Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phòng, chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Có một nơi để về, đó là nhà. Có những người để yêu thương, đó là gia đình. Có được cả hai, đó là hạnh phúc”. Ngày nay, phụ nữ thực sự được tôn trọng, được đánh giá ngang hàng với nam giới trong công việc cũng như mọi mặt của cuộc sống. Đề tài được chọn xây dựng từ những lý do sau:

Một là, Xuất phát từ vai trò của người phụ nữ trong gia đình: thực tế phụ nữ đã thực sự tiến bộ vượt bậc, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều có sự xuất hiện của phụ nữ. Phụ nữ bao giờ cũng chấp nhận hy sinh, thiệt thòi về mình, chính vì thế phụ nữ luôn tự giác làm mọi việc. Mong muốn được sẻ chia công việc là ý nguyện của tất cả chị em phụ nữ. Tuy sự bình đẳng, trong gia đình đã tiến bộ hơn rất nhiều nhưng cũng chỉ là tương đối, bởi không ít chị em, phụ nữ vẫn phải cam chịu, sự bất công trong gia đình.

Hai là, vai trò của phòng, chống bạo lực gia đình: từ các văn bản hay chính sách thực hiện về công tác PCBLGĐ trên địa bàn Quận 3, đã được triển khai thực hiện nhiều ở cơ sở còn thiếu tập trung trong công tác triển khai. Trong cuộc sống, ta có thể dễ dàng nhìn thấy ngoài xã hội kia sẽ bắt gặp tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ với nhiều dạng hình thức bạo lực. Dấu hiệu bạo lực gia đình ngày càng gia tăng rất nhiều ở phụ nữ, khi bị chồng đánh mà không dám lên tiếng thậm chí không dám báo cơ quan chức năng để được hỗ trợ. Trừ khi bị đánh ngoài đường nguy hiểm đến tính mạng, thì người đi đường sẽ hỗ trợ báo cơ quan chức năng để được can thiệp và giúp đỡ nạn nhân. Trong đó số liệu cho thấy Quận 3 có nguy cơ rất lớn bị bạo lực gia đình ở dạng không khai báo thông tin từ phía nạn nhân. Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

Ba là, xuất phát từ thực tiễn về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn Quận 3: Quận 3 là trong những quận trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh, có đối tượng phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình tương đối thấp của thành phố vì đa số người dân trên địa bàn quận là công nhân viên chức nhà nước, lực lượng tri thức chiếm tỉ lệ rất cao. Hiện nay, trên địa bàn Quận 3 có 53.839 hộ, trong đó số phụ nữ là 102.846 người. Trong thời gian qua, cùng với cả nước và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung, Quận 3 đã tập trung nguồn lực và tâm huyết vào tuyên truyền, chính sách để giúp đỡ đối với phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, có nghị lực sống tích cực, vươn lên trong cuộc sống.

Trong tiến trình đô thị hóa Quận 3, cũng gặp không ít khó khăn thách thức tình trạng dân nhập cư cao, sự tác động tiêu cực, mặt trái của nền kinh tế thị trường làm cho tình hình an ninh, trật tự và các tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp. Hiện nay, các công trình tiếp cận nghiên cứu lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình được tiếp cận bình diện về xã hội học, chính sách, lao động thương binh xã hội, khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả khảo sát của các nguồn tư liệu có thể nhận thấy đề tài về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Quận 3 vẫn còn khan hiếm. Đó là lý do tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này.

2. Tình hình nghiên cứu

Triển khai hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là vấn đề thật sự cần thiết nhất là trong giai đoạn hiện nay. Các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế làm tác động đến đối tượng yếu thế trong xã hội đó là phụ nữ góp phần đảm bảo công bằng cho sự phát triển xã hội. Trong những năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết, tài liệu đề cập đến vấn đề an sinh xã hội, bảo trợ đối với phụ nữ bị bạo hành cùng với hoạt động thực thi pháp luật. Để thực hiện đề tài luận văn tác giả đã nhìn nhận và phân loại các nguồn tài liệu thành các nhóm như sau:

  • Thứ nhất: tiếp cận góc độ xã hội học về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Bạo lực trong gia đình không còn xa lạ với người phụ nữ nhưng hiện nay nó là mối quan tâm lớn của các cấp, các ngành trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Nó được xã hội thừa nhận mang tính bình đẳng và dân quyền.

