Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự theo pháp luật hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Các quy định về chủ thể đại diện
Khoản 1 Điều 85 BLTTDS năm 2015 quy định: “Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự”. Quy định này làm rõ rang, phù hợp với luật nội dung BLDS năm 2015, theo đó một pháp nhân có thể ủy quyền cho một pháp nhân khác xác lập thực hiện giao dịch cho mình. Tại khoản 1, Điều 134 BLTTDS năm 2015 quy định về việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hay pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Đây là điểm tiến bộ so với trước đó, BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 chưa quy định rõ ràng, dường như chỉ cho phép cá nhân là người đại diện cho cá nhân hay pháp nhân khác khi tham gia quan hệ tố tụng.
Khoản 2 của Điều 85 BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể hơn về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự. Khoản 3 của Điều 85 BLTTDS năm 2015 là một quy định mới được bổ sung về người đại diện theo pháp luật của tập thể người lao động. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với luật nội dung là Bộ luật lao động 2012, Luật Công đoàn 2012, tại Điều 195, 196, 197, 198 quy định về quyền của Công đoàn trong việc bảo vệ người lao động trước Tòa án và Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 10/05/2013 chi tiết thi hành Điều 10 của Luật Công đoàn 2012 đã quy định rõ về quyền hạn và trách nhiệm của Công đoàn. “Đại diện cho tập thể người lao động khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động bị xâm phạm theo quy định của pháp luật; Đại diện cho người lao động khởi kiện ra Tòa án nếu được người lao động ủy quyền để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của pháp luật”.
Công đoàn là tổ chức duy nhất đảm nhận chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của tập thể lao động, quy định này nhằm bảo vệ tối các quyền và lợi ích chính đáng của người lao động phát sinh từ quan hệ lao động.
Như vậy, quy định của BLTTDS năm 2015 về người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự được xây dựng theo hướng dẫn chiếu tới các quy định về người đại diện trong quan hệ dân sự. Theo đó, “Người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật” (Khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2015). Do vậy, việc xác định chủ thể đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự cần dựa vào các quy định tương ứng của pháp luật dân sự.
Điều 141 BLDS năm 2015 đã có các điều khoản riêng quy định đại diện theo pháp luật đối với hai chủ thể là cá nhân và pháp nhân. Điều 136, Điều 137 BLDS năm 2015 đã quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân. “Cha mẹ đối với con chưa thành niên; Người giám hộ với người được giám hộ; Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định; Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”. BLDS 2015 đã bỏ quy định về đại diện theo pháp luật đối với Hộ gia đình và đối với tổ hợp tác so với quy định về người đại diện được quy định tại Điều 141 BLDS năm 2004, thêm các quy định về hộ gia đình và tổ hợp tác, tổ chức khác ở phần đại diện theo ủy quyền. Sự phù hợp của các quy định về đại diện theo pháp luật ở BLDS năm 2015 với thực tiễn sẽ được phân tích ở chương sau của Luận văn. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Điều 137 BLDS năm 2015 quy định về Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân “Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm: Người được pháp nhân chỉ định theo Điều lệ; Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án và Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của Bộ luật này”.Bổ sung quy định một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định về thời hạn đại diện và phạm vi đại diện. Việc quy định cho phép một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật của BLDS 2015 đã đảm bảo sự tương thích với quy định của LDN năm 2014 trong việc quy định Công ty TNHH và công ty Cổ phần “có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Sự tương thích giữa quy định của luật chung và luật chuyên ngành trong trường hợp này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể thực hiện quyền của mình một cách thuận lợi hơn. Điều này cho phép các đại diện theo pháp luật của pháp nhân khi tham gia vào một giao dịch dân sự hoặc tham gia vào quá trình tố tụng sẽ dễ dàng hơn khi xác định quyền đại diện và phạm vi đại diện của mình, từ đó làm cho hiệu lực của các giao dịch dân sự và quá trình tố tụng đối với những đối tượng này cũng sẽ được đảm bảo, quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ được đã giao kết với các chủ thể này cũng được bảo vệ tốt hơn.
Dựa trên kết quả nghiên cứu đã phân tích ở Chương 1 về cơ sở của việc xây dựng các quy định về người đại diện và kết hợp với các quy định của pháp luật hiện hành thì người đại diện do Tòa án chỉ định theo Điều 76 BLTTDS năm 2015 cũng được coi là đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự. Bởi vì, theo Điều 135 BLDS năm 2015 về căn cứ xác lập quyền đại diện thì “Quyền đại diện được xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)”.
- Đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Việc đại diện theo pháp luật của cha, mẹ đối với con chưa thành niên được chi phối chủ yếu bởi các quy định trong BLDS năm 2015 (Ðiều 20, 21 và Chương IX – Ðại diện) và trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (đặc biệt là các Điều 73, Ðiều 85 và Điều 86, Điều 87). Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật” .
Sự đại diện của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trong quan hệ dân sự cũng giống như sự đại diện của người giám hộ đối với người được giám hộ. Việc đại diện mang tính chất toàn phần hay từng phần tuỳ theo con đã đủ hay chưa đủ 6 tuổi. Mặt khác, nếu con có đủ cha và mẹ nhưng một trong hai người không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ, thì người còn lại là người có đầy đủ quyền đại diện cho con chưa thành niên.
Trong tố tụng dân sự việc đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên được quy định tại khoản 4 Điều 69 BLTTDS năm 2015. Theo đó, đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Trong trường hợp này, Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Đối với những việc khác, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.
- Chủ thể giám hộ cho người được giám hộ: Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Theo Điều 136 BLDS năm 2015 thì ngoài trường hợp cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên thì người đại diện theo pháp luật của cá nhân trong quan hệ dân sự còn có thể là người giám hộ với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định. Kết hợp giữa các quy định của BLTTDS năm 2015 và BLDS năm 2015 thì có thể xác định được người đại diện trong tố tụng dân sự. Trước hết cần căn cứ vào các quy định của BLDS năm 2015 để xác định người giám hộ và người được giám hộ. Từ đó, xác định đương sự và người giám hộ là người đại diện theo pháp luật của đương sự cần có người giám hộ.
