Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết về việc nghiên cứu đề án

Trải qua gần 40 năm đổi mới, nước ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên quỹ đạo chuyển động của nền kinh tế này, các thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có địa vị pháp lý bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, việc huy động các thành phần kinh tế, loại hình kinh tế trên các lĩnh vực, trong đó có loại hình kinh tế tư nhân rất quan trọng, việc thu hút được nhiều vốn đầu tư từ loại hình này góp phần để phát triển đất nước, đưa đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu là nhu cầu khách quan, cần thiết. Ngay trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII đã chỉ rõ, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế, vì vậy, cần phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi phát triển khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại, năng lực quản trị tiên tiến. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính sự nhận định đúng đắn chủ trương về sở hữu tư nhân, thành phần KTTN, về vai trò KTTN trong trong cơ cấu nền kinh tế từ đó thúc đẩy nền KTTN phát triển mạnh về số lượng, chất lượng cũng như quy mô trở thành mũi nhọn chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng làm đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

Việt Nam, cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước không có những văn bản pháp luật chính thức công nhận sự tồn tại của các loại hình DNTN ngoài các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể. Sau khi có Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986, với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu với các quy mô khác nhau đã dần được hình thành và phát triển. DNTN là một trong những loại hình doanh nghiệp xuất hiện sớm nhất trong thời kỳ đổi mới được đánh dấu bằng sự ra đời của hai đạo luật quan trọng là Luật Công ty và Luật DNTN 1990. Đây là nền móng quan trọng tạo nên cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự phát triển của các DNTN. Sau này hai đạo luật trên được thay thế và hoàn thiện bởi LDN 1999, LDN 2005, LDN 2014 và gần đây nhất là LDN 2020. Với lợi thế nhỏ gọn, dễ vận hành, quản lý…DNTN đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển KTTN nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Pháp luật về DNTN là một trong những đề tài nghiên cứu của nhiều học giả, các nhà nghiên cứu, được khai thác dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Tuy nhiên, với sự ra đời của LDN năm 2020 có hiệu lực ngày 01/01/2021 cùng các văn bản hướng dẫn liên quan, vấn đề pháp luật về DNTN chưa có nhiều các nghiên cứu, đánh giá và bình luận từ cơ sở lý luận đến thực tiễn áp dụng. Do đó, học viên đã chọn đề tài: “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam” làm đề án thạc sĩ Luật Kinh tế tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề án

  • Thứ nhất, các luận văn, luận án tiến sĩ

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân qua thực tiễn tại tỉnh Quảng trị”, Trường Đại học Luật, Đại Học Huế 2020 của tác giả Đoàn Thị Bích Hảo. Luận văn đã phân tích thực trạng pháp luật về DNTN và thực tiễn thực hiện pháp luật; từ đó đề xuất giải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về DNTN trong địa bàn Quảng Trị.

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam” của tác giả Hồ Xuân Quang tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2022. Luận văn đã phân tích thực trạng pháp luật về DNTN và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam; từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân từ thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn” của tác giả Hồ Thu Uyên tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2019. Luận văn đã phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về DNTN và thực tiễn thi hành tại Lạng Sơn; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội” của tác giả Lê Việt Đức tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2020. Luận văn đã phân tích thực trạng pháp luật về DNTN và thực tiễn thực hiện tại Hà Nội; từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về vấn đề này.

  • Thứ hai, các bài nghiên cứu liên quan đến đề án;

Bài viết khoa học với tiêu đề “Doanh nghiệp tư nhân và sự phù hợp với môi trường thương mại tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Vinh Hưng đăng trên Tạp chí Nghề Luật, Số 2/2017, tr. 11-15. Bài viết đã làm rõ những ưu điểm và hạn chế của DNTN, trên cơ sở phân tích sự phù hợp của DNTN với môi trường thương mại tại Việt Nam hiện nay từ đó đề xuất một số kiến nghị

Bài viết khoa học với tiêu đề “Những điểm mới về doanh nghiệp tư nhân trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 và những vấn đề đặt ra” của tác giả Cao Thanh Huyền đăng trên Tạp chí Luật học, số 2 năm 2022, tr. 66-79. Bài viết đã phân tích những điểm mới nổi bật về DNTN trong LDN năm 2020, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong các quy định điều chỉnh loại hình doanh nghiệp này, trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện LDN năm 2020 về DNTN.

Bài viết khoa học với tiêu đề “Quy chế pháp lý về doanh nghiệp tư nhân theo Luật Doanh nghiệp năm 2020” của tác giả Nguyễn Thanh Lý đăng trên Tạp chí Nghề Luật, số 2/2021, tr. 64-72. Với tư cách là một trong những mô hình kinh doanh được sử dụng nhiều ở Việt Nam, DNTN có một vị trí khá đặc biệt trong đạo LDN ở Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của DNTN, bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm, đăng ký kinh doanh, chế độ pháp lý về vốn, quản trị doanh nghiệp, giải thể và phá sản DNTN. Từ đó, bài viết đưa ra những ý kiến góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về DNTN ở Việt Nam hiện nay Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Bài viết khoa học với tiêu đề “Bàn về một số quy định về doanh nghiệp tư nhân trong Luật Doanh nghiệp 2020” của tác giả Nguyễn Thành Trân, Huỳnh Thị Lâm Phương đăng trên Tạp chí công thương trên Tạp chí công thương. Bài viết đã phân tích một số vấn đề bất cập trong LDN 2020 về DNTN và đề xuất một vài kiến nghị để thực thi LDN tốt hơn.

Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định vai trò to lớn của DNTN đối với nền kinh tế Việt Nam trong suốt thời gian từ sau đổi mới đến nay. Các nghiên cứu đều tiếp cận đề tài Pháp luật về DNTN dưới hai góc độ đó là góc độ lý luận và thực tiễn pháp luật. Các công trình trên mặc dù đã đưa ra những nhận định, phân tích sâu sắc pháp luật về DNTN, tuy nhiên mỗi công trình lại chỉ tập trung nghiên cứu ở một khía cạnh nhất định, một số văn bản pháp luật được đề cập đã không còn hiệu lực pháp luật. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về DNTN trong thời điểm hiện nay mang ý nghĩa thời sự, góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về DNTN ở Việt Nam.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề án

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề án nhằm đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về DNTN.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về DNTN.
  • Phân tích, đánh giá pháp luật hiện hành về DNTN; từ đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế.
  • Đánh giá thực tiễn thực hiện về DNTN từ thực tiễn tại Việt Nam; từ đó chỉ ra những tồn tại, bất cập và nguyên nhân phát sinh.
  • Đề xuất được giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về DNTN.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề án

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề án bao gồm:

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận pháp luật về DNTN;
  • Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về DNTN; Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.
  • Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về DNTN tại Việt Nam qua các báo cáo, số liệu từ các cơ quan liên quan trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2023.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Đề án nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam;

Phạm vi thời gian: Các số liệu, các vụ việc trong thực tiễn được nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2023.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề án

5.1. Phương pháp luận

Nghiên cứu đề án dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin về Nhà nước và pháp luật

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề án như sau:

Để giải quyết nhiệm vụ và nghiên cứu đặt ra trong từng chương của đề án, những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sẽ được tác giả thực hiện như sau:

Các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp luật học so sánh (so sánh đương đại), phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về DNTN và kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới để làm cơ sở lý luận cho đề án nghiên cứu.

Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp sẽ được sử dụng để nghiên cứu các báo cáo, các bản án để nhằm đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật DNTN tại Việt Nam. Phương pháp tiếp cận liên ngành (lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế) cũng được sử dụng để đánh giá những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn thực hiện pháp luật về DNTN tại Việt Nam

Phương pháp phân tích và dự báo khoa học, phương pháp tiếp cận liên ngành được sử dụng chủ yếu trong việc xác định quan điểm, mục tiêu, đề xuất giải pháp hoàn thiện và khuyến nghị mô hình pháp luật về DNTN. Bên cạnh đó phương pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích xã hội – pháp luật được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu này cũng những kết quả nghiên cứu thu được cũng được tác giả kế thừa, phát triển trong quá trình giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề án, đặc biệt trong việc khuyến nghị các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật đối với DNTN tại Việt Nam

6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề án Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

6.1. Ý nghĩa khoa học của đề án

Đề án góp phần bổ sung cơ sở lý luận pháp luật về DNTN. Các giải pháp đề án nêu ra sẽ là luận cứ khoa học để góp phần hoàn thiện pháp luật về DNTN ở Việt Nam trong thời gian tới

6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề án

Đề án là nguồn tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp. Ngoài ra, Đề án cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên tại các cơ sở đào tạo của Việt Nam về những vấn đề liên quan đến pháp luật về DNTN ở Việt Nam.

7. Kết cấu đề án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề án có 3 chương:

  • Chương 1. Một số vấn đề lý luận pháp luật về Doanh nghiệp tư nhân
  • Chương 2. Thực trạng pháp luật về Doanh nghiệp tư nhân
  • Chương 3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về Doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

1.1. Khái quát pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường

1.1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp tư nhân Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Hiện nay, Khoản 1, Điều 188 LDN năm 2020 quy định:“DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”.

Từ điển Luật học đưa ra định nghĩa về “DNTN” như sau: “DNTN là cơ sở kinh doanh thuộc sở hữu của một cá nhân và cá nhân này phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình trước các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản tạo ra từ hoạt động kinh doanh”. Cách định nghĩa này tương đối giống với pháp luật về DNTN ở nước ta trong những năm gần đây. Theo Khoản 1 Điều 141 LDN năm 2005 “DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Đây là một khái niệm ngắn gọn giúp chúng ta phân biệt DNTN với các hình thức tổ chức kinh doanh khác. Các yếu tố cơ bản tạo nên khái niệm này và cũng là những đặc điểm quan trọng nhất, đó là “loại hình”, “chủ sở hữu” và “chế độ trách nhiệm”. Đến LDN năm 2014, tại Điều 183, LDN năm 2020 tiếp tục tái khẳng định quy định của LDN năm 2005: “DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”.

Theo tác giả: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”.

1.1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ.

DNTN không xuất hiện sự góp vốn giống như ở các công ty nhiều chủ sở hữu, nguồn vốn của doanh nghiệp cũng chủ yếu xuất phát từ tài sản của một cá nhân duy nhất. Chủ sở hữu DNTN có toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp như: cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành, định đoạt doanh nghiệp… Toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp sẽ thuộc về một mình chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa là cá nhân duy nhất đó sẽ có nghĩa vụ chịu mọi rủi ro trong kinh doanh.

Thứ hai, DNTN không có tư cách pháp nhân.

Một tổ chức được xem là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:

  • Được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật.
  • Có cơ cấu tổ chức theo luật định.
  • Có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản của mình.
  • Xuất phát từ sự tách bạch về tài sản, pháp nhân nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Đối với DNTN, tất nhiên loại hình doanh nghiệp này muốn đưa vào hoạt động cũng phải được thành lập, có cơ cấu tổ chức theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, DNTN lại thiếu đi 02 điều kiện: Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Một là, sự tách bạch về tài sản giữa doanh nghiệp và chủ sở hữu.

Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp. Tài sản của DNTN không tách bách hoàn toàn với tài sản của chủ sở hữu. Do đó DNTN không thể tham gia vào các quan hệ tài sản một cách độc lập, cũng như không thể tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.

Hai là, điều kiện về một “nhân cách pháp lý”, xuất phát từ việc chỉ do một cá nhân làm chủ và không có sự tách bạch về tài sản, DNTN không thể nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Thứ ba, Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn trước khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động

Trách nhiệm vô hạn là trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp, theo đó chủ sở hữu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình, kể cả tài sản không được huy động vào kinh doanh thông qua doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm này chỉ đặt ra khi doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ, được áp dụng đối với chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh trong công ty hợp danh.

Thứ tư, DNTN không có quyền phát hành các loại chứng khoán nào

Pháp luật quy định chủ sở hữu DNTN không được phép phát hành bất kỳ một loại cổ phiếu nào để huy động vốn, điều này nhằm bảo đảm cho DNTN luôn giữ được tính đặc trưng một chủ sở hữu.

Ngoài ra, một số đặc điểm khác của DNTN thể hiện thông qua chủ sở hữu DNTN Chủ DNTN chỉ được thành lập một DNTN, chủ DNTN không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên của công ty hợp danh DNTN không có quyền góp vốn, thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty TNHH hoặc CTCP.

1.1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường

Trong những năm gần đây, trên bình điện lý luận và thực tiễn các doanh nghiệp, công ty thuộc khu vực KTTN trong đó có DNTN đã có những bước phát triển vượt bậc, đóng góp đáng kể trong sự chuyển mình phát triển của kinh tế Việt Nam ta. Có thể khái quát vai trò của DNTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cụ thể như sau:

  • Thứ nhất, DNTN huy động nguồn vốn từ xã hội vào hoạt động sản xuất kinh doanh
  • Thứ hai, DNTN tạo ra nhiều cơ hội việc làm.
  • Thứ ba, khu vực KTTN trong đó có DNTN góp phần làm cho nền kinh tế phát triển năng động hơn.
  • Thứ tư, DNTN góp phần tạo nguồn thu ngân sách nhà nước.

1.1.2. Khái niệm, đặc trưng pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

1.1.2.1. Khái niệm pháp luật về doanh nghiệp tư nhân Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Hiện nay, hệ thống pháp luật về DNTN tại Việt Nam hiện nay bao gồm LDN 2020 và Nghị định 47/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều về LDN, Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị định 01/2021/NĐ-CP),… ngoài ra còn có các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác, trong đó LDN 2020 là văn bản pháp luật chuyên ngành chủ đạo chứa đựng quy định pháp luật điều chỉnh DNTN.

Trong khoa học luật có thể hiểu: “LDN là tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực doanh nghiệp cụ thể trong hoạt động thành lập doanh nghiệp, hoạt động tổ chức quản lý doanh nghiệp, hoạt động tổ chức loại doanh nghiệp và phá sản, giải thể doanh nghiệp”. Từ các phân tích trên với tư cách là một chế định của LDN có thể hiểu: “Pháp luật về DNTN là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát trong quá trình thành lập hoạt động và chấm dứt hoạt động của DNTN”

1.1.2.2. Đặc trưng pháp luật về doanh nghiệp tư nhân Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh.