Sách “Gia đình Việt Nam và vai trò phụ nữ trong giai đoạn hiện nay” Dương Thị Minh (2004) là một công trình nghiên cứu khoa học vừa có hệ thống, vừa có chiều sâu về gia đình Việt nam và mối quan hệ giữa gia đình và vai trò của người phụ nữ. Đây là những nội dung bổ ích, thiết thực góp phần nâng cao nhận thức cho mọi thành viên trong xã hội về gia đình, vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình và phát triển xã hội.

Lê Thị Quý và cộng sự (2007) phát hành cuốn sách “Bạo lực gia đình một sự sai lệch hệ giá trị”. Đây là kết quả của công trình nghiên cứu thực tiễn tại ba tỉnh: Thái Bình, Phú Thọ và Thành phố Hà Nội. Cuốn sách đã chỉ ra rằng bạo lực gia đình là một sự lệch chuẩn về mặt đạo đức xã hội, về những giá trị của thời đại mà chúng ta đang đề cao. [4]

Như vậy: Tiếp cận góc độ xã hội học về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và các công trình nghiên cứu trong nước, điều cho chúng ta thấy cái nhìn khách quan về phòng, chống bạo lực gia đình. Công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở thực trạng, giải pháp cũng như không có công trình nào nghiên cứu nêu lên mô hình giúp đỡ cho nạn nhân bị bạo lực gia đình trên góc độ xã hội học. Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

  • Thứ hai: tiếp cận với góc độ khoa học Quản lý công về phòng, chống bạo lực gia đình

Nguyễn Kim Quý (2012), “Quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công. Tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về bạo lực gia đình và quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình tại Thành phố Hà Nội. Đồng thời, kiến nghị các giải pháp để loại trừ hành vi bạo lực gia đình này trong xã hội [24]

Như vậy: Tiếp cận khoa học về quản lý công, trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình trong các nghiên cứu này đều hướng đến giải quyết tình trạng bạo lực gia đình, để giúp cho những phụ nữ bị tổn thương có động lực lao động. Giúp cho đối tượng dễ bị tổn thương là phụ nữ, tiếp cận được với các chính sách bảo trợ cho phụ nữ.

  • Thứ 3: tiếp cận góc độ luật học về phòng, chống bạo lực gia đình

Tiếp cận góc độ luật học thì việc nghiên cứu cho thấy bạo lực gia đình hiện nay rất phổ biến, người phụ nữ chọn cách im lặng và chấp nhận bạo lực trong chính ngôi nhà của mình. Tác động của việc bạo hành thật sự rất nghiêm trọng, dẫn đến rất nhiều hệ lụy về sau, cần sự giúp đỡ của công đồng trong xã hội trong việc trình báo nếu phát hiện bạo lực gia đình đến cơ quan chức năng. Cần có những chiến lược để ngăn chặn cũng như đối phó với nạn bạo lực gia đình.

Ngô Thị Hường (2006), “Bạo lực gia đình – Một hình thức thể hiện sự bất bình đẳng nam nữ”. Tạp chí Luật học cho thấy về thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình ở Việt Nam. Đưa ra giải pháp về pháp luật đối với việc ngăn chặn, hạn chế bạo lực gia đình ở Việt Nam.

Như vậy: từ những công trình trên đã có một số kiến thức nhất định, thông tin cơ bản về phòng, chống bạo lực gia đình. Nếu có đi sâu phân tích thì chỉ dừng lại ở phạm vi tìm hiểu. Vì vậy, luận văn này được tác giả nghiên cứu, đánh giá thực trạng và vai trò phòng, chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ là thật sự cần thiết.

Tóm lại: Thông qua những nguồn tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, nhận thấy chưa có đề tài nghiên cứu nào về phòng, chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

 3.1 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý luận, pháp lý về phòng, chống bạo lực gia đình để nêu lên những thực trạng về bạo lực gia đình từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật, đảm bảo trong việc thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích đánh giá kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, những vấn đề đặt ra trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Quận 3 hiện nay.

Trong triển khai thực hiện, xuất hiện nhiều hạn chế cũng như bất cập, chưa thật sự phù hợp với đời sống xã hội hiện nay. Trong công tác ngăn chặn và bảo vệ nạn nhân bị bạo lực gia đình thì còn những hạn chế trong nhận thức chưa được làm rõ, dẫn đến cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Tiếp cận nghiên cứu phòng, chống bạo lực gia đình đã trở thành đối tượng nghiên cứu, của nhiều lĩnh vực khác nhau như xã hội học, lao động thương binh xã hội, quản lý nhà nước.

