Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng địa vi pháp lý của phòng tư pháp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát về tình hình Thành phô Hô Chi Minh có tác động trưc tiếp đến đia vi pháp ly cua Phong Tư pháp trên đia bàn

2.1.1. Yếu tô tư nhiên

Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích: 2.095.239 km2. Về phía hướng Đông và Đông Bắc giáp với tỉnh Đồng Nai, còn hướng Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, về hướng Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang, cuối cùng là hướng Bắc giáp tỉnh Bình Dương, hướng Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh.

Với khoảng cách gần 1.730 km đường bộ hướng về thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh được xem như là khu vực trọng điểm của vùng Đông Nam A, còn được gọi là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Từ trung tâm Thành phố đến sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chỉ cách 7km với hàng chục đường bay tạo môi trường phát triển giao thoa thương mại.

Căn cứ Nghị quyết 1111/NQ-UBTVQH14 ngày 09 tháng 12 năm 2020 của Uy ban Thường vụ Quốc Hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp quận, huyện, cấp phường, xã và thành lập Thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh có:

  • Các quận: 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11, 12, Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Gò Vấp, Phú Nhuận và Thành phố Thủ đức;

Các huyện: Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. “Hòn ngọc Viên Đông” – đây là cái tên thể hiện tầm quan trọng của Sài Gòn với vị trí tọa lạc cực kỳ thuận lợi. Đây cũng là lý do Sài Gòn hội tụ nhiều nền văn hoá, sắc thái, tín ngưỡng riêng từ các dân tộc anh em trên toàn quốc gia. Sự liên kết giữa nét văn hóa phương Bắc, phương Tây với truyền thống dân tộc từ xa xưa của cha ông ta để lại đã góp phần xây dựng lối sống, tính cách thân thiện, dê gần của con người sinh sống tại Sài Gòn. Hiện tại, Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang là trung tâm phát triển về kinh tế – xã hội, về y tế, về khoa học – ky thuật, về cả công nghiệp – nông nghiệp hiện đại.

2.1.2. Yếu tô kinh tế – xã hội Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt được xem như là một nhánh tăng trưởng kinh tế trên cả nước, là vùng trọng điểm của khu vực phía Nam. Điều đó có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển kinh tế của Thành phố.

Việc góp phần giao thoa hàng hóa, xuất khẩu sản phẩm với các khu vực trong nước cũng như khu vực các nước trên thế giới trở nên thuận lợi, dê dàng hơn do Thành phố có đủ các tuyến giao thông chủ yếu như đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt và cuối cùng là đường hàng không.

Bên cạnh đó, hiện nay Tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên Thành phố Hồ Chí Minh dài 19,7 km với 14 ga (11 ga trên cao và 3 ga ngầm) và một depot. Dự án đi qua các quận: 1, Bình Thạnh và Thành phố Thủ Đức (TP.HCM). Tính đến tháng 02/2023, tiến độ tuyến Metro số 1 đã hoàn thành trên 94%. Tất cả các ga trên cao gần như đã hoàn thành đến 98%. Hai ga ngầm là ga Bason, ga Nhà hát Thành phố của tuyến Metro sắp sửa hoàn thiện. Cuối năm 2022, đã chính thức chạy thử nghiệm đoạn trên cao.

Dưới góc nhìn kinh tế vĩ mô, đầu tư xây dựng, phát triển tuyến Metro Bến Thành – Suối Tiên là một khoản đầu tư mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và nhiều lợi ích xã hội. Tuyến Metro Bến Thành – Suối Tiên sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng về kinh tế và xã hội của các khu vực dọc tuyến và tạo thêm hàng nghìn việc làm trực tiếp cũng như nhiều việc làm khác liên quan trong quá trình đầu tư, xây dựng và vận hành khai thác. Song song, với việc khai thác và quản lý vận hành tuyến Metro Bến Thành – Suối Tiên, các công ty quản lý tuyến Metro hiện nay cũng như các công ty quản lý Metro trên thế giới cũng được các cấp chính quyền tin tưởng, bàn giao khai thác và quản lý, phát triển quy đất ở các khu vực dọc tuyến cũng như các nhà ga lớn. Một trong các chiến lược hiệu quả nhất là tập trung xây dựng, khai thác các trung tâm thương mại tại vị trí các ga có quy mô lớn, kinh doanh, cho thuê các mặt bằng, ki-ốt và khai thác kinh doanh các điểm quảng cáo dọc tuyến… Nhờ vậy, bên cạnh việc đa dạng hóa nguồn doanh thu để đảm bảo giữ vững giá vé được ở mức phù hợp với tất cả các tầng lớp thu nhập, hệ thống Metro còn giúp tạo thêm nhiều việc làm cho người dân, giảm tình trạng ùn tắc giao thông và góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy kinh tế dịch vụ, thương mại phát triển tại khu vực. Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Địa lý Thành phố Hồ Chí Minh có thế mạnh để góp phần mở rộng việc giao lưu, liên kết, hợp tác về mọi mặt, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của Thành phố để nhanh chóng hội nhập vào thị trường trong khu vực và trên thế giới.

