Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Ngãi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo số liệu báo cáo tại hội nghị sơ kết một năm thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tháo gỡ “điểm nghẽn” trong triển khai Đề án 06 và đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ phát triển TMĐT, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế ngày 10/06/2024, quy mô thị trường TMĐT của Việt Nam hiện nay là 20,5 tỷ USD và dự kiến sẽ đạt 30,5 tỷ USD vào năm 2025. Tính đến ngày 15/3/2023 đã có 285 tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch TMĐT cung cấp thông tin qua Cổng thông tin TMĐT trong đó có 53.585 cá nhân và 16.003 tổ chức đăng ký bán hàng trên sàn, với 15.919.953 lượt giao dịch và tổng giá trị giao dịch là khoảng 5.500 tỷ đồng. Tuy nhiên việc kê khai và nộp thuế từ hoạt động kinh doanh này còn nhiều hạn chế.
Tại tỉnh Quảng Ngãi, ngành Thuế đã tiến hành rà soát các hộ gia đình, cá nhân có hoạt động kinh doanh TMĐT trên địa bàn tỉnh để đưa vào diện theo dõi, quản lý thuế, đồng thời yêu cầu các đơn vị làm dịch vụ giao nhận hàng cung cấp thông tin các HKD, CNKD có hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ trên mạng xã hội,…Tuy nhiên, do nhiều HKD, CNKD có phát sinh hoạt động kinh doanh trực tuyến không có cửa hàng, biển hiệu, thậm chí không có hàng hóa tại địa điểm kinh doanh nên cơ quan Thuế rất khó xác định được đầu vào, đầu ra để quản lý, ấn định mức thuế. Việc thanh toán đơn hàng được thực hiện chủ yếu qua nhân viên thu hộ nên việc quản lý dòng tiền, doanh thu tính thuế gần như không có căn cứ. Bên cạnh đó, khi cơ quan Thuế tiến hành rà soát các HKD, CNKD có phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến trên các nền tảng mạng xã hội thì các đối tượng này nhanh chóng xóa bỏ bài viết, tin bài giới thiệu, quảng cáo bán hàng, xóa bỏ các bình luận, tin nhắn mua hàng dẫn đến cơ quan Thuế không có căn cứ xác định hành vi vi phạm về thuế để xử lý. Ngoài ra, chính sách pháp luật về thuế đã quy định trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến quản lý thuế của các tổ chức, cá nhân có liên quan tuy nhiên quy định còn nhiều nội dung chưa cụ thể dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Từ những cơ sở trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Ngãi” làm Đề án Thạc sĩ Luật Kinh tế là cần thiết, cấp thiết, mang tính chuyên sâu và phù hợp với thực tế quản lý thuế tại địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Nguyễn Thị Huệ (2017), “Quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT – Kinh nghiệm của một số nước và đề xuất giải pháp áp dụng tại Việt Nam”, luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế học, trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Luận văn nghiên cứu những cơ sở lý luận về TMĐT, quản lý thuế TMĐT, kinh nghiệm quản lý thuế TMĐT của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan.
Phạm Nữ Mai Anh (2019), “Quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến ở Việt Nam”, luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính. Luận án đã nghiên cứu có tính hệ thống các nội dung mang tính tổng quan về TMĐT, nêu ra những tác động nhất định của TMĐT đến công tác quản lý thuế của cơ quan thuế.
Bùi Văn Hưng (2022), “Pháp luật về thuế với loại hình kinh doanh trực tuyến”, luận văn thạc sĩ ngành Luật kinh tế, trường Đại học Luật, Đại học Huế. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến như căn cứ xác định chính xác doanh thu tính thuế, khó khăn trong việc xác định bản chất giao dịch và ý thức tuân thủ pháp luật.
Nhật Minh (2022), “Quyết liệt chống thất thu thuế đối với kinh doanh TMĐT”, Tạp chí Thuế nhà nước, tháng 9/2022. Bài viết mô tả sự vào cuộc mạnh mẽ của ngành Thuế trong giai đoạn bùng nổ TMĐT, nêu ra các giải pháp ngăn chặn thất thu ngay từ khi xây dựng chính sách trong đó thống nhất về chính sách và các loại hình kinh doanh, hoàn thiện các quy định về quản lý thuế TMĐT và xây dựng quy chế phối hợp với Bộ Công thương để quản lý thuế.
Nguyễn Thị Hường – Lê Ngọc Anh – Nguyễn Thị Hải Anh – Lê An (2022), “Quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên sàn TMĐT Shopee: Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí điện tử Thuế nhà nước, ngày 24/10/2022. Bài viết đã khái quát cách thức vận hành của sàn TMĐT Shopee thông qua người mua, người bán, cộng tác viên tiếp thị liên kết, chủ sở hữu sàn TMĐT, các đơn vị vận chuyển, các hình thức thanh toán trên sàn.
Lê Quang Thuận – Trần Thị Hà (2022), “Quản lý thuế TMĐT tại một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Thuế nhà nước, tháng 9/2022. Bài viết nêu ra những thách thức đối với quản lý thuế TMĐT ở Việt Nam, nêu ra một số kinh nghiệm quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT ở các nước EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc,.. từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2023), “Quản lý thuế TMĐT ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tài chính Online, ngày 07/10/2023. Bài viết phân tích thực trạng quản lý thuế trong việc xác định các giao dịch trực tuyến, các nguyên nhân của những vướng mắc trong quá trình triển khai áp dụng pháp luật như hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, tính chất đặc thù như quy mô hoạt động của TMĐT Việt Nam.
Trung Kiên (2023), “Nâng cao hiệu quả quản lý thuế TMĐT: Cần giải pháp phù hợp cho từng nhóm đối tượng”, Tạp chí Thuế nhà nước, số 27 ngày 03/7/2023. Thông qua bài viết tác giả cũng đề xuất giải pháp cần tiếp tục tham mưu hoàn thiện quy trình tiếp nhận, khai thác, xử lý thông tin từ Cổng thông tin TMĐT.
