhóm chịu sự điều hành chung thống nhất, đều thừa nhận và sử dụng nhóm phạm tội như là một công cụ trong hoạt động phạm tội của mình.

Trong các nhóm tội phạm, tổ chức tội phạm có tính nguy hiểm nhất, bởi lẽ những thành viên của tổ chức tội phạm không chỉ thỏa thuận với nhau về việc cùng tham gia thực hiện tội phạm mà còn thống nhất hình thành những hình thức tổ chức bất hợp pháp bền vững, chặt chẽ. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Trong lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam, Hoàng Việt luật lệ đã đề cập đến tổ chức tội phạm tại Điều 142: “Phạm sự kết hội với nhau, không cứ kỳ hạn bao lâu, số người bao nhiêu và những sự bàn định với nhau mục đích để dự hành hay là thực hành những sự hại đến thân thể hay là tài sản người ta thời cho là đại tội cả” [15]. Khái niệm tổ chức tội phạm ở trong Bộ luật này được quy định với phạm vi quá rộng, với thời điểm được coi là tội phạm hoàn thành rất sớm: từ khi có sự bàn định với nhau, mục đích để chuẩn bị phạm tội.

Bộ hình luật của chính quyền Ngụy Sài Gòn trước đây ở mục gian nhân hiệp đảng, đã kế thừa hầu như toàn bộ nội dung của khái niệm trên và quy định khái niệm tổ chức tội phạm tại Điều 306: “Kết thành trọng tội xâm phạm trật tự công cộng, mọi hiệp đảng bất luận kỳ hạn hay nhân số, hoặc mọi hiệp mưu nhằm mục đích chuẩn bị hay thực hành trọng tội phạm đến thể nhân hay tài sản”… Trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 307 “Người nào gia nhập một hiệp đảng hay tham dự một hiệp mưu nói ở Điều trên sẽ bị phạt khổ sai hữu hạn” [3, tr. 108].

Như vậy, theo quy định của hai bộ luật hình sự nói trên, bất cứ hành vi tham gia một tổ chức tội phạm nào đều phải chịu trách nhiệm hình sự, kể cả ở giai đoạn mới bàn bạc để chuẩn bị phạm tội.

Sau Cách mạng Tháng tám, Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng trị những tội phạm đến an toàn nhà nước, đối nội và đối ngoại; Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật; Sắc lệnh số 267-SL ngày 15/6/1956 trừng trị những âm mưu và hành vi phá hoại tài sản Nhà nước của hợp tác xã, nhân dân và cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch nhà nước đều đã đề cập đến những tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại kháng chiến; tổ chức quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; phản bội tổ quốc, hay tổ chức phá hoại nhưng chưa đưa ra khái niệm chung về tổ chức phản động.

BLHS 1999 của nước ta, mặc dù chưa đưa ra khái niệm tổ chức tội phạm nhưng cũng đã đề cập đến tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Quan niệm thế nào là tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân cũng chưa được Bộ luật đề cập đến. Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội lật đổ chính quyền cho thấy, những tổ chức phản động thường có dấu hiệu đặc trưng như: Có một hoặc nhiều tên giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy; có cương lĩnh, điều lệ với mục đích chống chính quyền nhân dân, có vũ khí, phương tiện như súng đạn, máy truyền chữ,…; phương thức phát triển tổ chức thường theo kiểu “rỉ tai”, “gây men”, thành viên tham gia tổ chức thường là những phần tử ngoan cố không chịu cải tạo trong số ngụy quân, ngụy quyền, gián điệp cũ, phản động cũ, và những phần tử được gọi là phản động mới gồm những phần tử sa đọa, biến chất, bất mãn đi đến chống đối chính trị.

