Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện và giải pháp bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, Tỉnh Đắk Lắk.

2.1.1. Những kết quả đạt được của việc thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm vụ án hình sự

Huyện Krông Năng là một huyện nằm ở phía Đông bắc tỉnh Đắk Lắk, cách trung tâm tỉnh lỵ 50 km theo đường Quốc lộ 14, Quốc lộ 29, được thành lập ngày 09 tháng 11 năm 1987, tách ra từ huyện Krông Búk có diện tích: 621 km². Trung tâm huyện có tuyến đường Quốc lộ 29 và đường tỉnh lộ 3 đi qua (Krông Năng- EaKar). Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao,…sinh sống.

Từ năm 2018 đến tháng 6 năm 2023, TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk phải tập trung giải quyết một số lượng rất lớn các vụ án hình sự sơ thẩm. Nhìn chung hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự đã từng bước được nâng lên, đảm bảo kịp thời giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn, không có án quá hạn luật định. Trong số án hình sự đã xét xử sơ thẩm đều được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các bản án, quyết định đã ban hành đều đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tính khách quan, dân chủ, thấu tình đạt lý, đúng thời hạn luật định và có tác dụng giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân. Góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nước, của cơ quan tổ chức.

Thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk về quyền kháng cáo của bị cáo được đảm bảo thực hiện và đạt được một số kết quả nhất định, cụ thể như sau:

Thực tế xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua cho thấy, đa số các bị cáo đều có trình độ học vấn thấp, trình độ học vấn trung bình là 06/12. Về điều kiện địa lý, bị cáo ở địa bàn vùng sâu, vùng xa và đặc biệt khó khăn nên việc tiếp cận và thông hiểu các quy định của pháp luật là khó khăn đối với các bị cáo. Qua việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo thấy rằng việc bị cáo ý thức được quyền của mình trong việc kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là hết sức cần thiết. Kết quả thực tế trong những năm gần đây các bị cáo trong các vụ án hình sự thực hiện tốt quyền kháng cáo để bảo vệ quyền lợi ích của mình. Hầu hết các kháng cáo của bị cáo đều hợp pháp và được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Số lượng vụ án sơ thẩm mà bị cáo kháng cáo chiếm tỷ lệ tương đối cao so với số lượng án sơ thẩm đã giải quyết.

Bảng 01: Số liệu thống kê tình hình giải quyết các vụ án hình sự từ năm 2018-2022 và 6 tháng đầu năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Tổng kết số liệu án giải quyết 5 năm (từ năm 2018 đến năm 2022) và 06 tháng đầu năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk như sau: Tổng số án hình sự đã giải quyết là 362 vụ án với 447 bị cáo theo thủ tục sơ thẩm. Trong đó, số vụ án mà bị cáo kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là 70 vụ chiếm tỉ lệ 19,3% với 178 bị cáo.

Số liệu cụ thể được thể hiện thông qua bảng thống kê sau:

Bảng 02: Thống kê số vụ án và số bị cáo đã xét xử sơ thẩm và thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm hình sự tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Qua bảng thống kê án hình sự của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân Krông Năng thể hiện trong 05 năm gần đây, các chỉ số liên quan đến việc thực hiện quyền kháng cáo không có biến động nhiều. Cụ thể: Năm 2018 có 15 vụ án bị kháng cáo với 27 bị cáo, năm 2019 có 13 vụ án bị kháng cáo với 15 bị cáo, năm 2020 có 11 vụ án bị kháng cáo với 31 bị cáo, năm 2021 có 13 vụ án bị kháng cáo với 33 bị cáo, năm 2022 có 12 vụ kháng cáo với 29 bị cáo; 06 tháng đầu năm 2023 có 06 vụ kháng cáo với 15 bị cáo.

Tỷ lệ số vụ án có kháng cáo trên tổng số vụ án đã giải quyết theo thủ tục sơ thẩm cho thấy tỷ lệ các vụ án hình sự có bị cáo kháng cáo mang tính ổn định. Cụ thể, năm 2018: Tỷ lệ số vụ án có kháng cáo phúc thẩm trên tổng số vụ án sơ thẩm đã giải quyết là 21,4%, năm 2019 là 20%, năm 2020 là 15,2%, năm 2021 là 19,4%, năm 2022 là 20,6% và 06 tháng đầu năm 2023 là 20%, trung bình trong 05 năm từ 2018 đến 2023 và 06 tháng đầu năm 2023, tỉ lệ án hình sự bị cáo kháng cáo trên tổng số giải quyết là 19,3%.

Như vậy, từ việc phân tích số liệu án giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk qua các năm thể hiện tỷ lệ kháng cáo trên số vụ án thụ lý giải quyết hằng năm tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng luôn chiếm tỷ lệ cao 19,3%, điều này cho thấy những quy định của pháp luật về quyền kháng cáo được bị cáo nhận thức một cách đúng đắn và đã áp dụng một cách hiệu quả để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời thực hiện quyền kháng cáo kịp thời tạo điều kiện để Tòa án cấp trên kiểm tra lại tính đúng đắn, tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới, đảm bảo tính nghiêm minh trong hoạt động xét xử.

  • Về chất lượng kháng cáo

Trong những năm gần đây, chất lượng kháng cáo ngày càng tăng, thể hiện thông qua số lượng vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa có xu hướng tăng nhẹ, điều này có thể nhận thấy thông qua bảng thống kê số liệu sau.