Đối tượng nghiên cứu luận văn phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói chung và tại địa bàn Quận 3 nói riêng có nhiều cách tiếp cận khoa học khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ mục đích, nghiên cứu luận văn tiếp cận đối tượng nghiên cứu với góc độ khoa học, luật học do đó đối tượng nghiên cứu của đề tài là “phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Quận 3”.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung: Luận văn nghiên cứu phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ để đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trên địa bàn Quận 3.
  • Về Không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn Quận 3
  • Thời gian: Luận văn được nghiên cứu từ năm 2017 đến năm 2022.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận văn

5.1 Phương pháp luận Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

Luận văn được thực hiện, trên cơ sở áp dụng các phương pháp thống kê, so sánh nhằm đánh giá hoạt động về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ thông qua các phương pháp thống kê, so sánh và phương pháp nghiên cứu tài liệu và số vụ bạo lực gia đình trên địa bàn quận 3, nhằm đánh giá thực trạng phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian qua.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê: sử dụng phương pháp này, trước hết để chỉ ra số liệu bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Quận 3. Qua từng năm, thống kê hệ thống các văn bản xử phạt vi phạm hành chính về luật phòng, chống bạo lực gia đình, qua đó khẳng định phòng, chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ cần được hỗ trợ, bảo vệ, giúp đỡ.

Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp này, để làm rõ tác dụng chỉ đạo của Đảng và nhà nước ta về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Quận 3, qua sự chênh lệch về số liệu phòng, chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ trong từng năm. Từ đó, là cơ sở để hỗ trợ, giúp đỡ, chăm lo cho nạn nhân khi có bạo hành xảy ra, phù hợp với thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu nhập, nghiên cứu tài liệu từ nguồn khác nhau, chủ yếu là nguồn tài liệu từ UBND Quận 3, Phòng văn hóa thông tin Quận 3, Hội LHPN Quận 3 có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn. Đồng thời, tài liệu còn được thu thập qua mạng Internet và chọn lọc ra những nguồn đáng tin cậy để có những thông tin phù hợp với đề tài.

6. Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa về lý luận

Hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình, quan điểm của Đảng, Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, sự cần thiết của hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ phụ nữ khi bị bạo hành và làm rõ nội dung, chính sách liên quan đến luật phòng chống, bạo lực gia đình, để từ đó có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm, trong hoạt động thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay.

6.2 Ý nghĩa về thực tiễn

Trên cơ sở đánh giá, thực tiễn hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, làm rõ thực trạng thực thi pháp luật và chỉ ra những mặt làm được, chưa làm được, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình.

7. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được thiết kế thành 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận pháp lý của phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
  • Chương 2: Thực trạng phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ CỦA PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ

1.1 Bạo lực gia đình và bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.1.1 Bạo lực gia đình

Trong xã hội hình thức bạo lực được biểu hiện ở nhiều dạng, thông thường các chủ thể hay dùng bạo lực để xử lý những mâu thuẫn trong quan hệ xã hội. Việc dùng bạo lực được thực hiện trên các yếu tố: mục đích, đối tượng thực hiện bạo lực và nạn nhân của việc sử dụng. Bạo lực là vấn đề tiêu cực nếu xã hội không tồn tại giai cấp bóc lột và chiến tranh.

Bạo lực gia đình là một hiện tượng tiêu cực, phá vỡ sự phát triển lành mạnh và ý nghĩa của gia đình. Hiện nay vấn nạn này mang tính toàn cầu và để lại nhiều hậu quả trong xã hội, cho bản thân chính các thành viên trong gia đình nhất là đối tượng trẻ em. Hiện tượng này xảy ra không chỉ ở những nơi có điều kiện kinh tế thấp, cuộc sống lạc hậu mà còn xảy ra ở các đô thị, nơi có trình độ phát triển cao hơn khu vực nông thôn, miền núi. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau nhìn nhận về vấn đề này:

  • Dưới góc độ giới:

Mặc dù tồn tại lâu nhưng trong pháp luật quốc tế lại mới được đề cập. Trong thời gian gần đây, vấn đề bình đẳng giới đã được quan tâm nhưng xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau, nạn bạo lực đối với phụ nữ vẫn xảy ra mang tính thường xuyên với những từng suất khác nhau.

Xét dưới nhiều khía cạnh thì bạo lực gia đình được nhìn nhận không giống nhau, tựu chung lại là: một dạng cụ thể của bạo lực xã hội, dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Trong khái niệm bạo lực gia đình cần giải thích rõ những hành vi gây bạo lực gia đình là hành vi của ai, đối tượng gây bạo lực gia đình là ai, để dễ nhận biết các hành vi của bạo lực khác.