Người giám hộ là chủ thể trong quan hệ giám hộ đại diện cho người được giám hộ tham gia quá trình tố tụng là người chưa thành niên. Theo quy định tại Điều 47 BLDS năm 2015 thì người được giám hộ bao gồm: Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ; Người mất năng lực hành vi dân sự; Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Người giám hộ
Giám hộ đương nhiên: Là một trong số người thân thích theo quan hệ huyết thống. Việc xác định chủ thể giám hộ này được quy định theo thứ tự tại khoản 1 Điều 51 BLDS năm 2015 bao gồm: Người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ; nếu không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ; nếu cũng không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người được giám hộ.
Điều 48 BLDS năm 2015 quy định về người giám hộ bao gồm, cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định. Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người.
Giám hộ cử: Chỉ thực hiện việc cử giám hộ trong trường hợp không có giám hộ đương nhiên và việc cử giám hộ này sẽ tuân theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLDS năm 2015 để tiến hành: “Trường hợp không có người thân thích của người được giám hộ hoặc những người thân thích không cử, chọn được người giám sát việc giám hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người giám hộ cử cá nhân hoặc pháp nhân giám sát việc giám hộ. Trường hợp có tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ thì Tòa án quyết định”. Giám hộ được cử là cá nhân được chỉ định theo thứ tự ưu tiên dựa vào mức độ thân thuộc giữa người giám hộ với chủ thể được giám hộ nhằm mục đích thay thế sự giáo dục mang tính chất gia đình. Giám hộ được cử là tổ chức là tổ chức được đề nghị đảm nhận việc giám hộ khi này có thể gọi là một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức xã hội được gọi là một thiết chế công.Pháp luật không quy định Điều kiện của cơ quan tổ chức khi làm giám hộ phải là cơ quan tổ chức nào, nên có thể suy đoán bất kỳ cơ quan tổ chức nào cũng có thể là người giám hộ.
- Chủ thể đại diện cho cá nhân là người chưa thành niên Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Điều này được quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015 về “người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên”. Theo đó, người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên quy định tại điểm a và khoản 1 Điều 47 của BLDS năm 2015 “Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ; Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ;Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.” Trường hợp giám hộ đương nhiên đối với người chưa thành niên dựa trên quan hệ quyết thống, thân thiết gần gũi đối với người được giám hộ.
- Chủ thể đại diện cho cá nhân là người bị mất năng lực hành vi dân sự
Theo quy định của pháp luật thì người mất năng lực hành vi dân sự cần phải có người giám hộ và cũng chính người giám hộ này sẽ là người đại diện theo pháp luật cho người mất năng lực hành vi dân sự tham gia vào các giao dịch dân sự, tham gia vào quá trình tố tụng. Theo Điều 53 của BLDS năm 2015 thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:
Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung nội dung: “Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện”. Quy định này hoàn toàn phù hợp với luật Hôn nhân gia đình năm 2014 tại khoản 2 Điều 51 bổ sung trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình do chồng, vợ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng sức khỏe, tinh thần của họ. Điều này đã tháo gỡ vướng mắc cho nhiều trường hợp xin ly hôn giùm người thân bị mất năng lực hành vi mà không được do luật cũ chỉ quy định việc ly hôn phải do chính đương sự (vợ, chồng) yêu cầu, trong khi họ lại mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi tố tụng dân sự để ly hôn. Để tương thích về mặt nội dung, pháp luật tố tụng đã kịp thời bổ sung trường hợp này. Tuy nhiên Điều luật vẫn chưa đề cập đến trường hợp người bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm không thể nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình không có cha mẹ thân thích khác thì ai có quyền yêu cầu và người đại diện là ai?
- Chủ thể đại diện cho pháp nhân tham gia quan hệ tố tụng dân sự.
Pháp nhân quan hệ với bên ngoài thông qua người đại diện của pháp nhân và theo quy định tại Điều 137 BLDS năm 2015 đã quy định rõ các chủ thể là người đại diện của pháp nhân bao gồm: Người được pháp nhân chỉ định theo Điều lệ; Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người mà công ty đăng ký với vị trí là người đại diện theo pháp luật thể hiện trong giấy đăng ký kinh doanh được pháp luật hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, để đại diện cho công ty này thực hiện các hành vi dân sự, có quyền khởi kiện. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể được xác lập bằng cách:
- Theo quy định trong Điều lệ của pháp nhân: Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Người đứng đầu pháp nhân là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, quy định tại Điều 13 của Luật Doanh nghiệp năm 2014, đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được quy định tại Điều lệ của công ty thì người đại diện theo pháp luật của công ty có thể là: Chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được thuê từ Hợp đồng lao động giữa người này với pháp nhân.
- Theo quyết định thành lập pháp nhân của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
Người đại diện theo pháp luật do quyết định thành lập pháp nhân của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tham gia vào quá trình tố tụng với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Như vậy về nguyên tắc, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được xác lập thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của pháp nhân.
Trong quá trình tố tụng người được Tòa án chỉ định cũng là người đại diện theo pháp luật cho pháp nhân. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Bên cạnh đó còn tùy thuộc vào loại pháp nhân cụ thể mà người đại diện này còn phải thỏa mãn điều kiện do pháp luật quy định về hoạt động của tổ chức pháp nhân đó như trình độ chuyên môn, năng lực.
2.2. Các quy định về điều kiện của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
2.2.1. Căn cứ pháp lý xác lập quyền đại diện
Khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2015 quy định: Người đại diện theo pháp luật theo quy định của BLDS là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ. Điều kiện để xác lập quyền đại diện theo pháp luật “là theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo Điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)” (Điều 135 BLDS năm 2015).
Điều kiện đầu tiên về người đại diện theo pháp luật của đương sự phải là người được pháp luật quy định, đó là những trường hợp quy định tại Điều 136 BLDS năm 2015 về đại diện theo pháp luật của cá nhân bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định; Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện; Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được xác lập theo quy định tại Điều 137 BLDS năm 2015. Theo đó, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong tố tụng dân sự có thể bao gồm: Người được pháp nhân chỉ định theo Điều lệ; Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.
Nghiên cứu các căn cứ xác lập người đại diện theo pháp luật đã phân tích phần trước của Luận văn cho thấy đây là những trường hợp đương sự là người chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc các cơ quan, tổ chức không thể tự mình tham gia vào quan hệ tố tụng. Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong qua hệ tố tụng dân sự khi có tranh chấp hoặc yêu cầu xảy ra, pháp luật quy định chế định người đại diện theo pháp luật. Phạm vi các chủ thể đại diện được pháp luật giới hạn với một số chủ thể nhất định theo quy định mới có thể là người đại diện theo pháp luật.