Trong quá trình phát triển và hội nhập vào nền kinh tế thị trường khu vực và thế giới, Thành phố Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định vai trò đầu tàu của một trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ trọng điểm của cả nước; đóng vai trò hạt nhân của vùng kinh tế quan trọng của phía Nam; là một trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất đất nước, có tác động lớn đến công cuộc phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực phía Nam và cả nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Với các yếu tố về tự nhiên và về kinh tế – xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh qua sự phân tích trên đây có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp theo khía cạnh như sau:

  • Tăng cường nhu cầu dịch vụ pháp lý: Sự phát triển kinh tế nhanh chóng dẫn đến việc gia tăng nhu cầu về các dịch vụ pháp lý. Trong đó bao gồm tư vấn, giải quyết tranh chấp và hỗ trợ pháp lý cho người dân, doanh nghiệp nhà nước cũng như doanh nghiệp tư nhân. Điều này có thể làm tăng vai trò và tầm quan trọng của Phòng trong việc hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.
  • Quản lý và cải cách hành chính: Kinh tế phát triển thường đi kèm với yêu cầu cải cách hành chính để tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Phòng tư pháp cần thích ứng với những thay đổi này để đảm bảo rằng các quy định pháp luật được thực thi hiệu quả.
  • Chính sách hỗ trợ pháp lý: Trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội, Phòng cần đề xuất các chính sách pháp lý phù hợp để hỗ trợ sự phát triển bền vững, bảo vệ quyền lợi của người dân và doanh nghiệp.
  • Đào tạo và nâng cao năng lực: Để đáp ứng yêu cầu phát triển, Phòng có thể cần đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức để đảm bảo đáp ứng tốt nhất các nhu cầu pháp lý.

2.2. Đánh giá thưc trạng về đia vi pháp ly cua Phong Tư pháp tại Thành phô Hô Chi Minh Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

2.2.1. Kết quả đạt được

Thứ nhất, Phòng Tư pháp luôn được xác định là một đơn vị quan trọng việc triển khai nhiệm vụ của ủy ban nhân dân cấp quận, huyện trên địa bàn thành phố. Sau thắng lợi mùa xuân lịch sử năm 1975, đất nước Việt Nam thống nhất. Tiền thân của tổ chức tư pháp sau 30/04/1975 ở các quận, huyện là công tác pháp chế do ủy ban nhân dân quận, huyện trực tiếp phụ trách. Thời kỳ này, tổ chức pháp chế cấp quận, huyện chưa hình thành rõ nét, nhiệm vụ công tác pháp chế lúc này chủ yếu là thực hiện các quy định của ủy ban quân quản Sài Gòn Gia Định. Thực hiện chỉ thị số 59/CT-UB ngày 24/10/1977 của ủy ban nhân dân thành phố về việc tổ chức bộ phận pháp chế của các ban, ngành, sở và ủy ban nhân dân quận, huyện, ở các quận, huyện và các sở, ban, ngành, thành phố, thành lập tổ pháp chế có từ 01 đến 03 cán bộ chuyên trách. Nếu chưa đủ cán bộ thì tạm thời bố trí một cán bộ có năng lực đảm nhận vị trí đó và sẽ bổ sung thêm dần. Nơi nào đã thành lập phòng pháp chế thì tổ chức lại theo tinh thần của Chỉ thị này. Tổ chức pháp chế đến lúc này mới định hình cơ bản là rõ nét. Tuy nhiên chức năng, nhiệm vụ xác định chưa cụ thể và đầy đủ. Hoạt động pháp chế lúc này là góp phần tích cực vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng góp phần đẩy mạnh bốn phong trào hành động cách mạng của toàn thành phố.

Căn cứ công văn chỉ đạo số 1624/UBND ngày 11/04/1990 của ủy ban nhân dân thành phố cho phép chuyển tổ Tư pháp thành Phòng Tư pháp quận, huyện. Từ đó, chuyển tổ Tư pháp thành Phòng Tư pháp và bộ máy Phòng Tư pháp được ổn định từ đó cho đến nay.

Để tiếp tục cho việc tăng cường, củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức của Phòng Tư pháp, ngày 16 tháng 11 năm 2020 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 131/2020/NQ-QH14 về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh (khoản 5 Điều 4):

“Cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân quận được ủy ban nhân dân thành phố thành lập, tổ chức lại, giải thể theo quy định của Chính phủ, phù hợp với tình hình thực tiên của công tác quản lý nhà nước tại đô thị trên địa bàn thành phố.

