Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình, qua thực tiễn tại Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết về việc nghiên cứu đề án

Lao động giúp việc gia đình là một loại hình lao động xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử, có đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế – xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu về lao động giúp việc gia đình ngày càng tăng. Lao động giúp việc gia đình là lực lượng lao động rất được thế giới quan tâm. Theo thống kê của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), hiện có khoảng 53 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực giúp việc gia đình trên toàn thế giới, trong đó có đến 83% số lao động giúp việc gia đình là nữ giới. Tại Việt Nam, mặc dù nhu cầu về nghề giúp việc gia đình là rất lớn nhưng lao động giúp việc gia đình vẫn chưa chính thức được coi là một nghề. Hầu hết những người giúp việc đều xuất thân ở nông thôn, hành nghề bằng thói quen và kinh nghiệm của bản thân. Trong mối quan hệ lao động giữa hộ gia đình và người giúp việc, sự thỏa thuận tương đối hạn chế. Trên thực tế, phần lớn lao động giúp việc gia đình không có thời gian thử việc, họ có thể không được thuê khi không đạt yêu cầu. Mặc dù họ cung cấp các dịch vụ thiết yếu nhưng lao động giúp việc gia đình hiếm khi được tiếp cận với các quyền cơ bản. Họ cũng phải đối mặt với một số điều kiện làm việc vất vả nhất nhưng mức lương chỉ bằng 56% mức lương trung bình hàng tháng của những người lao động (NLĐ) khác trong khi phải làm việc nhiều hơn. Lao động giúp việc gia đình cũng dễ bị bạo lực và quấy rối cũng như bị hạn chế quyền tự do đi lại và đặc biệt dễ bị tổn thương.

Năm 2011, ILO đã thông qua Công ước số 189 về việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình và Khuyến nghị số 201 về lao động giúp việc gia đình. Đây là những tiêu chuẩn quốc tế phổ quát đầu tiên được áp dụng với lao động giúp việc gia đình, kể cả lao động giúp việc gia đình làm việc ở nước ngoài nhằm tạo ra hàng rào pháp lý bảo vệ đối với lao động giúp việc gia đình, đảm bảo cho họ được hưởng sự bình đẳng về việc làm và điều kiện sinh hoạt. Văn bản này đưa ra các quyền và nguyên tắc cơ bản, đồng thời yêu cầu các Quốc gia thực hiện một loạt các biện pháp nhằm hiện thực hóa việc làm bền vững cho lao động giúp việc gia đình. Hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình là nội dung pháp lý được điều chỉnh bởi Bộ luật lao động 2019 được Quốc hội Khóa IV đã thông qua vào ngày 20 tháng 11 năm 2019 thay thế BLLĐ năm 2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. Hiện nay hệ thống chính sách pháp luật về quản lý, tuyển dụng lao động giúp việc gia đình đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý cho việc giao kết, thực hiện HĐLĐ của người sử dụng lao động với lao động giúp việc gia đình. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện thì còn nhiều vấn đề phát sinh: Lao động giúp việc gia đình chưa nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật lao động Việt Nam, chưa biết và hiểu rõ các điều kiện vào Việt Nam làm việc theo hình thức HĐLĐ; người sử dụng lao động cũng không báo cáo đầy đủ kịp thời việc sử dụng lao động giúp việc gia đình không thực hiện đúng quy trình tuyển dụng hoặc tuyển dụng lao động giúp việc gia đình không đủ điều kiện, nhiều vi phạm và tranh chấp HĐLĐ xảy ra. Đặc biệt là pháp luật lao động còn thiếu nhiều quy định điều chỉnh HĐLĐ đối với lao động giúp việc gia đình. Hơn nữa, việc quản lý của nhà nước còn nhiều bất cập, nên đã nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, cũng như quyền lợi của các bên liên quan đến hoạt động này. Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu số lượng lao động giúp việc gia đình khá phổ biến, nhu cầu sử dụng lao động giúp việc gia đình cao nhưng thực tế việc sử dụng lao động này còn chưa minh bạch thậm chí chưa tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành. Thực tiễn cho thấy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam Theo số liệu thống kê trong năm 2023, các chỉ tiêu về lao động đều đạt kế hoạch đề ra, cụ thể, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 81%, trong đó có bằng cấp chứng chỉ đạt 34%, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội là 20,5%. Riêng chỉ tiêu số lao động được giải quyết việc làm thấp hơn kế hoạch đề ra là 10.200 lao động, đạt 97,14%, so với mục tiêu ban đầu là là 10.500 lao động. Theo số liệu của Sở LĐ-TBXH tỉnh BR-VT cho biết, tính đến quý I/2024 trên địa bàn tỉnh hiện có 20.986 doanh nghiệp trong nước đăng ký, trong đó có 12.000 doanh nghiệp đang hoạt động, sử dụng 252.000 lao động. Trong Vì vậy, nhu cầu cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình, tạo cơ sở pháp lý vững chắc điều chỉnh quan hệ này là cần thiết. Do đó, học viên đã chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình, qua thực tiễn tại Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” làm đề án thạc sĩ Luật Kinh tế tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề án

Thứ nhất, các luận văn, sách tham khảo, đề tài nghiên cứu khoa học

  • Lê Thị Thanh Duyên, Đinh Huyền Trinh (2015), Lao động là người giúp việc gia đình, Nxb.
  • Đỗ Thị Dung (2017), Pháp luật lao động Việt Nam về lao động giúp việc gia đình – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện. Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
  • Đỗ Thị Dung (2018), Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam. Nxb. Tư pháp.
  • Nguyễn Quỳnh Phương (2021), Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi của lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