Đối với người đại diện do Tòa án chỉ định thì người đại diện tham gia tố tụng dân sự trên cơ sở có quyết định của Tòa án. Việc Tòa án chỉ định đại diện cho đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án. Tuy vậy, trong tố tụng dân sự các đương sự có quyền tự định đoạt nên việc Tòa án chỉ định người đại diện cho đương sự chỉ tiến hành trong những trường hợp đương sự không có năng lực hành vi tố tụng dân sự mà không có đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc trường hợp không được đại diện cho họ theo quy định của pháp luật.
2.2.2. Điều kiện về chủ thể Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Để trở thành người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự thì chủ thể làm đại diện phải là người đáp ứng những điều kiện sau:
- Đại diện theo pháp luật đối với cá nhân
Người đại diện phải là cá nhân, có năng lực hành vi dân sự. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người đại diện theo pháp luật được quy định trong pháp luật dân sự là đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự, trừ những trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật. Vì vậy, để trở thành người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thì trước hết chủ thể đó phải thỏa mãn điều kiện để trở thành người đại diện theo pháp luật trong dân sự.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 134 BLDS năm 2015 thì người đại diện phải là có năng lực pháp luật dân sự và lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Theo quy định của BLDS năm 2015 thì người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là người từ đủ 18 tuổi trở nên, không bị Tòa án tuyên bố bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, đồng thời cá nhân đó phải có đầy đủ tư cách chủ thể, toàn quyền tham gia vào quan hệ dân sự với tư cách là chủ thể độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do họ thực hiện, họ chỉ bị mất năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi khi có quyết định của Tòa án về việc hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy bởi khi cá nhân có đầy đủ các điều kiện trên thì mới đảm bảo được tốt quyền lợi cho đương sự được đại diện.
BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 chỉ quy định người đại diện phải là cá nhân, nhưng Điều 85 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung một chủ thể khác cũng được làm đại diện theo pháp luật đó là pháp nhân. Cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của đương sự được bảo vệ: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình mà khởi kiện vụ án về hôn nhân gia đình thì các chủ thể này có thể được xác định là người đại diện của đương sự. Ngoài ra, Tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm.
Điều 69 BLTTDS năm 2015 quy định về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chủ thể: “Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự”.Theo quy định trong trường hợp đương sự là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì người đại diện theo pháp luật có toàn quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được đại diện kể cả quan hệ về nhân thân. Trong trường hợp này, bản án phải ghi rõ người được đại diện là nguyên đơn, còn người thực hiện hành vi khởi kiện vì lợi ích của nguyên đơn phải ghi họ là người đại diện cho nguyên đơn, chứ không phải là nguyên đơn. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi trong quan hệ đại diện được chia làm hai trường hợp:
Thứ nhất, vì năng lực hành vi dân sự của những chủ thể này chưa đầy đủ nên năng lực hành vi tố tụng dân sự cũng không đầy đủ. Vì vậy, pháp luật quy định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện là hợp lý. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Thứ hai, “Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó”. Khi rơi vào trường hợp này, họ có thể độc lập tham gia quan hệ tố tụng dân sự mà không cần đến sự thay mặt của người đại diện. Nếu có trường hợp, những chủ thể này khởi kiện trong các quan hệ nói trên thì họ có quyền độc lập tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn. Tuy nhiên, trường hợp này, Tòa án vẫn có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Đối với những việc khác, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.
Ví dụ: Hưng mười sáu tuổi ký hợp đồng lao động với một công ty may mặc. Sau đó công ty này sa thải Hưng. Hưng cho rằng công ty sa thải mình mà không có lý do chính đáng là trái với pháp luật nên khởi kiện ra Tòa án. Lúc này Hưng có thể tự mình đứng ra khởi kiện với tư cách là nguyên đơn, không cần thông qua hành vi của người đại diện. Tuy nhiên, nếu thấy cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích của Hưng Tòa án vẫn có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của chủ thể này để tham gia tố tụng.
Đối với người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, người đại diện của họ trong các giao dịch dân sự do Tòa án chỉ định sẽ là đại diện hợp pháp khi tham gia tố tụng dân sự, nếu chủ thể đại diện này không rơi vào một trong những trường hợp không được đại diện được quy định tại Điều 87 BLTTDS năm 2015. Nếu thuộc trường hợp cấm làm người đại diện thì Tòa án sẽ chỉ định người khác làm đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi. Đây là trường hợp một chủ thể bị hạn chế năng lực hành vi dân sự trước khi tham gia tố tụng. Trường hợp nếu khi tham gia tố tụng mà một chủ thể bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự thì Tòa án sẽ chỉ định người đại diện cho người này, thay mặt người này tham gia tố tụng.
Người giám hộ sẽ là một trong những người có quyền đại diện theo pháp luật đối với người được giám hộ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 86 BLTTDS năm 2015 thì người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện. Theo quy định tại Điều 69 BLTTDS năm 2015 nếu đương sự là người chưa đủ 16 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Vì vậy, nếu pháp luật không cấm thì người đại diện theo pháp luật có toàn quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho người được đại diện, kể cả về quan hệ nhân thân. Trong trường hợp này, trong bản án phải ghi rõ người được đại diện là nguyên đơn, còn người đã thực hiện hành vi khởi kiện vì lợi ích của nguyên đơn thì phải ghi họ là người đại diện cho nguyên đơn. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì người bị thiệt hại có quyền kiện cha mẹ của người gây thiệt hại; cha, mẹ sẽ là bị đơn của vụ kiện và phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người bị thiệt hại có quyền kiện người giám hộ yêu cầu bồi thường thiệt hại cho mình. Người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Người giám hộ sẽ là bị đơn vụ kiện.
Tuy nhiên, nếu người chưa thành niên dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại nhưng bố, mẹ, người giám hộ chứng minh được người khác có trách nhiệm quản lý, giáo dục người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự trong thời điểm người đó gây thiệt hại, thì “người” có trách nhiệm quản lý, giáo dục đó sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và người bị thiệt hại có quyền kiện “người” có trách nhiệm quản lý, giáo dục bồi thường thiệt hại cho mình. Người chịu trách nhiệm quản lý, giáo dục đối tượng nói trên sẽ là bị đơn của vụ kiện.