Cơ quan hành chính khác, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ủy ban nhân dân quận được thành lập, tổ chức lại, giải thể theo quy định của Chính phủ và phân cấp của ủy ban nhân dân thành phố”. [34]

Như vậy, theo nội dung trên, Phòng Tư pháp được quản lý theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều (song trùng trực thuộc), là cơ quan chuyên môn, tham mưu cho ủy ban nhân dân cấp quận, huyện tại địa phương. Mặt khác, Phòng Tư pháp chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tư pháp cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức tại địa phương.

Thứ hai, mối quan hệ giữa Phòng Tư pháp đối với Sở Tư pháp; ủy ban nhân dân quận, huyện; các cơ quan chuyên môn khác thuộc ủy ban nhân dân quận; ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đơn vị sự nghiệp, các ban, ngành, đoàn thể của quận, huyện; ủy ban nhân dân phường (quan hệ trực thuộc trên – dưới, trực thuộc ngang, quan hệ chéo) tạo thành một hệ thống thống nhất: Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Đối với Sở Tư pháp: Phòng Tư pháp chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tư pháp, thực hiện việc báo cáo công tác chuyên môn định kỳ và theo yêu cầu của Giám đốc Sở Tư pháp.

Đối với ủy ban nhân dân quận, huyện: Phòng Tư pháp chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của ủy ban nhân dân quận, huyện về toàn bộ công tác theo chức năng, nhiệm vụ của phòng; Trưởng phòng trực tiếp nhận chỉ đạo và nội dung công tác từ chủ tịch hoặc phó chủ tịch ủy ban nhân dân quận, huyện phụ trách và phải thường xuyên báo cáo với ủy ban nhân dân quận, huyện về những mặt công tác đã được phân công; định kỳ phải báo cáo với ủy ban nhân dân quận về nội dung công tác của phòng và đề xuất các biện pháp giải quyết công tác chuyên môn trong quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực liên quan.

Đối với các cơ quan chuyên môn khác thuộc ủy ban nhân dân quận: Thực hiện mối quan hệ hợp tác và phối hợp trên cơ sở bình đẳng, theo chức năng, nhiệm vụ, dưới sự điều hành chung của ủy ban nhân dân quận, nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, kế hoạch kinh tế – xã hội của quận. Trong trường hợp Phòng Tư pháp chủ trì phối hợp giải quyết công việc, nếu chưa nhất trí với ý kiến của thủ trưởng các cơ quan chuyên môn khác, trưởng Phòng Tư pháp tập hợp các ý kiến và trình phó chủ tịch phụ trách khối hoặc chủ tịch ủy ban nhân dân quận, huyện xem xét, quyết định.

Đối với ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đơn vị sự nghiệp, các ban, ngành, đoàn thể của quận, huyện: Khi ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam quận, huyện, các đơn vị sự nghiệp, các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội của quận, huyện có yêu cầu, kiến nghị các vấn đề thuộc chức năng của Phòng Tư pháp, trưởng phòng có trách nhiệm giải quyết hoặc trình ủy ban nhân dân quận, huyện giải quyết các yêu cầu đó theo thẩm quyền.

  • Đối với ủy ban nhân dân phường:
  • Phối hợp hỗ trợ và tạo điều kiện để ủy ban nhân dân phường thực hiện các nội dung quản lý nhà nước liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của phòng; Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.
  • Hướng dẫn cán bộ, công chức phường về chuyên môn, nghiệp vụ của ngành, lĩnh vực công tác do phòng quản lý;
  • Uy ban nhân dân các phường thực hiện việc báo cáo số liệu có liên quan đến công tác tư pháp theo đề nghị của Phòng Tư pháp quận, huyện.
  • Khi cần thiết Phòng Tư pháp trực tiếp làm việc với ủy ban nhân dân phường để giải quyết các công việc thuộc lĩnh vực chuyên môn của ngành tại địa phương.

Thứ ba, Phòng Tư pháp trên địa bàn thành phố được xác định là đơn vị có tính độc lập tương đối về tổ chức – cơ cấu. Trên cơ sở các quy định tại “Thông tư liên tịch 12/TTLB ngày 26 tháng 7 năm 1993 của Ban tổ chức – Cán bộ chính phủ – Bộ tư pháp hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức cơ quan tư pháp địa phương” [1] ; “Thông tư liên tịch 04/2005/TTLT-BTP-BNV ngày 05 tháng 5 năm 2005 của Bộ Tư pháp – Bộ Nội vụ về hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp địa phương” [6] ; “Thông tư liên tịch 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28 tháng 4 năm 2009 của Bộ Tư pháp – Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của ủy ban nhân dân cấp xã” [7] ; “Các Nghị định của Chính phủ và gần đây nhất là Thông tư 07/2020/TT-BTP ngày 21 tháng 12 năm 2020 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quy định rõ Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp quận, huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước …”. [9]

