Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực tiễn xét xử và một số giải pháp nâng cao chất lượng xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1.1. Kết quả đạt được

Trong những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân mà tình hình phạm tội nói chung, các tội phạm về chức vụ nói riêng, đặt biệt các tội phạm tham nhũng đang diễn ra tương đối nghiêm trọng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, y tế đến giáo dục xảy ra ở nhiều cấp khác nhau. Với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng luôn đi đầu và đã có những chuyển biến tích cực, nhiều vụ án lớn được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử; ngoài ra đã thu hồi được một số tiền thất thoát nhất định cho Nhà nước, nhiều bị cáo đã chịu hình phạt thỏa đáng. Qua đó góp phần trong công cuộc xây dựng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững nền chính trị, xã hội.

Theo đánh giá của Tòa án nhân dân tối cao, trong thời gian qua, Tòa án nhân dân các cấp trong cả nước nhận thức ngày càng tốt hơn về các quy định của pháp luật, chính sách và đường lối xử lý các tội phạm tham nhũng. Chính vì vậy mà công tác xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ đã góp phần tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng đạt được hiệu qủa tương đối tốt, đáp ứng được những yêu cầu của địa phương như xét xử kịp thời, đúng thời điểm, xét xử đúng người đúng tội, xét xử thỏa đáng, không gây dư luận xôn xao trong xã hội.

Nhìn lại tình hình xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ giai đoạn 5 năm trở lại đây được thể hiện cơ bản qua số liệu về tổng số vụ và tổng số bị cáo phạm tội xét xử hàng năm, cụ thể:

Bảng 1: Thống kê số vụ thụ lý và xét xử sơ thẩm về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ giai đoạn 2018 – 2021. Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn.

 Năm  Thụ lý  Xét xử sơ thẩm  Tỷ lệ số vụ án đã xét xử so với số vụ án đã thụ lý (%)
Số vụ  Số bị cáo Số vụ Số bị  cáo Số vụ  Số bị cáo
2018  98 331 53 159 54,08% 48,03%
2019 101 346 54 129 54,45% 43,06%
2020 115 523 56 254 48,69% 48,56%
2021 111 516 59 256 53,15% 49,61%

(Nguồn: Vụ tổng hợp, Tòa án nhân dân Tối cao)

Qua bảng thống kê trên, cho thấy số vụ và số bị cáo xét xử sơ thẩm từ năm 2018 đến năm 2021 có sự tăng giảm không đồng đều. Năm 2021 là năm thụ lý hồ sơ nhiều nhất với 111 vụ và 516 bị cáo. Số vụ án và số bị cáo hằng năm tăng lên thể hiện sự quyết liệt của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tham nhũng nói chung và đấu tranh phòng chống Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ nói riêng.

Tỷ lệ giữa số vụ thụ lý và số vụ được giải quyết không có sự chênh lệch quá cao. Tuy nhiên, tỷ lệ xét xử nói chung còn thấp đặc biệt là năm 2020, do đó chưa tương xướng với tình hình tội phạm thực tiễn. Đây là tội phạm có chủ thể đặc biệt nên số lượng các vụ án xảy ra không nhiều so với các tội thông thường như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tại sản…nhưng mỗi vụ án đều là tâm điểm gây sự chú ý tại các địa phương nói riêng và trong toàn xã hội nói chung.

Qua số liệu trên thấy rõ Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ chủ yếu được thực hiện với hình thức đồng phạm, có từ hai người trở lên. Đối với những vụ án thực hiện bằng hình thức đồng phạm, khi xét xử Tòa án đã cân nhắc đầy đủ, chính xác vai trò của mỗi bị cáo trong vụ án, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân hay các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để cá thể hóa hình phạt. Và trong những vụ án gần đây, chưa có vụ án nào tìm thấy tội phạm thực hiện hành vi phạm Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ một cách đơn lẻ. Chính vì vậy, mà mức độ thiệt hại các tội phạm gây ra rất lớn cho cơ quan, tổ chức. Đồng thời việc thực hiện bằng hình thức đồng phạm cũng rất tinh vi, tiểu xảo, gây khó khăn trong công tác điều tra, thu thập chứng cứ.