1.1.2 Bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Bạo lực gia đình không phải vấn đề mang tính địa phương mà là vấn nạn toàn cầu ở đâu cũng có, từ các nước nghèo, đang phát triển cho tới giàu có, phát triển cao độ. Trong xã hội Việt Nam, có không ít người nhận thức được và hành động đúng đắn. Tuy vậy, vẫn còn rất hạn chế, trong những năm gần đây vấn đề bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình, vấn đề ly hôn và ly thân ngày càng có xu hướng tăng lên.

Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan còn có nguyên nhân khách quan, trong tâm trí một bộ phần đàn ông, chuyện phụ nữ bị đánh đập gần như chuyện bình thường, và bản thân người đàn ông đánh vợ cũng không thấy gì là tội lỗi. Thậm chí người chồng đánh vợ của mình vì một lý do ngớ ngẩn, đó là để thể hiện mình là người đàn ông thực sự để tỏ vẻ mạnh mẽ chững chạc trước bạn bè, chứng tỏ mình là người nắm quyền trong gia đình.

Bản thân người phụ nữ họ nhìn nhận không tốt về mình, họ cảm thấy mình thấp kém lại phụ thuộc về kinh tế, nên tỏ vẻ cam chịu và thậm chí việc bị bạo hành đối với họ là chuyện bình thường và từ đó làm cho người chồng của mình lầm tưởng việc đánh đập vợ con là chuyện tất yếu. Một trong những nhân tố không thể thiếu, nó quyết định tới sự bền vững của gia đình đó là mặt về kinh tế – xã hội, áp lực của công việc, sự bươn chải ngoài xã hội đã gây cho họ một sức ép, đó cũng chính là nguyên nhân khách quan gây ảnh hưởng đến vấn nạn của bạo hành. Hơn nữa trong thời đại ngày nay, với biết bao sự biến chuyển, đất nước mở cửa, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão, sự hội nhập của các nền văn hóa trên thế giới.

1.2. Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

1.2.1 Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Bạo lực gia đình là một vấn đề gây bức xúc trong dư luận, gần đây nhiều vụ việc xuất hiện những hành vi bạo lực gia đình có mức độ gây hại nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, tinh vi, khó lường và khó xử lý bằng những quy định hiện hành. Do đó, những quy định được đặt ra nhằm phòng tránh các hành vi bạo lực gia đình đồng thời có những biện pháp cụ thể để điều chỉnh quan hệ xã hội, định hướng lại hành vi của con người theo những chuẩn mực chung và đúng quy định của pháp luật.

Mục đích chính của những văn bản trên là nhằm nâng cao về mặt nhận thức về Luật HNGĐ, BĐG, PCBLGĐ nhằm ngăn chặn các tệ nạn xã hội và làm cho gia đình không có bạo lực. Để phòng chống BLGĐ, các văn bản có liên quan điều chỉnh vấn đề này gồm: Bộ luật Hình sự 2105, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004; Luật HNGĐ 2014, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, Luật BĐG 2006…, và cơ bản là Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007 và các văn bản hướng dẫn chính là cơ sở pháp lý nền tảng ngăn chặn hành vi BLGĐ [13]

Như vậy: “Pháp luật phòng, chống BLGĐ là chính là tổng thể các quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành nhằm chấn chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới hành vi bạo lực giữa các thành viên trong gia đình, nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ, tạo môi trường cần thiết để xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp phần ổn định trật tự xã hội, thực hiện các mục tiêu về quyền con người, quyền công dân theo những chủ trương, đường lối chung đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận”. [13]

1.2.2 Trách nhiệm của một số cơ quan tổ chức, cá nhân trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.2.2.1 Trách nhiệm cơ quan trung ương trong phòng, chống bạo lực gia đình

Theo Chương IV gồm 11 điều, từ Ðiều 31 đến Ðiều 41 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình như sau:

Một là, Luật quy định Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình.

Theo đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình. Chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình.

Hướng dẫn thực hiện hoạt động tư vấn về gia đình ở cơ sở; việc thành lập, giải thể cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. Chủ trì phối hợp các cơ quan, tổ chức có liên quan ban hành và tổ chức thực hiện quy định về bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

Thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình. Chủ trì, hướng dẫn công tác tổng hợp, phân tích về tình hình phòng, chống bạo lực gia đình; chỉ đạo thực hiện chế độ báo cáo thống kê về phòng, chống bạo lực gia đình; chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nhân rộng các mô hình phòng, chống bạo lực gia đình. Chủ trì, phối hợp các cơ quan có liên quan trong việc biên tập, cung cấp thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình.