“Phòng Tư pháp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức của ủy ban nhân dân cấp quận, huyện theo thẩm quyền, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp”. [9]

  • Sơ đồ minh họa cơ cấu Ủy ban nhân dân quận, huyện

Thứ tư, Phòng Tư pháp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định: Tại thành phố, căn cứ Điều 9 Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 06 năm 2015, “Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên”. [26] Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Căn cứ Khoản 5 Điều 1 Nghị định 108/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, “Phòng Tư pháp thực hiện chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp quận, huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước …”. [10]

Các nhiệm vụ cụ thể của Phòng Tư pháp được thực hiện theo quy định theo Điều 4 Thông tư 07/2020/TT-BTP. Căn cứ quy định này, Phòng Tư pháp sẽ có các nhóm nhiệm vụ:

  • “Một là, trình ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định, quy hoạch kế hoạch phát triển trung hạn và hàng năm về lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền ban hành của ủy ban nhân dân cấp huyện …”. [9]
  • “Hai là, trình chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện dự thảo các văn bản về lĩnh vực tư pháp …”. [9]
  • “Ba là, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch và các văn bản khác …”. [9]
  • “Bốn là, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ về công tác tư pháp ở cấp xã”. [9]
  • “Năm là, về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Phối hợp xây dựng quyết định thuộc thẩm quyền ban hành của ủy ban nhân dân cấp huyện …”. [9]
  • “Sáu là, về theo dõi tình hình thi hành pháp luật: …”. [9]
  • “Bảy là, về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật: …”. [9]
  • “Tám là, về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật: …”. [9]
  • “Chín là, về phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở…”. [9]
  • “Mười là, giúp ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ về xây dựng cấp phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; là cơ quan thường trực của hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật”. [9]
  • “Mười một là, thực hiện các nhiệm vụ về trợ giúp pháp lý theo quy định pháp luật”. [9]
  • “Mười hai là, về quản lý và đăng ký hộ tịch: …”. [9]
  • “Mười ba là, thực hiện nhiệm vụ quản lý về nuôi con nuôi theo quy định pháp luật”. [9]
  • “Mười bốn là, về chứng thực…. [9]
  • “Mười lăm là, về quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính…”. [9]
  • “Mười sáu là, giúp ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án dân sự, thi hành án hành chính … [9]
  • “Mười bảy là, giúp ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước về công tác tư pháp …”. [9]
  • “Mười tám là, tổ chức ứng dụng khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, …”. [9]
  • “Mười chín là, thực hiện công tác thông tin, thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất …”. [9]
  • “Hai mươi là, chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, tham gia thanh tra việc thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực quản lý đối với tổ chức, cá nhân trên địa bàn…” . [9]
  • “Hai mươi mốt là, quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, thực hiện chế độ tiền lương, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, ky luật, …” . [9]
  • “Hai mươi hai là, quản lý và chịu trách nhiệm về tài sản, tài chính của Phòng Tư pháp theo quy định pháp luật và phân công của ủy ban nhân dân cấp huyện; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định pháp luật”. [9]

Thứ năm, Phòng Tư pháp trên địa bàn thành phố được xác định là một tổ chức hành chính nhà nước đặt trong tổng thể bộ máy hành chính nhà nước của thành phố. Phòng Tư pháp quận, huyện là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân quận thực hiện các chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân quận quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực trong địa bàn quận, huyện và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự ủy quyền của ủy ban nhân dân quận, huyện; đồng thời, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tư pháp và Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, ủy ban nhân dân thuộc nhánh hành pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Do đó, Phòng Tư pháp quận, huyện không phải cơ quan tư pháp. Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Thứ sáu, Phòng Tư pháp trên địa bàn thành phố nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành:

Trưởng phòng tư pháp phụ trách quản lý, điều hành hoạt động của phòng và phụ trách các công tác trọng tâm; chịu trách nhiệm trước ủy ban nhân dân cũng như chủ tịch ủy ban nhân dân quận, huyện bằng việc thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng và những công việc được sự phân công hoặc ủy quyền của ủy ban nhân dân quận, huyện, chủ tịch ủy ban nhân dân quận, huyện; chống lãng phí, thực hiện tiết kiệm, chịu trách nhiệm khi xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí gây ra thiệt hại trong đơn vị.

Các phó trưởng phòng phụ trách các lĩnh vực được trưởng phòng phân công hoặc ủy quyền và trực tiếp giải quyết những công việc phát sinh; chủ động bàn bạc thống nhất hướng giải quyết với nhau khi giải quyết công việc của phó trưởng phòng phụ trách nhưng có liên quan đến chuyên môn của phó trưởng phòng khác, chỉ trình lên trưởng phòng quyết định các vấn đề chưa nhất trí với các phó trưởng phòng khác hoặc các vấn đề mới phát sinh nhưng chưa có biện pháp, chủ trương, kế hoạch giải quyết cụ thể và tốt nhất.