Bên cạnh nghiên cứu số liệu vụ án và bị cáo bị đưa ra xét xử trong 5 năm trở lại đây thì chúng ta cần đề cập tới việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Việc nghiên cứu về hình phạt nhằm có cái nhìn tổng quát về hoạt động áp dụng pháp luật và qua đó có thể đánh giá mức độ tương xứng giữa tính chất phạm tội với trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu.

Bảng 2: Trách nhiệm hình sự của người phạm Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trng khi thi hành công vụ trong số 798 bị cáo thuộc 172 vụ án (2018- 2021) bị Tòa án tuyên hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn

Trên cơ sở số liệu thống kê các hình phạt thì hình phạt tù 3 năm trở xuống có số lượng lớn nhất với 300 bị cáo chiếm 37,59%, hình phạt tù từ 3 năm đến 7 năm là 158 bị cáo chiếm 19,79% và hình phạt tù từ 7 đến 15 năm chiếm tỉ lệ thấp nhấp với 40 bị cáo chiếm 6,5%. Điều này cũng đánh giá được tính chất, mức độ mà người phạm tội gây ra. Trong các bị cáo được đưa ra xét xử thì số bị cáo bị Tòa án áp dụng hình phạt bổ sung rất ít, có 6 bị cáo bị phạt tiền, chiếm 0,43 và 40 bị cáo bị áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, chiếm 5,01%.

Chủ thể thực hiện tội phạm này thường nắm giữ những vị trí cao trong bộ máy nhà nước, do vậy mà hành vi phạm tội của họ sẽ gây ra những thất thóat lớn cho Ngân sách của nhà nước, việc áp dụng hình phạt chính chưa thực sự đủ răn đe, giáo đục đối với những đối tượng này; do đó áp dụng hình phạt bổ sung vừa khắc phục được một phần hậu quả vừa mang tính nghiêm khắc, làm gương cho các cán bộ. Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn.

Bảng 3: Trách nhiệm hình sự của người phạm Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ trong số 798 bị cáo thuộc 172 vụ án (2018- 2021) bị Tòa án tuyên hình phạt chính không tước tự do

Trên cơ sở số liệu thống kê các hình phạt chính không tước do của 298 bị cáo với 172 vụ án bị đưa ra xét xử trong giao đoạn từ 2018 đến 2021 cho thấy hình phạt không tước tự do được áp dụng phổ biến nhất là cải tạo không giam giữ, 69 bị cáo bị áp dụng hình phạt này chiếm 23,15%. Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ được thực hiện bằng hình thức đồng phạm. Những người này gây ra hậu quả và mức độ nguy hiểm cho xã hội là khác nhau, căn cứ vào vị trí, vai trò trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng cho phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không cao. Trong số 798 bị cáo thì không có bị cáo nào bị áp dụng cảnh cáo hoặc trục xuất và chỉ có 3 bị cáo bị Tòa án tuyên hình phạt phạt tiền (khi là hình phạt chính). Qua đó phản ánh thực tiễn các bị cáo trong các vụ án phạm tội chủ yếu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và nghiêm trọng.

Dù các con số trên chỉ mang tính chất tương đối nhưng cũng đã phản ánh được thực trạng tội phạm tham nhũng nói chung và Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ nói riêng đang ngày càng mở rộng và có xu hướng tăng lên. Trong vài năm tới, chắc chắn những con số này không chỉ dừng lại ở đây mà sẽ có sự gia tăng nhanh chóng. Do vậy mà Đảng, Nhà nước và tòan thể nhân dân cần có sự phối hợp từ quá trình phát hiện, tố giác đến điều tra, xét xử.

2.1.2. Những tồn tại, hạn chế trong xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ và một số nguyên nhân Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn.