Phạm vi điều chỉnh pháp luật là phạm vi các quan hệ xã hội được pháp luật nói chung điều chỉnh. Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về DNTN gồm các quy tắc ứng xử của chủ thể trong quá trình thành lập, hoạt động, chuyển đổi, chấm dứt hoạt động DNTN, các hành vi bị cấm trong quá trình hoạt động của DNTN và các hoạt động, vấn đề liên quan của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phát sinh trong quá trình quản lý, giám sát hoạt động DNTN.

Thứ hai, về đối tượng điều chỉnh của pháp luật về DNTN.

Có thể chia đối tượng điều chỉnh của pháp luật về DNTN gồm ba nhóm sau:

  • Nhóm quan hệ quản lý DNTN: là quan hệ phát sinh giữa DNTN và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, trong đó cơ quan quản lý về DNTN thực hiện chức năng quản lý đối với DNTN.
  • Nhóm quan hệ quản lý nội bộ của DNTN: là quan hệ phát sinh trong hoạt động điều hành của chủ DNTN đối với người lao động trong nội bộ doanh nghiệp.
  • Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của DNTN là các quan hệ phát sinh trong việc thực hiện sản xuất hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời giữa DNTN và các chủ thể kinh doanh khác có liên quan.

Thứ ba, về phương pháp điều chỉnh của pháp luật về DNTN. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

  • Phương pháp mệnh lệnh: dùng để điều chỉnh các nhóm quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền với các DNTN, chủ sở hữu DNTN.
  • Phương pháp thỏa thuận: điều chỉnh quan hệ giữa DNTN tư nhân với nhau và với các chủ thể khác khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự…

Thứ tư, về chủ thể của pháp luật về DNTN.

Chủ thể pháp luật là những cá nhân, tổ chức có quyền và nghĩa vụ hợp pháp theo quy định của pháp luật. DNTN không có tư cách pháp nhân, không có khả năng tự nhân danh mình tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập. Do đó, chủ sở hữu của DNTN mới là người tham gia vào các quan hệ này. Nói cách khác, chủ thể của pháp luật về DNTN là chủ sở hữu DNTN.

1.1.3. Nội dung pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

  • Thứ nhất, nhóm quy phạm pháp luật về thành lập DNTN.
  • Thứ hai, nhóm quy phạm pháp luật về chủ sở hữu DNTN.
  • Thứ ba, nhóm quy phạm pháp luật về vốn và tài sản của DNTN.
  • Thứ tư, nhóm quy phạm pháp luật về quản trị DNTN.
  • Thứ năm, nhóm quy phạm pháp luật về về cho thuê, bán, chuyển đổi, tạm ngừng kinh doanh, giải thể và phá sản DNTN.
  • Thứ sáu, nhóm quy phạm pháp luật về quản lý và giám sát hoạt động của DNTN của cơ quan nhà nước.

1.2. Các yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện pháp luật về DNTN Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

1.2.1. Sự hoàn thiện hệ thống pháp Luật Doanh nghiệp

LDN năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những tác động tích cực trong việc tạo lập một môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, thúc đẩy thành lập, phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Với tầm quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, LDN đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế và sự bình ổn xã hội. Ngày 17 tháng 6 năm 2020 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 đã thông qua LDN năm 2020. Tuy nhiên, bên cạnh những thay đổi tích cực, quy định về DNTN trong LDN năm 2020 vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế.

1.2.2. Sự phù hợp giữa doanh nghiệp tư nhân với môi trường thương mại tại Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu sự không phù hợp của DNTN với môi trường thương mại tại Việt Nam cho thấy đó là kết quả từ các nguyên nhân cơ bản sau:

Trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay, mô hình doanh nghiệp một chủ sở hữu dường như không thật sự hiệu quả nên được ít nhà đầu tư quan tâm chọn lựa vì khá nhiều lý do. Xu hướng chung, trong khi các nhà kinh doanh tại Việt Nam thường có nhu cầu hợp tác, liên kết, mở rộng quan hệ, đồng thời mong muốn san sẻ bớt rủi ro kinh doanh thì chủ DNTN luôn bị đặt vào tình trạng rất bất lợi so với nhà quản lý một doanh nghiệp. Bởi chủ DNTN luôn phải tự gánh chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của DNTN. Vì thế, chủ DNTN thường không dám đầu tư vào các khu vực rủi ro cao hoặc không có nhiều sáng kiến, quyết định kinh doanh táo bạo để phát triển DNTN. Thực tiễn kinh doanh tại Việt Nam trong một số năm gần đây cho thấy, nếu so sánh với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khi chủ sở hữu công ty này luôn chỉ phải chịu rủi ro trong phạm vi số vốn góp vào công ty thì DNTN lại càng tỏ ra kém hiệu quả và thiếu an toàn cho chính người chủ của nó. Vì thế, số lượng công ty được thành lập dưới hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên luôn chiếm áp đảo so với số lượng DNTN. Nguồn vốn của DNTN chủ yếu chỉ được trông chờ từ sự đóng góp của chủ sở hữu doanh nghiệp này. Vì vậy, có thể nói, đây lại là sự khó khăn, hạn chế của DNTN.

Đồng thời đây còn là sự kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Tuy nhiên, hạn chế rất lớn của DNTN là không có tư cách pháp nhân nên đương nhiên khả năng cạnh tranh sẽ yếu hơn so với các loại công ty có tư cách pháp nhân. Vì vậy, DNTN vẫn thường bị xem là không bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác khi tham gia đầu tư, kinh doanh. Ít nhiều điều này đã ảnh hưởng lên tâm lý của các nhà đầu tư khi dự định lựa chọn kinh doanh dưới hình thức của DNTN. Từ đó, có thể đi đến khẳng định, DNTN là hình thức kinh doanh chỉ có quy mô nhỏ, lẻ và khép kín nên không mang lại nhiều đóng góp cho nền kinh tế quốc gia.

Tiểu kết Chương 1 Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Từ lý luận và thực tiễn ở Việt Nam đã chứng minh rằng các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, trong đó có DNTN đã và đang đóng vai trò động lực quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nước ta, thể hiện trước hết ở tỷ lệ đóng góp ngày càng cao của khu vực kinh tế tư nhân, trong đó có DNTN vào GDP và nguồn thu ngân sách, cũng như thể hiện ở hiệu quả sản xuất kinh doanh và ở nhiều phương diện khác…

Với tư cách là một phần của khu vực KTTN, DNTN đã và đang góp phần huy nguồn lực tự nhân dân và trong xã hội vào sản xuất kinh doanh, là cùng với các doanh nghiệp khác của khu vực kinh tế tư nhân tạo động lực chính cho tăng trưởng kinh tế, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế -xã hội đất nước.

Thông qua việc phân tích vấn đề lý luận về DNTN, pháp luật về DNTN và các yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện pháp luật về DNTN, tác giả đưa ra cái hình tổng quát về cấu trúc pháp lý của DNTN và pháp luật về DNTN. Từ đó làm cơ sở để đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật cũng như nhìn thấy được những hạn chế, rào cản đối với việc thực hiện chế định này trên thực tế.