Hai là, Luật đã quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, đoàn thể liên quan chủ yếu đến vấn đề này, nhất là vai trò của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Bộ Y tế. Theo quy định của Luật, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới; phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.

Ba là, Luật quy định hằng năm UBND cấp xã phải báo cáo trước HÐND cùng cấp về tình hình và kết quả phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương. Như vậy, quy định này chỉ giới hạn báo cáo hằng năm ở cấp xã, vì đây là nơi nắm rõ nhất tình hình bạo lực gia đình và có biện pháp can thiệp kịp thời nhất, đồng thời cũng là nơi mang đặc trưng văn hóa cộng đồng, dòng họ, làng xã của Việt Nam. Do đó, thúc đẩy hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình ở cấp xã sẽ có hiệu quả trong việc củng cố gia đình Việt Nam.

Còn việc báo cáo về tình hình bạo lực gia đình trước HÐND các cấp hay báo cáo Quốc hội áp dụng như các vấn đề khác thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước mà hiện nay UBND các cấp và Chính phủ vẫn thực hiện.

1.2.2.2 Trách nhiệm của cá nhân trong phòng, chống bạo lực gia đình

Trách nhiệm này nhằm điều chỉnh các cá nhân thực hiện những hành vi của mình sao cho phù hợp với ý chí của nhà nước, nhằm đảm bảo xây dựng cuộc sống ổn định, an toàn trật tự, văn minh và phát triển.

Bạo lực gia đình xảy ra thường xuyên và mang tính chất khép kín, chính vì vậy, cá nhân trong phạm vi điều kiện, hoàn cảnh có trách nhiệm kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình như can ngăn, khuyên nhủ và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền để chấm dứt hành vi bạo lực, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình thoát khỏi sự hung hãn, mất kiểm soát của người thực hiện hành vi bạo lực gia đình.

1.2.2.3 Trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình

Theo Điều 32 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình như sau: Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

Thứ nhất: Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác. Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.

Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng nhận thức của các thành viên trong gia đình. Vì vậy gia đình phải có trách nhiệm giáo dục và nhắc nhở các thành viên trong gia đình thực hiện những quy định của pháp luật được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007; Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Luật Bình đẳng giới 2006.

Thứ hai: Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình.

Nạn nhân bạo lực gia đình là đối tượng chịu nhiều tổn thương về thể chất, tinh thần, thậm chí cả về kinh tế. Đồng thời gia đình cần can ngăn, khuyên nhủ người có hành vi bạo lực gia đình nhận thức lại hành vi sai trái của bản thân và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình phục hồi sức khỏe, tinh thần và các nhu cầu thiết yếu khác để giúp nạn nhân quay trở lại cuộc sống ổn định, an toàn.

Thứ ba: Phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình. Cộng đồng dân cư là toàn thể những người sinh sống trong khu vực lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính, gắn bó thành một khối, giữa họ có sự liên kết và hợp tác với nhau để cùng thực hiện lợi ích của mình và lợi ích chung. Trách nhiệm này nhằm đảm bảo việc phòng, chống bạo lực gia đình đạt được hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy việc phát hiện, xử lý vi phạm về bạo lực gia đình nhanh chóng, giảm thiểu thiệt hại do hành vi bạo lực gia đình gây ra.

Thứ tư: Thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007. Ngoài việc thực hiện những trách nhiệm nêu trên, gia đình còn có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật.

1.2.3 Phương thức phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

1.2.3.1 Ban hành văn bản pháp luật

Kế hoạch được triển khai thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình phải phù hợp với kế hoạch hằng năm của địa phương để bảo đảm nguồn lực thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của chương trình.

Nội dung kế hoạch phải thiết thực, gắn với trách nhiệm và phát huy vai trò chủ động, tích cực của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp tại địa phương. Bảo đảm sự phối hợp thường xuyên, hiệu quả, đúng tiến độ giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị được nêu trong kế hoạch. Việc tổ chức thực hiện kế hoạch phải nghiêm túc, thiết thực, tránh hình thức.