Nguyễn Thị Minh Hạnh – Nguyễn Thị Minh Hằng (2023), “Giải pháp tăng thu thuế từ hoạt động TMĐT”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, ngày 18/10/2023. Bài viết phân tích, đánh giá công tác thu thuế từ hoạt động này chưa theo kịp tốc độ phát triển của kinh doanh TMĐT. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
2.2. Đánh giá kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu đến nay tồn tại một số nội dung chưa được làm rõ và chưa được đề cập. Để đạt mục tiêu nghiên cứu, Đề án tiếp tục kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình trước đó, bao gồm các phân tích đánh giá về hạn chế của quy định pháp luật, các vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật, các giải pháp hoàn thiện pháp luật và các đề xuất hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Từ đó phát triển, nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về nội dung quản lý thuế, quy định về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế, việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của HKD, CNKD.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Đề án
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nhằm đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD trong cả nước, trọng tâm tại tỉnh Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD.
- Phân tích, đánh giá pháp luật hiện hành về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD.
- Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD tại tỉnh Quảng Ngãi.
- Đề xuất được giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD, trọng tâm tại tỉnh Quảng Ngãi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề án
4.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, các yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD thông qua các quan điểm, học thuyết liên quan.
Nghiên cứu chi tiết các nhóm quy phạm pháp luật về nghĩa vụ thuế, nội dung quản lý thuế, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến trên nền tảng công nghệ số của HKD, CNKD thông qua facebook, tiktok, instagram, zalo, youtube, blog, diễn đàn,…
Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với HKD, CNKD phát sinh hoạt động kinh doanh TMĐT thông qua các số liệu, các vụ việc trong các báo cáo công tác quản lý thuế, báo cáo tổng kết của ngành thuế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề án nghiên cứu nhóm quy phạm pháp luật về nghĩa vụ thuế của HKD, CNKD có hoạt động kinh doanh trực tuyến, nhóm quy phạm pháp luật về nội dung quản lý thuế và nhóm quy phạm pháp luật về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế.
Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trọng tâm tại Tỉnh Quảng Ngãi.
Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ năm 2018 đến hết tháng 6 năm 2024.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh được sử dụng tại chương 1, chương 2.
- Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng xuyên suốt toàn bộ Đề án.
- Phương pháp sử dụng tình huống điển hình được sử dụng tại chương 3.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Đề án
6.1 Ý nghĩa khoa học của Đề án
Đề án góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân. Đồng thời, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện luật thực định về cơ sở pháp lý xác định nghĩa vụ thuế và nâng cao công tác thực thi pháp luật về thuế.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của Đề án Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước về thuế: Là tài liệu tham khảo, ý kiến đóng góp về sự hoàn thiện của pháp luật về thuế, giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp chống thất thu về thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT.
- Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh: Là tài liệu tuyên truyền giúp các tổ chức, cá nhân kinh doanh TMĐT nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, hạn chế hành vi vi phạm xảy ra.
- Đối với độc giả quan tâm: Đề án có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và phát triển các đề tài nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển Đề án cấp tỉnh, sáng kiến cấp ngành về quản lý thuế.
7. Kết cấu của Đề án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, nội dung Đề án được chia thành 3 chương:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
- Chương 2. Thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
- Chương 3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại tỉnh Quảng Ngãi và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG TRỰC TUYẾN CỦA HỘ KINH DOANH, CÁ NHÂN KINH DOANH
1.1. Khái quát pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Có thể thấy khái niệm quản lý thuế theo nghĩa rộng gắn với quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuế, trong đó bao gồm quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Từ cách tiếp cận theo nghĩa rộng này, có thể khái quát quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD là tổng thể các phương thức tác động của nhà nước đến quá trình thực hiện nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về thuế của HKD, CNKD bán hàng trực tuyến nhằm thực hiện mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan Thuế. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Cách tiếp cận theo nghĩa hẹp, có thể hiểu quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD là quá trình tác động và điều chỉnh của cơ quan Thuế trên cơ sở sử dụng các công cụ và chức năng của quản lý thuế đến đối tượng nộp thuế là HKD, CNKD có phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của NNT.
Thông qua khái niệm này, có thể rút ra một số đặc điểm nhận diện quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD như sau:
Thứ nhất, đối tượng quản lý thuế, chủ thể quản lý thuế. Đối tượng quản lý thuế là các HKD, CNKD có phát sinh hoạt động bán hàng trên các nền tảng mạng xã hội, sàn TMĐT, nền tảng công nghệ số. Chủ thể quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD có sự chuyên biệt hơn so với chủ thể quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại truyền thống.
Thứ hai, chủ thể nộp thuế. Là các HKD, CNKD có phát sinh hoạt động bán hàng trên các nền tảng mạng xã hội, sàn TMĐT, nền tảng công nghệ số khác, là tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay trên cơ sở ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự.
Thứ ba, nội dung quản lý thuế. Nội dung quản lý thuế cũng giới hạn trong việc quản lý sự tuân thủ pháp luật về thuế của HKD, CNKD có phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Căn cứ vào khái niệm pháp luật về quản lý thuế, nội dung của quản lý thuế, khái niệm HKD, CNKD, khái niệm bán hàng trực tuyến thì pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh hoạt động tuân thủ pháp luật về thuế của HKD, CNKD có hoạt động kinh doanh bán hàng trực tuyến.
Từ những khái niệm trên đây, có thể nhận diện đặc điểm của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD như sau:
Thứ nhất, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến. Pháp luật về quản lý thuế đối với HKD, CNKD bán hàng trực tuyến chỉ điều chỉnh trong phạm vi hẹp việc tổ chức, điều hành, thực thi pháp luật về thuế của cơ quan Thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD và điều chỉnh sự tuân thủ pháp luật về thuế của HKD, CNKD có hoạt động kinh doanh bán hàng trực tuyến.
Thứ hai, phương pháp điều chỉnh của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Pháp luật về quản lý thuế đối với HKD, CNKD bán hàng trực tuyến sử dụng hai phương thức chủ yếu để tác động vào các đối tượng điều chỉnh của mình là phương pháp mệnh lệnh quyền uy và phương pháp tự nguyện, ngang quyền.