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

2.1. Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về doanh nghiệp tư nhân

2.1.1. Quy định về thành lập doanh nghiệp tư nhân

Về mặt pháp lý, thành lập DNTN là thủ tục hành chính do người sáng lập DNTN hoặc đại diện của họ tiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc đăng ký thành lập DNTN phải tuân thủ trình tự thủ tục nhất định và phải đảm bảo những điều kiện sau:

2.1.1.1. Điều kiện thành lập doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, điều kiện chung về thành lập doanh nghiệp

Một là, điều kiện về chủ thể đăng ký kinh doanh

Theo quy định của pháp luật, mọi cá nhân đều có quyền thành lập DNTN khi đáp ứng đủ các điều sau đây:

  • Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của BLDS năm 2015.
  • Không thuộc trường hợp bị cấm thành lập DNTN theo Khoản 2 Điều 17 LDN 2020.

Hai là, điều kiện về tên doanh nghiệp Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Tên doanh nghiệp được quy định từ điều 37 đến điều 41 LDN 2020. Về cơ bản, tên doanh nghiệp phải đảm bảo không trùng hay gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp đã đăng ký trên phạm vi cả nước. Có thể đặt tên doanh nghiệp bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài nhưng phải hợp thuần phong mỹ tục và văn hóa Việt Nam. Cấu tạo tên bao gồm loại hình doanh nghiệp + tên riêng.

Ba là, điều kiện về trụ sở doanh nghiệp được quy định tại Điều 42 LDN 2020.

Bốn là, điều kiện về ngành nghề kinh doanh quy định tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư 2020 và Luật số 03/2022/QH15 với 228 ngành nghề.

Năm là, điều kiện về con dấu.

Con dấu là một trong những điểm mới của LDN 2020 được quy định tại Điều 43 của LDN 2020. Bắt đầu từ khi LDN 2020 có hiệu lực con dấu có thể dưới hình thức chữ ký số, doanh nghiệp không phải thông báo mẫu dấu trước khi sử dụng. Một số nội dung như tên doanh nghiệp, mã số doanh nghiệp mà LDN 2014 quy định con dấu phải thể hiện thì nay LDN 2020 không đề cập và việc quản lý lưu trữ con dấu được mở rộng đến doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp có đầu ban hành cũng có thể quản lý con dấu.

Sáu là, điều kiện về vốn: Trong trường hợp ngành nghề kinh doanh có vốn pháp định thì vốn đầu tư phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định.

Thứ hai, điều kiện riêng về thành lập DNTN quy định tại Điều 188 LDN 2020.

2.1.1.2. Hồ sơ thành lập doanh nghiệp tư nhân

Hồ sơ thành lập DNTN được quy định tại Điều 21, 43 Nghị định 01/2021/NĐ-CP.

2.1.1.3. Trình tự thủ tục đăng ký doanh nghiệp tư nhân Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Trình tự thủ tục thành lập DNTN được quy định tại LDN 2020 và Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp. Đây là đảm bảo pháp lý quan trọng để các chủ thể khi tham gia giao dịch đối với DNTN dễ dàng xác định mối quan hệ giao dịch, địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành.

2.1.2. Quy định về chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân

Theo Điều 188 LDN 2020 quy định mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN, và do một cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, từ LDN 2014 đã bổ sung quy định “chủ DNTN không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh”, đến nay quy định này vẫn được giữ nguyên tại khoản 4 Điều 188 LDN 2020. Đồng thời, khoản 2 Điều 17 LDN 2020 đặt ra hạn chế đối với một số chủ thể không được thành lập DNTN.

2.1.3. Quy định về vốn và tài sản của doanh nghiệp tư nhân

Theo quy định tại khoản 1 Điều 189 LDN năm 2020, vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.

Để đảm bảo việc kiểm soát và quản lý doanh nghiệp được chặt chẽ, khoản 2 Điều 189 LDN năm 2020 yêu cầu toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

2.1.4. Quy định về quản trị doanh nghiệp tư nhân

Quản trị DNTN là quá trình tổ chức, điều hành và kiểm soát các hoạt động của DNTN, bao gồm sự điều phối các tài nguyên và nhân lực để đảm bảo hiệu quả và hiệu suất cao nhất trong hoạt động của DNTN. Quản trị DNTN được quy định tại Điều 190 LDN năm 2020.

2.1.5. Quy định về cho thuê, bán, chuyển đổi, tạm ngừng kinh doanh, giải thể và phá sản DNTN

2.1.5.1. Cho thuê doanh nghiệp tư nhân

Cho thuê DNTN được hiểu là chuyển giao quyền chiếm hữu và quyền sử dụng toàn bộ DNTN cho một chủ thể khác trong thời gian nhất định nhằm mục đích thu lợi. Cho thuê doanh nghiệp bao gồm cho thuê lại toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp, gồm nhà xưởng, máy móc, nhân lực, vốn và cả thương hiệu của doanh nghiệp. Được quy định tại Điều 191 LDN năm 2020, Điều 60 Nghị định 01/2021/NĐ-CP. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

2.1.5.2. Bán doanh nghiệp tư nhân

Theo quy định tại Điều 192 LDN năm 2020, bán doanh nghiệp là việc chủ DNTN chuyển nhượng toàn bộ tài sản trong DNTN cho người mua, tuy nhiên không chuyển nhượng tư cách pháp lý. Khi doanh nghiệp bị bán, thì thực chất tại thời điểm chuyển giao, DNTN đã chấm dứt sự tồn tại, tài sản và tư cách cá nhân của chủ sở hữu DNTN không còn.

2.1.5.3. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp đối với DNTN được quy định tại khoản 1 Điều 205 LDN 2020. Về trình tự thủ tục và hồ sơ chuyển đổi loại hình DNTN sang loại hình doanh nghiệp khác được quy định tại được quy định tại khoản 2 Điều 205 LDN 2020 và Điều 26 Nghị định 01/2021/NĐ-CP.

2.1.5.4. Tạm ngừng kinh doanh

Tạm ngừng hoạt động kinh doanh là tình trạng pháp lý của trường hợp doanh nghiệp đang trong thời gian thực hiện tạm dừng thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời gian nhất định theo quy định tại khoản 1 Điều 206 Luật Doanh nghiệp 2020.

2.1.5.5. Giải thể doanh nghiệp tư nhân

Giải thể DNTN được quy định từ Điều 207 đến Điều 210 LDN 2020, Điều 70, 71 Nghị định 01/2021/NĐ-CP.

2.1.5.6. Phá sản doanh nghiệp tư nhân

Trình tự thủ tục phá sản DNTN nói riêng, các loại doanh nghiệp nói chung theo quy định tại Luật Phá sản 2014.

2.1.6. Quy định về quản lý và giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân

Các quy định về quản lý, giám sát của Nhà nước đối với hoạt động DNTN bao gồm:

Xây dựng hành lang pháp lý vững chắc nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng hoạt động một cách hiệu quả, phát huy thế mạnh, góp phần phát triển nền kinh tế. Trách nhiệm này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, LDN, Luật Đầu tư, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự…

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước với DNTN: được quy định tại Điều 215, 216 LDN năm 2020.