Thực hiện việc phổ biến, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác xây dựng gia đình. Rà soát, hoàn thiện pháp luật có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình, xây dựng dự án Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, nghiên cứu, bổ sung chính sách hỗ trợ người bị bạo lực gia đình là người bị phụ thuộc vào thành viên khác trong gia đình, rà soát, bổ sung, hoàn thiện chính sách hỗ trợ đội ngũ cán bộ tham gia công tác phòng, chống bạo lực gia đình và đội ngũ cộng tác viên dân số tham gia phòng, chống bạo lực gia đình ở cơ sở.

Biết lồng ghép đa dạng các hình thức tuyên truyền hưởng ứng các ngày: “Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3”; “Ngày Gia đình Việt Nam 28/6”; “Tuyên truyền về giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”; “Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình”; Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình (tháng 6)”; “Ngày quốc tế xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái 25/11”; “Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới”; “Tháng hành động Vì trẻ em”.

Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các chương trình, kế hoạch về công tác gia đình, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, cộng đồng và các thành viên trong gia đình về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác gia đình trong việc thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng gia đình trong tình hình mới, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh là một trong những nội dung xuyên suốt trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước.

Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã xác định có 4 nhóm hình thức bạo lực gia đình bao gồm: bạo lực về thể chất; bạo lực về tinh thần; bạo lực về kinh tế; bạo lực về tình dục và việc nhận diện những hình thức bạo hành là rất quan trọng. Đây là cơ sở để triển khai các biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn xử lý hành vi bạo lực gia đình, bảo vệ người bị bạo lực gia đình.

Tuy nhiên thực tế cho thấy mới chủ yếu khảo sát đo lường được bạo hành về thể chất còn bạo lực về tinh thần rất khó phát hiện mang yếu tố ẩn nên lại mang nhiều hậu quả khó lường và bạo lực tình dục sẽ được hiểu như thế nào liệu rằng có cần bằng chứng điều tra bạo lực tình dục hay là dựa trên báo cáo của nạn nhân và nhân chứng. Do đó cần phải có thang đo đặc thù cũng như cách khảo sát đặc thù của các cơ quan về giới để nhận diện đúng rõ hơn các hình thức cũng như các hành vi bạo lực gia đình trong thực tế. Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

1.2.3.2 Tuyên truyền giáo dục, pháp luật

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) hướng tới hoàn thiện thể chế về công tác phòng, chống bạo lực gia đình theo hướng tăng cường các biện pháp bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các thiết chế nhà nước, xã hội cũng như vai trò của gia đình về lĩnh vực này, góp phần gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình, dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong tình hình mới.

Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình: “tạo lập gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, trở thành tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội” [9]. Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 được hình thành trên những nội dung của Hiến pháp sửa đổi 2001 về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong đó nêu rõ “gia đình là tế bào của xã hội” (Điều 64) thể hiện vai trò thiết yếu của gia đình trong toàn xã hội.

Luật BĐG năm 2006: “xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” (Điều 4); Luật HNGĐ năm 2014: “xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con” (Điều 2, khoản 3).

Như vậy: qua đây cho thấy, mục tiêu cơ bản của pháp luật phòng, chống BLGĐ đó là tạo những môi trường cơ bản nhất để mỗi cá nhân có thể tạo nên một gia đình hạnh phúc thực hiện đúng việc bình đẳng, không tồn tại BLGĐ, để gia đình phát triển lành mạnh tạo nền tảng vững chắc cho xã hội

1.2.3.3 Tổ chức phát triển kinh tế, xã hội

Quận 3 là một trong những quận trung tâm thành phố, có 14 phường, 63 khu phố, 867 tổ dân phố, tổng dân số khoảng 190.375 người với 53.839 hộ, trong đó số phụ nữ là 102.846 người; mật độ dân số 38.673 người/km2. Quận 3 có các dân tộc Kinh, Khơ me, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Mường. Trong đó, dân tộc Kinh là 183.355 người, chiếm tỷ lệ 99,4%, còn lại 7.020 người dân tộc khách, tỷ lệ 3,69% tổng dân số của quận; các tôn giáo chính là Phật giáo, Cao đài, Công giáo, Tin lành.

Người dân Quận 3 phần lớn là tri thức, trình độ dân trí cao việc đưa công tác phòng, chống bạo lực gia đình vào trong cuộc sống là rất hiệu quả, tạo chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của cán bộ và nhân dân. Qua đó, cho thấy trình độ văn hóa, mật độ dân cư và đời sống kinh tế của người dân trên địa bàn Quận 3, hiện nay rất phát triển là nơi đáng sống và làm việc. Qua khảo sát thực tế ta thấy ngoài Quận 1 ra thì Quận 3 là nơi thứ hai mà người dân nghĩ đến đáng để đầu tư kinh doanh.