Thứ ba, nội dung của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến đối với cá nhân, hộ kinh doanh. So với nội dung của pháp luật quản lý thuế đối với HKD, CNKD bán hàng truyền thống, nội dung pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD có thêm các nhóm quy phạm pháp luật quy định về nghĩa vụ khai thuế thay, nộp thuế thay, quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của các tổ chức cá nhân có liên quan, quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi chậm cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan Thuế.
1.1.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
1.1.3.1. Nhóm các quy phạm quy định về nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến
Thứ nhất, quy định về trách nhiệm đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế của HKD, CNKD. Trước khi bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh thì HKD, CNKD có phát sinh hoạt động kinh doanh bán hàng trực tuyến phải thực hiện đăng ký thuế và được cơ quan Thuế và được cấp mã số thuế. HKD, CNKD sử dụng mã số thuế được cấp thực hiện khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ về thuế khác theo quy định.
Thứ hai, quy định về sử dụng hóa đơn khi bán hàng hóa. Một trong những nội dung liên quan đến nghĩa vụ thuế của HKD, CNKD bán hàng trực tuyến là việc chấp hành chế độ kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ điện tử theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, quy định về trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay. Để quản lý hiệu quả nguồn thu hoạt động TMĐT, tại Thông tư số 40/2021/TT -BTC đã quy định về trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay đối với sàn giao dịch TMĐT. Bên cạnh đó, Thông tư cũng cho phép các những tổ chức, cá nhân được ủy quyền theo quy định của pháp luật dân sự đại diện cho NNT thực hiện các nghĩa vụ thuế với cơ quan nhà nước.
1.1.3.2. Nhóm quy phạm quy định về nội dung quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định về công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thuế. Công tác ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế là nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Bộ Tài chính.
Thứ hai, nhóm quy phạm quy định về công tác triển khai thực hiện quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Việc tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD được thực hiện thống nhất từ trung ương đến địa phương trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế.
Thứ ba, nhóm quy phạm quy định về công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật về thuế. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ là một trong những nội dung quan trọng đối với pháp luật về quản lý thuế.
1.1.3.3. Nhóm quy phạm quy định về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Kiểm tra, thanh tra là một trong những nội dung quan trọng của quản lý thuế. Việc kiểm tra thuế, thanh tra thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, thông tin, hồ sơ mà NNT đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan Thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan của NNT để xử lý về thuế theo quy định của pháp luật. Quy định về công tác kiểm tra, thanh tra thuế đã được hướng dẫn chi tiết tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Thông tư số 80/2021/TT-BTC, Thông tư số 31/2021/TT-BTC và Quy trình Kiểm tra thuế, Quy trình Thanh tra thuế hiện hành.
Pháp luật quản lý thuế đã phân nhóm các hành vi vi phạm hành chính về thuế, cụ thể chia ra ba nhóm hành vi lớn: Vi phạm các thủ tục thuế; khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu; trốn thuế.
1.1.4. Vai trò của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, đối với cơ quan Thuế. Pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc, đảm bảo tính hợp pháp cho việc tổ chức, triển khai, thực hiện pháp luật của cơ quan Thuế. Pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD còn là công cụ kiểm soát quyền lực cơ quan Thuế.
Thứ hai, đối với công tác thu ngân sách nhà nước. Hệ thống pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD đang ngày càng hoàn thiện phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động kinh doanh TMĐT, điều đó đã giúp cơ quan Thuế sử dụng hiệu quả công cụ này để quản lý thu NSNN.
Thứ ba, đối với xã hội. Đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể trong kinh doanh.
1.2. Các yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
1.2.1. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Về cơ chế, chính sách, Luật Quản lý thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn đã tạo được hành lang pháp lý vững chắc cho phép cơ quan Thuế chủ động trong quản lý NNT có phát sinh hoạt động kinh doanh trực tuyến thông qua các điểm trọng yếu như: Cơ chế tự khai – tự nộp, NNT tự tính số tiền thuế phải nộp (trừ các trường hợp thuộc cơ quan nhà nước tính thuế) và phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế; quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên thứ ba (bao gồm cả thông tin dạng dữ liệu điện tử); công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện và xử lý vi phạm hành chính về thuế; hiện đại hóa công tác quản lý thuế thông qua ứng dụng, số hóa TTHC.
1.2.2. Năng lực quản lý của cơ quan Thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Việc nâng cao năng lực quản lý của cơ quan Thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, đồng thời là quá trình xây dựng nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực chuyên môn, kỷ cương, kỷ luật, từng bước hiện đại hoá để quản lý thuế có hiệu lực, hiệu quả. Trong đó chất lượng nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
1.2.3. Ý thức chấp hành pháp luật của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến
Nhận thức về việc thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với các tổ chức, cá nhân phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến còn nhiều hạn chế.
Ý thức chấp hành pháp luật về thuế của người dân, doanh nghiệp phụ thuộc vào sự ràng buộc của các quy định của pháp luật, nếu pháp luật quy định không rõ ràng tạo ra kẽ hở thì người dân và doanh nghiệp sẽ dựa vào kẽ hở này mà thực hiện các hành vi trốn thuế.
Ý thức chấp hành việc cung cấp thông tin theo quy định của các tổ chức, cá nhân liên quan còn nhiều vướng mắc do liên quan đến việc bảo mật thông tin khách hàng theo quy định của Luật viễn thông, Luật các tổ chức tín dụng.
1.2.4. Nguồn lực, cơ sở vật chất thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Thứ nhất, nguồn lực về con người. Các chủ thể tham gia tổ chức, triển khai, thi hành và chấp hành pháp luật về thuế bao gồm: NNT là HKD, CNKD có phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến; tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay; cơ quan Thuế; công chức thuế; cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Thứ hai, nguồn lực về cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Đối với công tác điều hành của cơ quan Thuế thì không thể thiếu sự hỗ trợ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin, mạng In-tơ-nét, ứng dụng hỗ trợ thực hiện công tác quản lý thu thuế, nộp thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, ứng dụng hỗ trợ quản lý dữ liệu NNT, ứng dụng tiếp nhận việc cung cấp thông tin về thuế, các nền tảng hỗ trợ công tác thông tin, tuyên truyền, hỗ trợ NNT,….giúp tối ưu thời gian quản lý, giải quyết TTHC về thuế, lưu trữ thông tin NNT.