Bảng 03: Tình hình kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự kháng cáo tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Qua bảng số liệu thống kê kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng thể hiện tỷ lệ kháng cáo được chấp nhận một phần hoặc toàn bộ là tương đối cao, dẫn đến việc Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa án, hủy án lý do chủ yếu mà án HSST bị hủy, bị cải sửa phần lớn là do Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm tương đối nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc phát sinh tình tiết mới điều này khẳng định rằng bị cáo kháng cáo hợp pháp thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét lại bản án, quyết định để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo thực hiện việc kháng cáo kịp thời đã giúp việc xem xét, đánh giá chứng cứ chính xác hơn, phán quyết của Tòa án cấp trên sẽ phù hợp với thực thế khách quan cũng như tính chất của hành vi phạm tội của bị cáo. Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Trên thực tế, có những vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù cho bị cáo, nhưng thông qua việc kháng cáo và việc xem xét, đánh giá lại chứng cứ, Tòa án cấp phúc thẩm đã chuyển từ tù giam thành tù treo.

Ví dụ : Tại Bản án số 45/2020/HS-ST ngày 15/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử bị cáo Nguyễn Thị Diệp về hành vi “Chứa mại dâm”. Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã xét xử bị cáo Diệp 9 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Cấp phúc thẩm nhận định: “Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và trong quá trình công tác bị cáo đã có nhiều thành tích xuất sắc được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, giấy chứng nhận sáng kiến kinh nghiệm cấp huyện và nhiều giấy khen khác”. Do đó đã chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diệp 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Hoặc cấp sơ thẩm xử giam với mức án nghiêm khắc do chưa nhận định đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo nên cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm giảm mức hình phạt đối với bị cáo.

Ví dụ : Tại Bản án số 17/2022/HS-ST ngày 20/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã xét xử bị cáo Nguyễn Đậu Duy Khang về hành vi “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 và đã xử phạt bị cáo 09 tháng tù. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Cấp phúc thẩm nhận định, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bị cáo Khang có cha, ông, bà là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương. Do đó, đã chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Đậu Duy Khang 06 tháng tù.

Bên cạnh đó cũng nhận thấy, tỉ lệ án huỷ, sửa có tăng nhẹ trong những năm gần đây nhưng số kháng cáo không được cấp phúc thẩm chấp nhận, y án sơ thẩm cũng tương đối cao (43 vụ/70 vụ, tỉ lệ : 61,4%). Qua đó cho thấy, chất lượng kháng cáo của bị cáo chưa cao.

Một số bị cáo có tâm lý kháng cáo để xin giảm nhẹ hình phạt mặc dù cấp sơ thẩm đã xử đúng người, đúng tội và tuyên mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Ví dụ: Tại bản án số 55/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã xét xử bị cáo Nguyễn Chí Thương về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo 08 năm tù. Về nhân thân của bị cáo như sau: Bị cáo có 02 tiền án về tội cướp tài sản, tại bản án số 566/2007/HSPT ngày 25/6/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt Nguyễn Chí Thương 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 01/9/2009 được đặc xá trở về địa phương, tại bản án số 30/2013/HSST ngày 28/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã xử phạt Nguyễn Chí Thương 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 20/9/2019 chấp hành xong hình phạt. Sau đó bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cấp phúc thẩm nhận định bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý nên giữ nguyên án sơ thẩm đối với bị cáo.

  • Về cơ chế đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Trong quá trình xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thường xuyên giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo, trong đó luôn nhấn mạnh quyền được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được giao, được niêm yết. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trong để cho bị cáo chủ động trong thực hiện quyền kháng cáo theo đúng thời hạn để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ công an huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk cũng đã quan tâm và hỗ trợ rất nhiều cho các bị cáo như: cung cấp mẫu đơn, giấy, viết và xác nhận vào đơn kháng cáo, thực hiện thủ tục chuyển ngay cho Tòa án nhân dân huyện Krông Năng.

Đối với bị cáo tại ngoại, Thư ký, Thẩm phán đều hướng dẫn thủ tục kháng cáo, hướng dẫn mẫu đơn và nội dung đơn và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Chính vì vậy, tất cả các kháng cáo đều được thực hiện đúng thời hạn, đúng thủ tục và kịp thời, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo luôn được xem xét và bảo vệ theo đúng quy định.

Do đó để bảo đảm tính chặt chẽ về thủ tục trong BLTTHS năm 2015 lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã quán triệt các quy định đảm bảo quyền kháng cáo đối với bị cáo như quy định trình tự thực hiện của Tòa án kể từ sau khi nhận được đơn kháng cáo, tính hợp lệ của kháng cáo được xem xét dựa trên những yếu tố: thời hạn kháng cáo, chủ thể thực hiện kháng cáo, nội dung kháng cáo. Việc Tòa án phải vào sổ tiếp nhận đơn kháng cáo ngay sau khi nhận được đơn sẽ giúp cho việc Tòa án không bỏ sót, quên hoặc làm mất mát các đơn kháng cáo, đồng thời cũng xác định được thời hạn kháng cáo có đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật hay không. Bên cạnh việc vào sổ tiếp nhận đơn kháng cáo, Tòa án cần phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo để xác định đơn kháng cáo đó có đáp ứng đủ yêu cầu để giải quyết theo trình tự phúc thẩm hay không.

2.1.2. Một số tồn tại hạn chế trong việc thực hiện quyền kháng cáo.

Trên cơ sở phân tích lý luận, kết hợp thực tiễn thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo trên địa bàn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk trong những năm gần đây, bên cạnh những kết quả tích cực rất đáng ghi nhận, việc thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm của bị cáo hiện nay vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc như sau:

  • Thứ nhất, tỷ lệ Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm còn cao.