Mặc dù đạt được những kết quả trên nhưng trong quá trình xét xử vẫn còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định. Trong thực tiễn triển khai, thực hiện Bộ luật hình sự năm 2015, mặc dù đã có những quy định chặt chẽ hơn so với các bộ luật trước đó nhưng qua thời gian áp dụng cũng bắt đầu bộc lộ những hạn chế. Để có thể đưa ra những giải pháp thật sự hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng xét xử thì cần phải nhận diện được những hạn chế tồn trại trong thực tiễn xét xử nói riêng và áp dụng pháp luật nói chung, cụ thể:

Thứ nhất, số vụ án được xét xử sơ thẩm nhìn chung còn thấp hơn số thụ lý vì trong quá trình điều tra, truy tố phát sinh các căn cứ mà theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 phải tạm đình chỉ vụ án, chuyển hồ sơ, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát. Số vụ án trả cho Viện kiểm sát là 90 vụ án chiếm 52,53% số vụ thụ lý. Qua đó, cho thấy việc đánh giá chứng cứ về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ giữa cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án còn nhiều điểm chưa tương đồng, nhất là việc đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử dẫn đến tỷ lệ trả hồ sơ còn chiếm tỷ lệ khá cao.

Thứ hai, mặc dù Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể hóa hơn những tình tiết định tội, định khung có tính chất định tính trong cấu thành Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Nếu trường hợp xác định hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng trở lên thì đây là tình huống thuận lợi để thu thập, đánh giá chứng cứ. Nhưng nếu thuộc trường hợp gây thiệt hại khác đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì hiện vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau, dẫn đến chưa có quan điểm thống nhất.

Thứ ba, Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ được thực hiện bằng hình thức đồng phạm, có tính chất phức tạp; trong đó người có chức vụ, quyền hạn cao sẽ chi phối người có chức vụ quyền hạn thấp hơn hoặc người không có chức vụ quyền hạn. Họ là những người có năng lực, trình độ chuyên môn cao, hiểu biết phát luật và có mối quan hệ xã hội rộng và họ cùng hưởng nhóm lợi ích. Vì vậy, khi tham gia thực hiện hành vi phạm tội, họ đã lên kế hoạch chỉnh chu, chặt chẽ và có dự mưu trước, những đối tượng này dùng nhiều thủ đoạn, cách thức để che dấu hành vi phạm tội của mình. Trong nhiều vụ án người chủ mưu, cầm đầu không hành động phạm tội, những người thực hiện tội phạm có thể chỉ tham gia một phần trong vụ án nên gây khó khăn cho việc thu thập, xâu chuỗi, xuyên suốt diễn biến, quá trình xảy ra tội phạm. Do vậy, khối lượng công việc, tính chất vụ án điều tra sẽ trở nên phức tạp và mở rộng về quy mô hơn, điều này đòi hỏi các cán bộ Tòa án, điều tra viên phải đầu tư nhiều thời gian để điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án [20]. Cũng chính vì vậy mà việc cơ quan điều tra thu thập, tổng hợp chứng cứ để xâu chuỗi diễn biến, quá trình phạm tội sẽ rất khó khăn. Vì vậy, nếu không có sự chỉ đạo, vào cuộc quyết liệt và sự quyết tâm, thống nhất cao của các cơ quan tiến hành tố tụng, thậm chí là cả hệ thống chính trị thì sẽ gây tâm lý e ngại, đánh trống bỏ dùi… Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn.

Thứ tư, việc chứng minh các dấu hiệu vụ lợi trong cấu thành Tội lợi dụng, chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gặp nhiều khó khăn. Điều này xuất phát từ việc công khai, minh bạch, kê khai tài sản của người có chức vụ, quyền hạn thiếu trung thực, không đảm bảo chính xác, đầy đủ, không mang tính tự giác. Do đó, quá trình điều tra, xác minh thiệt hại sẽ bị kéo dài; đồng thời xác định hậu quả, thiệt hại mà người phạm tội gây ra chưa đánh giá hết tính chất, mức độ nghiêm trọng dẫn đến áp dụng hình phạt quá nhẹ, không phù hợp với quy định pháp luật.