2.2. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về doanh nghiệp tư nhân Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

2.2.1. Ưu điểm của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

  • Thứ nhất, LDN năm 2020 đã sửa đổi quy định chủ DNTN không được trở thành thành viên công ty hợp danh.
  • Thứ hai, LDN năm 2020 bổ sung quy định về thực hiện quyền của chủ DNTN trong một số trường hợp đặc biệt.
  • Thứ ba, LDN năm 2020 bổ sung quy định cho phép DNTN được chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thành công ty cổ phần, công ty hợp danh.

2.2.2. Hạn chế của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, về tư cách pháp lý của DNTN trong LDN năm 2020.

Sự hiện diện của DNTN trong LDN với tư cách là một loại hình doanh nghiệp giống như công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn là không hợp lí và chưa phù hợp với bản chất pháp lí của loại hình doanh nghiệp này.

Thứ hai, về tên gọi loại hình “doanh nghiệp tư nhân”

Trên thực tế hiện nay, xuất phát từ tên gọi của DNTN chưa thực sự phản ánh đúng bản chất pháp lí của loại hình doanh nghiệp này nên vẫn có rất nhiều trường hợp sử dụng thuật ngữ “DNTN” để chỉ tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, thay vì để chỉ một loại hình doanh nghiệp với những đặc trưng cơ bản như đã trình bày ở trên.

Thứ ba, một số hạn chế trong quy định về thành lập doanh nghiệp tư nhân.

Quy định về việc thành lập DNTN của nhà đầu tư là cá nhân có quốc tịch nước ngoài trong LDN năm 2020 và Luật Đầu tư (LĐT) năm 2020 chưa đảm bảo sự thống nhất và rõ ràng.

  • Quy định về đặt tên cho Doanh nghiệp.

Khoản 3 Điều 38 LDN 2020 quy định nghiêm cấm đặt tên doanh nghiệp “sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc”. Tuy nhiên, ngoài Thông tư số 10/2014/TT-BVHTTDL hướng dẫn về đặt tên doanh nghiệp phù hợp với truyền thống văn hóa lịch sử, thuần phong mỹ tục của dân tộc đã hết hiệu lực vào 30/8/2016, việc xác định, quy chuẩn những từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử và thuần phong mỹ tục của dân tộc lại không có hướng dẫn cụ thể các trường hợp. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

  • Về đăng ký trụ sở doanh nghiệp.

Theo pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp, cá nhân tiến hành thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp phải kê khai địa chỉ trụ sở. Tuy nhiên, trên thực tế không ít DNTN đã kê khai không đúng địa chỉ trụ sở, lấy địa chỉ trụ sở một nơi nhưng lại đặt hoạt động của doanh nghiệp tại nơi khác, lấy địa chỉ nhà riêng của cá nhân, hộ gia đình không liên quan đến doanh nghiệp để làm trụ sở Đặc biệt có nhiều trường hợp đăng ký trụ sở là nhà riêng nhưng lấy địa điểm là chung cư để đặt văn phòng làm việc.

Thứ tư, bất cập trong quy định về vốn và tài sản của doanh nghiệp tư nhân – Bất cập trong quy định về vốn của doanh nghiệp tư nhân.

Chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình đối với mọi nghĩa vụ tài chính phát sinh trong hoạt động kinh doanh của DNTN. Tuy nhiên pháp luật chưa quy định rõ ràng về liên đới chịu trách nhiệm. Trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nếu không có thoả thuận thì xác định là tài sản chung hai vợ chồng.

  • Không cần thiết quy định về hạn chế quyền góp về việc hạn chế quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp của DNTN.

Thứ năm, một số bất cập trong quy định về người đại diện của DNTN

  • Mâu thuẫn trong quy định về người đại diện theo pháp luật của DNTN giữa LDN năm 2020 và BLDS năm 2015.
  • Mâu thuẫn về người đại diện của DNTN trong LDN và BLDS còn ảnh hưởng trực tiếp tới thực tiễn xét xử và giải quyết tranh chấp tại Tòa án giữa các chủ thể đối với DNTN.

Thứ sáu, bất cập trong quy định về bán, cho thuê DNTN

  • Quy định về bán DNTN.

Quy định về bán DNTN tại Điều 192 dẫn đến một số rủi ro đến mới chủ nợ và khách hàng của DNTN.

  • Quy định về cho thuê DNTN.

Pháp luật đã quy định cụ thể về việc cho thuê lại DNTN, tuy nhiên khi thực hiện trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc như chưa có quy định về trách nhiệm và chế tài đối với ngân hàng khi thực hiện việc ký quỹ hoạt động cho thuê, chưa có sự hướng dẫn cụ thể trách nhiệm phối hợp kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc hoạt động của các cá nhân, tổ chức thuê lại DNTN. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Thứ bảy, bất cập trong việc thực hiện quyền của chủ DNTN

  • Vấn đề thừa kế DNTN trong trường hợp chủ DNTN.

LDN năm 2020 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP hoàn toàn không quy định cơ sở pháp lí cho việc chuyển nhượng DNTN hay thủ tục chuyển nhượng DNTN? Có thể hiểu, Ban soạn thảo LDN năm 2020 đang muốn đề cập việc bán DNTN cho cá nhân, tổ chức khác nhưng rõ ràng, việc sử dụng thuật ngữ thiếu tính thống nhất sẽ khiến quá trình áp dụng luật gặp nhiều khó khăn trên thực tế.

Tiểu kết Chương 2

Thời gian qua, Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Nhìn chung, việc cải cách sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật DNTN trong những năm đã góp phần giúp DNTN tháo gỡ, giải phóng khỏi những bất cập vướng mắc giảm thiểu thời gian DNTN dùng để giải quyết vấn đề về thủ tục hành chính, tranh chấp phát sinh trong hoạt động của mình…., tuy nhiên thực tế pháp luật về DNTN vẫn tồn tại nhiều hạn chế, vai trò vị thế DNTN vẫn chưa thể tương xứng với tiềm năng to lớn của DNTN.

Để phát huy hiệu quả vai trò của doanh nghiệp nói chung và các DNTN nói riêng đối với nền kinh tế trong bối cảnh mới, cần đẩy mạnh hoàn thiện khung khổ pháp lý đối với khu vực này. Thực trạng quy định pháp luật, ưu – nhược điểm của pháp luật về DNTN được phân tích tại chương 2 sẽ là tiền đề vững chắc để tác giả đánh giá, nhận xét về thực tiễn thực hiện pháp luật về DNTN trong Chương 3. Từ đó giúp tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong chương 3 được chính xác và mang tính khả thi.

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN

3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

3.1.1. Những kết quả đạt được từ thực tiễn thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

Là một bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, KTTN ở Việt Nam đang ngày càng có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước từng bước trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn từ cuối năm 2019 đến đầu năm 2022, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 toàn cầu gây ngừng trệ chuỗi logistics, tuy nhiên khối KTTN nói chung và DNTN nói riêng đã góp phần không nhỏ, làm đầu tàu kéo toàn bộ nền kinh tế, đưa kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế có tăng trưởng dương trong giai đoạn này. Vai trò của khu vực KTTN nói chung và DNTN nói riêng ngày càng được cải thiện và có tiếng nói trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp ngày càng lớn trong việc huy động các nguồn lực xã hội cho việc phát triển hoạt động kinh doanh thương mại, tạo ra hàng trăm nghìn việc làm mỗi năm, cải thiện đời sống của nhân dân, từ đó đảm bảo các vấn đề về an sinh xã hội và đóng góp nguồn thu vào ngân sách nhà nước.