Như đã thể hiện ở bảng số liệu 1, trong vòng 05 năm trở lại đây, số vụ án bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là 70 vụ. Trong đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, y án sơ thẩm là 43 vụ, chiếm tỉ lệ 61,4%. Thể hiện thông qua bảng số liệu sau:

Bảng 03 : Tỷ lệ kết quả giải quyết phúc thẩm đối với án hình sự sơ thẩm bị kháng cáo của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng

Qua số liệu tổng hợp thể hiện, số lượng Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là khá cao 61,4%, điều này cũng cho thấy các bản án sơ thẩm đã xử pháp luật đúng quy định của pháp luật nguyên nhân do thủ tục thực hiện việc kháng cáo bằng đơn hoặc trình bày trực tiếp, vì thủ tục quá đơn giản cùng với quy định Tòa án cấp phúc thẩm không xử nặng hơn nên bị cáo không có căn cứ. Mặt khác án phí phúc thẩm trong trường hợp kháng cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận nhưng mức án phí này không đáng kể, chỉ 200.000 đồng nên không hạn chế được tình trạng kháng cáo tràn lan của các bị cáo. Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

  • Thứ hai, bất cập về thời hạn kháng cáo, kháng cáo quá hạn

Pháp luật quy định về thời hạn kháng cáo còn nhiều bất cập như trường hợp kháng cáo quá hạn, cách tính thời hạn kháng cáo, kháng cáo về lý do bất khả kháng và trở ngại khách quan. Khi bị cáo kháng cáo quá hạn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không làm thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn cho bị cáo làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo, đối với trường hợp bất khả kháng và trở ngại khách quan pháp luật chưa quy định một cách cụ thể mà phải dẫn chiếu tại Bộ luật dân sự 2015.

  • Thứ ba, bất cập về vấn đề giải thích quyền kháng cáo và tuyên đọc bản án tại phiên tòa sơ thẩm.

Quyền kháng cáo là quyền cơ bản của bị cáo. Tuy nhiên không phải bị cáo nào cũng biết được tất cả các quyền của mình. Vì vậy, việc giải thích quyền kháng cáo và tuyên đọc bản án đầy đủ quyền kháng cáo tại phiên tòa là một yêu cầu cần thiết. Hiện nay, vấn đề này được các Tòa án sơ thẩm thực hiện khá tốt, khi tuyên án, Hội đồng xét xử tuyên rất cụ thể về quyền kháng cáo, về thời hạn kháng cáo. Một số Thẩm phán tuyên đọc không hết bản án đã thông qua tại phòng nghị án, không tuyên quyền kháng cáo hoặc không tuyên thời hạn kháng cáo.

  • Thứ tư, bất cập trong công tác thụ lý, xử lý đơn kháng cáo, thông báo kháng cáo.

Nhiều nguyên nhân dẫn đến kháng cáo không phù hợp nhưng có một số nguyên nhân chủ yếu sau: Về vi phạm thời hạn ra thông báo kháng cáo, việc gửi thông báo kháng cáo cho người tham gia tố tụng và viện kiểm sát cùng quá hạn luật định, phát hành bản án cho bị cáo và Viện kiểm sát chậm, gửi hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm không đúng thời gian quy định của pháp luật.

Việc nhận đơn kháng cáo, thông báo kháng cáo, kháng nghị, gửi hồ sơ đến Tòa án cấp phúc thẩm. Thực tiễn xét xử của TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk thì rất ít trường hợp tiếp nhận kháng cáo bằng lời trình bày trực tiếp của bị cáo mà chủ yếu nhận đơn kháng cáo.

  • Thứ năm, vi phạm hình thức, đối tượng làm đơn kháng cáo

Có một số trường hợp đơn kháng cáo không phù hợp về hình thức như không ghi yêu cầu cụ thể về nội dung kháng cáo là giảm nhẹ hình phạt hay hưởng án treo, không ghi ngày, tháng, năm kháng cáo và đơn kháng cáo không có xác nhận của Trại tạm giam khi bị cáo tạm giam làm đơn kháng cáo khi đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc một số trường hợp người nhà bị cáo như bố, mẹ, vợ, chồng không có quyền kháng cáo nhưng làm đơn kháng cáo thay dẫn đến việc kháng cáo không đúng quy định về đối tượng kháng cáo.

  • Thứ sáu, vi phạm về việc giao bản án

Có không ít trường hợp giao bản án cho bị cáo và người tham gia tố tụng chưa đúng thời gian quy định tại Điều 262 BLTTHS, cá biệt còn có không ít trường hợp không giao bản án sơ thẩm cho bị cáo đang bị tạm giam, không giao bản án cho người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên.

2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

  • Về nguyên nhân khách quan:

Thứ nhất, BLTTHS hiện hành vẫn còn đó những bất cập, thiếu sót như quy định chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, chưa rõ ràng. Rất nhiều quy định của BLTTHS quy định không rõ nên phải chờ hướng dẫn áp dụng của TANDTC, việc hướng dẫn không được kịp thời.

Sự thiếu hoàn thiện của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về quyền kháng cáo của bị cáo, quy định của BLTTHS liên quan đến quyền kháng cáo còn chưa thật sự đầy đủ, không rõ ràng, nhưng lại chưa có sự hướng dẫn áp dụng thống nhất của cơ quan có thẩm quyền đã ảnh hưởng không nhỏ đến quyền kháng cáo của bị cáo; hoặc là các hướng dẫn, giải đáp chưa cụ thể, chi tiết, chưa có một chuẩn mực để các chủ thể áp dụng pháp luật tuân theo. Trong thực tiễn về cách tính thời hạn bắt đầu kháng cáo, xác định trách nhiệm trong việc gửi bản án cho bị cáo dẫn đến việc không thực hiện được quyền kháng cáo thì pháp luật chưa quy định một cách cụ thể.

Thứ hai, đối với một tỉnh miền núi như Đắk Lắk vấn đề bổ sung nguồn nhân lực chất lượng, đào tạo bồi dưỡng cho Thẩm phán, Hội thẩm luôn gặp nhiều khó khăn bởi điều kiện kinh tế, xã hội còn hạn chế. Trong các báo cáo tổng kết công tác hằng năm, TAND tỉnh đã chỉ ra thực tế còn nhiều hạn chế trong vấn đề này. Số các vụ án mà ngành Tòa án tỉnh phải giải quyết hàng ngày càng tăng cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp, ngoài những nguyên nhân tác động như hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập chưa phù hợp, cơ sở vật chất và điều kiện làm việc vẫn còn nhiều khó khăn, chế độ lương và chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm vẫn chưa thực tương xứng và phù hợp thì nguyên nhân chủ yếu vẫn là do trình độ chuyên môn của đội ngũ này tại tỉnh vẫn còn chưa cao so với nhiều tỉnh khác. Bởi vậy dẫn đến nhiều án bị hủy, bị sửa lại ở cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm và vẫn còn tồn tại không ít những tiêu cực phát sinh do Thẩm phán, Hội thẩm chịu sự tác động của các yếu tố bên ngoài.