Thứ năm, người phạm tội này thường là những đối tượng thuộc cán bộ, Đảng viên, những người có chức vụ, quyền hạn cao, nắm giữ ở những vị trí chủ chốt trong các cơ quan Nhà nước, có quan hệ với nhiều ngành, nhiều cấp. Do đó, khi hành vi phạm tội bị phát hiện, cơ quan tố tụng cũng gặp phải những khó khăn về tinh thần từ việc can thiệp theo chiều hướng không đúng đắn của một số cá nhân có chức vụ, quyền hạn khác, thậm chí trong một số vụ án còn đứng ra bao che, mua chuộc cho hành vi phạm tội đó [12]. Cũng có nhiều trường hợp người phạm tội là cấp trên hay có quen biết với những người tiến hành tố tụng do vậy mà e ngại, dè chừng trong quá trình tố tụng, dẫn đến việc tổng hợp tài liệu chưa đầy đủ, hình phạt chưa tương xứng với hành vi phạm tội.

Ngoài ra, trong một số vụ án cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự tập trung vào việc tổng hợp các tài liệu, chứng cứ để giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự; chưa kịp thời thu giữ, phong tỏa tài sản dẫn đến tạo điều kiện về mặt thời gian cho người phạm tội tẩu tán tài sản, mà thay vào đó chỉ chú trọng vào việc thu thập các tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ hành vi phạm tội. Phần lớn người phạm tội này thường chiếm đoạt một lượng tài sản lớn từ hành vi phạm tội của mình. Ngoài việc khi xét xử Tòa án áp dụng mức hình phạt cao nhất thì việc thu hồi hoặc thu hồi không đáng kể những tài sản mà bị cáo gây thiệt hại cho Nhà nước lại không dễ dàng, thậm chí có những trường hợp gây thiệt hại về tài sản rất lớn cho Nhà nước nhưng lại không áp dùng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Điều này đã không giải quyết được vấn đề thu hồi lại một phần thất thoát Ngân sách nhà nước mà người phạm tội gây ra.

Ngoài những tồn tại, hạn chế nêu trên thì thực tiễn xét xử hiện nay cũng đang gặp không ít khó khăn trong việc xác định tội danh giữa Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ với các tội khác có dấu hiệu pháp lý tương tự. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được quy định tại chương XXIII các tội phạm về chức vụ, do đó việc xác định nhầm lẫn về hành vi hay chủ thể phạm tội sẽ dẫn tới việc xác định tội danh sai, từ đó mà trách nhiệm hình sự của người phạm tội cũng không chính xác.

Ví dụ: Theo các trạng của Viện kiểm sát NDTC, bị cáo Phan Minh Nguyệt (Cựu phó giám đốc Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội) và Nguyễn Thị Huyền Hảo (cựu Kế toán Công ty Trách nhiệm hữu hạn MTV đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội – Hadico) bị đưa ra truy tố về 2 tội danh “Tham ô tài sản” và “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, từ ngày 14/05/2019 đến ngày 16/5/2019, đánh giá theo lời khai bị cáo, Viện kiểm sát đã yêu cầu thay đổi tội danh cho hai bị cáo Nguyệt và Huyền Hảo từ tội “Tham ô tài sản” sang “Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn.

Vụ án trên là một điển hình cho thấy việc xác định sai dấu hiệu về chủ thể của tội phạm đã dẫn đến xác định sai về tội danh.

Nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế trong xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

 Một trong những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến những hạn chế nêu trên là một số bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng thiếu trình độ, năng lực còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm trong quá trình thu thập, bảo quản, phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu, chứng cứ. Trong nhiều vụ án còn có sự nhầm lẫn giữa các dấu hiệu pháp lý của Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ với các tội phạm trong nhóm tham nhũng. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có sự giao thoa với Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ và Tội tham ô tài sản. Thực tế những tội này được tách riêng thành 3 điều song 3 tội này có khá nhiều điểm giống nhau nên rất dễ nhầm lẫn trong việc định tội danh.