- Đại diện theo pháp luật đối với tổ chức
Đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng.
Các tổ chức như pháp nhân, tổ chức xá hội muốn tham gia quan hệ tố tụng dân sự nhất thiết phải có năng lực hành vi pháp luật và năng lực hành vi tố tụng. Nhưng tổ chức là một thực thể pháp lý gồm nhiều cá thể nên việc tham gia tố tụng của tổ chức này phải thông qua hành vi của người đại diện. Theo khoản 2 Điều 85 BLTTDS 2015 “Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trưởng hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật”. Do đó, vì đại diện cho tổ chức xác lập, thực hiện các giao dịch vì lợi ích tổ chức nên trong mọi trường hợp dù người đại diện theo pháp luật của tổ chức đó khởi kiện hay bị khởi kiện thì bản án cũng phải xác định tổ chức đó là nguyên đơn hay bị đơn chứ không thể xác định người đại diện theo pháp luật của tổ chức đó là nguyên đơn hay bị đơn với điều kiện người đại diện này thực hiện việc đại diện trong phạm vi thẩm quyền đại diện.
Ví dụ: Bà Lê Quỳnh Mai làm việc tại Công ty dược phẩm y tế Cửu Long từ tháng 10 năm 2000. Năm 2012 bà Mai xin nghỉ việc ba tháng để trị bệnh. Hết tháng 3 bà Mai xin nghỉ luôn đến năm 2014.Sau đó bà xin trở lại làm việc. Ngày 20/04/2015 Tổng giám đốc Công ty dược phẩm y tế Cửu Long là ông Nguyễn Văn Hiếu tra quyết định cho bà Mai nghỉ việc và được hưởng trợ cấp nghỉ việc 1,5 tháng lương cơ bản của công ty. Bà Mai cho rằng quyết định sa thải của công ty đối với bà là trái pháp luật nên khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy quyết định sa thải, nhận bà trở lại làm việc. Trong vụ án trên bà Mai là lao động của Công ty dược phẩm Cửu Long. Công ty này là chủ thể sử dụng lao động do ông Hiếu là người đại diện theo pháp luật. Vì vậy, trong vụ án này, bản án phải xác định bị đơn là Công ty dược phẩm y tế Cửu Long chứ không phải ông Nguyễn Văn Hiếu.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2015 thì cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng thông qua người đại diện hợp pháp. Nếu cơ quan, tổ chức là người khởi kiện vì lợi ích của cơ quan, tổ chức đó hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước thì cơ quan tổ chức đó tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn. Nếu cơ quan tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của người khác thì người được cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình sẽ là nguyên đơn của vụ kiện, còn cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện bảo vệ lợi ích của nguyên đơn. Nếu cơ quan, tổ chức bị khởi kiện thì trong bản án, quyết định phải xác định cơ quan, tổ chức đó là bị đơn.
- Đại diện do Tòa án chỉ định Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Người đại diện do Tòa án chỉ định là người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự chỉ định của Tòa án. Việc Tòa án chỉ định người đại diện cho đương sự bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án. Tuy vậy, trong tố tụng dân sự các đương sự có quyền tự định đoạt nên việc Tòa án chỉ định người đại diện cho đương sự chỉ tiến hành trong trường hợp đương sự là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc trường hợp không được đại diện cho họ theo quy định của pháp luật. Trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam lần đầu tiên vấn đề này được quy định tại Điều 21 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989: “Nếu không có ai đại diện cho người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người vắng mặt không có tin tức thì Tòa án cử một người thân thích của đương sự hoặc một thành viên của một tổ chức xã hội làm người đại diện cho họ”. Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy đinh điều 76 BLTTDS : “Trong khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 75 của Bộ luật này thì Toà án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại Toà án”. Tại Điều 88 BLTTDS năm 2015 chỉ quy định rằng: “Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng”.
BLTTDS năm 2004 quy định về việc chỉ định người đại diện cho đương sự, nhưng việc chỉ định người đại diện chỉ xảy ra nếu đương sự chỉ xảy ra nếu đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người đại diện theo pháp luật của đương sự thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 75 BLTTDS năm 2004. Còn trường hợp đương sự mà người bị mất năng lực hành vi dân sự, là người chưa thành niên, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi thì chưa đề cập đến. Khắc phục thiếu sót đó, BLTTDS năm 2015 đã quy định chi tiết tại khoản 1 Điều 88 nêu trên. Việc quy định như vậy, không những bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà còn hoàn thiện hơn các quy định về đại diện theo pháp luật trong BLTTDS năm 2015.
2.2.3. Điều kiện về hình thức Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Phần trên chúng ta đã đi tìm hiểu các điều kiện về pháp lý và chủ thể để được công nhận là người đại diện theo pháp luật của đương sự. Tuy nhiên, một người sẽ được công nhận làm người đại diện theo pháp luật của đương sự khi và chỉ khi họ phải chứng minh mình có đủ các điều kiện nêu trên – nghĩa là thỏa mãn điều kiện về hình thức. Người đại diện theo pháp luật phải cung cấp các loại giấy tờ gì để được Tòa án công nhận tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện của đương sự. Những tài liệu, giấy tờ cần thiết phải nộp cho Toà án để được công nhận là người đại diện của đương sự, bao gồm:
- Giấy tờ tùy thân
Các loại giấy tờ này nhằm chứng minh cá nhân làm đại diện có tư cách đại diện. Ví dụ như chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu….
- Giấy tờ chứng minh mối quan hệ đại diện
- Đối với đại diện theo pháp luật của cá nhân:
Trong trường hợp này người đại diện phải nộp các giấy tờ chứng minh mối liên hệ với người được đại diện, ví dụ như sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của người được đại diện….Nếu đương sự là người bị mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện còn phải nộp quyết định của Tòa án tuyên bố người đó bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Đối với đại diện theo pháp luật của pháp nhân:
Mỗi pháp nhân khi thành lập đều xác định người đại diện theo pháp luật trong quyết định thành lập hoặc Điều lệ. Vì vậy, một người để tham gia tố tụng với tư cách đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải xuất trình được các giấy tờ này, và trong các giấy tờ này xác định họ là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân – đương sự trong vụ việc dân sự đang được Toà án giải quyết. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Có thể thấy BLDS năm 2015 cũng như BLTTDS năm 2015 đã thiếu sót khi chưa đề cập tới việc chỉ định đại diện cho đương sự trong những trường hợp như đương sự vắng mặt không có tin tức mà không có người đại diện hoặc người đại diện thuộc trường hợp không được làm đại diện.