Trong thời gian gần đây, một số cơ quan bảo vệ pháp luật cũng bắt đầu sử dụng cụm từ “tổ chức phạm tội” trong các vụ án mang tính chất đặc biệt như vụ án Vũ Xuân Trường và đồng bọn tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy, vụ án Tân Trường Sanh phạm tội buôn lậu hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, băng nhóm Năm Cam hoạt động theo kiểu “xã hội đen”,…

Có thể đưa ra khái niệm tổ chức tội phạm như sau: “Tổ chức tội phạm là một tập hợp người có sự liên kết, phân công, phối hợp hoạt động với nhau do một hoặc một số cá nhân thành lập, điều khiển một cách có kế hoạch nhằm thực hiện một hoặc nhiều tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Tổ chức tội phạm có đặc trưng cơ bản sau: Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

  • Tổ chức tội phạm được thành lập với mục đích để thực hiện một hoặc nhiều tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Với đặc trưng này tập hợp người được lập ra để thực hiện những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng thì không được coi là tổ chức tội phạm.
  • Tổ chức tội phạm được cấu kết theo kiểu phân công vai trò giữa các thành viên, và vì vậy để đạt được mục đích phạm tội nói trên, các thành viên cùng nhau phối hợp điều chỉnh sự đóng góp cá nhân vào hậu quả phạm tội chung. Đặc trưng này dễ dàng phân biệt với đồng phạm phạm tội có tổ chức, vì đồng phạm có tổ chức bao gồm cả trường hợp phân công vai trò rõ ràng, cả trường hợp phân công vai trò không dứt khoát, rõ ràng.
  • Tổ chức tội phạm luôn chịu sự điều hành của một nhóm thủ lĩnh. Chính nhóm thủ lĩnh này đảm bảo sự phối hợp hoạt động phạm tội của các thành viên và hướng các hoạt động này đến mục đích của tổ chức phạm tội. So sánh với đồng phạm có tổ chức chúng ta thấy, ở đồng phạm có tổ chức đặc trưng này biểu hiện ở mức độ thấp, tức là có thể có một hoặc một vài tên đóng vai trò người tổ chức hoặc vai trò người tổ chức không rõ ràng.

Trong các tổ chức tội phạm, “ma phi a” là tổ chức tội phạm có kỷ luật cao nhất, hoạt động bí mật nhất và có sự kết hợp thống nhất giữa tội phạm với quyền lực công.

Ở nước ta, bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ 90, tội phạm có tổ chức có xu hướng ngày càng gia tăng về tính chất, mức độ nguy hiểm, với phạm vi, quy mô hoạt động ngày càng rộng, có sự liên kết giữa các băng, nhóm tội phạm trong nước và các băng, nhóm tội phạm quốc tế. Cụm từ tội phạm có tổ chức được xuất hiện không những chỉ trong các sách báo pháp lý mà còn được xuất hiện trong một số văn bản của Đảng và Nhà nước. Việc làm rõ khái niệm tội phạm có tổ chức và những đặc trưng của nó ở Việt Nam là vấn đề bức xúc đặt ra về mặt tội phạm học, để có kế hoạch, biện pháp hữu hiệu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.

  • Quan niệm về tội phạm có tổ chức ở nước ta còn có nhiều ý kiến khác nhau, chủ yếu có 2 loại ý kiến.

Ý kiến thứ nhất, xem xét tội phạm có tổ chức từ góc độ hoạt động phạm tội của các nhóm tội phạm, tổ chức tội phạm nhất định. Theo quan điểm này, tội phạm có tổ chức được hiểu là: hoạt động tội phạm nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi nhóm tội phạm có cơ cấu tổ chức rõ ràng và khá chặt chẽ; có hệ thống mối quan hệ xã hội rộng rãi trong đó có các mối quan hệ với các phần tử biến chất trong các cơ quan nhà nước; luôn có ý đồ bành trướng phạm vi ảnh hưởng nhằm mục đích thu lợi bất chính bằng bất kỳ thủ đoạn tội ác nào [2, tr. 17-22]. Đặc điểm của tội phạm có tổ chức là một dạng hoạt động phạm tội đặc biệt có mục đích vụ lợi; có cơ cấu tổ chức rõ ràng và tương đối bền vững; có “phạm vi ảnh hưởng” của mình; có mục tiêu độc quyền bành trướng địa bàn hoạt động, phạm vi ảnh hưởng; có sự hợp tác với các nhóm tội phạm khác; có mối quan hệ rộng rãi với các phần tử biến chất trong các cơ quan nhà nước, đặc biệt với các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Theo tác giả, quan điểm này hợp lý ở chỗ, đã ghi nhận và làm sáng tỏ bản chất pháp lý của khái niệm tội phạm có tổ chức dưới góc độ tội phạm học. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Ý kiến thứ hai, xem xét tội phạm có tổ chức vừa từ góc độ của khoa học luật hình sự, vừa từ góc độ tội phạm học. Theo quan điểm này, tội phạm học có tổ chức được hiểu như sau: là tội phạm nghiêm trọng do nhiều người tiến hành và coi hoạt động phạm tội là phương thức tồn tại; câu kết chặt chẽ trong cơ cấu lực lượng lớn; có kỷ luật nghiêm khắc; hoạt động vừa bí mật, tinh vi trắng trợn, tàn bạo trên một địa bàn rộng lớn, đôi khi vượt khỏi biên giới quốc gia; đe dọa nghiêm trọng đối với chính quyền nhà nước cũng như đời sống chính trị, kinh tế và đạo đức xã hội.