Thứ hai, các bài nghiên cứu liên quan đến đề án; Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

  • Lê Thị Hoài Thu, Nguyễn Thị Phương Thúy (2016), Lao động giúp việc gia đình nhìn từ giác độ pháp lý, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Số 8/2016, tr. 11 – 15.
  • Đào Mộng Điệp, Trương Thanh Khôi (2017), Quản lí nhà nước về lao động giúp việc gia đình – Từ pháp luật đến thực tiễn thực hiện, Tạp chí Luật học. Số 1/2017, tr. 21 – 29.
  • Lữ Bỉnh Huy (2017), Ký kết hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Số 5/2017, tr. 50 –
  • Nguyễn Hiền Phương (2018), Điều kiện lao động và sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình thực trạng và kiến nghị, Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Số 2/2018, tr. 39 – 44.
  • Lê Văn Sơn (2020), Quy định quốc tế về quản lý lao động giúp việc gia đình và thực tiễn tại Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 11, tr. 63-67.
  • Lữ Bỉnh Huy (2022), Bộ luật Lao động năm 2019 và sự tác động đến quan hệ lao động giúp việc gia đình, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10, tr. 31-35.

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu, đề án kế thừa:

Một là, một số vấn đề lý luận và lý luận pháp luật về quan hệ lao động giúp việc gia đình; một số phân tích đánh giá trong BLLĐ 2019 về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình, cũng như một số gợi mở giải pháp.

Hai là, đề án kế thừa một số nhận định trong thực tiễn thực hiện pháp luật, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam.

Các nghiên cứu trên được kế thừa để nghiên cứu và hoàn thiện đề án, đề án nghiên cứu cứu chuyên sâu hơn gắn với địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề án Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề án nhằm đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình.
  • Phân tích, đánh giá pháp luật hiện hành về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình; từ đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế.
  • Đánh giá thực tiễn áp dụng về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình từ thực tiễn tại Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; từ đó chỉ ra những tồn tại, bất cập và nguyên nhân phát sinh.
  • Đề xuất được giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình. Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề án

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề án bao gồm:

  • Nghiên cứu lý luận pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình.
  • Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình.
  • Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình tại Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Đề án nghiên cứu pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình trong quan hệ pháp luật lao động theo quy định của BLLĐ 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Phạm vi không gian: Đề án nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam; thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Phạm vi thời gian: Các số liệu, các vụ việc trong thực tiễn được nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề án

5.1. Phương pháp luận Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là Chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng được vận dụng để làm kim chỉ nam cho phương pháp luận nghiên cứu của đề án.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề án như sau:

Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp tổng hợp, phương pháp phân loại, phương pháp khái quát hóa, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh pháp luật, cụ thể như sau:

Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu, làm rõ quá trình hình thành, phát triển của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế về lao động giúp việc gia đình.

Phương pháp phân tích được sử dụng nhằm phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về lao động giúp việc gia đình để thấy được những ưu điểm hay hạn chế, bất cập của các quy phạm pháp luật, phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động giúp việc gia đình nhằm chỉ ra những điểm còn tồn tại, hạn chế trong thực tiễn.

Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ đề án nhằm tập hợp, chọn lọc những thông tin trên cơ sở các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học, báo cáo tổng kết, số liệu thống kê… có ý nghĩa đối với đề tài nghiên cứu, từ đó sắp xếp, khái quát hóa thông tin theo từng nội dung cần luận giải trong mỗi phần của đề án.

Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật của Việt Nam với pháp luật của một số các quốc gia trên thế giới, giữa pháp luật Việt Nam với các quy định trong các Công ước, Khuyến nghị của ILO.

6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề án

6.1. Ý nghĩa khoa học của đề án

Đề án bổ sung một số lý luận pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình để đóng góp cho việc hoàn thiện cơ sở lý luận pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam.

Đề án đã cung cấp được các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về HĐLĐ đối với người lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam trong BLLĐ.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề án

Đề án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu học phần luật lao động tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật. Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Đồng thời đề án cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho người lao động giúp việc gia đình, người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở Việt Nam.

7. Kết cấu đề án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề án có 3 chương:

  • Chương 1. Một số vấn đề lý luận pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình.
  • Chương 2. Thực trạng pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình.
  • Chương 3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả.

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH

1.1. Khái quát pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

1.1.1. Khái niệm hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

1.1.1.1. Khái niệm về lao động giúp việc gia đình trong quan hệ lao động

Có thể thấy, khái niệm về lao động giúp việc gia đình ở các quốc gia rất phong phú.

Có thể thấy, định nghĩa về LĐGVGĐ của pháp luật lao động Việt Nam là khá hợp lý và phù hợp với định nghĩa của ILO và pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới. Từ việc phân tích trên, có thể hiểu LĐGVGĐ là người lao động phải thỏa mãn các điều kiện chung đối với người lao động đồng thời có những dấu hiệu sau:

Một là, LĐGVGĐ là người được thuê để thực hiện các công việc của mình trong khuôn khổ mối quan hệ thuê mướn lao động.