2.3. Quy định về phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
2.3.1. Phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật
Theo phân tích ở Chương 1 và quy định của pháp luật Việt Nam thì người đại diện theo pháp luật cũng có các dạng khác nhau nên tương ứng với mỗi dạng thì phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện lại khác nhau.
Người đại diện theo pháp luật của đương sự có quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi xét thấy cần thiết. Phạm vi tham gia tố tụng của họ không bị hạn chế trong các loại việc. Đối với trường hợp đại diện theo pháp luật cho đương sự là cá nhân, thì người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng khi đương sự là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự…Người đại diện theo pháp luật của đương sự sẽ thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện. Như vậy, phạm vi tham gia tố tụng của đại diện theo pháp luật của đương sự không bị hạn chế trong các loại việc. Do người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập và thực hiện giao dịch với người thứ ba nên pháp luật cần phải quy định giới hạn cho hành vi đó. Đó gọi là phạm vi thẩm quyền đại diện. Qua những phân tích trên ta có thể rút ra được định nghĩa “Phạm vi đại diện là giới hạn quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong việc nhân danh người được đại diện xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba”. Phạm vi đại diện được xác định tùy theo hình thức đại diện, dựa vào tính chất pháp lý mỗi loại đại diện sẽ có phạm vi đại diện rộng hẹp khác nhau. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định phạm vi đại diện chung của mỗi loại: Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 141 BLDS năm 2015 thì người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây: Quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Điều lệ của pháp nhân; Nội dung ủy quyền; Quy định khác của pháp luật. Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Vì mục đích của quan hệ đại diện là người đại diện xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm mang lại lợi ích cho người được đại diện. Để ngăn chặn người đại diện vi phạm hoặc lạm dụng quyền của người được đại diện pháp luật không cho phép người đại diện xác lập, thực hiên các giao dịch dân sự trong các trường hợp sau: “Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình”.
Theo khoản 2 Điều 141 BLDS năm 2015 thì pháp luật cho phép người đại diện theo pháp luật có quyền chủ động trong việc lựa chọn, xác lập và thực hiện các vấn đề liên quan đến người đại diện nhưng phải xuất phát vì lợi ích của người được đại diện. Như vậy, tiêu chí để xem xét tính hợp pháp của việc thực hiện quyền đại diện này là giao dịch do người đại diện theo pháp luật xác lập phải xuất phát từ lợi ích của người được đại diện, nếu có bất kỳ sự khiếu kiện nào về phạm vi đại diện thì người đại diện phải chứng minh giao dịch đó mình đã thực hiện vì lợi ích của người đại diện.
Phạm vi đại diện theo pháp luật của chủ thể đại diện cũng tùy theo năng lực chủ thể được đại diện mà có phạm vi đại diện rộng hẹp khác nhau. Nếu như đại diện cho chủ thể không có năng lực hành vi (người chưa đủ sáu tuổi), người mất năng lực hành vi thì người đại diện có hoàn toàn quyền đại diện trong các giao dịch dân sự nhằm mang đến lợi ích cho người được đại diện, hoặc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự khi tham gia khởi kiện. Nếu đại diện cho chủ thể là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi và người bị hạn chế năng lực hành vi thì phạm vi, thẩm quyền của người đại diện chỉ là đưa ra ý kiến (đồng ý hay không đồng ý) đối với các vấn đề quan trọng không làm ảnh hưởng đến lợi ích của chính người đại diện và cho xã hội. Điều này được thể hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 21 BLDS năm 2015 “Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi”.
Người đại diện theo pháp luật của đương sự có quyền tham gia tố tụng để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi xét thấy cần thiết. Phạm vi tham gia tố tụng của họ không bị hạn chế trong các loại việc.
2.3.2. Vượt quá phạm vi đại diện và hậu quả pháp lý
Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành không quy định về vấn đề này nhưng căn cứ vào quy định về phạm vi đại diện nêu trên cũng như pháp luật dân sự về vấn đề này, có thể thấy rằng: Người đại diện theo pháp luật của của đương sự chỉ có quyền, nghĩa vụ trong phạm vi đại diện được pháp luật quy định. Nếu người đại diện của đương sự có hành vi vượt quá phạm vi đại diện thì sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cho đương sự; đồng thời phải bồi thường thiệt hại nếu hành vi đó gây thiệt hại cho các chủ thể khác. Thiết nghĩ, để có cơ sở pháp lý cho việc áp dụng, pháp luật tố tụng dân sự nên có quy định cụ thể hơn về vấn đề này.
2.4. Quy định về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
2.4.1. Quyền và nghĩa vụ chung của người đại diện theo pháp luật
2.4.1.1 Quyền của người đại diện theo pháp luật của đương sự.
Trong quan hệ đại diện trong tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật được hình thành trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của đương sự được họ đại diện. Do pháp luật tố tụng dân sự quy định “Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện” (khoản 1 Điều 86 BLTTDS năm 2015) nên người đại diện theo pháp luật của đương sự cũng có những quyền và nghĩa vụ chung của đương sự (Điều 70 BLTTDS năm 2015).
BLTTDS năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 11 năm đã có những sửa đổi, bổ sung về quyền, nghĩa vụ của đương sự so với quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong BLTTDS 2004 nên kéo theo nó quyền, nghĩa vụ của người đại diện của đương sự cũng thay đổi.
Theo khoản 2 Điều 70 BLTTDS năm 2015 có những thay đổi so với BLTTDS 2004 sửa đổi bố sung năm 2011 theo hướng hoàn thiện hơn. BLTTDS năm 2015 đã đưa khoản “Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa” lên đầu tiên.Đó là một trong những nguyên tắc đảm bảo xét xử khách quan công bằng, đảm bảo sự tôn nghiêm trong quá trình xét xử. Khoản 4 Điều 70 BLTTDS năm 2015 có quy định: “Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này” quy định này nhằm tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.