Dân số Quận 3 khoảng 190.375 người, trong đó người có thẻ bảo hiểm y tế là 171.337 người, đạt 90% dân số; bảo hiểm y tế hộ gia đình là 50.071 người, đạt tỷ lệ 93%. Thực hiện chính sách hỗ trợ giáo dục cho các em học sinh hộ nghèo, cận nghèo như sau: Hỗ trợ chi phí học tập 2.205 em/41.475.000 đồng, miễn giảm học phí cho 118 em/47.277.500 đồng, hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ mầm non 05 tuổi: 02 em/ 2.890.000 đồng. Có thể nói Quận 3 là một trong những quận phát triển về kinh tế song song đó là việc chăm lo các chính sách, bảo trợ cho người dân cũng được cải thiện qua các năm.

Quận 3 đứng vị trí thứ 18 trong danh sách 50 khu phố tuyệt vời nhất thế giới do tạp chí Time Out xếp hạng. Danh sách này được tham khảo ý kiến từ các chuyên gia và bầu chọn của 27.000 người trên toàn thế giới. Qua đó, ta thấy rõ Quận 3 phát triển nhanh về tốc độ dân số, vì nơi đây là nơi tập trung các cơ quan hành chính, các công ty nước ngoài, Quận 3 hiện nay có 7.608 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động do quận quản lý, trong đó có 2.976 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có nữ là chủ (chiếm tỷ lệ 32,12%). Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

Bảng 2.1 Biểu đồ dân cư trên địa bàn Quận 3 (Nguồn: UBND Quận 3)

Theo quỹ Dân số, hiện nay, phụ nữ và trẻ em gái chiếm 49,7% dân số toàn cầu. Trong báo cáo về tình trạng dân số năm 2023 nhận định: khi phụ nữ và trẻ em gái được xã hội trao quyền tự chủ về cuộc sống, cá nhân thì gia đình của họ sẽ thành đạt.

Thông điệp còn là lời nhắc nhở Chính phủ các nước trong việc cùng hành động mạnh mẽ nhằm: thúc đẩy bình đẳng giới để nâng cao giá trị đóng góp của phụ nữ và trẻ em gái; xem bất bình đẳng giới là hành vi có hại và vi phạm các quyền và lựa chọn của phụ nữ và trẻ em gái; quan tâm đến những điều phụ nữ và trẻ em gái mong muốn.

1.2.3.4 Công tác giám sát, kiểm tra

Triển khai các hoạt động công tác gia đình gắn với các nội dung, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Tổ chức các hình thức tuyên truyền đa dạng phong phú, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của các cơ quan, đơn vị, địa phương đảm bảo hiệu quả, thiết thực và tiết kiệm.

Tăng cường, đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và phát huy hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội để thực hiện có hiệu quả công tác gia đình.

1.3 Một số yếu tố tác động đến phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

1.3.1 Về cơ chế chính sách

Luật hiện hành quy định các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình tại chương 3 về bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. Tuy nhiên, khi đưa vào triển khai thực hiện các quy định này đã bộc lộ nhiều bất cập.

Các thủ tục hành chính và điều kiện để xử lý vụ việc bạo lực gia đình còn phức tạp. Nạn nhân khi bị bạo hành phải viết đơn tố cáo, nếu không viết đơn tố cáo hành vi bạo lực gia đình thì sẽ không được cơ quan thụ lý giải quyết, thậm chí không được thực hiện các chính sách bảo vệ và ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.

Hình thức phạt tiền đối với người có hành vi bạo lực gia đình chưa được quy định cụ thể rõ ràng chủ thể có hành vi bạo lực. Trong nhiều trường hợp, người bị bạo lực là người đứng ra nộp phạt và số tiền nộp phạt lấy từ tài sản chung của gia đình. Điều này khiến cho nạn nhân không muốn tố cáo hành vi bạo lực gia đình trong lần tiếp theo và cũng không giúp cho việc răn đe, giáo dục với thủ phạm. Hơn nữa, việc phạt tiền chỉ là một phần của hình phạt dành cho các hành vi bạo lực gia đình.

Việc nắm thông tin về bạo lực gia đình còn chưa kịp thời. 4/63 tỉnh thành có đội ngũ cộng tác viên làm nhiệm vụ thu thập thông tin. Kinh phí thực hiện chưa phục vụ được yêu cầu thực tiễn. Hệ thống: phục vụ đời sống vật chất chưa đồng đều chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn, trung tâm huyện lỵ; những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, dân tộc ít người, hệ thống này ít về số lượng, không có nhiều hoạt động phong phú phục vụ thiếu nhi.