Hai là, công việc mà LĐGVGĐ thực hiện nhằm phục vụ cho hộ gia đình, không liên quan đến hoạt động thương mại và không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho hộ gia đình.

Ba là, người LĐGVGĐ phải thực hiện công việc một cách thường xuyên, có tính chất nghề nghiệp. Thường xuyên “được hiểu là luôn đều đặn, không gián đoạn”; tính nghề nghiệp “là tính cố định, công việc đấy là nghề mưu sinh”.

Từ việc phân tích trên, tác giả xin đưa ra định nghĩa về LĐGVGĐ như sau: Lao động giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều gia đình, không liên quan đến hoạt động thương mại.

1.1.1.2. Khái niệm hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

HĐLĐ với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ pháp luật LĐGVGĐ có những đặc điểm khác biệt so với hợp đồng dịch vụ (hình thức pháp lý của quan hệ dân sự) như: Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Thứ nhất, trong HĐLĐ có sự phụ thuộc pháp lý của người LĐGVGĐ với người sử dụng lao động. Trong suốt quá trình thực hiện HĐLĐ, người sử dụng lao động có quyền giao việc thực hiện công việc, chỉ dẫn việc thực hiện công việc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện công việc, khen thưởng, xử phạt… đối với người LĐGVGĐ.

Thứ hai, công việc GVGĐ là đối tượng của HĐLĐ là công việc gia đình và công việc chăm sóc các thành viên gia đình rất đa dạng, phong phú, diễn ra liên tục trong ngày, được người LĐGVGĐ thực hiện thường xuyên, liên tục trong một khoảng thời gian đã cụ thể được xác định (ngày làm việc, tuần làm việc, tháng làm việc, năm làm việc…) và tại nơi làm việc cụ thể. Người LĐGVGĐ có thể làm việc trọn thời gian, ở cùng gia đình người sử dụng lao động hoặc làm việc không trọn thời gian, không ở cùng gia đình người sử dụng lao động.

Thứ ba, HĐLĐ GVGĐ phải do đích danh người LĐGVGĐ thực hiện. Khi người sử dụng lao động thuê mướn người LĐGVGĐ, họ không chỉ quan tâm đến khả năng thực hiện công việc mà còn quan tâm đến đạo đức, ý thức, phẩm chất… của người LĐGVGĐ.

Do đó, có thể hiểu: HĐLĐ GVGĐ là sự thỏa thuận giữa người LĐGVGĐ và người sử dụng lao động về công việc GVGĐ, các điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

Trong khoa học luật lao động thì “pháp luật về lao động giúp việc gia đình bao gồm tổng thể các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa lao động giúp việc gia đình và NSDLĐ, quy định về các vấn đề liên quan đến việc xác lập, thực hiện và chấm dứt quan hệ LĐGVGĐ cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quan hệ LĐGVGĐ”. Với tư cách là một chế định của pháp luật về lao động giúp việc gia đình; có thể hiểu: “Pháp luật về HĐLĐ đối với người lao động giúp việc gia đình là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về việc giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động giữa người lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao động”.

  • Bên cạnh những đặc điểm chung của HĐLĐ, HĐLĐ GVGĐ cũng có một số đặc điểm riêng như:

Thứ nhất, HĐLĐ GVGĐ cũng là sự thỏa thuận giữa người LĐGVGĐ và người sử dụng lao động về việc làm có trả công nhưng công việc mà người lao động thực hiện là công việc GVGĐ. Công việc GVGĐ thường không thể mô tả một cách rõ ràng, cụ thể mà là hàng loạt các công việc liên quan đến sinh hoạt hàng ngày của một hoặc nhiều gia đình. Đó là các công việc như nấu nướng, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người già, người ốm, lái xe, làm vườn…

Thứ hai, địa điểm, môi trường làm việc của LĐGVGĐ cũng khác với những người lao động khác.

1.1.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình.

1.1.3.1. Nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình.

Về chủ thể của HĐLĐ đối với LĐGVGĐ thì luôn có hai bên chủ thể bao gồm người sử dụng lao động và người lao động giúp việc gia đình, tuy nhiên không phải bất cứ chủ thể nào cũng được quyền tham gia giao kết HĐLĐ.

Về hình thức của HĐLĐ đối với LĐ GVGĐ: Điều 7 Công ước số 189 của ILO khi yêu cầu các quốc gia thành viên cần có các hợp đồng bằng văn bản theo quy định của pháp luật, pháp quy quốc gia hoặc thỏa ước tập thể thì pháp luật lao động ở một số quốc gia khác như Tây Ban Nha, Bolivia… lại quy định HĐLĐ đối với LĐ GVGĐ có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng. Một số quốc gia khác lại yêu cầu HĐLĐ phải được thể hiện dưới hình thức văn bản như Nam Phi, Mỹ, Pháp, Thụy Sỹ,…

1.1.3.2. Nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh về thực hiện HĐLĐ đối với lao động giúp việc gia đình

Đây là nội dung quan trọng trong pháp luật về HĐLĐ đối với LĐGVGĐ bởi lẽ quan hệ LĐGVGĐ thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớn vào giai đoạn này. Nếu các bên chủ thể tuân thủ đúng những cam kết đã xây dựng trong hợp đồng lao động thì quan hệ lao động có thể ổn định và bền vững ngược lại nếu như một trong hai bên không tuân thủ hay tuân thủ không đúng, không đủ các cam kết trong HĐLĐ thì sẽ rất dễ gây ra những rạn nứt trong quan hệ lao động. Pháp luật lao động Việt Nam cụ thể là Bộ luật Lao động năm 2012 cũng đã xây dựng những quy định liên quan đến vấn đề thực hiện HĐLĐ và nó được thể hiện từ điều 30 đến điều 34 tại mục 2 chương III quy định về HĐLĐ. Có thể thấy, tuy HĐLĐ giúp việc gia đình chưa có quy định riêng về vấn đề này nhưng về cơ bản có thể áp dụng được những quy định liên quan đến việc thực hiện HĐLĐ nói chung.