Thứ ba, cơ sở vật chất, trang thiết bị của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk hiện tại còn thiếu, chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán, HTND chưa đạt yêu cầu. Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường cũng là một trong những tác nhân. Là một tỉnh nghèo, khó khăn với các điều kiện kinh tế, xã hội hạn chế. Cơn bão kinh tế thị trường ảnh hưởng tới những nhu cầu vật chất bình thường trong cuộc sống của người Thẩm phán tại tỉnh Đắk Lắk. Thậm chí trong nhiều trường hợp “nỗi lo cơm áo gạo tiền” của Thẩm phán, Hội thẩm cũng sẽ được đặt lên bàn cân với sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi họ xét xử, đấy chính là mặt trái của sự phát triển cơ chế thị trường, tiêu cực, hối lộ có thể diễn ra nhiều hơn làm cho con người ta dễ suy thoái về đạo đức. Mặt khác sự phát triển về kinh tế, xã hội kéo theo sự bùng nổ về thông tin và Đắk Lắk không nằm ngoài guồng quay đó. Trong thời đại công nghệ, truyền thông đang phát triển mạnh như hiện nay, với xu thế dân chủ hoá mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội, trong đó có hoạt động tố tụng, vai trò của các cơ quan ngôn luận ngày càng được nâng cao. Nhiều vụ án được thông tin tới nhân dân, thậm chí trước khi Tòa án xét xử. Các loại báo (báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình) không chỉ đưa thông tin mà còn định hướng dư luận. Điều cần lưu ý, ở Đắk Lắk chủ yếu là đồng bào dân tộc Tây Nguyên sinh sống, chính trình độ dân trí không cao so với mặt bằng chung của nhiều tỉnh đồng bằng khiến cho nhận thức và khả năng tiếp nhận thông tin từ dư luận của đồng bào sẽ bị hạn chế hơn rất nhiều, nên việc đề cao cảnh giác trước mọi luồng thông tin xấu của các phần tử chống phá Nhà nước, có thể gây kích động cho bà con là điều luôn được đề cao. Do đó, khi thụ lý hồ sơ vụ án được phân công, Thẩm phán, Hội thẩm đã bị ảnh hưởng bởi sự chi phối của dư luận từ báo chí, dẫn đến việc ra các phán quyết không khách quan, không phù hợp với những tình tiết, diễn biến của vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, một số bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết về pháp luật nên dẫn đến những khó khăn trong thực hiện quyền kháng cáo.

  • Về nguyên nhân chủ quan:

Thứ nhất, năng lực đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm luôn là một vấn đề đáng để bàn bởi nó quyết định tới chất lượng xét xử.

Một bộ phận do năng lực chuyên môn, các chủ thể áp dụng pháp luật không sớm cập nhật, nghiên cứu các văn bản, kiến thức mới để bổ sung, nâng cao năng lực công tác mà tự hài lòng bằng những “kinh nghiệm công tác thâm niên” trong khi các văn bản pháp luật, các hướng dẫn, giải đáp nghiệp vụ được thường xuyên ban hành và cập nhật.

Tòa án nhân dân tối cao đã thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, các buổi giải đáp thắc mắc hàng tháng, hàng quý để giải đáp các vướng mắc trong thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án. Tuy nhiên, cũng có một bộ phận cán bộ không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ dẫn đến việc không kịp thời nắm bắt hoặc nắm bắt không đầy đủ các giải đáp kịp thời.

Thực tế đã ghi nhận nhiều trường hợp tại Đắk Lắk đối với các vụ án không có nhiều tình tiết phức tạp, Hội thẩm nhân dân không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án mà họ chỉ đọc trước phiên xét xử từ 1 đến 2 buổi, hoặc thậm chí có nhiều trường hợp Hội thẩm chỉ đọc ngay trước phiên xét xử. Chính từ việc nghiên cứu qua loa và không thể khái quát toàn diện như vậy mà trong các vụ án như thế này, Hội thẩm hoàn toàn bị động và phụ thuộc vào Thẩm phán và phụ thuộc vào những chứng cứ, hồ sơ, tại liệu có sẵn. Điều này làm cho chất lượng phiên xét hỏi không đáp ứng được yêu cầu bởi Hội thẩm không nắm được nhiều về vụ án và đa phần chỉ ngồi nhìn Thẩm phán làm việc. Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Trường hợp Thẩm phán bị suy thoái về phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật còn tồn tại. Thực tế, vẫn tồn tại sự tiêu cực trong công tác xét xử bởi một số Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bị “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, bị tha hóa đạo đức. Có thể xuất phát từ chế độ tiền lương cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hiện tại còn thấp, chưa tương xứng với vị trí, trách nhiệm của người cầm cân nảy mực; nhưng cũng có thể, xuất phát từ “lòng tham” của chính những chủ thể áp dụng pháp luật, bị đồng tiền làm lóa mắt, chi phối.

Thứ hai, công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ Tòa án, đặc biệt là các chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật có lúc, có nơi chưa kịp thời. Nhiều quy định mới về quyền kháng cáo đã được bổ sung tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong khi đó, các hướng dẫn áp dụng chưa kịp thời ban hành dẫn đến việc các chủ thể áp dụng pháp luật có cách hiểu không thống nhất và dẫn đến việc áp dụng pháp luật, trong đó có việc áp dụng các quy định về thời hạn và phạm vi kháng cáo trong các vụ án cũng chưa thống nhất. Mặc dù như vậy, nhưng công tác tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ Tòa án có lúc, có nơi lại không kịp thời với việc ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, dẫn đến tình trạng nhận thức và áp dụng pháp luật không thống nhất.