Trong một số trường hợp trưởng phòng chỉ đạo trực tiếp công chức giải quyết công việc thuộc phạm vi thẩm quyền của phó trưởng phòng, chỉ đạo đó sẽ được thực hiện nhưng công chức được chỉ đạo phải báo cáo cho phó trưởng phòng phụ trách trực tiếp biết.

Thứ bảy, Hiến pháp 2013, các quy định của pháp luật, Uy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định 10/2016/QĐ-UBND ngày 05 tháng 04 năm 2016 ban hành quy chế (mẫu) về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện để quy định phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành, thẩm quyền của Phòng Tư pháp. Từ đó, Phòng Tư pháp có cơ sở để chấp hành, thực hiện các chức năng, vai trò, quản lý nhà nước tại địa phương.

Nhiệm vụ của Phòng Tư pháp rất quan trọng, mang tính thường xuyên, là con đường trực tiếp nhất, cụ thể hóa các quy định của pháp luật, các đường lối, chính sách của Nhà nước đến với quần chúng nhân dân. Phòng Tư pháp chịu trách nhiệm trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng dẫn pháp luật cho người dân được hiểu, đảm bảo pháp luật phải luôn được bảo vệ, được thực thi, được chấp hành một cách nghiêm chỉnh, các cá nhân trên đất nước phải luôn được bình đẳng với nhau trước pháp luật.

2.2.2. Thưc trạng về đia vi pháp ly cua Phong Tư pháp tại Thành phô Hô Chi Minh Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Phòng Tư pháp – cơ quan chuyên môn được tổ chức trong bộ máy hành chính nhà nước là ủy ban nhân dân quận, huyện có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ liên quan đến pháp luật tại địa phương. Trải qua quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển, địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp cấp quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã được xác định rõ ràng với việc từng bước được củng cố, đội ngũ công chức được tăng cường về số lượng và nâng cao về chất lượng bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ.

Đồng thời, trong hệ thống tổ chức Ngành Tư pháp, Phòng Tư pháp cấp quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành một mắt xích quan trọng, có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện phương hướng, chương trình, kế hoạch công tác của các cơ quan Tư pháp cấp trên. Về nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với các lĩnh vực công tác tư pháp cấp phường, Phòng Tư pháp chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng hoạt động, góp phần giúp cho hoạt động tư pháp từ trung ương đến cơ sở luôn được liên tục, hiệu quả. Phòng Tư pháp đã và đang được giao một khối lượng công việc lớn trong các lĩnh vực như công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện pháp luật.

Bên cạnh đó, Phòng Tư pháp còn đảm nhận những nhiệm vụ công tác tư pháp với những đòi hỏi cao về chuyên môn, nghiệp vụ. Với phương châm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, Phòng Tư pháp được giao thêm các nhiệm vụ mới, các yêu cầu cao hơn về tiến độ và chất lượng trong công việc, chuyên môn để phù hợp với xã hội đang ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhận thức được vị trí, vai trò của Phòng Tư pháp quận, huyện trong các quy định của mình, ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh luôn khẳng định Phòng Tư pháp quận, huyện là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân được tổ chức thống nhất trong phạm vi tất cả các quận, huyện, thành phố. Yêu cầu đặt nhiệm vụ trên đòi hỏi phải tiếp tục củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Phòng Tư pháp quận, huyện để bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao.

Căn cứ tại khoản 2, Điều 10 về tổ chức bộ máy chính quyền của Thành phố Thủ Đức tại Nghị quyết 98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh: “2. Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức được phân cấp, ủy quyền cho các cơ quan chuyên môn trực thuộc, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc, Ủy ban nhân dân các phường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các phường một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức.Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Theo cơ sở pháp lý như trên, Phòng Tư pháp Thành phố Thủ Đức là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức, được giao nhiệm vụ thực hiện các chính sách, pháp luật liên quan đến tư pháp như thực hiện các chức năng như quản lý hộ tịch, chứng thực, công chứng và tư vấn pháp lý. Đồng thời, Phòng cũng có trách nhiệm tham mưu cho ủy ban nhân dân trong việc xây dựng chính sách pháp luật phù hợp với tình hình địa phương. Nghị quyết 98/2023/QH15 được Quốc hội ban hành cho phép Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có Thành phố Thủ Đức, thí điểm một số cơ chế và chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Điều này mở ra nhiều cơ hội cho Phòng Tư pháp trong việc xây dựng và triển khai các chính sách tư pháp linh hoạt hơn. Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng tăng cường sự phân cấp, phân quyền, khuyến khích sự tự chủ và trách nhiệm của các phòng, ban trong việc thực hiện nhiệm vụ, giúp Phòng có thêm quyền hạn trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến quản lý tư pháp tại địa phương. Việc được giao thêm quyền hạn và trách nhiệm giúp Phòng có khả năng linh hoạt hơn trong việc thực hiện các thủ tục hành chính và giải quyết các vấn đề pháp lý một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn và tạo điều kiện cho Phòng thể hiện sự sáng tạo và áp dụng các mô hình quản lý, dịch vụ pháp lý mới, phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Phòng Tư pháp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang khẳng định địa vị pháp lý, chức năng, vai trò, quyền hạn của mình trong đời sống thực tiên bằng kết quả hoạt động trong thời gian qua, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật, đề cao Hiến pháp và pháp luật.