Tiểu kết Chương 1
Thông qua kết quả phân tích khái niệm về quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD rút ra các đặc điểm nhận diện của quản lý thuế và pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động này. Bên cạnh đó đã khái quát các nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD, trong đó tập trung vào ba nhóm quy phạm pháp luật chính. Phân tích các yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến. Từ kết quả này, tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn các nhóm quy phạm pháp luật, đồng thời đánh giá ưu điểm, hạn chế của các nhóm quy phạm về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG TRỰC TUYẾN CỦA HỘ KINH DOANH, CÁ NHÂN KINH DOANH
2.1. Quy định pháp luật hiện hành về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
2.1.1. Nhóm các quy phạm quy định về nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến
Thứ nhất, quy định về trách nhiệm đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế. Hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật, bao gồm cả hoạt động kinh doanh TMĐT, phải thực hiện đăng ký thuế trước khi bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện kê khai và nộp thuế theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Thứ hai, quy định về sử dụng hóa đơn khi bán hàng hóa. HKD, CNKD khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải lập hóa đơn giao cho người mua, bao gồm cả trường hợp hàng hóa dùng để khuyến mại theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP. Việc lập hóa đơn phải được thực hiện đúng thời điểm và đảm bảo về nội dung và hình thức.
Thứ ba, quy định về trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay. Tại Thông tư số 40/2021/TT-BTC hướng dẫn về thuế GTGT, thuế TNCN và quản lý thuế đối với HKD, CNKD đã quy định về trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân đối với chủ sở hữu sàn TMĐT và của tổ chức, cá nhân khác trên cơ sở ủy quyền.
Bên cạnh quy định về việc ủy quyền cho chủ sàn TMĐT khai thuế thay, nộp thuế thay, thì cá nhân có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác khai thuế thay, nộp thuế thay theo quy định về ủy quyền của pháp luật về dân sự.
2.1.2. Nhóm quy phạm quy định về nội dung quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thuế. Công tác ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế của Bộ Tài chính được thực hiện theo quy định tại Điều 15 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và các Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2017, đảm bảo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 87/2017/NĐ-CP ngày 26/07/2017 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính.
Thứ hai, nhóm quy phạm quy định công tác triển khai thực hiện quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Bộ Tài chính chủ trì tổ chức việc thực hiện quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành và quy định pháp luật khác có liên quan. Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế các huyện, khu vực triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm quản lý thuế đối với HKD, CNKD bán hàng trực tuyến.
Thứ ba, công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật về thuế. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT nói chung và công tác tuyên truyền, hỗ trợ HKD, CNKD bán hàng trực tuyến nói riêng đều thực hiện theo đúng thẩm quyền, phạm vi, trách nhiệm của cơ quan Thuế các cấp, đồng thời đảm bảo tuân thủ sự chỉ đạo thống nhất theo chương trình, kế hoạch công tác của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế.
2.1.3. Nhóm quy phạm quy định về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
2.1.3.1. Nhóm quy phạm quy định về kiểm tra thuế
Công tác kiểm tra thuế sẽ được thực hiện tại trụ sở của cơ quan Thuế và trụ sở của NNT. Trong đó, kiểm tra thuế tại trụ sở của cơ quan Thuế được thực hiện trên cơ sở hồ sơ thuế của NNT, kiểm tra thuế tại trụ sở của NNT trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề hoặc theo kiến nghị của Kiểm toán nhà nước, Thanh tra nhà nước, cơ quan khác có thẩm quyền và một số trường hợp khác được quy định tại Điều 110 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14.
2.1.3.2. Nhóm quy phạm quy định về thanh tra thuế
Thanh tra thuế là một dạng thanh tra chuyên ngành. Căn cứ theo khái niệm về thanh tra chuyên ngành thì có thể khái quát thanh tra thuế là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những hoạt động mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ đối với các đối tượng nộp thuế và các chủ thể có liên quan trong lĩnh vực thuế nhằm phát hiện, xử lý vi phạm trong việc tuân thủ pháp luật về thuế của các đối tượng đó. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
2.1.3.3. Nhóm quy phạm quy định về xử lý vi phạm về thuế
Thứ nhất, nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính đối với HKD, CNKD bán hàng trực tuyến. HKD, CNKD chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn khi có hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn theo quy định tại Nghị định số 125/2020/NĐ-CP. Mức phạt tiền đối với HKD, CNKD bằng một nửa mức tiền phạt đối với tổ chức với cùng một hành vi vi phạm hành chính về thuế.
Thứ hai, các nhóm hành vi vi phạm hành chính về thuế của HKD, CNKD bán hàng trực tuyến. Nhóm hành vi vi phạm hành chính về thuế có thể chia làm ba nhóm chính là nhóm hành vi vi phạm thủ tục thuế, nhóm hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu, nhóm hành vi trốn thuế.
Bên cạnh quy định về các nhóm hành vi vi phạm nêu trên thì tại Nghị định số 125/2020/NĐ-CP đã dành riêng một điều để quy định về hành vi vi phạm quy định về lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn đối với hoạt động bán hàng trực tuyến không chỉ xử phạt chủ thể là HKD, CNKD có hành vi vi phạm mà còn có bên thứ ba là các nhà cung cấp hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, các chủ sàn TMĐT, ngân hàng thương mại và các bên trung gian thanh toán.
2.2. Đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
2.2.1. Ưu điểm của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, sự hoàn thiện về hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật về quản lý thuế đến thời điểm hiện tại đã xây dựng được hành lang pháp lý đầy đủ, tạo điều kiện cho công tác thi hành pháp luật được thông suốt, công tác chấp hành pháp luật được kịp thời và đúng quy định.
Thứ hai, đã có hướng dẫn riêng về kê khai thuế đối với HKD, CNKD. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 19/07/2021 hướng dẫn riêng về thuế GTGT, thuế TNCN và quản lý thuế đối với HKD, CNKD thay thế các nội dung hướng dẫn về HKD, CNKD tại Chương I và Chương II Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính.