Ngoài ra, tâm lý của một số Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bị tác động bởi cấp trên, “cấp ủy”, bởi lo lắng sẽ bị ảnh hưởng những nhận xét không tốt về đánh giá xếp loại hàng năm, đánh giá nhận xét để tái bổ nhiệm, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý, vv…Đồng thời, trong cuộc sống, không tránh khỏi các quan hệ thân thích, quen biết nên nếu không giữ được các “phẩm chất” mà Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán quy định thì không tránh khỏi những lúc việc áp dụng pháp luật, dẫn đến có những vụ án thiếu khách quan và chính xác dẫn đến việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội cũng không phù hợp.

Trên thực tế xảy ra ở tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung đã có không ít cấp ủy Đảng cố tình tác động tới Thẩm phán, Hội thẩm vào mặt chuyên môn, thực tế cũng đã cho thấy có nhiều vụ án mà sự tác động của các cấp ủy Đảng đã dẫn đến việc xét xử không chính xác nếu không muốn nói là sai pháp luật. Đó là sự can thiệp của cá nhân, vì quyền lợi cá nhân, nhân danh Đảng, nhân danh tổ chức để tác động mà hoàn toàn không theo nguyên tắc lãnh đạo của Đảng và lợi ích chung của cả quốc gia.

Thứ ba, còn tồn tại “định hướng xét xử” thông qua các cơ chế về việc họp án ba ngành, họp bàn án trong nội bộ cơ quan, thỉnh thị án cấp trên trước việc xét xử. Nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy cơ chế này không hoàn toàn tiêu cực, một mặt nó sẽ giúp cho thủ tục tố tụng được đảm bảo chặt chẽ hơn khi có sự tham gia của cả ba cơ quan tiến hành tố tụng, chứng cứ chứng minh cũng sẽ được củng cố khi các bên tiến hành tố tụng có thời gian và cơ hội ngồi lại với nhau để cùng xem xét, đánh giá một cách khách quan và cụ thể. Tuy nhiên những tác động xấu của nó đó là có thể xảy ra tình trạng “án bỏ túi” khi những cuộc họp liên ngành có khi lại khiến cho các bên xác định luôn đường lối xử lý như mức hình phạt cụ thể, biện pháp chấp hành hình phạt mà không cần xem xét tới kết quả tại phiên tòa sau đó, nó khiến cho các Thẩm phán ở Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung hầu như không quan tâm đến các tình tiết của vụ án, không nắm rõ nội dung vụ án nên dễ thống nhất với quan điểm đề xuất của Thẩm phán giải quyết vụ án, đây chính là nguồn gốc của sự ỷ lại và thiếu nghiêm túc trong nghề nghiệp, có nhiều quan điểm khác nhau trong giải quyết án giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt giữa Tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, bên cạnh đó sự phối hợp giữa các cơ quan Công an, Tòa án và Viện kiểm sát chưa chặt chẽ và thường xuyên nên có những hướng giải quyết vụ án có quan điểm trái ngược nhau làm cho hồ sơ vụ án bị kéo dài.

2.3. Giải pháp bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo

Từ việc phân tích, đánh giá và trên cơ sở thực tiễn xét xử, để áp dụng được sự thống nhất, đúng pháp luật đồng thời đảm bảo được các nguyên tắc của Bộ luật Hình sự trong việc xử lý người phạm tội. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quyền kháng cáo của bị cáo như sau:

2.3.1. Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền kháng cáo: Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Một là, về chủ thể có quyền kháng cáo là“người đại diện hợp pháp của bị cáo” “người đại diện” của bị cáo trong BLTTHS năm 2015 hiện nay chưa được quy định cụ thể và rõ ràng, chưa quy định ai là người đại diện, điều kiện để trở thành người đại diện, cũng không quy định cơ quan tiến hành tố tụng được phép áp dụng Bộ luật dân sự để xác định người đại diện. Thực tế đã có những cách hiểu không đúng dẫn đến việc xác định sai tư cách người đại diện, không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi tham gia tố tụng. Do đó, cần có một điều luật cụ thể quy định hoặc có văn bản hướng dẫn thống nhất về người đại diện hợp pháp của bị cáo để việc thực hiện kháng cáo cho bị cáo được bảo đảm và thống nhất.

Tuy nhiên đối với bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hay không, bị cáo có phải chấp hành án hay không pháp luật chưa quy định.

Hai là, về hình thức kháng cáo như hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng cần kịp thời cụ thể hóa và hướng dẫn chi tiết một số quy định về quyền kháng cáo của bị cáo như thống nhất nội dung kháng cáo qua hai hình thức kháng cáo là đơn kháng cáo và trực tiếp tại Tòa án. Đồng thời, cho phép chủ thể kháng cáo quá hạn được thực hiện bằng hình thức trực tiếp tại Tòa án. Trường hợp người kháng cáo bị tạm giam không biết chữ thì Giám thị trại tạm giam sẽ là người viết đơn kháng cáo theo trình bày và ý chí của bị cáo, đồng thời phải có sự tham gia của người chứng kiến về việc viết kháng cáo và chữ ký của người chứng kiến trong đơn kháng cáo. Người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì trao cho người bào chữa được quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dân tộc thiểu số, người cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, người bị tuyên án chung thân hoặc tử hình. Còn đối với các bị cáo khác thì cho phép người bào chữa có quyền kháng cáo nếu được sự đồng ý, trao quyền của bị cáo. Cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 6 Điều 331 BLTTHS 2015 theo hướng bổ sung quyền kháng cáo cho người bị Tòa án tuyên không có tội ngoài kháng cáo phần căn cứ tuyên là không có tội thì nên bổ sung cho chủ thể này kháng cáo những phần khác của bản án liên quan đến họ.