1.1.3.3. Nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh về chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình

Chấm dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ LĐGVGĐ. Pháp luật Việt Nam cũng đã có quy định cụ thể về vấn đề này, nó được quy định tại mục 3 Chương III của Bộ Luật Lao động năm 2012. Khi sự kiện pháp lý này xảy ra, quan hệ lao động của hai bên sẽ kết thúc. Đây là vấn đề quan trọng trong quan hệ lao động nói chung và quan hệ LĐGVGĐ nói riêng bởi vậy pháp luật lao động của các quốc gia đều quy định khá đầy đủ và chi tiết về vấn đề này.

1.2. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

1.2.1. Hiện trạng sử dụng lao động gia đình ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, việc sử dụng lao động là người giúp việc trong các gia đình có điều kiện kinh tế khá giả, nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh,… ngày càng trở nên phổ biến. Trên thực tế, đây là một hiện tượng tất yếu diễn ra theo quy luật cung – cầu lao động. Các hoạt động giúp việc gia đình đã đáp ứng phần nào nhu cầu kinh tế – xã hội của cả những gia đình sử dụng lao động giúp việc và những gia đình có lao động đi giúp việc.

Tuy nhiên, trong QHLĐ cá nhân nói chung, NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn, có sự phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ. Đặc biệt trong quan hệ LĐGVGĐ, NLĐ giúp việc gia đình thường là nữ, có trình độ học vấn thấp, xuất thân từ nông thôn và họ phải làm những công việc đặc thù nhằm phục vụ nhu cầu của NSDLĐ. Khác với đối tượng lao động khác, người GVGĐ là đối tượng lao động đặc biệt, họ là nhóm người dễ bị tổn thương.

1.2.2. Mức độ hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh đối với lao động giúp việc gia đình

Hiện nay, giúp việc gia đình đã không còn xa lạ với người Việt Nam, là công việc được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng pháp luật vào QHLĐ này vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Nhiều NLĐ và sử dụng lao động chưa biết hoặc biết nhưng không thực hiện các quy định của pháp luật vẫn diễn ra. Tình trạng NSDLĐ và NLĐ giúp việc gia đình không ký HĐLĐ, chủ yếu là thỏa thuận miệng với những nội dung rất đơn giản, sơ sài vẫn là hiện tượng phổ biến. Việc không thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật là một khó khăn lớn trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích của các bên khi có xâm phạm xảy ra.

Tiểu kết Chương 1

Lao động giúp việc gia đình là NLĐ được thuê để làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều gia đình, mà lao động giúp việc gia đình không phải là thành viên trong gia đình được thuê. Đồng thời, công việc giúp việc gia đình không tạo ra lợi nhuận cho cá nhân của NSDLĐ giúp việc gia đình và các thành viên trong gia đình đó. LĐGVGĐ là NLĐ làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình, không liên quan đến hoạt động thương mại. Họ làm việc trong một môi trường khép kín tại một hoặc một số hộ gia đình, không có cơ hội thường xuyên tiếp xúc với những NLĐ khác. Mặc dù, nghề GVGĐ cũng như người LĐGVGĐ chưa được xã hội coi trọng, hiểu đúng về nghề nhưng không thể phủ nhận được vai trò đáng kể của LĐGVGĐ đối với hộ gia đình là người sử dụng lao động, đối với bản thân người lao động và đối với xã hội.

Từ đặc thù của công việc GVGĐ cho thấy sự cần thiết phải có quy định pháp luật điều chỉnh về HĐLĐ đối với người lao động giúp việc gia đình. Pháp luật về HĐLĐ đối với người lao động giúp việc gia đình là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về việc giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động giữa người lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao động.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH

2.1. Quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

2.1.1. Quy định về giao kết hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

2.1.1.1. Chủ thể giao kết hợp đồng lao động Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Theo Điều 161 BLLĐ năm 2019 quy định: “Lao động là người giúp việc gia đình là NLĐ làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại”.

Như vậy, từ quy định này có thể hiểu, chủ thể giao kết HĐLĐ là LĐGVGĐ và NSDLĐ là hộ gia đình. Các chủ thể này phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật.

  • Thứ nhất, đối với LĐGVGĐ:

Điều 88 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định: “Lao động là người giúp việc gia đình là NLĐ theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Bộ luật Lao động…”

  • Thứ hai, về phía NSDLĐ:

BLLĐ 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP không có quy định cụ thể về NSDLĐ ký kết HĐLĐ giúp việc gia đình, mà chỉ có Điều 161 BLLĐ năm 2019 quy định: “Lao động là người giúp việc gia đình là NLĐ làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình”, như vậy từ quy định này có thể hiểu NSDLĐ giúp việc gia đình là một hoặc nhiều hộ gia đình có nhu cầu sử dụng lao động là giúp việc gia đình.