Để có được thành tựu trên, chúng ta không thể không nhắc đến những yếu tố sau:

  • Thứ nhất, sự thay đổi tư duy và quan điểm cởi mở của Đảng và Nhà nước về việc phát triển khu vực KTTN trong đó có DNTN Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.
  • Thứ hai, đẩy mạnh cải cách thể chế, tạo động lực cho KTTN nói chung và DNTN nói riêng kinh doanh thuận lợi, phát triển.
  • Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực cán bộ trong các cơ quan nhà nước ngày càng được chú trọng cải thiện.
  • Thứ tư, tác động tích cực của cách mạng công nghiệp 4.0.

3.1.2. Những vướng mắc bất cập phát sinh từ thực tiễn thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, quy mô DNTN không lớn.

Thứ hai, số lượng DNTN hoạt động có kết quả kinh doanh có xu hướng giảm.

Thứ ba, những rào cản đối với doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng còn tương đối nhiều.

  • Rào cản về thủ tục hành chính.
  • Rào cản trong môi trường kinh doanh.
  • Rào cản về tiếp cận vốn và tín dụng.

Thứ tư, ý thức thực hiện pháp luật của DNTN chưa cao.

Thứ năm, quản lý nhà nước đối với DNTN còn nhiều yếu kém.

3.1.3. Nguyên nhân những hạn chế

  • Thứ nhất, nhận thức về DNTN chưa có sự thống nhất.
  • Thứ hai, hệ thống văn bản quy định chồng chéo, không rõ ràng thiếu hiệu quả.
  • Thứ ba, sự yếu kém về năng lực cán bộ công chức tham gia quản lý nhà nước, cán bộ hệ thống tư pháp.
  • Thứ tư, sự yếu kém trong năng lực quản trị doanh nghiệp của chủ DNTN.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

3.2.1.1. Hoàn thiện quy định liên quan đến tư cách pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

LDN năm 2020 không nên xác định DNTN là một loại hình doanh nghiệp giống như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh. Do đó, về lâu dài, cần tách DNTN ra khỏi LDN và gộp chung với các mô hình cá nhân kinh doanh khác đang tồn tại hiện nay để điều chỉnh bằng một văn bản luật riêng.

3.2.1.2. Hoàn thiện cấu trúc về tên gọi đối với doanh nghiệp tư nhân

LDN năm 2020 nên thay đổi tên loại hình DNTN thành doanh nghiệp cá nhân hoặc doanh nghiệp cá thể. Chẳng hạn, Trung Quốc sử dụng thuật ngữ “DNTN cán nhân” để chỉ đến loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình (Luật DNTN cá nhân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1999). Bên cạnh đó, một số quốc gia khác trên thế giới như Singapore, Mỹ, Anh…..cũng sử dụng những tên gọi tương tự để chỉ hình thức tổ chức kinh doanh có các đặc điểm tương tự như DNTN ở Việt Nam, như: doanh nghiệp sở hữu duy nhất/đơn nhất (sole proprietorship), doanh nghiệp sở hữu cá nhân/cá thể (individual proprietorship), thương nhân duy nhất/đơn nhất (sole trader).

3.2.1.2. Hoàn thiện các quy định về thành lập doanh nghiệp tư nhân Thứ nhất, đối với quy định về tên doanh nghiệp.

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn để làm rõ quy định liên quan đến việc đặt tên cho doanh nghiệp nói chung cũng như DNTN nói riêng. Chẳng hạn, cần phải quy định rõ như thế nào là “danh nhân”, “nhân vật lịch sử”, “từ ngữ vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục”… Bên cạnh đó, cũng cần có quy định về trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa – thể thao, du lịch trong việc thẩm định tên doanh nghiệp. Ví du: các cơ quan văn hóa- thể thao và du lịch có trách nhiệm định nghĩa, liệt kê, lập danh sách các “danh nhân”, “nhân vật lịch sử”… để giúp cơ quan đăng ký kinh doanh dựa vào đó thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình.

Thứ hai, đối với vấn đề đăng ký trụ sở doanh nghiệp

Cần bổ sung những quy định xác minh tính xác thực về địa chỉ trụ sở ngay trong thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, phải yêu cầu người thực hiện đăng ký trụ sở có trách nhiệm với kê khai của mình, cơ quan đăng ký thành lập doanh nghiệp cần có công tác xác minh ngay từ đầu, trong trường hợp phát hiện phải có quy định chế tài xử lý phù hợp răn đe.

Thứ ba, LDN năm 2020 và LĐT năm 2020 cần quy định cụ thể, thống nhất về quyền thành lập DNTN của nhà đầu tư là cá nhân có quốc tịch nước ngoài. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Bổ sung quy định cụ thể về việc có hay không cho phép nhà đầu tư là cá nhân nước ngoài được quyền thành lập DNTN tại Việt Nam trong LDN năm 2020, LĐT năm 2020 và các văn bản pháp luật có liên quan.

Bổ sung quy định về việc mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp và quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tài sản của nhà đầu tư nước ngoài khi thành lập DNTN. Bên cạnh đó, để đảm bảo sự phù hợp với LĐT năm 2020, LDN năm 2020 cũng cần bổ sung giấy chứng nhận đăng kí đầu tư vào hồ sơ đăng kí DNTN để cơ quan đăng kí kinh doanh có đủ cơ sở cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp đối với nhà đầu tư là cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam.

3.2.1.3. Hoàn thiện quy định về vốn và tài sản doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, yêu cầu chủ doanh nghiệp tư nhân bổ sung giấy tờ trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp để minh chứng tài sản mà chủ doanh nghiệp dùng để thành lập doanh nghiệp là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của cá nhân chủ doanh nghiệp.

Thứ hai, cần có quy định pháp luật để cơ sở pháp lý rõ ràng tạo điều kiện cho DNTN tiếp cận nguồn vốn nhằm thúc đẩy DNTN đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh.

Khi xây dựng quy định pháp luật về hỗ trợ vốn vay DNTN cần phải có sự phối hợp giữa các bên cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng, DNTN theo hưởng như sau:

Đối với DNTN: hoàn thiện tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh đặc biệt là hoạt động sử dụng vốn. Bởi vì nếu không minh bạch trong vấn đề tài chính thì ngân hàng và tổ chức tín dụng không thể tin tưởng cấp nguồn vốn vay cho doanh nghiệp và chấp nhận rủi ro cho vay.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước: cần hoàn thiện cơ sở pháp lý hỗ trợ khuyến khích DNTN tiếp cận nguồn vốn nhưng kèm theo đó cần phải xây dựng hành lang pháp lý để đảm bảo tránh rủi ro cho ngân hàng và các tổ chức tín dụng khi cho DNTN vay vốn.

Đối với ngân hàng và tổ chức tín dụng: cần quy định rõ ràng các điều kiện vay, thể chấp để ngân hàng và các tổ chức tín dụng có thể cho vay. Ngoài ra, cần xây dựng bộ tiêu chỉ rõ ràng về hạn mức vay vốn dựa trên định giá về tài sản DNTN, phương án kinh doanh, rủi ro trong kinh doanh…

Thứ ba, lược bỏ quy định tại khoản 4 Điều 188 LDN năm 2020.