Ba là, về việc ra thông báo kháng cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền, lợi ích cho những người liên quan đến kháng cáo. Tuy nhiên, BLTTHS chưa quy định phải gửi thông báo kháng cáo cho người kháng cáo. Đồng thời, mẫu Thông báo kháng cáo ban hành kèm theo Nghị quyết 05/2005/HĐTP-TANDTC chưa ghi rõ “có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Tòa cấp phúc thẩm”. Điều này sẽ hạn chế cho bị cáo trong việc chuẩn bị trước các nội dung và trình bày ý kiến của mình về các nội dung liên quan đến kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm.

Nghị quyết 05/2005/NQ- HĐTP có quy định ngày kết thúc kháng cáo nếu rơi vào ngày lễ, ngày nghỉ, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chưa có quy định về ngày bắt đầu và ngày kết thúc của thời hạn kháng cáo rơi vào ngày lễ, ngày nghỉ. Những bất cập này đã được Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 khắc phục một phần. Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Tuy nhiên, điều luật lại chưa nói rõ về việc như thế nào là “lý do bất khả kháng” và “trở ngại khách quan”. Trong trường hợp đó thì thời hạn kháng cáo tính như thế nào. Do đó cần có hướng dẫn cụ thể định nghĩa về “lý do bất khả kháng” và “trở ngại khách quan” trong Bộ luật dân sự;

“Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”.

“Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ có thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ của mình”.

Đồng thời cần quy định rõ, “lý do bất khả kháng” và “trở ngại khách quan” không tính vào thời hạn kháng cáo.

2.3.2. Giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp đối với các cá nhân có trách nhiệm đảm bảo thi hành các quy định về kháng cáo

Để thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo quyền kháng cáo được thực hiện trên thực tế, vấn đề hết sức cần thiết đó là yếu tố con người. Phải có một đội ngũ cán bộ Tòa án có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; phải có một Ban giám thị trại tạm giam am hiểu pháp luật, có tinh thần trách nhiệm cao.

Thứ nhất, cần tiếp tục nâng cao trình độ nghề nghiệp những người tiến hành tố tụng nhất là đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (các chủ thể áp dụng pháp luật trực tiếp), đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến việc áp dụng pháp luật vừa thực hiện đầy đủ các nguyên tắc và cũng làm tốt nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự (Điều 1, Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015), bảo đảm sự bình đẳng, công bằng, cũng như quyền con người. Để làm tốt điều này, trước hết bản thân mỗi chủ thể áp dụng pháp luật (nhất là các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân) phải không ngừng học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như cập nhật thường xuyên các văn bản, hướng dẫn của ngành; nghiên cứu các tài liệu tham khảo, các nghiên cứu khoa học, đồng thời tích cực tìm tòi các bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đã nhận định về việc áp dụng pháp luật nói chung về các bản án, quyết định bị kháng cáo để rút kinh nghiệm cho bản thân, từ đó vận dụng và áp dụng vào quá trình công tác của bản thân sau này.

Tăng cường việc nâng cao trình độ, những kiến thức liên quan đến quyền kháng cáo cho Ban giám thị trại tạm giam. Ban giám thị trại tạm giam phải giải thích, hướng dẫn, tạo điều kiện, thực hiện các thủ tục cần thiết để bị cáo có thể thực hiện tốt quyền kháng cáo của mình. Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Bên cạnh đó, cần thường xuyên mở các buổi tập huấn, bằng nhiều hình thức như tập huấn trực tuyến toàn ngành, tập huấn trực tiếp tại các khu vực hoặc từng tỉnh để trên cơ sở đó giúp cho đội ngũ các chủ thể áp dụng pháp luật có được sự nhận thức chung nhất về áp dụng pháp luật; mặt khác, thông qua các buổi tập huấn này, Tòa án nhân dân tối cao sẽ kịp thời nhận được các phản ánh, thắc mắc liên quan đến việc áp dụng pháp luật của các đơn vị, từ đó có sự tổng hợp và hướng dẫn kịp thời, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật nói chung.

Do đó, để đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo, chúng ta cần tăng cường hơn nữa công tác xây dựng đội ngũ Thư ký, Thẩm phán Tòa án trong sạch, vững mạnh; đảm bảo phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tường, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ ngành Tòa án. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ trong ngành Tòa án, thực hiện chế độ nhận xét đánh giá, phân loại về trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, xử lý kịp thời, nghiêm minh những người vi phạm.

Thứ hai, cần thường xuyên quan tâm, kịp thời động viên khích lệ, có hình thức khen thưởng xứng đáng đối với đội ngũ những người tiến hành tố tụng nhất là đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, đồng thời xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến trong toàn ngành. Đặc biệt quan tâm đến chế độ chính sách cho những người tiến hành tố tụng nhất là đội ngũ Thẩm phán. Bởi khi họ đã được đảm bảo về chế độ (tiền lương, khen thưởng…) thì sẽ luôn yên tâm công tác và hoàn thành tốt các nhiệm vụ, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là áp dụng pháp luật trong công tác xét xử.

Mặt khác, để mỗi Thẩm phán phải thấm nhuần được Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của người Thẩm phán; đó là tính độc lập, sự liêm chính, sự vô tư khách quan, sự công bằng bình đẳng, sự đúng mực, sự tận tụy và không chậm trễ, năng lực và sự chuyên cần thì bên cạnh việc động viên, khen thưởng và thay đổi chính sách chế độ tiền lương thì kiên quyết phải có các hình thức xử lý kỷ luật nghiêm khắc đối với các chủ thể áp dụng pháp luật có biểu hiện tiêu cực, hay có tâm lý lo ngại, nể nang do bị tác động từ nhiều phía. Có như vậy, mới xây dựng được đội ngũ cán bộ (đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán) có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2.3.3 Giải pháp Công tác phối hợp trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự:

Tăng cường công tác phối hợp công tác giữa các cơ quan tiến hành tố tụng từ cấp trung ương đến cấp địa phương nhằm đảm bảo việc kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật cũng như việc phối hợp kịp thời cần thiết trong công tác xét xử sơ thẩm hình sự, nhất là đối với các vụ án phức tạp, vụ án liên quan đến an ninh chính trị, vụ án điểm, vụ án xét xử lưu động;

Tăng cường công tác giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, kịp thời phát hiện và khắc phục những thiếu sót, vi phạm của Tòa án cấp phúc thẩm, đảm bảo áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về quyền kháng cáo được nghiêm chỉnh và thống nhất, tăng cường sự giám sát của xã hội, qua sự đánh giá của dư luận, Kiểm sát viên, Thẩm phán phải tự ý thức nâng cao trách nhiệm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Việc tham khảo án lệ về xét xử phúc thẩm giúp Thẩm phán rút kinh nghiệm từ những thiếu sót trong những vụ án trước để thực hiện việc kháng cáo và xét xử theo đúng quy định của pháp luật.

Sau khi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành các giải đáp, hướng dẫn hoặc dự thảo các Nghị quyết hướng dẫn, thông qua trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao, thì các tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là đội ngũ những người trực tiếp có liên quan đến pháp luật như các Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư, Trợ giúp pháp lý, các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý…có thể góp ý vào các dự thảo, giáp đáp, hướng dẫn để từ đó, Tòa án nhân dân tối cao tiếp thu, chọn lọc các ý kiến góp ý phù hợp với các quy định pháp luật, phù hợp với thực tiễn để có hướng dẫn thống nhất trên toàn quốc.

2.3.4. Giải pháp về công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lí cho bị cáo. Đây là giải pháp quan trọng, nhiều bị cáo chỉ biết mình có quyền kháng cáo, nhưng không biết rõ thời hạn, phạm vi và thủ tục kháng cáo. Việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý cho bị cáo giúp họ thực hiện kháng cáo bảo đảm các điều kiện hợp pháp. Ngoài ra, cần có sự tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật đến các tầng lớp Nhân dân để đảm bảo được tính công khai, dân chủ, minh bạch, đồng thời đánh giá được tính đúng đắn của các góp ý và phản ứng của dư luận, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và các quy định về quyền kháng cáo của bị cáo sự nói riêng. Ngoài ra việc công bố án lệ góp phần quan trọng giúp cho Thẩm phán nắm rõ đường lối xét xử vụ án và có những phán quyết đúng đắn hơn.

Ngoài ra, hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng và đưa vào hoạt động phần mềm “Trợ lý ảo”, đó như là một “Thư ký ảo” giúp việc cho các Thẩm phán, một cuốn sổ tay, một cuốn từ điển chuyên ngành, một “Google” của ngành Tòa án để cho đội ngũ các Thẩm phán, cán bộ ngành Tòa án nghiên cứu, tham khảo và vận dụng các tình huống tương tự vào thực tiễn xét xử hàng ngày.

Trong tương lai gần, phần mềm này sẽ được mở rộng cho các đối tượng là các Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư và một số chủ thể khác tham gia nghiên cứu, tham khảo các tài liệu, văn bản, tình huống trên phần mềm để phục vụ cho công việc. Đồng thời, các chủ thể cũng có quyền gửi các câu hỏi của mình lên cho phần mềm để phần mềm bổ sung, xây dựng một thư viện đồ sộ các văn bản hướng dẫn, giải đáp, các tình huống, vụ án có các tình tiết tương tự để các chủ thể áp dụng pháp luật có thể nghiên cứu, vận dụng và áp dụng vào thực tế, mang lại hiệu quả cao trong việc áp dụng pháp luật, đáp ứng được các nhiệm vụ và đảm bảo được các nguyên tắc mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Qua phân tích số liệu kháng cáo sơ thẩm trên tổng số án hình sự tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk trong các năm gần đây (từ năm 2018 đến năm 2022 và 06 tháng đầu năm 2023, số liệu giải quyết kháng cáo phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và các báo cáo tổng kết rút kinh nghiệm, triển khai công tác hàng năm của hệ thống Tòa án nhân dân, có thể nhận thấy các cơ quan có thẩm quyền gồm Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk nói riêng và các Tòa án nhân dân nói chung, cùng nhà tạm giữ công an huyện Krông Năng các cấp trong thời gian qua đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Quyền kháng cáo của bị cáo đã được đảm bảo một cách tích cực và có hiệu quả, hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót nếu có của Tòa án cấp sơ thẩm.

Trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành, chương 3 đã nghiên cứu sâu thêm về thực tiễn việc thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo trên địa bàn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Qua đó cho thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì vẫn còn nhiều vướng mắc phát sinh cũng như những hạn chế tồn tại trong việc thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo trong thực tiễn áp dụng như việc giải thích quyền kháng cáo cho bị cáo; tỉ lệ giữ nguyên bản án sơ thẩm còn cao; xét lý do kháng cáo quá hạn chưa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật; trường hợp cấp phúc thẩm không xem xét nội dung kháng cáo mặc dù kháng cáo hợp pháp vẫn còn xảy ra,…

Nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc, hạn chế kể trên có thể xuất phát từ chính các quy định của pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập; có thể do trình độ, năng lực của các cá nhân có trách nhiệm trong cơ quan có thẩm quyền còn hạn chế; cũng có thể do sự không am hiểu các quy định pháp luật về quyền kháng cáo của chính bị cáo, các bị cáo kháng cáo trong tâm lý còn nước còn tát, kháng cáo hy vọng được hưởng mức án nhẹ hơn.