Thứ ba, quy định rõ hơn về trách nhiệm cung cấp thông tin quản lý thuế của tổ chức có liên quan. Pháp luật về quản lý thuế hiện hành đã quy định các tổ chức, cá nhân là đối tác kinh doanh hoặc khách hàng của NNT, ngân hàng thương mại, đơn vị trung gian thanh toán, chủ sàn TMĐT,… có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến NNT theo quy định khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan Thuế. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Thứ tư, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về thuế hiện hành đã sửa đổi, bổ sung nhiều căn cứ pháp lý để xử lý các hành vi vi phạm về thuế và hóa đơn. Việc ban hành Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn đã tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý hành chính thuế nhằm thu đúng, thu đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN, chống thất thu, giảm nợ thuế.
Thứ năm, sự hoàn thiện về xây dựng và ký kết quy chế phối hợp giữa các Bộ, ngành có liên quan trong công tác quản lý thuế. Bộ Tài chính đã ký kết các thỏa thuận phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông để chia sẻ dữ liệu quản lý thuế. Bộ Tài chính cũng đã ký kết quy chế phối hợp với Bộ Công an trong công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi tội phạm trong lĩnh vực thuế, thực hiện kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý thuế.
2.2.2. Hạn chế của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
2.2.2.1. Hạn chế trong quy định về nghĩa vụ thuế kinh doanh trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, hạn chế trong quy định về xác định mức thuế đối với HKD, CNKD nộp thuế theo phương pháp khoán thuế. Tại khoản 2 Điều 51 Luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14 quy định về căn cứ xác định mức thuế khoán, trong đó yếu tố căn cứ vào tài liệu kê khai của HKD, CNKD thường thiếu chính xác, mang tính chủ quan nhất, vì các chủ thể này luôn tìm cách che dấu doanh thu của mình. Bên cạnh đó yếu tố dựa trên ý kiến của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn chỉ hiệu quả khi các hoạt động kinh doanh diễn ra tại một địa điểm cố định mà địa phương nắm được, còn đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD thì yếu tố này còn nhiều hạn chế.
Thứ hai, hạn chế trong quy định về sử dụng hóa đơn của HKD, CNKD bán hàng trực tuyến. Tại Điều 12 Quy trình quản lý hóa đơn điện tử, trong trường hợp đề nghị cấp mã đối với hóa đơn điện tử theo từng lần phát sinh của hộ khoán, CNKD thì hồ sơ xuất trình với cơ quan Thuế bao gồm hợp đồng kinh tế, biên bản nghiệm thu, biên bản thanh lý,…). Tuy nhiên đối với trường hợp bán hàng online, bán hàng qua sàn TMĐT thì không có hợp đồng kinh tế, không có biên bản, nghiệm thu, thanh lý,…thì hồ sơ yêu cầu là gì thì chưa được hướng dẫn, dẫn đến sự không thống nhất khi áp dụng.
Tại khoản 5 và khoản 14 Điều 10 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về nội dung của hóa đơn, căn cứ theo quy định này, thì đối với HKD, CNKD bán hàng trực tuyến xuất hóa đơn vẫn phải đảm bảo có đầy đủ nội dung về tên, địa chỉ. Tuy nhiên khi mua hàng qua sàn TMĐT hoặc qua các tài khoản mạng xã hội thì tên thường là biệt danh không phải tên thật, địa chỉ là địa chỉ nhận hàng bất kỳ. Như vậy trường hợp này xuất hóa đơn với nội dung về tên và địa chỉ như thế nào thì pháp luật về thuế chưa có hướng dẫn.
Thứ ba, hạn chế trong quy định về trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay. Quy định về trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay tại Điều 8, Thông tư số 40/2021/TT-BTC và khoản 2 Điều 1 Thông tư số 100/2021/TT-BTC của chủ sở hữu sàn giao dịch TMĐT chưa đảm bảo sự ràng buộc về trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay và chỉ dừng lại ở việc quy định ủy quyền khai thuế thay, nộp thuế thay được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự, không quy định chi tiết nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
2.2.2.2. Hạn chế trong quy định về nội dung quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định công tác triển khai thực hiện quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Trong công tác triển khai thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với HKD, CNKD bán hàng trực tuyến thì việc phối hợp cung cấp thông tin quản lý thuế vẫn còn những khoảng trống trong cơ sở pháp lý của từng cơ quan nhà nước.
Thứ hai, nhóm quy định về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thuế. Luật Quản lý thuế đã quy định về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đơn vị, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội, cơ quan thông tin, báo chí trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế. Tuy nhiên, các cơ quan này tự xây dựng nội dung tuyên truyền hay phối hợp với cơ quan Thuế các cấp để thực hiện thì chưa có hướng dẫn. Ngoài ra, pháp luật Quản lý thuế hiện hành chưa quy định về trách nhiệm phối hợp trong công tác tuyên truyền chính sách thuế đối với các cơ quan nhà nước khác như cơ quan tuyên giáo, cơ quan tư pháp,.. dẫn đến khi có văn bản yêu cầu phối hợp trong công tác tuyên truyền chưa nhận được sự phối hợp tích cực của các cơ quan này.
2.2.2.3. Hạn chế trong quy định về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định về kiểm tra thuế, thanh tra thuế. Tại khoản 1 Điều 110, khoản 1 Điều 113 của Luật quản lý Thuế hiện hành quy định về các trường hợp kiểm tra thuế, thanh tra thuế. Theo đó cơ quan Thuế sẽ tiến hành kiểm tra thuế, thanh tra thuế khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế. Tuy nhiên pháp luật Quản lý thuế hiện hành chưa quy định cách xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế căn cứ vào cơ sở pháp lý nào, mức độ vi phạm ra sao thì sẽ tiến hành kiểm tra hay thanh tra. Điều này dẫn đến không thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật đối với hoạt động kiểm tra thuế, thanh tra thuế.
Thứ hai, nhóm quy phạm quy định về xử lý vi phạm về thuế. Trong đó còn tồn tại hạn chế về quy định về xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm và quy định về xử lý hình sự đối với tội trốn thuế đối với HKD, CNKD bán hàng trực tuyến.
Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Từ những tổng hợp, phân tích chi tiết về nội dung các nhóm quy phạm pháp luật cụ thể như: Nghĩa vụ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, phân tích các quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khác có liên quan; quy định về công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật, công tác triển khai pháp luật và công tác tuyên truyền chính sách thuế của cơ quan Thuế các cấp; phân tích các trường hợp tiến hành kiểm tra thuế, thanh tra thuế, các nhóm hành vi vi phạm về thuế để đánh giá ưu điểm, hạn chế của từng nhóm quy định. Kết quả nghiên cứu tại chương này là cơ sở lý luận và thực tiễn để tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD.
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG TRỰC TUYẾN CỦA HỘ KINH DOANH, CÁ NHÂN KINH DOANH TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại tỉnh Quảng Ngãi
3.1.1. Kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại tỉnh Quảng Ngãi
Thứ nhất, công tác triển khai thực hiện nội dung quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Tại tỉnh Quảng Ngãi, công tác triển khai thực hiện nội dung quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT của HKD, CNKD đã đạt được nhiều kết quả tích cực, trong đó cơ quan Thuế các cấp đã tập trung triển khai thực hiện pháp luật về quản lý thuế, công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thuế, hỗ trợ đến từng HKD, CNKD bán hàng trực tuyến thực hiện nghĩa vụ thuế với NSNN.
Thứ hai, công tác rà soát, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn đối với HKD, CNKD phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
3.1.2. Vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại tỉnh Quảng Ngãi
3.1.2.1. Vướng mắc trong thực hiện các quy định về nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, xác định doanh thu tính thuế. Nhiều HKD, CNKD thuộc diện quản lý thuế cố tình gian lận về thuế như không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế, lập nhiều tài khoản ngân hàng, tài khoản mạng xã hội, thực hiện các giao dịch mua bán trên nhiều tài khoản với mục đích giảm doanh thu mỗi tài khoản không quá 100 triệu đồng/năm. Đối với việc bán hàng trên các tài khoản mạng xã hội, thay vì rao bán công khai ở các tài khoản cá nhân hay trang bán hàng, nhiều người bán hàng trực tuyến đã lập ra các group kín để mua bán nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan Thuế dẫn đến khó xác định doanh thu tính thuế.
Thứ hai, trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay. Quy định về trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cũng gây ra không ít khó khăn khi triển khai thực hiện quy định này. Cá nhân không thực hiện ủy quyền cho sàn TMĐT hoặc sàn TMĐT không nhận ủy quyền khai thuế, nộp thuế thay vì pháp luật không bắt buộc.
3.1.2.2. Vướng mắc trong thực hiện quy định về nội dung quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, công tác triển khai phối hợp trong cung cấp thông tin quản lý thuế. Các chủ sở hữu sàn TMĐT, ngân hàng thương mại, đơn vị trung gian thanh toán vì lý do bảo mật thông tin khách hàng mà chưa thật sự nghiêm túc phối hợp cung cấp thông tin cho cơ quan Thuế.
Thứ hai, quản lý thông tin của các cá nhân sử dụng các nền tảng mạng xã hội. Đối với nền tảng facebook và các nền tảng mạng xã hội khác khi tạo cửa hàng trực tuyến thì các nền tảng này không bắt buộc phải cung cấp thông tin về đăng ký thuế dẫn đến khó xác định đối tượng có phát sinh hoạt động kinh doanh để đưa vào diện quản lý thuế. Bên cạnh đó đối với các tài khoản tiktok với lượt theo dõi lên đến hàng nghìn, hàng triệu lượt và thường xuyên đăng tải hình ảnh, video bán hàng nhưng không tạo cửa hàng trên tiktok thì không cần phải cung cấp thông tin về về đăng ký thuế, thông tin đăng ký kinh doanh, thông tin tài khoản ngân hàng dẫn đến bỏ sót nhóm đối tượng này.
Thứ ba, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thuế đối với hoạt động kinh doanh bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD còn nhiều hạn chế vì chưa triển khai đồng bộ phương thức tuyên truyền. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
3.1.2.3. Vướng mắc trong thực hiện quy định về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, xác định hành vi vi phạm về thuế. Để xác định được HKD, CNKD bán hàng trực tuyến có hành vi vi phạm về thuế phải phải chứng minh được HKD, CNKD này có thực hiện hành vi được quy định tại Nghị định 125/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên đa số không tự giác nộp hồ sơ và khắc phục hậu quả mà thay vào đó là xóa bỏ các dấu hiệu về việc đã từng phát sinh hoạt động kinh doanh, trường hợp này sẽ không có căn cứ để xác định hành vi trễ hạn đăng ký thuế, khai thuế này có phát sinh hành vi được quy định tại Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
Thứ hai, xác định yếu tố cấu thành tội trốn thuế. Để xác định được các yếu tố cấu thành tội trốn thuế theo quy định tại Điều 200 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là rất khó vì để chứng minh được số tiền trốn thuế trên 100.000.000 đồng phải căn cứ vào doanh thu tính thuế tuy nhiên các giao dịch gần như bị xóa bỏ ngay khi nhận được thanh toán, bên cạnh đó thống kê thực tế cho thấy các giao dịch thanh toán bằng tiền mặt hiện đang chiếm tỉ lệ đến 86%, thanh toán chuyển khoản qua nhiều tài khoản khác nhau nhất là nhóm đối tượng HKD, CNKD dẫn đến xác định doanh thu không đầy đủ.
3.1.3. Nguyên nhân của những vướng mắc
Thứ nhất, hạn chế về quy định pháp luật. Quy mô, tốc độ tăng trưởng của TMĐT những năm gần đây rất mạnh mẽ, rộng khắp, mang tính toàn cầu, số lượng người tham gia thực hiện các hoạt động mua bán trên các nền tảng mạng xã hội ngày càng gia tăng, nhu cầu mua sắm trực tuyến là xu hướng của tương lai dẫn đến chính sách pháp luật không theo kịp nhịp độ phát triển của TMĐT.