2.1.1.2. Hình thức của hợp đồng lao động

Như vậy, HĐLĐ giữa hai bên bắt buộc phải bằng văn bản. Với quy định này các quyền và nghĩa vụ sẽ được cụ thể hóa và sẽ có căn cứ rõ ràng để giải quyết khi xảy ra tranh chấp. So với BLLĐ năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007 thì bắt đầu từ BLLĐ năm 2012 cho đến nay là BLLĐ năm 2019 quy định về HĐLĐ đối với LĐGVGĐ cụ thể và chặt chẽ hơn. Trong BLLĐ trước đây, đối với lao động giúp việc gia đình thì các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói và quy định trường hợp người được thuê mướn giúp việc gia đình nếu để trông coi tài sản thì được ký kết HĐLĐ bằng văn bản.

2.1.1.3. Nội dung của hợp đồng lao động:

Nội dung khi xác lập QHLĐ GVGĐ được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 89 Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ năm về điều kiện lao động và QHLĐ. Theo đó, nội dung HĐLĐ giúp việc gia đình tuân theo quy định tại khoản 1 Điều 21 của BLLĐ 2019. NSDLĐ và NLĐ có trách nhiệm thỏa thuận cụ thể các quyền, nghĩa vụ và lợi ích của mỗi bên trong HĐLĐ để thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế nhưng phải bảo đảm các nội dung chủ yếu quy định tại khoản 1 Điều 21 của BLLĐ 2019.

2.1.1.4. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng lao động

Trình tự, thủ tục giao kết HĐLĐ GVGĐ là các bước mà các bên phải tiến hành khi giao kết HĐLĐ. Đây là một giai đoạn quan trọng, bởi trong giai đoạn này các bên bắt đầu có những tiếp xúc, cung cấp thông tin, tìm hiểu, đánh giá về nhau để từ đó đưa ra lựa chọn và quyết định chính thức. HĐLĐ GVGĐ cũng phải tuân theo các quy định về trình tự, thủ tục giao kết HĐLĐ nói chung.

  • Thứ nhất, Về cung cấp thông tin trước khi ký kết hợp đồng lao động
  • Thứ hai, thử việc: Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Trước khi ký HĐLĐ chính thức, NSDLĐ và người LĐGVGĐ có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời gian thử việc. .

  • Thứ ba, ký kết hợp đồng lao động:

Sau khi thử việc đạt yêu cầu, người sử dụng lao động và người lao động tiến hành ký kết HĐLĐ.

  • Thứ tư, thông báo với Ủy ban nhân dân cấp xã:

HĐLĐ về bản chất được hình thành trên cơ sở thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên nên các bên không có nghĩa vụ phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, LĐGVGĐ là một lĩnh vực đặc thù, nhiều trường hợp NGVGĐ sống cùng với gia chủ (cần phải thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú…) nên pháp luật quy định nghĩa vụ phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền.

2.1.2. Quy định về thực hiện hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

Khi HĐLĐ GVGĐ được ký kết và có hiệu lực pháp lý, các bên phải thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng. Người lao động phải thực hiện đúng công việc GVGĐ như đã thỏa thuận, người sử dụng lao động phải đảm bảo các điều kiện lao động cho người LĐGVGĐ như đã cam kết. Việc tuân thủ đúng, đầy đủ các cam kết, thỏa thuận là cơ sở để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động. Tuy nhiên, người lao động giúp việc gia đình nhìn chung là đối tượng yếu thế, vì làm việc trong môi trường khép kín, đơn lẻ và chủ yếu là lao động nữ, có trình độ học vấn thấp, họ thường không có tiếng nói đủ tầm ảnh hưởng về khía cạnh pháp lý.

2.1.3. Quy định về chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

Chấm dứt QHLĐ giúp việc gia đình được thể hiện thông qua chấm dứt HĐLĐ. Chấm dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên theo HĐLĐ đã giao kết. Thực tế, chấm dứt HĐLĐ nói chung và chấm dứt HĐLĐ GVGĐ nói riêng là vấn đề liên quan đến quyền lợi của cả hai phía nên dễ phát sinh tranh chấp. Vì vậy, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định cụ thể về căn cứ chấm dứt, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên khi chấm dứt HĐLD.

  • Thứ nhất, về căn cứ chấm dứt HĐLĐ:

Theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 89 Nghị định 145/2002/NĐ-CP và Điều 34 HĐLĐ 2019, HĐLĐ giúp việc gia đình có thể chấm dứt trong các trường hợp.

  • Thứ hai, về thủ tục chấm dứt HĐLĐ:

Chấm dứt HĐLĐ sẽ ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, cuộc sống của gia đình người lao động, gây xáo trộn, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của gia đình người sử dụng lao động. Vì vậy, trước khi chấm dứt HĐLĐ, các bên cần phải báo trước cho nhau một thời gian để phía bên kia còn sắp xếp, tránh gây bị động cho nhau. Tùy thuộc với lý do chấm dứt HĐLĐ mà pháp luật quy định thời hạn báo trước khác nhau.

  • Thứ ba, về hậu quả pháp lý khi chấm dứt HĐLĐ:

Khi chấm dứt HĐLĐ, các bên đều được hưởng các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định dù chấm dứt đúng pháp luật hay trái pháp luật. Mục đích là để đảm bảo đời sống ổn định cho NLĐ giúp việc gia đình trong thời gian không có việc làm hoặc tìm kiếm việc làm mới cũng như đảm bảo quyền lợi chính đáng của NSDLĐ.

2.2. Đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

2.2.1. Ưu điểm của pháp luật

Thứ nhất, tăng tính nhận diện hợp đồng lao động với người giúp việc gia đình.

Thứ hai, sửa đổi quy định về chủ thể giao kết hợp đồng lao động. Về phía NSDLĐ, đại diện giao kết hợp đồng là cá nhân đại diện hợp pháp cho hộ gia đình chứ không phải là chủ hộ gia đình. Việc đại diện hợp pháp được thực hiện theo quy định mới tại Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó với hộ gia đình không có tư cách pháp nhân thì người đại diện giao kết hợp đồng là người được các thành viên trong hộ gia đình uỷ quyền làm người đại diện, việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 101).

Thứ ba, bổ sung quy định về mẫu hợp đồng lao động với NGVGĐ.

Từ năm 2021, NLĐ và NSDLĐ phải thỏa thuận cụ thể các quyền, nghĩa vụ và lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng lao động theo Mẫu số 01/PLV Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP sao cho phù hợp với điều kiện thực tế. Quy định bổ sung này giúp pháp luật Việt Nam tiệm cận hơn với tiêu chuẩn lao động quốc tế.

Thứ tư, sửa đổi quy định về thời gian thử việc đối với lao động giúp việc gia đình.

Trước đây nhà làm luật quan niệm công việc GVGĐ không đòi hỏi chuyên môn, trình độ nên thời gian thử việc tối đa chỉ là 06 ngày làm việc. Tuy nhiên hiện nay toàn bộ quy định thử việc với NLĐ giúp việc được thực hiện theo quy định chung tại Chương III BLLĐ.

Thứ năm, đơn giản hoá trách nhiệm của NSDLĐ về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động giúp việc gia đình.

2.2.2. Hạn chế của pháp luật Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Một là, thiếu hướng dẫn khoản 1 Điều 161 về “các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại”: Từ ngày 01/02/2021, Nghị định số 145/2020/NĐ- CP có hiệu lực thi hành, thay thế cho Nghị định số 27/2014/NĐCP. Tuy nhiên, Nghị định 145/2020/NĐ-CP không có hướng dẫn khoản 1 Điều 161 về “các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại” dẫn đến khó khăn cho NLĐ và NSDLĐ trong việc xác định phạm vi công việc GVGĐ.

Hai là, thiếu tiêu chí xác định dấu hiệu “quản lý, điều hành, giám sát” của NSDLĐ để phân biệt quan hệ lao động GVGĐ và quan hệ khoán GVGĐ (quan hệ dịch vụ dân sự).

Ba là, thiếu quy định về độ tuổi tối thiểu làm công việc GVGĐ: Như đã phân tích ở trên, việc bổ sung một số công việc nhẹ được sử dụng người chưa đủ 15 tuổi tại Thông tư số 09/2020/TTBLĐTBXH có thể dẫn đến khả năng làm GVGĐ của người chưa đủ 15 tuổi. Trong khi đó, khoản 1 Điều 4 Công ước số 189 của ILO quy định “độ tuổi tối thiểu đối với NLĐ, GVGĐ không được thấp hơn độ tuổi tối thiểu chung cho NLĐ được quy định trong luật pháp quốc gia”.

Bốn là, thiếu các quy định về hợp đồng lao động để bảo vệ quyền lợi của lao động GVGĐ làm việc cho các công ty cung ứng dịch vụ GVGĐ: Các quy định pháp luật hiện hành đang gián tiếp quy định NSDLĐ của lao động GVGĐ là các hộ gia đình. Điều này sẽ loại trừ việc điều chỉnh nhóm lao động giúp việc gia đình được thuê bởi các công ty cung cấp dịch vụ GVGĐ, mặc dù tính chất công việc của những NLĐ này hoàn toàn đáp ứng được các dấu hiệu nhận diện lao động GVGĐ theo quy định của pháp luật (làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình).

Năm là, thiếu biện pháp phòng ngừa rủi ro về thu nhập khi lao động GVGĐ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc rủi ro về việc làm (thất nghiệp): Theo quy định hiện hành, NSDLĐ chỉ có trách nhiệm trả khoản phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cùng với lương của lao động GVGĐ mà không đề cập đến quyền lợi về bảo hiểm thất nghiệp. Mặt khác, khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, lao động GVGĐ cũng không được tham gia và thụ hưởng các chế độ như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Sáu là, chưa có giới hạn thời gian cộng dồn đối với nghỉ hằng tuần: Hiện nay pháp luật chỉ quy định chung về việc NSDLĐ và NLĐ GVGĐ có thể thỏa thuận nghỉ hàng tuần bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày nếu không thể bố trí nghỉ hàng tuần là 01 ngày cố định trong tuần. Trong khi đó, ILO khuyến nghị giới hạn thời gian nghỉ hàng tuần được cộng dồn của lao động GVGĐ không được quá 14 ngày bởi nếu cộng dồn nghỉ hàng tuần quá nhiều tức là NLĐ phải làm việc liên tục trong thời gian dài, rất vất vả.