2.2.3. Tôn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.2.3.1. Tôn tại, hạn chế

Thứ nhất, mô hình tổ chức của Phòng Tư pháp cấp quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có thời điểm chưa ổn định. Việc sáp nhập Phòng Tư pháp vào văn phòng hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân hoặc cơ quan chuyên môn khác của ủy ban tại thời gian đầu đã làm ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động tư pháp, tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật, hoạt động bổ trợ tư pháp thuộc chức năng, phạm vi, quyền hạn. Bên cạnh đó, số lượng đội ngũ công chức của Phòng cũng không ổn định, bị ảnh hưởng bởi hoạt động của tổ chức.

Số lượng công chức tư pháp quận, huyện tuy đã được tăng cường một bước nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu, không ổn định, cơ cấu công chức chưa hợp lý, dẫn đến một số công chức phải đảm nhận nhiều lĩnh vực công tác, hoạt động còn dàn trải, không chuyên sâu. Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Đội ngũ lãnh đạo Phòng Tư pháp ở một số địa phương còn hay bị thay đổi. Do địa vị pháp lý chưa tương xứng nên việc bố trí công chức cũng chưa tương xứng. Xu thế công chức Phòng Tư pháp có năng lực muốn chuyển sang công tác ở các phòng, ban, lĩnh vực khác khá phổ biến. Điều này đã tạo ra tâm lý không yên tâm cho công chức cũng như gây khó khăn cho công tác quy hoạch nguồn công chức cho công tác tư pháp, đặc biệt là công chức có trình độ, chuyên môn.

Thứ hai, công tác tư pháp cấp quận, huyện triển khai còn chậm, chất lượng, hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra: Trong thời gian qua, công tác tư pháp cấp quận, huyện trên địa bàn thành phố đã có sự chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả thiết thực.Tuy nhiên kết quả đó còn chưa đáp ứng được với yêu cầu đặt ra đối với công tác tư pháp trong điều kiện phát triển của một địa bàn kinh tế trọng điểm, năng động như Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả triển khai công việc tư pháp từ cấp quận, huyện tới cấp phường, xã thường chậm, hạn chế, chưa đáp ứng được với yêu cầu bức xúc đặt ra của quản lý nhà nước và của người dân ở địa phương.

Thứ ba, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ trong các lĩnh vực công tác của Phòng Tư pháp chưa đồng đều: Các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Phòng Tư pháp khá phong phú, đa dạng, diên ra trên nhiều lĩnh vực (từ công tác xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chứng thực, quản lý hộ tịch ….) nhưng Phòng Tư pháp quan tâm, triển khai, thực hiện các mảng việc chưa đều, mới chỉ tập trung cho một hoặc một số lĩnh vực công tác nhất định.

2.2.3.2. Nguyên nhân

Một là, nhận thức về vị trí, vai trò đặc biệt là địa vị pháp lý của công tác tư pháp nói chung cũng như vị trí, vai trò của Phòng Tư pháp cấp quận, huyện nói riêng trong quản lý nhà nước có lúc, có nơi còn chưa đầy đủ, thống nhất. Vì vậy, vai trò của công tác tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên địa bàn thành phố có lúc, có nơi, có thời điểm chưa được coi trọng. Do đó, sự quan tâm, đầu tư cho lĩnh vực công tác này chưa được thoả đáng.

Điều này không chỉ biểu hiện về đầu tư nguồn lực (cả nhân lực, vật lực) chưa tương xứng. Cùng với đó là sự nhận thức không thống nhất về vị trí, vai trò cũng như mô hình tổ chức của chính quyền cấp quận, huyện cũng là vấn đề cần phải tính toán. Trên địa bàn thành phố, đặt ra yêu cầu về xây dựng mô hình chính quyền đô thị đã và đang đặt ra yêu cầu xác định địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp. Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Hai là, sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy, chính quyền cấp quận, huyện trên địa bàn thành phố và cơ quan tư pháp cấp trên đối với tổ chức, hoạt động của tư pháp cấp quận, huyện có lúc, có nơi còn chưa kịp thời, thường xuyên, chưa bao quát hết và đáp ứng được yêu cầu của thực tiên triển khai công tác tư pháp cấp quận, huyện. Các cơ quan tư pháp cấp trên chưa thật sự sâu sát, nắm bắt đầy đủ tình hình cũng như khó khăn, vướng mắc trong tổ chức, hoạt động của Phòng Tư pháp để kịp thời đề xuất hoặc kiến nghị các biện pháp kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động tư pháp cấp quận, huyện. Công tác kiểm tra, tổng kết thực tiên để đánh giá, rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm chưa đáp ứng được với yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Phòng Tư pháp cấp quận, huyện.