Thực tiễn xét xử cho thấy các vụ án tham nhũng, đặc biệt là vụ án có tài sản bị xâm hại là những dự án nhà ở, xây dựng, đất đai, …việc điều tra làm rõ những sai phạm trong quá trình đầu tư, xây dựng với các dự án lớn đòi hỏi phải có những hiểu biết sâu, chuyên ngành trong khi đó năng lực và kiến thức về xây dựng, quản lý đất đai, tài chính ngân hàng của các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn hạn chế. Dẫn tới quá trình điều tra xét xử thường phải kéo dài, bổ sung tài liệu nhiều lần…

Thứ hai, Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội với phương thức và thủ đoạn phạm tội rất đa dạng và tinh vi, đăc biệt là trong thời đại 4.0, bị cáo sử dụng công nghệ cao bằng các thiết bị thông minh, thực hiện hành vi phạm tội với sự phân công giữa các thành viên tham gia, mỗi một người một giai đoạn, một nhiệm vụ, một công việc cụ thể. Ngoài ra, trong thực tiễn giải quyết các vụ án, các đối tượng phạm tội trong cùng một nhóm lợi ích thường có những vị trí công tác, quyền hạn khác nhau nhưng lại có mỗi liên kết với nhau, họ có sự tác động qua lại do đó việc thực hiện hành vi phạm tội một cách dễ dàng, nhanh chóng và đạt kết quả.

Thứ ba, người phạm tội là những người có chức vụ, quyền hạn là chủ thể đặc biệt. Do đó, trong thực tế việc đánh giá các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ còn phụ thuộc vào nhận thức, sự công tâm, khách quan của người tiến hành tố tụng. Thực tiễn đã cho thấy trong nhiều bản án Hội đồng xét xử áp dụng không thống nhất về hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung. Dẫn đến nhiều bản án chưa thật chính xác, chưa đảm bảo công bằng và mang tính răn đe cao. Có những trường hợp Hội đồng xét xử bao che, dung túng, tiếp tay, xử lý không đúng quy định đối với hành vi vi phạm. Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn.

Thứ tư, do thiếu nguồn nhân lực, kinh phí điều tra. Trong những vụ án lớn, có nhiều đồng phạm việc đánh giá tính chính xác, thu thập tài liệu, chứng cứ còn mất rất nhiều thời gian, bởi khối lượng công việc thì quá tải nhưng cũng chỉ giới hạn nguồn nhân lực và kinh phí. Do vậy sẽ không đảm bảo tiến độ xét xử vụ án, từ đó tạo điều kiện cho người phạm tội có thêm thời gian để tẩu tán tài sản hay sự chuẩn kĩ càng, biện minh cho hành vi sai trái của mình trong phiên xét xử tiếp theo. Đồng thời người phạm tội khi bị phát hiện vẫn không khai nhận hành vi của mình, vẫn cố che dấu, thực hiện mọi biện pháp nhằm minh oan, tẩu tán tài sản, không phối hợp với cơ quan điều tra và không có thái độ ăn năn hối lỗi. Chính vì vậy quá trình điều tra, xác minh thông, thu thập chứng cứ rất khó khăn khi mà người phạm tội không hợp tác, không đầu thú.

Thứ năm, một trong những nguyên nhân cơ bản, nhưng cũng chính là nguyên nhân cốt lõi nhất của vấn đề tham nhũng hiện nay là do nhận thức của người phạm tội, tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những người có ít nhiều quyền hành trong cơ quan nhà nước, từ trung ương tới địa phương. Thực chất ban đầu những người này có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch, lành mạnh. Tuy nhiên, khi trong tay có quyền hành thì đã không thắng được “giặc ở trong lòng”, giống như việc có một muốn mười, lúc này lý trí họ đã bị chi phối, len lỏi những suy nghĩ và hành vi mang tính chất suy thoái. Chính sự suy nghĩ đó đã phát triển thành những hành động tham ô, tham nhũng, thiếu sự chuẩn mực mà những người đi đầu cần có và đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, của Đảng và Nhà nước [21]. Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ

One thought on “Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464