BLTTDS năm 2004 chỉ quy định: “Đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng;” còn đến khoản 19 Điều 70 BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể: “Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án khi được phép của Tòa án hoặc đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng;”. Như vậy, BLTTDS năm 2015 đã tăng cường quyền tự bảo vệ, tự chứng minh của đương sự, đồng thời, từ ngữ ở đây cũng được sử dụng phù hợp hơn, “người làm chứng” thay cho “nhân chứng”. Khoản 18 Điều 70 BLTTDS năm 2015 cũng quy định: “Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định cúa Bộ luật này” …
Với sự thay đổi như vậy quyền và nghĩa vụ của người đại diện cũng được mở rộng và hoàn thiện hơn, thể hiện pháp luật tăng cường việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Những quyền cơ bản của đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan), cũng là quyền của người đại diện, bao gồm:
“Quyền cung cấp chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ: Cung cấp chứng cứ để chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự mình đại diện mình; Yêu cầu người thứ ba đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án; Ðề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ mà tự mình không thể thực hiện được; Đề nghị triệu tập người làm chứng; Trưng cầu giám định; Yêu cầu định giá; Khiếu nại với VKS về những chứng cứ mà Tòa án đã xác minh…”
Căn cứ Điều 93 BLTTDS năm 2015, thì chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Khoản 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015 nêu rõ: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan“. Tại điểm b,c khoản 2 Điều 58 BLTTDS năm 2015 quy định: Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án; Đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá; khiếu nại với Viện kiểm sát về những chứng cứ mà Toà án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu”. Theo đó, trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định pháp luật. Người đại diện theo pháp luật yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu trữ chứng cứ cần thu thập đó.
Khi tham gia vào hoạt động chứng minh, người đại diện theo pháp luật có toàn quyền trong việc đề ra các yêu cầu, phản yêu cầu và chứng minh cho những ý kiến đó. Nhưng dù là đại diện theo pháp luật của đương sự thì vai trò chứng minh của họ cũng phát sinh sau khi phát sinh vai trò chứng minh của đương sự. Đương sự không thể hoặc có hạn chế nhất định không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình thì theo quy định của pháp luật họ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của người đại diện theo pháp luật hoặc Tòa án sẽ chỉ định người đại diện cho họ. Hoạt động chứng minh của người đại diện là “thay mặt” đương sự, hành vi chứng minh của họ cũng chính là hành vi của đương sự và hướng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Khi tư cách đương sự chấm dứt thì tư cách đại diện của họ cũng chấm dứt.
Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; Trưng cầu giám định; Định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại chỗ; Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này. Khi tiến hành các biện pháp quy định: “Trưng cầu giám định; Định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại chỗ; Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ” Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
“Quyền được biết, ghi chép và sao chụp các chứng cứ đương sự khác xuất trình hoặc chứng cứ mà Tòa án thu thập.” Đây là quyền quan trọng của đương sự, quy định tại khoản 8, Điều 70 BLTTDS năm 2015, cho phép một bên biết và chuẩn bị chứng cứ, lập luận để tranh cãi về các yêu cầu mà bên kia đưa ra. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Pháp luật tố tụng Việt Nam hiện nay chỉ quy định nghĩa vụ của đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa án mà không qui định trách nhiệm của đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự và hoặc Tòa án công bố các chứng cứ cho các đương sự khác biết. Vì vậy việc tiếp cận các chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc Tòa án đã thu thập được thực hiện qua việc đọc và nghiên cứu hồ sơ ngay tại trụ sở Tòa án. Do vậy quyền được biết chứng cứ tài liệu phải bao gồm cả quyền “nghiên cứu hồ sơ“. Tòa án không công khai nội dung tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những tài liệu, chứng cứ không được công khai. Người đại diện theo pháp luật cũng không được quyền biết đến các chứng cứ có liên quan đến bí mật kinh doanh, thuần phong mỹ tục.
Đương sự chỉ được yêu cầu ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ trước khi Toà án mở phiên toà. Do không có qui định về thời hạn nên thực tế ở nhiều Tòa án, đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự chỉ được tiếp cận hồ sơ một vài ngày ngay trước phiên toà và như vậy không có đủ thời gian để chuẩn bị lâp luận để tranh luận trước tòa.
Tài liệu chứng cứ yêu cầu ghi chép, sao chụp không được liên quan đến “bí mật nhà nước”, “bí mật nghề nghiệp”, “bí mật kinh doanh”, “bí mật đời tư”. Trừ khái niệm bí mật nhà nước là có định nghĩa tương đối rõ trong luật, những khái niệm khác “bí mật nghề nghiệp”, “bí mật kinh doanh”, “bí mật đời tư” đều không được luật định rõ ràng vì vậy mà tùy theo cách đánh giá của mỗi Tòa án mà có tài liệu được chụp, có tài liệu lại không được chụp (thậm chí là không được biết).v.v…
“ Quyền tham gia phiên tòa” Bao gồm: Tham gia phiên tòa; Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; Ðề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; Được đối chất với các đương sự khác hoặc với nhân chứng; Tranh luận tại phiên tòa; Quyền kháng cáo, khiếu nại và đề nghị giám đốc; Ðược cấp trích lục bản án, quyết định của Tòa án; Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án; …Tranh luận tại phiên tòa đây là một trong những quyền quan trọng nhất của đương sự cũng như người đại diện theo pháp luật của đương sự bởi tại phiên toà, căn cứ vào những chứng cứ được đưa ra cũng như sự tranh luận của các bên đương sự, vụ việc sẽ được các chủ thể có thẩm quyền giải quyết
Ngoài ra một số quyền sau đây của người đại diện cũng không kém phần quan trọng: “Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình; Đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyền tự thỏa thuận với các đương sự khác và tham gia việc hòa giải.” Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Như vậy quyền và nghĩa vụ chung của đại diện theo pháp luật của đương sự cũng giống như quyền và nghĩa vụ chung của đương sự. Người đại diện theo pháp luật của đương sự chỉ được thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó phải đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự và chấm dứt khi: Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục; Người được đại diện chết; Các trường hợp khác do pháp luật quy định. Đối với trường hợp đương sự là pháp nhân thì đại diện theo pháp luật chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt.