Thứ hai, đặc điểm của kinh doanh TMĐT. Hoạt động kinh doanh TMĐT nói chung và hoạt động kinh doanh bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD không cần trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh, địa điểm bán hàng, các giao dịch được thực hiện trên môi trường In-tơ-nét, dễ dàng thay đổi, che giấu hoặc xóa dữ liệu giao dịch, phương thức thanh toán khi nhận hàng hoặc thanh toán qua nhiều tài khoản ngân hàng không chính chủ, tài khoản ngân hàng không đăng ký với cơ quan Thuế, trong đó hình thức thanh toán được ưu tiên nhất là hình thức trả tiền mặt khi nhận hàng dẫn đến khó xác định được doanh thu tính thuế.
Thứ ba, ý thức tự giác chấp hành pháp luật về thuế. Ý thức tự giác chấp hành pháp luật về thuế của HKD, CNKD bán hàng trực tuyến chưa cao. Chủ sở hữu sàn TMĐT chưa thực sự muốn nhận ủy quyền khai thuế thay, nộp thuế thay cho HKD, CNKD qua sàn theo quy định tại Thông tư số 100/2021/TT-BTC vì cảm thấy áp lực và tăng khối lượng công việc, mà thay vào đó yêu cầu người bán hàng trên sàn tự kê khai với cơ quan Thuế dẫn đến người bán cảm thấy thủ tục rườm rà, phiền hà và chậm trễ thực hiện nghĩa vụ thuế.
Các tổ chức, cá nhân có liên quan khác chưa tự giác thực hiện trách nhiệm cung cấp thông tin về thuế, chậm trễ thực hiện việc cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan Thuế do còn vướng về vấn đề bảo mật thông tin của khách hàng và không đồng tình của khách hàng.
Thứ tư, hạn chế về trình độ công nghệ thông tin của công chức thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Công chức thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT chưa kịp thời nâng cao trình độ cao về tin học, giỏi về các ứng dụng, phần mềm hỗ trợ để truy lần dấu vết giao dịch, kết xuất dữ liệu lịch sử giao dịch làm bằng chứng đấu tranh đối với các hành vi vi phạm của NNT.
Thứ năm, ngành thuế đang thiếu các giải pháp về công nghệ thông tin. Một trong số những nguyên nhân quan trọng khác là cơ quan nhà nước đang thiếu các giải pháp về công nghệ thông tin hữu hiệu nhằm quản lý tốt hoạt động kinh doanh TMĐT một cách chủ động như các phần mềm có kết nối, khai thác, chia sẻ dữ liệu với các chủ sở hữu sàn TMĐT chưa được hoàn thiện, các ứng dụng hỗ trợ chia sẻ, kết nối dữ liệu với các cơ quan ban ngành có liên quan, ngân hàng thương mại chưa được xây dựng. Thiếu các ứng dụng hỗ trợ rà soát, phân loại các tài khoản có dấu hiệu bán hàng thông qua các dấu hiệu kêu gọi mua hàng, các ứng dụng khôi phục giao dịch mua bán đã bị xóa bỏ trên các tài khoản mạng xã hội.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại Việt Nam Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
3.2.1. Hoàn thiện quy định về nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phát sinh hoạt động bán hàng trực tuyến
Thứ nhất, quy định về xác định mức thuế đối với HKD, CNKD nộp thuế theo phương pháp khoán thuế. Cần bổ sung thêm tiêu chí căn cứ trên kết quả xác minh doanh thu thực tế của của HKD, CNKD. Điều này giúp hạn chế được trường hợp HKD, CNKD khai thuế không chính xác, trung thực dẫn đến áp dụng mức thuế khoán không đúng với thực tế.
Thứ hai, quy định về sử dụng hóa đơn. Cần có quy định rõ hơn về hồ sơ cần xuất trình với cơ quan thuế khi đề nghị cấp hóa đơn theo từng lần phát sinh của HKD, CNKD bán hàng trực tuyến. Bổ sung quy định về việc xuất hóa đơn đối với hoạt động kinh doanh bán hàng trực tuyến không bắt buộc phải có tên, địa chỉ người mua tại khoản 14 Điều 10 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP.
Thứ ba, quy định về trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay. Cần quy định rõ hơn về phạm vi ủy quyền, nội dung ủy quyền đối với việc khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân kinh doanh tránh trường hợp ủy quyền không đầy đủ dẫn đến nghĩa vụ thuế không được thực hiện hoặc chậm trễ thực hiện nghĩa vụ thuế.
3.2.2. Hoàn thiện quy định về nội dung quản lý thuế đối với đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định công tác triển khai thực hiện quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Tập trung hoàn thiện các quy định về phối hợp cung cấp thông tin phục vụ quản lý thuế, quy định rõ hơn về trách nhiệm cung cấp thông tin của đơn vị vận chuyển, thu hộ, chủ sở hữu các nền tảng mạng xã hội và nội dung, cách thức cung cấp.
Thứ hai, nhóm quy định về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thuế. Cần chủ động xây dựng các quy chế phối hợp trong công tác thông tin tuyên truyền chính sách pháp luật về thuế đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đơn vị, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội, cơ quan thông tin, báo chí, cơ quan tư pháp, cơ quan tuyên giáo để có cơ sở phối hợp, triển khai, truyền tải chính sách pháp luật về thuế.
3.2.3. Hoàn thiện quy định về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định về kiểm tra, thanh tra thuế. Cần có hướng dẫn chi tiết về việc xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế. Căn cứ vào mức độ của hành vi vi phạm, số tiền thuế trốn để làm căn cứ phân loại để tiến hành thanh tra, hay kiểm tra thuế. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Thứ hai, nhóm quy phạm quy định về xử lý vi phạm về thuế. Cần có hướng dẫn riêng về thời điểm xuất hóa đơn đối với hoạt động bán hàng trực tuyến, thời điểm nộp hồ sơ yêu cầu cấp hóa đơn theo từng lần phát sinh.
Cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự về việc thu hồi số tiền thuế trốn đối với tội trốn thuế đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự để đảm bảo không thất thoát nguồn thu NSNN. Hoặc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội trốn thuế theo hướng tính từ ngày cơ quan thuế phát hiện ra hành vi vi phạm thay vì tính từ ngày tội phạm được thực hiện như theo quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015.
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
3.3.1. Giải pháp chung trong cả nước
Thứ nhất, đối với ngành Thuế. Để nâng cao công tác quản lý thuế thì toàn ngành Thuế phải chung tay thực hiện song song các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD.