Ba là, cơ chế chính sách quản lý đội ngũ công chức tư pháp cấp quận, huyện chưa thoả đáng, hoàn chỉnh, chưa có sức khuyến khích, thu hút công chức có trình độ và tạo các điều kiện cần thiết để đội ngũ công chức tư pháp cấp quận, huyện yên tâm công tác. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa được đổi mới phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tư pháp cấp quận, huyện, đặc biệt là yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế.

Bôn là, việc tinh giản biên chế: Việc tinh giản biên chế ở cấp quận, đã khiến cho bộ máy hành chính tại thành phố Hồ Chí Minh càng khó khăn hơn. Vì biên chế không đủ để đáp ứng công việc bị quá tải thì công việc sẽ tự động bị dồn lên cấp cao hơn. Những bất cập do biên chế hành chính được giao cho các Phòng Tư pháp 22 quận, huyện và Thành phố Thủ Đức hiện nay còn khá hạn chế. Đây cũng là lý do làm ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan, đơn vị cấp trên đối với địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp. Khối lượng công việc giao cho các Phòng Tư pháp ngày càng tăng cường và phức tạp, trong khi điều kiện nguồn nhân lực của đơn vị tư pháp còn hạn chế, đội ngũ công chức tư pháp vẫn còn thiếu về số lượng, chưa thật sự đáp ứng yêu cầu về năng lực hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện pháp luật.

Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2014 của về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính, Uy ban nhân dân Quận 1 ban hành Công văn số 1081/UBND-TP ngày 23 tháng 3 năm 2018 về việc chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính và các đơn vị khác cũng đã chỉ đạo, yêu cầu triển khai và thực hiện nghiêm túc các quy định về việc chấn chỉnh tình trạng lạm dụng bản sao có chứng thực. Mặc dù các cơ quan đã ban hành các quy định trên nhưng trong thực tiên hiện nay, vẫn còn nhiều cơ quan, tổ chức tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính yêu cầu, bắt buộc người dân, tổ chức phải nộp giấy tờ đã được sao y bản chính mà không tiếp nhận bản sao và bản chính để tự đối chiếu. Điều này không những gây lãng phí cho xã hội mà còn tạo áp lực lớn cho công chức tư pháp thực hiện công tác chứng thực.

Về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, ủy ban nhân dân đặc biệt là Phòng Tư pháp quận, huyện đã tuyên truyền, phổ biến, thông tin cho người dân, tổ chức được biết về việc chấn chỉnh tình trạng lạm dụng, yêu cầu nộp bản sao có sao y chứng thực để giảm chi phí và đỡ mất công đi đến đơn vị khi thực hiện thủ tục hành chính được căn cứ theo Điều 6 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ:

“Điều 6. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

  1. Trường hợp pháp luật quy định nộp bản sao thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận bản sao, không được yêu cầu bản sao có chứng thực nhưng có quyền yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Người đối chiếu có trách nhiệm xác nhận tính chính xác của bản sao so với bản chính.
  2. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao được cấp từ số gốc, bản sao có chứng thực thi không được yêu cầu xuất trình bản chính, trừ trường hợp có căn cứ về việc bản sao giả mạo, bất hợp pháp thì yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu hoặc tiến hành xác minh, nếu thấy cần thiết” . [12]

Hiện nay, công tác chứng thực được thực hiện nhiều hơn do cá nhân, tổ chức lạm dụng yêu cầu nộp bản sao chứng thực hoặc đơn cần chứng thực chữ ký. Tình trạng này khá phổ biến ở nhiều cấp, nhiều ngành (như đơn xin việc, đơn đăng ký nhập học, hồ sơ tuyển sinh, hồ sơ thi tuyển công chức/viên chức, …). Hình thức các loại đơn này do các cá nhân, tổ chức tự soạn và yêu cầu khách hàng phải đi chứng thực chữ ký, nhưng đây là dạng đơn ý chí chủ động của mỗi người nên không cần phải chứng thực chữ ký. Số lượng hồ sơ tăng nhưng số lượng biên chế thực hiện công tác chứng thực vẫn giữ nguyên gây ảnh hưởng đến thời gian trả hồ sơ cho người dân.

Bên cạnh đó, công tác này dẫn đến tình trạng sức khỏe của công chức tư pháp không được đảm bảo nếu không bổ sung thêm biên chế hỗ trợ. Ngoài ra, công chức tư pháp không có thời gian để làm công việc chuyên môn như xác minh, trả lời văn bản khi phải trả hồ sơ sao y chứng thực trong ngày.

Năm là, công tác bồi dưỡng, đào tạo công chức chưa được chú trọng một cách đúng mức, các cơ sở đào tạo cử nhân luật chưa được quy hoạch tổng thể, cơ chế thu hút, tuyển chọn những người có đủ tài, đức, đủ tâm huyết vào làm ở Phòng Tư pháp chưa được xây dựng triệt để; trình độ năng lực công chức tư pháp còn hạn chế, kiến thức pháp luật quốc tế, ngoại ngữ chưa được cập nhật thường xuyên; số lượng đội ngũ chuyên gia đầu ngành còn hạn chế, chưa đủ sức giải quyết các vấn đề pháp lý mới khi hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, điểm yếu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức là công tác quy hoạch chưa làm tốt. Công tác bồi dưỡng, đào tạo chưa thật sự gắn với yêu cầu sử dụng công chức đặt đúng thế mạnh, có tình trạng người không nằm trong quy hoạch của Phòng Tư pháp lại được đưa đi đào tạo, bồi dưỡng và có tình trạng công chức tư pháp được đào tạo xong lại không được bố trí vào vị trí phù hợp. Các đơn vị thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý ở cơ sở đào tạo chưa phối hợp chặt chẽ với nhau, làm cho hiệu quả đào tạo chưa cao. Việc đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với thực tế nhu cầu và kế hoạch sử dụng cán bộ; các đối tượng có tiềm năng phát triển chưa được kế hoạch cụ thể rõ ràng, còn xảy ra nhiều trường hợp cán bộ đi học để đối phó với những yêu cầu để đáp ứng những tiêu chuẩn của công chức Phòng. Chương trình, nội dung, phương pháp học tập và giảng dạy còn chậm cải cách, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng chưa được chú trọng để đạt hiệu quả cao, quản lý đào tạo chưa được chặt chẽ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức còn nhiều thiếu sót chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời đại mới.

Nhìn chung trình độ đội ngũ công chức tư pháp còn thấp, bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém ảnh hưởng đến việc triển khai chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước thực hiện chưa triệt để trong tình hình thực tế. Mặt khác trong quá trình đào tạo công chức tư pháp tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc và còn phát sinh nhiều vấn đề cần được nghiên cứu giải quyết. Số lượng biên chế theo khung quá hẹp và cơ cấu chức danh chưa linh hoạt. Đặc biệt, việc thay thế công chức tư pháp không đủ tiêu chuẩn, trình độ, năng lực nghiệp vụ bằng lực lượng trẻ đã qua đào tạo gặp nhiều khó khăn vì đội ngũ này chưa đáp ứng đủ yêu cầu kinh nghiệm để đảm nhận vai trò công chức tư pháp. Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

Sáu là, chế độ tiền lương: Thời gian qua, tiền lương của công chức Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện có nhiều sự thay đổi, điều chỉnh để phù hợp với cuộc sống theo bảng thống kê sau:

Qua bảng thống kê trên, mặc dù chính sách tiền lương tăng dần trong khoảng 01 đến 02 năm nhưng vẫn còn bộc lộ sự hạn chế, chưa hợp lý đối với cuộc sống của đội ngũ công chức đang làm việc tại Phòng. Các nhu cầu cần thiết trong đời sống xã hội hóa hiện nay ngày càng tăng cao nhưng tiền lương thực tế của công chức nhìn chung chưa được đảm bảo để trang trải cho bản thân và gia đình. Đội ngũ công chức luôn xem công việc tại Phòng là công việc chính, đầu tư cho thời gian làm việc theo giờ hành chính mỗi ngày theo quy định, tuy nhiên tiền lương của công chức luôn thấp hơn giá trị sức lao động mà họ bỏ ra.

Tiểu kết Chương 2

Dựa trên đặc điểm chung về tình hình kinh tế và các mặt trong đời sống xã hội, điều kiện tự nhiên của Thành phố Hồ Chí Minh và dựa trên cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp theo quy định của pháp luật tại Chương 1. Em đã phân tích thực trạng trong việc thực hiện địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc phân tích những mặt đạt được, những mặt hạn chế về việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng và phân tích mối quan hệ giữa Phòng với các tổ chức, đơn vị liên quan. Từ đó, để củng cố, đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp luôn được duy trì và nâng cao thì cần đề xuất các giải pháp khắc phục hiệu quả trong thực tiên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các khu vực khác trên khắp cả nước. Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM

One thought on “Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM

  1. Pingback: Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464