1.3.2 Yếu tố về Kinh tế

Yếu tố về kinh tế là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình, vấn đề đói nghèo, kinh tế thì chậm phát triển dẫn đến chỉ số thiếu thục của con người sẽ chậm theo, nó là nguyên nhân chính dẫn đến các tệ nạn xã hội, tăng cao tỷ suất bạo lực gia đình trong đời sống. Vì vậy, để đảm bảo cho việc thực thi Luật phòng, chống bạo lực gia đình có hiệu quả thì việc nâng cao năng suất kinh tế là điều hết sức quan trọng, có thể hiểu nghèo đói và bạo lực gia đình là hai mặt rất cần thiết, cho nên chúng ta cần làm tốt công tác giảm nghèo bền vững, nó là cơ sở ngăn chặn các tệ nạn xã hội cũng như nạn bạo lực gia đình.

1.3.3 Yếu tố về văn hóa, xã hội Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

1.3.3.1 Về trình độ dân trí

Nguyên nhân dẫn tới bạo lực gia đình là do trình độ dân trí thấp, đặc biệt là phụ nữ. Bạo lực gia đình xảy ra khắp các địa phương nhưng chủ yếu ở những vùng có trình độ dân trí thấp như nông thôn và miền núi. Lý do của hiện tượng này là nhận thức về bình đẳng giới còn hạn hẹp. Đối tượng bị bạo lực thường chọn cách nhẫn nhịn coi đó là việc xấu hổ, lẽ đương nhiên.

Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều người học vấn cao nhưng vẫn có hành vi bạo lực. Họ còn tận dụng sự hiểu biết của bản thân để thao túng tâm lý đối phương, tìm mọi cách ép buộc và sai khiến đối phương theo ý muốn.

1.3.3.2 Về phong tục, tập quán

Nhận thức của dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa về bạo lực gia đình vẫn còn hạn chế. Đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vẫn lưu giữ phong tục, tập quán lạc hậu, nạ tảo hôn và bạo lực gia đình diễn ra phổ biến. Năng lực can thiệp của cộng đồng và chính quyền địa phương còn hạn chế, hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình mới dừng ở mức hòa giải, chưa có biện pháp răn đe cao, vì thế, tình trạng này vẫn tái diễn.

1.3.3.3. Về tâm lý của người dân về phòng, chống bạo lực gia đình

Nạn nhân của bạo lực gia đình phải gánh chịu hậu quả về tinh thần, họ bị b ạo lực gia đình lâu ngày nên tâm lý khủng hoảng, mặc cảm, tự ti, thậm chí là trầm cảm, nặng hơn nữa là bị các bệnh về thần kinh. Hiện nay bạo lực về tinh thần diễn ra chủ yếu trong các gia đình trí thức, có kinh tế. Vì tâm lý xấu hổ nên họ thường chọn giải pháp im lặng.

1.3.3.4 Về định kiến giới Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

Bất bình đẳng giới được xác định nguyên nhân gốc rễ gây ra nạn bạo lực trong gia đình. Phụ nữ xã hội hiện đại ngày một chứng minh được vai trò của mình nhưng vẫn có không ít những sự nhìn nhận chưa phù hợp và đúng đắn. Nhiều gia đình hiện nay vẫn yêu thích con trai, mong muốn sinh con trai nên nhiều định kiến về giới vẫn ăn sâu vào trong tâm lý của người việt. Xã hội hiện nay vẫn chưa thể xóa bỏ nhận thức lệch lạc về vấn đề này và đây là căn nguyên sâu xa của bạo lực gia đình.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Tại chương này, về cơ bản đã giải quyết được các vấn đề mang tính lý luận liên quan đến cơ sở lý luận, pháp lý về phòng, chống bạo lực gia đình như: khái niệm, đặc trưng, hình thức và một số hoạt động có liên quan đến nội dung phòng, chống bạo lực gia đình. Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình: về trình độ dân trí; về vị trí địa lý; về văn hóa xã hội; về cơ chế chính sách; về phong tục, tập quán; về tâm lý của người dân về phòng, chống bạo lực gia đình; về định kiến giới. Những vấn đề nêu trên là cơ sở để pháp luật được xây dựng đầy đủ hơn và thúc đẩy hiệu quả thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay. Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

One thought on “Luận văn: Phòng chống bạo lực gia đình đối với Phụ nữ

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464