Từ những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật trên thực tiễn, tác giả đề xuất số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền kháng cáo cáo trong Tố tụng hình sự như: Hoàn thiện các quy định về chủ thể và phạm vi kháng cáo; thời hạn kháng cáo; thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo… Và những giải pháp pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật về quyền kháng cáo, cụ thể: Giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp đối với các cá nhân có trách nhiệm đảm bảo thi hành các quy định về kháng cáo; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm bảo vệ một cách triệt để quyền, lợi ích của bị cáo. Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền kháng cáo cũng như hoàn thiện các cơ chế để đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo trong vụ án hình sự sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc cải cách tư pháp, đảm bảo Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trong vụ án hình sự.

KẾT LUẬN Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

Cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đây là quá trình đổi mới toàn diện hệ thống tư pháp với trung tâm là hoạt động xét xử nhằm mục tiêu làm cho tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ngày càng thể hiện đầy đủ, đúng đắn bản chất dân chủ, của dân, do dân, vì dân phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường

Quyền kháng cáo là một trong những quyền quan trọng đối với bị cáo trong Tố tụng hình sự. Đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo trong vụ án hình sự nói riêng cũng chính là đảm bảo quyền con người nói chung có ý nghĩa cả về chính trị, xã hội và pháp lý hết sức quan trọng, nhằm đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nhận thức ý nghĩa quan trọng này, pháp luật Tố tụng hình sự ghi nhận quyền kháng cáo của bị cáo từ rất sớm và ngày càng được hoàn thiện hơn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Quy định của pháp luật hiện hành, nhất là Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ghi nhận về quyền kháng cáo của bị cáo khá đầy đủ và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội trong tình hình mới. Vì vậy, trong những năm qua, việc thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm hình sự của bị cáo đã đạt được một số kết quả nhất định, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị cáo cũng như đảm bảo tính đúng đắn của bản án hình sự trước khi được đưa ra thi hành án.

Với đề tài“Quyền kháng cáo của bị cáo – Từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk’’ qua đó đã có cái nhìn tổng quan về lý luận cũng như thực tiễn về quyền kháng cáo của bị cáo, từ đó đưa ra được một số tồn tại, hạn chế trong quá trình áp dụng quyền kháng cáo từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Trong phạm vi bài nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quyền kháng cáo của bị cáo.

Từ những yêu cầu đó, bằng việc kết hợp hài hòa một số phương pháp luận của Triết học Mác-Lê Nin để phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền kháng cáo của bị cáo. Luận văn đã kế thừa một cách có chọn lọc để phát triển những kiến thức về pháp luật TTHS và những đề tài nghiên cứu khoa học trước đó để xây dựng đề tài khoa học của mình một số luận chứng sau:

  1. Luận văn đã xây dựng được khái niệm quyền kháng cáo của bị cáo và trên cơ sở đó phân tích vị trí, vai trò và ý nghĩa quyền kháng cáo của bị cáo trong vụ án hình sự.
  2. Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển pháp luật tố tụng hình sự về quyền kháng cáo của bị cáo trong vụ án hình sự từ trước khi BLHS năm 1985 ban hành cho đến nay.
  3. Nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2015 về quyền kháng cáo của bị cáo như: về chủ thể và phạm vi kháng cáo, thời hạn kháng cáo, thủ tục thực hiện quyền kháng cáo, thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng cáo quá hạn trong mối liên hệ với pháp luật tố tụng hình sự trước đó cũng như yêu cầu cải cách tư pháp, quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án năm 2014.
  4. Đánh giá, phân tích thực tiễn thi hành quy định của BLTTHS năm 2015 về quyền kháng cáo tại TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, đồng thời làm rõ những tồn tại, thiếu sót trong thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở dẫn chứng một số ví dụ thực tiễn xét xử sơ thẩm hình sự của TAND huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk. Tìm ra nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn tới những tồn tại, thiếu sót này.
  5. Một số giải pháp được đề xuất trong Luận văn được đúc rút từ những nguyên nhân hạn chế trong thực tiễn thực hiện quyền kháng cáo tại TAND huyện Krông Năng như:

Giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp hướng dẫn thi hành pháp luật và xây dựng án lệ: Tăng cường hoạt động tổng kết những vướng mắc, vi phạm, sai lầm trong thực tiễn xét xử để TANDTC kịp thời hướng dẫn, giải thích pháp luật. TANDTC cần sớm phát triển án lệ theo hướng các quyết định giám đốc thẩm của TANDTC sẽ là khuôn mẫu cụ thể, rõ ràng dễ nhận biết vấn đề pháp lý được đặt ra của vụ án để Tòa án cấp dưới tham khảo, viện dẫn. Giải pháp tăng cường năng lực người tiến hành tố tụng: Chú trọng chất lượng trong công tác tuyển dụng Cán bộ, tăng cường bồi dưỡng, đào tạo nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị và bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng. Các giải pháp khác: Đổi mới chế độ tiền lương, tăng cường chế độ đãi ngộ đối với Cán bộ ngành Tòa án nhất là chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán, tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho ngành Tòa án; Công tác phối hợp trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: tăng cường công tác phối hợp công tác giữa các cơ quan tiến hành tố tụng từ cấp trung ương đến cấp địa phương nhằm đảm bảo việc kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật cũng như việc phối hợp kịp thời cần thiết trong công tác xét xử sơ thẩm hình sự, nhất là đối với các vụ án phức tạp, vụ án liên quan đến an ninh chính trị, vụ án điểm, vụ án xét xử lưu động; Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật trong quần chúng nhân dân cần được tăng cường với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, trong đó Tòa án cần tăng cường xét xử lưu động để góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân. Đây cũng là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Trên phạm vi nghiên cứu lý luận và thực tiễn tại Toà án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lăk, mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả nghiên cứu đề tài sẽ không tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm. Tác giả rất mong nhận được các ý kiến phản biện, đóng góp của các chuyên gia, các thầy cô và bạn bè để đề tài này có thể được nghiên cứu chuyên sâu hơn. Luận văn: PL bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Quyền kháng cáo của bị cáo tại Tòa án nhân dân tỉnh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464