Ở khái niệm này, tội phạm có tổ chức được xác định là tội phạm nghiêm trọng mà theo quy định tại Điều 8 BLHS tội phạm phải được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Rõ ràng, cách hiểu như vậy là máy móc, chưa làm rõ được những đặc trưng bản chất của đối tượng cần nghiên cứu tội phạm có tổ chức.

Để làm rõ khái niệm tội phạm có tổ chức, theo tác giả cần xem xét thuật ngữ “có tổ chức”. Có tổ chức thể hiện tính chất của một sự vật, hiện tượng được tập hợp một cách thống nhất; các yếu tố cấu thành tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tội phạm có tổ chức bao quát cả hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, là những tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm có tổ chức. Điều đó có nghĩa, bất cứ tội phạm nào do tổ chức tội phạm hay nhóm tội phạm thực hiện bằng đồng phạm có tổ chức, đều thuộc khái niệm có tổ chức.

Trường hợp thứ hai, tổ chức tội phạm là một tổ chức phi pháp được thành lập với mục đích để thực hiện tội phạm. Vì vậy, hành vi thành lập hay tham gia tổ chức tội phạm mang tính nguy hiểm cho xã hội cao, cần phải được pháp luật hình sự thừa nhận là tội phạm bất kể tổ chức này đã thực hiện tội phạm hay chưa thực hiện tội phạm. Trường hợp tổ chức tội phạm chưa thực hiện tội phạm, thì hành vi thành lập, tham gia tổ chức tội phạm, bị pháp luật hình sự quy định là tội phạm cũng thuộc khái niệm tội phạm có tổ chức.

Từ những phân tích trên cũng có thể cho rằng, tổ chức tội phạm chính là hệ thống những tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm có tổ chức hay những tội phạm được thực hiện do thành lập, tham gia các tổ chức tội phạm trong một khoảng thời gian, không gian nhất định [37, tr. 204].

Đồng phạm và các hình thức đồng phạm theo pháp luật quốc tế Ngày nay, tình hình tội phạm ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đang có xu hướng tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tới sự phát triển chung. Chúng ta không thể không nhắc đến tội phạm có tổ chức, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm có tính chất quốc tế đã và đang đe dọa làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân loại, cũng như sự ổn định của mỗi quốc gia. Có thể nói tình hình tội phạm về ma túy, buôn bán phụ nữ – trẻ em, khủng bố đã được các nước trên thế giới bàn bạc, thảo luận, đánh giá rất nhiều. Song, những vấn đề này chưa bao giờ bức xúc như hiện nay, bởi lẽ những tội phạm này phát triển quá nhanh, quá mạnh và lan rộng. Thế giới sẽ đứng trước vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương, như các vấn đề về bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ về dân số, đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo và đặc biệt là chống khủng bố và tội phạm quốc tế cùng các mối đe dọa an ninh phi truyền thống khác. Trước tình hình này có rất nhiều công ước quốc tế đa phương và song phương quy định về các loại đồng phạm mà kể đến nhiều nhất là các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, liên quan đến hình thức đồng phạm. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

  • Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia thông qua ngày 15/11/2000 có nêu rõ:

Nhóm tội phạm có tổ chức” nghĩa là một nhóm có cơ cấu gồm từ ba người trở lên, tồn tại trong một thời gian và hoạt động có phối hợp để thực hiện một hay nhiều tội phạm nghiêm trọng hoặc các hành vi phạm tội được quy định trong Công ước này, nhằm giành được, trực tiếp hay gián tiếp, lợi ích về tài chính hay vật chất khác.