2.4.1.2. Nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự
- Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án
Giấy triệu tập đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự, cũng như bất kỳ văn bản tố tụng nào khác, đều có ý nghĩa và vai trò quan trọng. Hiểu một cách nôm na, đây là văn bản “triệu tập” của Tòa án đối với các bên đương sự. Theo qui định, nếu giấy triệu tập được gửi ( thuật ngữ pháp lý gọi là “tống đạt”) một cách hợp lệ, thì bắt buộc đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự (người được triệu tập) phải có mặt tại Tòa án – theo nội dung ghi trong giấy triệu tập.
Nếu đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự không có mặt theo giấy triệu tập (dù là cố tình hay vô ý), thì sẽ phải chấp nhận hậu quả pháp lý do sự vắng mặt “không phép” của mình. Hậu quả này theo chiều hướng không có lợi cho đương sự. Chẳng hạn nếu đương sự là nguyên đơn (người khởi kiện) mà vắng mặt, thì sau nhiều lần như vậy (tùy trường hợp cụ thể), Tòa sẽ ra quyết định tạm đình chỉ hay đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự là bị đơn, thì sau hai lần triệu tập hợp lệ và vẫn vắng mặt, tòa sẽ xét xử vắng mặt đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự (khi đó, đương sự sẽ, người đại diện theo pháp luật của đương sự không có cơ hội để trình bày, nêu quan điểm bảo vệ quyền lợi cho mình. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Chính vì vậy, khi nhận được giấy triệu tập, nếu vì lý do nào đó không thể có mặt, thì đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự cần phải có đơn xin phép vắng mặt gửi tòa. Nếu lý do là xác đáng, khách quan – thì tòa sẽ xem như đương sự vắng mặt “có phép”, không tính là “vắng mặt không lý do”. Tuy nhiên, Điều này không có nghĩa là muốn vắng mặt bao nhiêu lần thì vắng.Thông thường, đương sự chỉ có quyền và nên vắng mặt tối đa khoảng vài lần trong quá trình giải quyết một vụ án.
- Các nghĩa vụ khác:
Chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ án; Tôn trọng Tòa án; Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa; Nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí.
2.4.2. Về quyền và nghĩa vụ tố tụng cụ thể của người đại diện
- Về quyền và nghĩa vụ của người đại diện của nguyên đơn:
Người đại diện của nguyên đơn cũng như nguyên đơn có các các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 71 của BLTTDS và các quyền riêng của người đại diện cho nguyên đơn quy định tại Điều 70. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng theo BLTTDS sửa đổi thì quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 70 đã có sự thay đổi so với BLTTDS 2004. Theo đó, ngoài các quyền, nghĩa vụ chung của đương sự thì người đại diện của nguyên đơn còn quyền “Thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”. BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm một quyền của nguyên đơn mà BLTTDS 2004 không quy định là “Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”.
- Về quyền và nghĩa vụ của người đại diện của bị đơn: Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Ngoài các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70 của BLTTDS năm 2015, người đại diện của bị đơn còn có các quyền quy định tại Điều 72 BLTTDS năm 2015, cụ thể là: “Được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện. Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này…”.Người đại diện của Bị đơn thay mặt Bị đơn tham gia vào quá trình tố tụng phải đảm bảo quyền và nghĩa vụ của Bị đơn có quyền yêu cầu hay phản đối những yêu cầu sai lệch từ phía Nguyên đơn.
- Quyền và nghĩa vụ của người đại diện của người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
Theo Điều 73 BLTTDS năm 2015, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được phân làm hai loại và tương ứng với mỗi loại người có quyền và nghĩa vụ liên quan lại có quyền, nghĩa vụ khác nhau. Căn cứ vào quy đinh trên có thể xác định như sau: “ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền, nghĩa vụ sau đây:Các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70 BLTTDS năm 2015 (Quyền và nghĩa vụ của đương sự); Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này. Trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện vụ án khác….”
Như vậy, trên đây chúng ta đã phân tích về quyền, nghĩa vụ tố tụng của người đại diện của đương sự. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành thì trong một số trường hợp đương sự được đại diện có thể tự mình tham gia tố tụng và Toà án cũng có quyền triệu tập người đại diện của đương sự tham gia tố tụng. Đó là các trường hợp đối với vụ việc lao động mà có đương sự thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này hoặc người lao động là người chưa thành niên mà không có người đại diện và Tòa án cũng không chỉ định được người đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều 88 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động đó (Khoản 2 Điều 88 BLTTDS năm 2015).
Do vậy, vấn đề đặt ra là khi tham gia tố tụng trong các trường hợp này thì quyền, nghĩa vụ của các chủ thể sẽ được xác định như thế nào. Nếu đương sự và người đại diện của họ không thống nhất trong việc giải quyết vụ án thì Toà án sẽ căn cứ vào quyết định của đương sự hay người đại diện của họ. Đây là vấn đề mà pháp luật còn chưa có quy định cụ thể.
2.5. Các quy định về chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Cũng như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ đại diện không tồn tại vĩnh viễn mà sẽ chấm dứt khi có sự kiện pháp lý nhất định xảy ra. Sau khi chấm dứt đại diện, mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện đều không còn giá trị pháp lý để ràng buộc người được đại diện. Quan hệ đại diện theo pháp luật, khi đã chấm dứt quan hệ đại diện thì mọi giao dịch do người đại diện xác lập kể từ thời điểm chấm dứt đại diện Điều vô hiệu.
2.5.1. Về các trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp luật
Điều 89 BLTTDS năm 2015 quy định về Chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự: “Người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự”.
- Chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật đối với cá nhân:
Việc chấm dứt đại diện của cá nhân được xác định theo căn cứ chung là khi việc đại diện trở nên không còn cần thiết. Theo quy định tại khoản 4 Điều 140 Bộ luật dân sự 2015 thì đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt trong các điều kiện sau đây:
“Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi đã được khôi phục”: Ở đây quy định con đã thành niên tức là con đã đủ mười tám tuổi thì lúc này cha mẹ không còn là người đại diện nữa. Hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố hủy bỏ quyết định mất năng lực hành vi hay hạn chế năng lực hành vi dân sự của một cá nhân thì người giám hộ và người đại diện do Tòa án chỉ định không còn là người đại diện theo pháp luật của những người này. Vì lúc này, người được đại diện đã đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, hưởng các quyền lợi cũng như tự chịu trách nhiệm trước pháp luật do các hành vi pháp lý của mình, quan hệ đại diện không cần thiết phải tồn tại.