3.2.1.4. Hoàn thiện quy định về quản trị doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 190 LDN năm 2020 về người đại diện theo pháp luật của DNTN.

Sửa đổi quy định về người đại diện theo pháp luật của DNTN tại khoản 3 Điều 190 LDN năm 2020 nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy định của BLDS năm 2015. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Thứ hai, quy định cụ thể hơn về việc bán DNTN tại Điều 192 LDN năm 2020.

LDN năm 2020 cần bổ sung quy định cụ thể về những đối tượng có quyền mua DNTN, trong đó loại trừ những đối tượng bị cấm thành lập, quản lí doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 17 và đối tượng không được trở thành chủ DNTN theo khoản 3 Điều 188 mua DNTN..

Bên cạnh đó, LDN cần bổ sung quy định về nghĩa vụ thông báo của chủ DNTN trước khi bán doanh nghiệp và chế tài trong trường hợp chủ DNTN không thông báo về các khoản nợ và các hợp đồng, nghĩa vụ được xác lập trước thời điểm chuyển giao doanh nghiệp cho người mua. Đồng thời, hồ sơ đăng kí thay đổi chủ DNTN trong trường hợp bán DNTN cần bổ sung các thông tin như quy định tại khoản 1 Điều 145 LDN năm 2005 hoặc cam kết của chủ DNTN về việc chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ phát sinh trước thời điểm bán DNTN để tránh phát sinh tranh chấp giữa người mua DNTN với các chủ nợ cũ của DNTN. Bên cạnh đó, LDN năm 2020 cũng cần quy định chủ DNTN, người mua DNTN phải tuân thủ quy định của pháp luật dân sự về chuyển giao quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng mà chủ DNTN cũ đã xác lập và vẫn đang còn hiệu lực.

Thứ ba, về cho thuê DNTN.

Liên quan đến vấn đề cho thuê DNTN, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần sớm ban hành các văn bản quy định bổ sung các nội dung sau:

Về trách nhiệm và chế tài đối với ngân hàng khi thực hiện việc ký quỹ hoạt động cho thuê, chưa có sự hướng dẫn cụ thể trách nhiệm phối hợp kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc hoạt động của các cá nhân, tổ chức thuê lại DNTN.

Việc cho thuê lại doanh nghiệp được LDN 2020 dừng lại ở việc báo cáo cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, không có quy định bởi vậy cần quy định việc phải báo cáo với cơ quan quản lý tại địa phương nơi DNTN đang hoạt động để tạo điều kiện thuận lợi có các đơn vị, cơ quan này tiến hành quản lý và giám sát DNTN đạt được hiệu quả

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung các quy định về việc thực hiện quyền của chủ DNTN trong một số trường hợp đặc biệt để đảm bảo tính thống nhất giữa các quy định trong LDN, và khả năng bao quát các vấn đề pháp lí có thể phát sinh trên thực tế.

  • Cụ thể: Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Khoản 2 Điều 193 LDN năm 2020 cần được bổ sung quy định về việc thực hiện quyền của chủ DNTN khi chủ DNTN chết nhưng những người thừa kế của chủ DNTN thuộc đối tượng bị cấm thành lập, quản lí doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 17 và đối tượng không được trở thành chủ DNTN theo khoản 3 Điều 188. Có thể thấy, mặc dù thuộc đối tượng không được trở thành chủ DNTN nhưng người thừa kế của chủ DNTN vẫn được xác lập quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản thừa kế theo quy định pháp luật. Vì vậy, những người thừa kế của chủ DNTN vẫn có quyền trong việc định đoạt DNTN – với tư cách là một di sản thừa kế. Việc định đoạt DNTN có thể thực hiện thông qua thủ tục giải thể doanh nghiệp, bán doanh nghiệp cho nhà đầu tư khác trong trường hợp những người thừa kế thuộc đối tượng bị cấm thành lập, quản lí doanh nghiệp hoặc đăng kí chuyển đổi DNTN thành công ty trong trường hợp những người thừa kế thuộc đối tượng bị cấm trở thành chủ DNTN.

Đối với quy định tại khoản 3 Điều 193, LDN năm 2020 cần bổ sung quy định về việc giải thể để chấm dứt sự tồn tại của DNTN và giải quyết quyền lợi cho chủ nợ, người lao động, các tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với chủ DNTN trong trường hợp chủ DNTN chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế.

Ngoài ra, để đảm bảo sự thống nhất về mặt thuật ngữ, khoản 5 Điều 193 LDN năm 2020 nên sửa quy định cho phép chủ DNTN chuyển nhượng DNTN cho cá nhân, tổ chức khác thành cho phép chủ DNTN bán DNTN cho cá nhân, tổ chức khác, trong trường hợp chủ DNTN bị toà án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thuộc phạm vi ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp.

3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

3.2.2.1. Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân

Một là, phần lớn các chủ DNTN không có kiến thức về quản trị doanh nghiệp. Việc quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp phần lớn dựa vào kinh nghiệm gia đình hoặc áp dụng kinh nghiệm từ phương thức kinh doanh nào đã thành công trên thị trường vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Phương thức này để lại những hậu quả nặng nề trong quản lý DNTN, do đó phải có những biện pháp hợp lý để hạn chế những tiêu cực phương thức này.

Để nâng cao năng lực quản trị, trước hết chủ sở hữu doanh nghiệp cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vai trò và các nguyên tắc quản trị, làm cơ sở cho quá trình thực hành quản trị. Khi nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vai trò và các nguyên tắc quản trị, chủ sở hữu hướng doanh nghiệp đi theo những nguyên tắc quản trị tốt nhất để tối đa hóa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, nâng cao khả năng tiếp cận nhu cầu khách hàng, và thực hiện tốt hơn việc tuân thủ và giảm xung đột lợi ích giữa các bên có quyền lợi liên quan. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Hai là, DNTN phải xây dựng văn hóa doanh nghiệp minh. Đây là hình thức doanh nghiệp kết nối trong vấn đề quản trị nội bộ, vừa là cách xây dựng hình ảnh doanh nghiệp của mình trong con mắt của bạn bè đối tác. Tuân thủ đạo đức kinh doanh, đạo đức nghề nghiệp kết hợp văn hóa doanh nghiệp là động lực để doanh nghiệp phát triển. Nhiều doanh nghiệp thực hiện tốt yêu cầu trên thì nước ta sẽ có công đồng doanh nghiệp vững mạnh, môi trường kinh doanh cũng từ đó sẽ được cải thiện theo hướng tích cực.

Ba là, phải thường xuyên cập nhật thông tin về cơ chế, chính sách, các quy định của pháp luật; tìm khiếm thông tin và học tập cách làm hiệu quả từ thực tiễn Việt Nam hoặc nước ngoài; cần chủ động tham gia vào các diễn đàn đối thoại doanh nghiệp, đây là cơ hội để bản thân chủ DNTN phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm tìm kiếm những giải pháp, sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền và các doanh nghiệp bạn về tự do kinh doanh của mỗi người dân..