Với định nghĩa này, tội phạm có tổ chức được xem xét là một tổ chức tội phạm – đồng phạm có tổ chức nhưng có cơ cấu tổ chức cao hơn, chặt chẽ, bền vững hơn so với phạm tội có tổ chức thông thường, không phải là một cá nhân đơn lẻ mà là một tập hợp các đối tượng có sự câu kết chặt chẽ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là “nhóm có tổ chức” nhất thiết phải là một tổ chức với sự ổn định và phát triển liên tục về thành viên, cũng không nhất thiết phải có sự phân công vai trò giữa những thành viên.

Công ước cũng chỉ rõ mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành pháp luật và các biện pháp cần thiết khác để coi các hành vi sau là tội phạm khi những hành vi này được thực hiện một cách cố ý, có thể chỉ có một hoặc có thể có cả hai hành vi sau:

Thoả thuận với một hoặc nhiều người khác để thực hiện một tội phạm nghiêm trọng nhằm mục đích liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đạt được lợi ích tài chính hoặc vật chất khác, và liên quan đến một hành vi do một thành viên thực hiện để thực hiện thoả thuận hoặc liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức, nếu pháp luật trong nước quy định như vậy;

Hành vi của một người nhận thức được hoặc mục đích và hành vi phạm tội nói chung của một nhóm tội phạm có tổ chức hoặc ý định phạm tội của nhóm đó nhưng vẫn đóng vai trò tích cực trong: Những hoạt động tội phạm của nhóm tội phạm có tổ chức đó; Những hoạt động khác của nhóm tội phạm có tổ chức đó với nhận thức rằng việc tham gia của họ sẽ đóng góp vào việc đạt được mục đích phạm tội nói trên;

Công ước cũng quy định việc tổ chức, chỉ đạo, hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện hoặc xúi giục việc thực hiện tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức cũng sẽ bị coi là hành vi phạm tội.

Như vậy, tùy theo sự lựa chọn của mỗi quốc gia thành viên các nhóm người nói trên sẽ chịu trách nhiệm pháp lý (legal persons) theo những biện pháp cần thiết, có thể, phù hợp với những nguyên tắc luật pháp của mình, để quy định trách nhiệm pháp lý của nhóm khi thực hiện những tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức…

Quy chế Rome được 120 quốc gia bỏ phiếu thông qua vào ngày 17/7/1998 liên quan đến vấn đề Tòa án Hình sự quốc tế (ICC). Quy chế Rome cũng có quy định:

Người thực hành – thực hiện một mình, cùng người khác hay thông qua người khác; Người tổ chức – Ra lệnh việc thực hiện tội phạm bất kể thực tế đã hoàn thành hay phạm tội chưa đạt; Người xúi giục – dụ dỗ hoặc xúi giục việc thực hiện tội phạm; Người giúp sức – nhằm thúc đẩy việc phạm tội, đã giúp đỡ hoặc bằng cách khác, giúp đỡ cho việc phạm tội hoặc phạm tội đó chưa đạt, kể cả bằng việc cung cấp phương tiện cho việc thực hiện tội phạm đó.

Quy chế Rome không quy định về vấn đề hỗ trợ người phạm tội sau khi tội phạm đã hoàn thành. Trong quy chế không phân biệt rõ ràng trách nhiệm hình sự giữa chính phạm và tòng phạm, cũng không có quy định về việc giảm nhẹ hình phạt đối với người giúp sức hay giới hạn việc áp dụng TNHS đối với tòng phạm chỉ với các tội cố ý.

Đối với người thực hành, Quy chế đã xác định ba hình thức thực hiện tội phạm của người thực hành: Trực tiếp thực hiện tội phạm, điều khiển người khác (không có ý thức) thực hiện tội phạm và cùng người khác thực hiện tội phạm chung. Ngoài ra, trong thực tiễn giải quyết của Tòa án hình sự quốc tế, còn biết đến trường hợp người thực hành gián tiếp thực hiện tội phạm cùng người khác. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Tại khoản 3 Điều 25 của quy chế Rome cũng quy định trong trường hợp từ bỏ việc thực hiện tội phạm hoặc có hành vi ngăn chặn việc hoàn thành tội phạm sẽ không phải chịu hình phạt về hành vi phạm tội chưa hoàn thành, nếu người đó tự nguyện từ bỏ hoàn toàn mục đích phạm tội.

Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước, có thể thấy rằng có rất nhiều quy định khác nhau về đồng phạm và các hình thức của đồng phạm.

Bộ luật hình sự Nhật Bản tại Điều 60 quy định đồng phạm chính phạm là “Hai hoặc nhiều người cùng thực hiện một tội phạm đều là những chính phạm”. Ngoài ra Bộ luật hình sự Nhật Bản cũng có quy định về người xúi giục và người giúp sức. Hình phạt đối với người giúp sức được giảm nhẹ hơn so với hình phạt đối với chính phạm. trong trường hợp hành vi phạm tội có đồng phạm đối với tội nhẹ, ít nghiêm trọng và được xử ở mức án thấp thì người xúi giục và người giúp sức sẽ không bị xử phạt, trừ trường hợp khác do luật quy định. Bên cạnh đó, khi một người cùng đồng phạm trong một tội phạm mà cấu thành của tội phạm đó lại phụ thuộc vào chức vụ của người phạm tội thì người đó vẫn là đồng phạm mặc dù họ không có chức vụ, và mức nặng nhẹ của hình phạt được áp dụng giống như người không có chức vụ.

Bộ luật hình sự Trung Quốc thì định nghĩa đồng phạm là “hai người trở lên cùng cố ý phạm tội, 2 người trở lên cùng do vô ý phạm tội thì không bị coi là đồng phạm; từng người đồng phạm phải bị xử phạt riêng, căn cứ vào tội mà từng người phạm phải” (Điều 25 BLHS Trung Quốc). Chính phạm là người tổ chức, lãnh đạo nhóm tội phạm hoặc người giữ vai trò chính trong đồng phạm, còn người giữ vai trò thứ yếu hoặc bổ sung trong đồng phạm là tòng phạm, và tòng phạm chịu hình phạt nhẹ hơn so với chính phạm, có thể giảm hình phạt hoặc miễn hình phạt.

Kết luận Chương 1 Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Tội phạm do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện, khi tội phạm được thực hiện bởi nhiều người và hành động có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì trường hợp đó được gọi là đồng phạm. Đồng phạm là hình thức phạm tội “đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ (về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện). So với tội phạm do một người thực hiện, đồng phạm thường nguy hiểm hơn, vì khi một nhóm người cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tăng lên đáng kể, nhất là khi có sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thức thực hiện, phát triển thành “phạm tội có tổ chức”, do đó việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm có một số điểm khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ.

Trong khoa học luật hình sự, căn cứ vào các đặc điểm về mặt chủ quan và khách quan của tội phạm đồng phạm được chia ra nhiều hình thức: đồng phạm có thông mưu trước, đồng phạm không có thông mưu trước; đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp. Chỉ trên cơ sở nắm vững các hình thức đồng phạm, đặc điểm đồng phạm mới vận dụng tốt khi giải quyết vụ án. Tuy vậy, thực tiễn công tác điều tra, truy tố và xét xử cho thấy nhận thức về đồng phạm hiện nay chưa được thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, vẫn còn nhiều quan điểm và ý kiến trái ngược nhau. Những ý kiến khác nhau này đã gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

Đồng phạm không phải là tình tiết tăng nặng, cũng không phải là tình tiết định khung hình phạt, nhưng trong một số trường hợp, đồng phạm có ý nghĩa rất lớn đến việc xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không. Việc xác định đồng phạm và các hình thức đồng phạm có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn cả về lý luận và thực tiễn trong điều tra, truy tố, xét xử.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang

One thought on “Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464