Tiểu kết Chương 2

Nhìn chung, pháp luật về HĐLĐ đối với người lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam hiện nay đang ngày càng có những cải tiến rõ rệt từ những quy định chung nhất đến những vấn đề nhỏ lẻ đều được cụ thể hóa để đưa LĐGVGĐ trở thành lực lượng LĐ thiết yếu trong xã hội. Thời gian qua, Bộ luật Lao động năm 2019 được thông qua với 05 điều quy định về lao động là người giúp việc gia đình đã nhận được nhiều ý kiến đồng tình của dư luận. Việc công nhận loại hình lao động này không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người lao động mà còn đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng lao động. Nghị định 145/2020/NĐ-CP đã có một số hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình tạo thêm cơ sở pháp lý để thiết lập mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, từ đó tiến tới từng bước tới tạo dựng sự bình đẳng trong mối quan hệ vốn khá nhạy cảm này… Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì vẫn tồn tại những nhược điểm liên quan đến các nội dung như chủ thể của hợp đồng lao động, hình thức của hợp đồng, nội dung của hợp đồng hay các quy định liên quan đến việc thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng. Chính bởi những hạn chế này mà trên thực tế, hai bên chủ thể đã gặp không ít những khó khăn trong quá trình giao kết hay thực hiện hợp đồng…

CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ

3.1. Thực tiễn áp thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình tại Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

3.1.1. Tình hình thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình tại Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, có một số ngành nghề kinh tế mũi nhọn, như: hóa dầu, logistics, điện, hóa chất, cảng biển. Trong năm 2023, các chỉ tiêu về lao động đều đạt kế hoạch đề ra, cụ thể, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 81%, trong đó có bằng cấp chứng chỉ đạt 34%, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội là 20,5%. Riêng chỉ tiêu số lao động được giải quyết việc làm thấp hơn kế hoạch đề ra là 10.200 lao động, đạt 97,14%, so với mục tiêu ban đầu là là 10.500 lao động.

3.1.2. Vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình tại Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Thứ nhất, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng quy định về hình thức hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình.

Người sử dụng lao động sợ ký hợp đồng sẽ không cho người lao động nghỉ việc được khi không thấy ưng ý, người lao động lại sợ nghỉ giữa chừng sẽ bị phạt nên các bên thường chỉ thỏa thuận giao kết HĐLĐ bằng lời nói với những nội dung rất đơn giản. Ngoài ra, phần lớn người LĐGVGĐ là phụ nữ nông thôn, nhiều người giúp việc lại chính là những người có quan hệ đồng hương, quan hệ họ hàng với gia đình người sử dụng lao động, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, cộng thêm tâm lý, thói quen giải quyết các quan hệ bằng tình cảm nên họ không biết hoặc biết nhưng không muốn ký HĐLĐ bằng văn bản. “Họ quan niệm làm nghề này không chỉ đơn thuần là làm công ăn lương mà còn đối xử với nhau bằng tình người. .

Thứ hai, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng quy định về nội dung của hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình được giao kết.

Theo các tài liệu của Tổ chức lao động quốc tế ghi nhận thì lao động giúp việc gia đình, đặc biệt lao động giúp việc gia đình làm việc tại nước ngoài là đối tượng lao động dễ bị bóc lột và lạm dụng.

Thứ ba, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng quy định về thời hạn báo trước chấm dứt hợp đồng lao động đối với người giúp việc gia đình. Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Thứ tư, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng quy định về lý vi phạm hành chính về lao động giúp việc gia đình.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình.

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

Thứ nhất, cần bổ sung hướng dẫn cụ thể đối với hình thức giao kết HĐLĐ bằng văn bản dưới hình thức điện tử trong nghị định hướng dẫn thi hành BLLĐ:

Thứ hai, cần sửa đổi quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với NLĐ gúp việc gia đình.

Thứ ba, sửa đổi quy định về đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho NLĐ giúp việc gia đình.

Thứ tư, bỏ quy định về thời hạn tạm hoãn HĐLĐ giúp việc gia đình

Thứ năm, bổ sung quy định riêng dành cho lao động GVGĐ là phụ nữ và trẻ em

Thứ sáu, bổ sung hướng dẫn khoản 1 Điều 161 về “các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại”.

Thứ bảy, bổ sung tiêu chí xác định dấu hiệu “quản lý, điều hành, giám sát” của người sử dụng lao động giúp nhận diện quan hệ hợp đồng lao động.

Thứ tám, bổ sung quy định về độ tuổi tối thiểu làm công việc giúp việc gia đình.

Trên cơ sở quy định của ILO tại khoản 1 Điều 4 Công ước số 189 rằng “độ tuổi tối thiểu đối với NLĐ GVGĐ không được thấp hơn độ tuổi tối thiểu chung cho NLĐ được quy định trong luật pháp quốc gia” thì cơ quan có thẩm quyền cần xem xét bổ sung thêm quy định về độ tuổi tối thiểu làm công việc GVGĐ ở Việt Nam là đủ 15 tuổi.

Thứ chín, sửa đổi các quy định về hợp đồng lao động để bảo vệ quyền lợi của lao động giúp việc gia đình làm việc cho các công ty cung ứng dịch vụ giúp việc gia đình.

Thứ mười, nâng chế tài xử phạt đối với người sử dụng lao động không thực hiện ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động giúp việc gia đình.

3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động giúp việc gia đình

Thứ nhất, cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về LĐGVGĐ.