“Người được đại diện là cá nhân chết ”: Khi một người chết đi sẽ làm chấm dứt tư cách chủ thể trong mọi quan hệ pháp luật của người này, trong đó có quan hệ đại diện. Như vậy, khi người được đại diện chết sẽ làm chấm dứt mối quan hệ đại diện mà họ là một bên chủ thể tham gia mối quan hệ, vì lúc này không còn chủ thể cần được bảo vệ để người đại diện đứng ra nhân danh thực hiện các giao dịch dân sự nữa. Từ đó có thể suy lý ngược lại trường hợp người đại diện theo pháp luật chết thì không phải là trường hợp làm cho quan hệ đại diện đó chấm dứt. Vì pháp luật không quy định Điều này, khi người đại diện chết, nhưng người được đại diện lúc này vẫn là người chưa thành niên hoặc vẫn trong tình trạng mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi thì lúc này họ vẫn cần có người đại diện. Khi này, quan hệ đại diện chỉ chấm dứt đối với người đại diện đã chết nhưng mối quan hệ này vẫn tồn tại giữa người được đại diện với người đại diện mới.
“Các trường hợp khác do pháp luật quy định”: Đây là quy định dự trù của pháp luật để điều chỉnh cho những trường hợp phát sinh. Thông thường có những trường hợp xảy ra trong mối quan hệ đại diện theo pháp luật khi người đại diện không còn đủ điều kiện để làm người đại diện nữa như người đại diện mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi năng lực, chấp hành hình phạt tù… Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
Chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật đối với pháp nhân: Pháp nhân chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật trong hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất:
Theo điểm d, khoản 4 Điều 140 BLDS năm 2015 thì “Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại”. Pháp nhân chấm dứt hoạt động theo quy định tại khoản 2 Điều 96 BLDS năm 2015 khi “Pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” thì đương nhiên đại diện theo pháp luật của cá nhân cũng chấm dứt. Vì khi pháp nhân chấm dứt tư cách chủ thể của mình trong quan hệ pháp luật dân sự thì quyền và nghĩa vụ của pháp nhân đó cũng chấm dứt theo và khi này không cần tới người đại diện theo pháp luật nữa. Pháp nhân có thể chấm dứt theo một trong các sự kiện pháp lý: hợp nhất pháp nhân, sát nhập pháp nhân, chia tách pháp nhân, giải thể pháp nhân, pháp nhân bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản.
- Trường hợp thứ hai:
Pháp nhân vẫn còn hoạt động nhưng vì những lý do như người đại diện theo pháp luật của pháp nhân không còn đủ tư cách làm người đại diện, theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền… người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt vai trò làm người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Do đó giữa pháp nhân và chủ thể này sẽ chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật. Lúc này, pháp nhân phải thay đổi người đại diện theo pháp luật, việc thay đổi này được quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật doanh nghiệp 2014 và các văn bản có liên quan. Quan hệ đại diện cũ chấm dứt, quan hệ đại diện theo pháp luật mới được hình thành. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
BLTTDS năm 2015 đã bổ sung một quy định mà BLTTDS 2004 không quy định đến là chỉ định đối với vụ việc lao động. Theo đó, đối với vụ việc lao động mà có đương sự thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này hoặc người lao động là người chưa thành niên mà không có người đại diện và Tòa án cũng không chỉ định được người đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động đó. Đây là một trong những điểm mới, khi người lao động đặc biệt là những người mất, hay hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện theo pháp luật thì Công đoàn sẽ đứng ra là người đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình tố tụng.
2.5.2. Về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt đại diện theo pháp luật
Điều 90 BLTTDS năm 2015 quy định về hậu quả của việc chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự: “Trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp luật mà người được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự thì người đó tự mình tham gia tố tụng dân sự hoặc uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng dân sự theo thủ tục do Bộ luật này quy định”.
Sau khi chấm dứt đại diện theo ủy quyền, đương sự hoặc người thừa kế của đương sự trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng theo thủ tục do BLTTDS năm 2015 quy định (khoản 1 Điều 90 BLTTDS năm 2015). Việc chấm dứt đại diện của pháp nhân được quy định tại khoản 4 Điều 140 BLDS năm 2015. Đại diện theo pháp luật của đương sự là pháp nhân sẽ chấm dứt trong trường hợp pháp nhân chấm dứt. Việc nghiên cứu cho thấy pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể và bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật phá sản. Khi đó quan hệ đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
BLTTDS năm 2015 đã có những quy định tương đối bao quát và cụ thể về các vấn đề liên quan tới đại diện của đương sự như chủ thể và phạm vi đại diện, các trường hợp không được làm người đại diện, quyền và nghĩa vụ của người đại diện. BLTTDS năm 2015 ra đời có sửa đổi quy định về quyền và nghĩa vụ của người đại diện của đương sự. Các quy định này là cơ sở pháp lý cho Toà án xác định tư cách của người đại diện của đương sự, bảo đảm việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đại diện, đồng thời là cơ sở để người đại diện của đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
Tuy nhiên, trên cơ sở những vấn đề lý luận về người đại diện của đương sự được xây dựng tại Chương 1 của luận văn và việc nghiên cứu, đánh giá luật thực định, Chương 2 của luận văn đã chỉ ra được những hạn chế của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về người đại diện của đương sự do thiếu tính cụ thể, chỉ có những quy định dẫn chiếu tới việc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự là chủ yếu. BLTTDS năm 2015 chưa có quy định về việc xác định đại diện do Toà án chỉ định có phải là đại diện theo pháp luật hay không, trong trường hợp Tòa án chỉ định người đại diện, nhưng họ không thống nhất được quyền và nghĩa vụ với đương sự thì giải quyết như thế nào. Trường hợp người
bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không thể nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình mà không có cha mẹ, người than thích thì ai là người có quyền yêu cầu và người đại diện là ai? BLTTDS năm 2015 chưa chỉ ra điều này. Ngoài ra, các hạn chế khác vẫn còn tồn tại như không có quy định về điều kiện để được Toà án chỉ định là người đại diện của đương sự. Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền, nghĩa vụ của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự còn chưa đầy đủ, chi tiết mà mới chỉ dừng lại ở quy định chung chung có thể dẫn đến cách hiểu và thực hiện khác nhau trên thực tế. Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