3.2.2.2. Đối với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền

Một là, ban hành cơ chế thúc đẩy DNTN mạnh dạn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh, theo kịp tốc độ phát triển, ứng dụng khoa học – công nghệ trên nguyên tắc hiệu quả; thích ứng với sự thay đổi mô hình kinh doanh xu thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu. Đẩy mạnh thực thi và bảo vệ những nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao ý thức tuân thủ, thượng tôn pháp luật. Phải có sự đấu tranh quyết liệt với các hành vi tham nhũng, quan liêu trong hoạt động quản lý nhà nước đối với DNTN.

Hai là, Nhà nước phải tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân, giữa DNTN với các loại hình doanh nghiệp khác thông qua việc ban hành các chính sách, quy định đảm bảo nguyên tắc đúng, đủ, bình đẳng giữa các chủ thể trong hoạt động hỗ trợ tiếp cận vốn, tiếp cận thị trường, phát triển nguồn lao động, chuyển giao công nghệ, hoặc hỗ trợ thực thi pháp luật của DN

Ba là, cần đẩy mạnh việc hiện đại hoá, Chính phủ điện tử, Chính phủ số ở mọi lĩnh vực nhằm giảm thiểu và rút ngắn thủ tục hành chính, hạn chế bớt các khâu yêu cầu con người tham gia nhằm tăng cường tính minh bạch. Tiếp tục đồng bộ hoá cơ sở dữ liệu doanh nghiệp quốc gia, không chỉ tập trung đầu tư phát triển hệ thống mạng mỗi khu vực kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn mà còn cả các địa phương, thay đổi tư duy các cơ quan nhà nước giám sát và quản lý từ vai trò can thiệp trực tiếp sang hỗ trợ DNTN phát triển.

Bốn là, tập trung vào các giải pháp hỗ trợ DNTN vừa và nhỏ, giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, ổn định sản xuất, kinh doanh, đảm bảo đời sống và an toàn cho người lao động. Đồng thời, tập trung các giải pháp tháo gỡ những khó khăn về dòng tiền; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận khoản vay mới để khôi phục sản xuất, kinh doanh. Khuyến khích, hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân xây dựng và phát triển thương hiệu, nâng cao năng lực quản trị, trình độ công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp… Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Năm là, tập trung đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, làm chủ được khoa học công nghệ để phù hợp với nhiệm vụ đặt ra đối với đội ngũ công chức, viên chức nhà nước trong lĩnh vực quản lý, giám sát hoạt động của doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng.

Sáu là, nâng cao hiệu quả giám sát tuân thủ pháp luật của các DNTN. Các cơ quan chức năng cần chủ động, thường xuyên rà soát việc tuân thủ các quy định pháp luật của DNTN. Bên cạnh đó, cần sớm đưa vào triển khai áp dụng các chế tài cụ thể đối với các doanh nghiệp có vi phạm, từ đó bảo đảm tính hiệu lực của quy định trên thực tế, đồng thời tạo động lực để DNTN phát triển.

Sáu là, tiếp tục tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về DNTN để nâng cao nhận thức của người dân và toàn xã hội về các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với DNTN, để người dân và toàn xã hội có nhận thức đúng đắn về quyền, nghĩa vụ và vai trò của DNTN đối với nền kinh tế Việt Nam, từ đó bác bỏ luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch đối với định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đang xây dựng.

Tiểu kết Chương 3

DNTN trong pháp luật Việt Nam hiện nay, theo đúng bản chất pháp lý chính là một cá nhân kinh doanh. Bản thân DNTN không có tư cách pháp nhân và tương đương với các hình thức DNTN ở một số nước trên thế giới. Việc nghiên cứu chế định DNTN, nhất là xem xét kỹ những bất cập, thiếu sót, chưa đầy đủ và hoàn thiện của các quy định pháp luật về DNTN là cần thiết nhằm tạo ra hệ thống pháp luật thuận lợi, công bằng, minh bạch, rõ ràng, và bình đẳng cho loại hình DNTN.

Trong Chương 3, tác giả đã đưa ra một số phương án, kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật DNTN trong thời gian tới dựa trên nội dung quy định về pháp luật DNTN như: tư cách pháp lý của DNTN; việc thành lập thành lập, tạm ngừng, giải thể, phá sản DNTN; vốn và tài sản, quản trị DNTN, các hoạt động kinh doanh của DNTN và quản lý, giảm sát của nhà nước về DNTN… Bên cạnh đó, tác giá cũng đề xuất một số giải pháp nâng cao việc thực thi pháp luật về DNTN, đối với các cơ quan quản lý giám sát nhà nước cũng như chính bản thân các chủ sở hữu DNTN.

Những luận giải trong Đề án khó có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế và hoạt động quản lý nhà nước về doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng, nhưng tác giả luận văn mong muốn những ý kiến, những đề xuất trong Đề án sẽ góp phần giải quyết những khó khăn, vướng mắc liên quan đến hoạt động của DNTN, tạo ra sự thông suốt trong cả quá trình thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này.

KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

Trải qua gần 40 năm đổi mới, nước ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điển hình của quá trình chuyển đổi này chính là sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp, trong đó có DNTN. Luật Công ty năm 1990 đã đánh dấu sự ghi nhận chính thức của pháp luật về doanh nghiệp. Sau đó, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời, từng bước khắc phục những hạn chế của các văn bản pháp luật trước đó. LDN năm 2020 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021 đã tiếp tục kế thừa, phát huy kết quả và tác động tốt của những cải cách các LDN trước đó trong việc hiện thực hoá các quyền tự do kinh doanh; bảo đảm thể chế hoá đầy đủ nội dung trong các Nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tiếp tục cắt giảm chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp.

Các quy định của LDN hiện hành về DNTN hiện nay tập trung điều chỉnh một số vấn đề pháp lí cơ bản như sau: (1) Định nghĩa về DNTN, (2) Quy định về chủ sở hữu DNTN và việc thực hiện quyền của chủ sở hữu, (3) Quy định về vốn và tài sản của DNTN, (4) Quy định về quản trị DNTN, (5) Quy định về cho thuê, bán, chuyển đổi, tạm ngừng kinh doanh, giải thể và phá sản DNTN, (6) Quy định về quản lý và giám sát hoạt động của DNTN của cơ quan nhà nước.. Bên cạnh đó, LDN 2020 đã mở rộng quyền tự do lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh của chủ DNTN; cụ thể hoá chủ trương giảm thiểu thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí không cần thiết cho DNTN, một số quy định trong Chương VII: DNTN đã được sửa đổi, bổ sung.

Mặc dù vậy, trong quá trình vận hành, hệ thống pháp luật cũng còn bộc lộ nhiều bất cập, mâu thuẫn, gây nhiều khó khăn, vướng mắc trên thực tế. Việc thi hành pháp luật chưa có sự đồng bộ, thống nhất, gặp phải nhiều bất cập dẫn đến quyền và lợi ích hợp DNTN chưa được bảo đảm. Với mong muốn giảm bớt các hạn chế, tồn tại liên quan đến pháp luật về DNTN, tác giả đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật, giải quyết các vấn đề vướng mắc trong thực tiễn thực thi pháp luật. Trong đó, hoàn thiện pháp luật về DNTN được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trên internet

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464