Thứ hai, tăng cường công tác đào tạo trang bị kỹ năng nghề cho LĐ GVGĐ. Để xây dựng và duy trì quan hệ LĐ GVGĐ bền vững và ổn định thì một trong những vấn đề cần quan tâm đó là đào tạo, trang bị kỹ năng nghề cần thiết cho người LĐGVGĐ một cách bài bản, chuyên nghiệp. Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Thứ ba, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm về việc thực hiện hợp đồng GVGĐ. Hiện nay công tác quản lý của nhà nước về LĐ GVGĐ nói chung và hợp đồng LĐ GVGĐ nói riêng còn chưa chặt chẽ. Vì vậy để tăng cường hiệu quả công tác quản lý cần có những giải pháp đồng bộ.

Thứ tư, nhà nước cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về HĐLĐ GVGĐ của các bên chủ thể, bổ sung quy định về nhiệm vụ thanh tra lao động trong việc thanh tra, kiểm tra các hộ gia đình sử dụng LĐ GVGĐ bởi việc quản lý LĐ GVGĐ hiện nay vẫn còn chưa chặt chẽ.

Thứ năm, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ hơn nữa trong việc quản lý LĐ GVGĐ theo hướng gần dân, “kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân”: định kì cử cán bộ tiếp xúc với nhân dân để tìm hiểu về tình hình sử dụng lao động của người dân, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố trong việc nắm bắt, đánh giá tình hình.

Tiểu kết Chương 3

Từ thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình và thực tiễn việc thực hiện pháp luật về HĐLĐ GVGĐ tại Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; có thể thấy việc hoàn thiện về hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình là yêu cầu cấp bách đang được đặt ra hiện nay. Việc hoàn thiện pháp luật phải đáp ứng yêu cầu khắc phục những điểm hạn chế, bất cập, mâu thuẫn của quy định pháp luật mà vẫn đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ LĐ GVGĐ, hướng đến sự thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia, góp phần đảm bảo sự hài hòa ổn định của quan hệ LĐ GVGĐ. Việc sửa đổi, bổ sung nên được thực hiện từ các quy định liên quan đến giao kết HĐLĐ như hình thức HĐLĐ, nội dung HĐLĐ cho đến các quy định liên quan đến việc thực hiện đúng các thỏa thuận trong HĐLĐ như thỏa thuận liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, các quy định liên quan đến chấm dứt HĐLĐ hay giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm đối với HĐLĐ đối với LĐ GVGĐ cũng cần được sửa đổi, hoàn thiện. Nhưng nếu chỉ hoàn thiện quy định của pháp luật thì vẫn chưa đủ, cần đồng bộ với các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện của pháp luật về HĐLĐ đối với LĐ GVGĐ như đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về kiến thức pháp luật đến người dân, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của những cơ quan có thẩm quyền quản lý LĐ GVGĐ. Có như vậy mới có thể nâng cao việc thực thi pháp luật của các chủ thể về HĐLĐ đối với LĐ GVGĐ.

KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

Lao động giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình, không liên quan đến hoạt động thương mại. Họ không phải là thành viên trong hộ gia đình sử dụng người lao động, là người được thuê và được trả công trên cơ sở thỏa thuận để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động.

Có thể thấy các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về LĐGVGĐ đã tương đối đầy đủ và cơ bản là hợp lý và phù hợp với tiêu chuẩn lao động quốc tế. Các quy định này là cơ sở để điều chỉnh quan hệ LĐGVGĐ, bảo vệ quyền lợi cho LĐGVGĐ cũng như góp phần nâng cao nhận thức của xã hội đối với nghề GVGĐ. Tuy nhiên, một số quy định vẫn còn bất cập, thiếu khả thi; thực tiễn thực hiện pháp luật về LĐGVGĐ còn nhiều hạn chế, nhiều quy định pháp luật chưa được các bên trong quan hệ lao động thực hiện, tình trạng LĐGVGĐ bị vi phạm quyền lợi vẫn diễn ra phổ biến. Đảm bảo việc thúc đẩy và bảo vệ một cách có hiệu quả đối với LĐGVGĐ, xóa bỏ sự phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp giữa LĐGVGĐ và những người lao động khác là yêu cầu bức thiết được đặt ra ở nước ta hiện nay. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập quốc tế, pháp luật lao động Việt Nam cần phù hợp hơn với pháp luật lao động quốc tế. Do đó, pháp luật về HĐLĐ đối với người lao động GVGĐ cần hoàn thiện hướng tới đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ LĐGVGĐ, đưa GVGĐ trở thành việc làm bền vững cho người lao động, đồng thời đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật quốc gia, phù hợp với tiêu chuẩn lao động quốc tế.

Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật cũng cần chú trọng tới những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về HĐLĐ đối với người lao động GVGĐ trong đó việc tăng cường công tác thông tin, truyền thông về LĐGVGĐ nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, quan điểm của xã hội về nghề GVGĐ, nâng cao hiểu biết pháp luật về HĐLĐ đối với người lao động GVGĐ là một trong những giải pháp quan trọng cần hướng tới. Ngoài ra, cần phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể trong công tác quản lý nhà nước về LĐGVGĐ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng LĐGVGĐ, triển khai việc thành lập tổ chức đại diện cho LĐGVGĐ và phê chuẩn Công ước số 189 của ILO về Việc làm bền vững cho LĐGVGĐ. Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề

3 thoughts on “Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình

  1. Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình says:

    Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình

  2. Pingback: Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh

  3. Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình says:

    Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464