Một là, xác định doanh thu, xác định hành vi vi phạm, xác định số thuế trốn. Để khắc phục các hạn chế về việc xác định doanh thu từ hoạt động bán hàng trực tuyến, chứng minh hành vi vi phạm về thuế và xác định yếu tố cấu thành tội trốn thuế, ngành thuế cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển các phần mềm, ứng dụng giúp khôi phục dữ liệu trên các thiết bị di động, máy tính cá nhân nhằm nhận diện và khôi phục dữ liệu đã bị xóa để xác định doanh thu tính thuế, cũng như có căn cứ để xác định được hành vi vi phạm về thực hiện nghĩa vụ thuế, số thuế trốn.
Hai là, trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay. Để nâng cao trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay của chủ sàn TMĐT cần có lộ trình thích hợp để không tạo ra gánh nặng cho các sàn vì số lượng cá nhân bán hàng qua sàn rất lớn.
Ba là, công tác triển khai phối hợp trong cung cấp thông tin quản lý thuế. Về công tác triển khai phối hợp trong cung cấp thông tin quản lý thuế cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý thuế. Xây dựng cơ sở hạ tầng và định dạng chuẩn để tiếp nhận thông tin tạo thuận lợi cho các sàn TMĐT cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý thuế.
Bốn là, quản lý thông tin của các cá nhân sử dụng các nền tảng mạng xã hội. Phát triển các ứng dụng dò tìm tự động các tài khoản có dấu hiệu bán hàng thông qua các thông tin về giá, số điện thoại liên hệ, hành động kêu gọi đặt hàng, nhắn tin, để lại bình luận,…để tổng hợp và đưa vào diện kiểm tra, rà soát quản lý, thu hồi tiền thuế.
Năm là, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế. Cần nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, sự am hiểu về chính sách pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD để có thể tạo ra các sản phẩm tuyên truyền dễ hiểu, dễ tiếp cận và dễ thực hiện. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Thứ hai, đối với cá nhân, hộ kinh doanh bán hàng trực tuyến. Cần tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thuế, các biện pháp chế tài và hậu quả pháp lý nếu kinh doanh trực tuyến không đăng ký thuế, không kê khai, nộp thuế. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các HKD, CNKD trong lĩnh vực TMĐT, kinh doanh trên nền tảng số.
Thứ ba, đối với cơ quan quản lý nhà nước liên quan. Tiếp tục phối hợp tích cực, thường xuyên với các cơ quan nhà nước có liên quan trong việc cung cấp thông tin của NNT để xây dựng dữ liệu quản lý thuế.
3.3.2. Giải pháp tại tỉnh Quảng Ngãi
Thứ nhất, giải pháp đối với UBND tỉnh. Cục Thuế có văn bản đề xuất UBND tỉnh tiếp tục quan tâm, chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cụ thể đến từng sở, ban ngành tỉnh, cơ quan Trung ương trên địa bàn, UBND các huyện, thị xã, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện phối hợp với cơ quan Thuế quản lý thu thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT nói chung và hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh nói riêng.
Thứ hai, đối với hệ thống cơ quan Thuế trên địa bàn tỉnh. Cụ thể hóa, nhanh chóng triển khai các quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của chủ sàn TMĐT và các ngân hàng thương mại, tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian thanh toán theo quy định tại Điều 27, Điều 30 Nghị định số 126/2020/NĐ -CP và Điều 1 Nghị định số 91/2022/NĐ-CP ngày 30/10/2022. Thành lập bộ phận chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của HKD, CNKD đảm bảo tính chuyên môn hóa. Tập trung nâng cao năng lực chuyên môn của công chức thuế.
Thứ ba, đối với cá nhân, hộ kinh doanh trực tuyến. Cơ quan thuế tiếp tục phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông để rà soát các tài khoản cá nhân thường xuyên có hoạt động buôn bán trên mạng, các hội nhóm kinh doanh. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thuế phù hợp với hoạt động quản lý thuế tại địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế.
Tiểu kết Chương 3 Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
Công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của HKD, CNKD tại địa phương đã đạt được kết quả tốt. Tuy nhiên bên cạnh kết quả đạt được thì còn tồn tại hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Căn cứ vào kết quả phân tích tồn tại, hạn chế về quy định của pháp luật về thuế, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp với từng vướng mắc. Trong đó tập trung vào hai nhóm giải pháp lớn, một là đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế và pháp luật có liên quan, hai là đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Thông qua nhóm giải pháp chung cho Ngành Thuế, tác giả căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa phương đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tế quản lý thuế tại địa phương. Như vậy, để công tác quản lý thuế đạt hiệu quả cao ngoài việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, rất cần sự phối hợp đồng bộ của cơ quan Thuế với các cơ quan nhà nước, đơn vị tổ chức, cá nhân có liên quan, kiên trì thu thập thông tin và quyết liệt truy vết
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của Đề án đã mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực cho công tác quản lý thuế TMĐT nói chung và quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của hộ kinh doanh nói riêng. Đề án đã khái quát hệ thống pháp luật về quản lý thuế, phân tích đặc điểm của hệ thống pháp luật, phân tích ưu điểm, hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Kịp thời đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo kịp với tốc độ phát triển của hoạt động kinh doanh TMĐT, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến của HKD, CNKD. Kết quả nghiên cứu được sử dụng làm tư liệu tham khảo trong các đề tài nghiên cứu, tài liệu học tập, tài liệu tập huấn, hướng dẫn cho cơ quan Thuế các cấp trong công tác thu NSNN, chống thất thu, xử lý hành vi trốn thuế, thực hiện quản lý thuế có hiệu quả đối với hoạt động bán hàng trực tuyến. Bên cạnh việc chống thất thoát nguồn thu, siết chặt hoạt động quản lý thuế đối với hoạt động bán hàng trực tuyến còn góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng giữa các HKD, CNKD bán hàng trực tuyến với các HKD, CNKD truyền thống, tạo ra một thị trường lành mạnh, sản phẩm chất lượng, góp phần vào phát triển kinh tế chung của đất nước. Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về người lao động giúp việc gia đình

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Trách nhiệm doanh nghiệp đối với SP người tiêu dùng
Luận văn: Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh