Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ theo Bộ luật hình sự Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Thực hiện đường lối, chủ trương tại các văn kiện Đại hội XI, XII và XIII của Đảng, trong những năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt được những thành quả to lớn như: Có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề tài khoa học, bài viết chuyên sâu về công tác phòng chống tham nhũng; qua đó xây dựng một hệ thống cơ sở lý luận tương đối phong phú về phòng, chống tham nhũng theo chủ trương, định hướng lãnh đạo của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong thực tiễn, công tác Phòng, chống tham nhũng cũng đạt được nhiều kết quả tốt, nhiều vụ án tham nhũng lớn được điều tra, truy tố và xét xử, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được công tác phòng, chống tham nhũng vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cấp; dẫn đến tình trạng các tội phạm tham nhũng trong những năm gần đây đã và đang xảy ra ngày một rộng, gây ra những thiệt hại rất lớn cho Nhà nước và xã hội. Chính vì vậy, đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng là yêu cầu cấp bách mà Đảng và Nhà nước cần phải phối hợp, kiên quyết đấu tranh, làm sạch bộ máy, tăng cường nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện tốt công tác này đòi hỏi sự phối hợp, tham gia của toàn thể nhân dân, cơ quan, tổ chức. Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh Phòng, chống tham nhũng “là nhiệm vụ rất quan trọng, nhưng cũng vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ, “không nghỉ”, “không ngừng” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực” [1].

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là một trong những tội phạm tham nhũng mà thực tiễn xét xử cho thấy tội phạm này đang có chiều hướng diễn biến ngày càng phức tạp về cả quy mô lẫn tính chất. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều chỉ thị, chính sách, thực hiện nhiều cuộc vận động, tuyên truyền lớn và được toàn thể nhân dân ủng hộ. Đặc biệt là Nhà nước đã ban hành Luật Phòng chống tham nhũng và thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, đề ra nhiều chủ trương, giải pháp nhằm đấu tranh với loại tội phạm này.

Tuy nhiên trên thực tế hiện nay hàng loạt vụ án phạm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ đã gây thiệt hại nghiêm trọng, làm thất thoát tài sản của Nhà nước lên tới hàng trăm tỷ đồng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế nước nhà. Thực tiễn xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ còn nhiều bất cập, tồn tại những quan điểm, nhận thức khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu sự thống nhất, đồng bộ. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

 Vì vậy, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ theo Bộ luật hình sự Việt Nam hiện nay” nhằm tìm hiểu, phân tích các hạn chế, bất cập trong thực tiễn xét xử góp phần không nhỏ nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, xử lý nghiêm minh đối với người phạm tội.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ nói riêng và tội phạm tham nhũng nói chung đã có khá nhiều nhà nghiên cứu và các cán bộ làm công tác thực tiễn nghiên cứu.

Các công trình nghiên cứu là giáo trình, sách tham khảo: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm (Quyền 2) của Trường đại học luật Hà nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2018; Sách Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự – Phần các tội phạm tập 5 của ThS. Đinh Văn Quế, NXB TP. Hồ Chí Minh. Các công trình nghiên cứu đã quy định một số vấn đề về cấu thành pháp lý tội tham nhũng nói chung và Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn nói riêng. Tuy nhiên, các công trình chỉ đi vào quy định mang tính bao quát tổng thể mà không đi sâu, phân tích các dấu hiệu pháp lý cụ thể Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Các công trình nghiên cứu là Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ luật học, các bài viết, đề tài khoa học: Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Tạ Quốc Tuấn với đề tài “Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật Hình sự Việt Nam” bảo vệ năm 2016; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Ma Kiều Diễm với đề tài “Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ trong Bộ Luật Hình sự năm 2015” bảo vệ năm 2019. Các luận văn kể trên đã có sự phân tích các vấn đề lý luận, pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ; đã có sự so sánh với một số tội phạm trong nhóm tham nhũng. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại theo quy định Bộ luật hình sự năm 2015 và đã hoàn thành ở một thời điểm khá lâu so với hiện nay. Vì vậy, việc nghiên cứu Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo quy định Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 một cách có hệ thống, toàn diện từ lý luận đến thực tiễn, phù hợp với xu thế hiện nay.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3,1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của Khóa luận là nghiên cứu các quy định pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam hiện nay, nêu ra một số lý luận và thực tiễn xét xử, qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng xét xử, góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn trong việc phòng chống tội phạm về tham nhũng.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Từ mục đích nghiên cứu trên, khóa luận có những nhiệm vụ làm rõ, sáng tỏ các khái niệm liên quan Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ; phân tích cấu thành pháp lý và đánh giá quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 qua một số vụ án điển hình; đánh giá điểm mới Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 so với Bộ luật hình sự 1999 về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Cuối cùng, đánh giá thực tiễn xét xử, những kết quả đạt được và những hạn chế tồn tại trong xét xử. Trên cơ sở đó đề suất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử.

4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quy định Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ; thực tiễn áp dụng các quy định trong quá trình xét xử.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung:  Những vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và thực tiễn xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Đồng thời so sánh với với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999.

Thời gian: Thực tiễn xét xử trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021.

Không gian: Khóa luận nghiên cứu thực tiễn xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ trên phạm vi cả nước.

5. Các phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được thực hiện trên cơ sử phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê.

6. Bố cục khóa luận

Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dụng của Khóa luận gồm 02 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ 
  • Chương 2: Thực tiễn xét xử và một số giải pháp nâng cao chất lượng xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ QUYỀN HẠN TRONG THI HÀNH CÔNG VỤ  

1.1. Những vấn đề lý luận về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ

1.1.1. Khái niệm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ

Từ điển Hán Việt giải thích một số thuật ngữ “Lợi dụng là dùng thủ đoạn hoặc dựa vào điều kiện thuận lợi để đoạt lấy lợi ích cho mình, lợi ích này là lợi ích không chính đáng”, “Chức vụ là sự đảm nhiệm một vai trò, địa vị nào đó trong một tổ chức, một tập thể”, Quyền hạn được hiểu là quyền lực pháp lý của nhà nước được trao cho cá nhân tổ chức trong giới hạn nhất định”, “Công vụ được định nghĩa là việc công, nghĩa là những việc được thực hiện vì lợi ích nhà nước, xã hội, cơ quan tập thể” [11].

Theo quan điểm GS.TS Nguyễn Ngọc Hoa: “Công vụ là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bao gồm quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án” [8].

  • Công vụ được lý giải ở nhiều góc độ khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt

“Công vụ” được định nghĩa là việc công, nghĩa là những việc được thực hiện vì lợi ích nhà nước, xã hội, cơ quan, tập thể. Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 tại Điều 2 có quy định “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [4]

Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ là hành vi làm trái với nhiệm vụ được giao của người có chức vụ quyền hạn” [15, Tr.75].

Hay tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [2].

Từ sự phân tích các định nghĩa trên, có thể đưa ra khái niệm Tội lợi dụng chức vụ trong thi hành công vụ: Là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ở mức độ theo quy định của Bộ luật hình sự.

1.1.2. Đặc điểm Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Từ những khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của tội phạm này như sau:

Thứ nhất, người thực hiện hành vi Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ trước hết phải đáp ứng cầu chung về chủ thể tội phạm là người có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, đủ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Tình trạng không có năng lực Trách nhiệm hình sự là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Theo đó, tình trạng không có năng lực Trách nhiệm hình sự chỉ cần một trong hai dấu hiệu là mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi là đã thỏa mãn. Do vậy, người tuy bình thường vẫn nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình gây ra nhưng trong những điều kiện cụ thể mà người này không có khả năng điều khiển hành vi thì cũng được xem là tình trạng mất năng lực Trách nhiệm hình sự. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Ngoài dấu hiệu về năng lực Trách nhiệm hình sự, chủ thể Tội phạm này còn phải đáp ứng dấu hiệu là người có chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ.  Hoạt động công vụ ở đây được xác định là hoạt động nhân danh nhà nước, đúng pháp luật, do cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc nhà nước giao cho người có chức vụ quyền hạn thực hiện.

Thứ hai, Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ thực hiện bởi những người có chức vụ, quyền hạn trong Bộ máy nhà nước, do vậy hành vi tội phạm xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Hoạt động đúng đắn của cơ quan tổ chức là hoạt động phù hợp với pháp luật, phù hợp với lợi ích xã hội, của nhà nước, của các tổ chức, do các tội phạm về chức vụ gây ra.

Thứ ba, người phạm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ là lỗi có ý trực tiếp, họ nhận thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra.

Thứ tư, các biểu hiện khách quan bên ngoài của tội phạm được thể hiện bằng những dấu hiệu cụ thể về hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Một hành vi sở dĩ bị quy định trong luật hình sự là tội phạm và phải chịu Trách nhiệm hình sự vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội. Nguy hiểm cho xã hội có nghĩa là gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Nếu không xâm phạm vào các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tì mặc dù hành vi có nguy hiểm cho xã hội, nhưng cũng không bị coi là tội phạm. Hành vi Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại về tài sản hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Hình ảnh 1.1.1: Hình ảnh minh họa tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ (Nguồn: Internet)

1.1.3. Ý nghĩa quy định pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ

Các tội phạm tham nhũng nói chung và Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ nói riêng những năm gần đây đã và đang xảy ra ngày một rộng, gây ra những thiệt hại rất lớn cho Nhà nước và xã hội. Việc các nhà làm luật nghiên cứu và ban hành những văn bản quy định về vấn đề nói trên có ý nghĩa hết sức to lớn trong công tác Phòng, chống tham nhũng.

Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ được quy định tại điều 356 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 với các yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Những quy định này trước hết góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về nhóm tội phạm tham nhũng, tạo sự phong phú cho hệ thống pháp luật Việt Nam. Đồng thời là căn cứ cho các cơ quan bảo vệ pháp luật điều tra, truy tố, xét xử tội phạm đúng với tính chất, mức độ và hậu quả gây ra. Bên cạnh đó, là cơ sở để Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân phân biệt giữa các tội phạm trong nhóm tội phạm tham nhũng về chức vụ, đưa ra những bản án, quyết định chính xác, hạn chế mức thấp nhất các vụ án bị kháng nghị, kháng cáo. Ngoài ra, việc quy định về khung hình phạt theo mức độ và tính chất người phạm tội gây ra nhằm cung cấp thông tin cho mọi người nói chung và cán bộ, công chức, những cá nhân có ít nhiều quyền hành trong hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước nói riêng về những hình phạt nếu có hành vi phạm tội theo quy định pháp luật.

Cuối cùng, việc nghiên cứu và quy định về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ góp phần ổn định chính trị, làm sạch hệ thống bộ máy nhà nước, các cơ quan đầu não, bảo đảm cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng”, vừa “chuyên”, duy trì trật tự an ninh xã hội. Từ đó tạo niềm tin trong quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, thúc đẩy nên kinh tế nước nhà phát triển.

1.2. Quy định pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

1.2.1. Dấu hiệu pháp lý hình sự Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ

Tội phạm là một thể thống nhất, hoàn chỉnh giữa bên trong và bên ngoài, giữa suy nghĩ và hành động. Do vậy được kết hợp từ bốn yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm. Cấu thành pháp lý của bất kì tội phạm nào cũng thể hiện trong các yếu tố cấu thành tội phạm.

1.2.1.1. Khách thể Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm đến và được luật Hình sự bảo vệ. Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ được quy định tại chương các tội phạm về chức vụ, theo quy định tại Điều 352 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”.

Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức là hoạt động theo đúng quy định của pháp luật hiện hành, phù hợp với pháp luật, phù hợp với lợi ích xã hội, của Nhà nước, của các tổ chức, phù hợp với lợi ích công dân [16, Tr.124]. Trong khi thi hành công vụ, người có chức vụ, quyền hạn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ xuất phát từ vị trí công tác và nhiệm vụ cụ thể của bản thân. Nhưng trái với quy định thì chủ thể thực hiện công vụ không những không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bản thân để hoàn thành công việc, nhiệm vụ được giao mà còn sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như một phương tiện phạm tội để thực hiện hành vi phạm tội và qua đó gây thiệt hại đến lợi ích chính đánh của tập thể, cá nhân hay cơ quan Nhà nước.

Ngoài khách thể chung mà tội phạm tham nhũng xâm phạm đến thì Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ còn xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân

Ví dụ: Bản án số 398/2022/HS-PT ngày 05 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.  Cụ thể:

Ngày 07/04/2016, bộ Tài nguyên và Môi trường kí quyết định phê duyệt dự án “Xây dựng mô hình và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong kiểm kê, thống kê đất đai, điều tra cơ bản đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giám sát đất chuyên trồng lúa nước” và giao cho Viện nghiên cứu quản lý đất đai là đơn vị Chủ trì thực hiện Dự án. Nguồn vốn thực hiện dự án được cấp từ ngân sách Nhà nước”

Để thực hiện thì Viện đã ký Hợp đồng giao khoán cho Ông Đinh Học H – giám đốc trung tâm triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ thực hiện triển khai mô hình công nghệ đánh giá chất lượng và phân hạng đất tại tỉnh Hà Tĩnh với giá trị hợp đồng là 3.179.771.480 đồng. Đối với việc đánh giá chất lượng đất gồm 03 phần việc: Thu thập dữ liệu, số liệu tại các Sở, Ban, Ngành tỉnh Hà Tĩnh; Tiến hành đào, mô tả, lấy tiêu bản 1.312 phẫu diện đất; điều tra 11.221 mẫu phiếu trên 13 huyện của tỉnh Hà Tĩnh.

Từ ngày 08/10/2016, đoàn công tác đã tách thành 2 nhóm (cụ thể nhóm 1 bao gồm: Trần Văn T, Trần Thanh Z, Đinh Thị Â, Vũ Ngọc U trong đó T là nhóm trưởng; nhóm 2 gồm: Dương Thị D, Cao Thị F, Lưu Hồng J, Phạm Tuấn C do D là trưởng nhóm) để thực hiện việc đào phẫu diện đất và điều tra phiếu. Ngày 24/01/2014, 02 nhóm kết thúc công việc từ Hà Tĩnh quay về Hà Nội và ngày 30/12/2016, Viện nghiên cứu đã thanh toán hợp đồng nói trên cho trung tâm. Tuy nhiên, Các thành viên trong 02 nhóm của Đoàn công tác đi Hà Tĩnh đã lập khống các Phiếu điều tra, Danh sách người cung cấp thông tin và Bảng kê chi trả tiền cho người dân cung cấp thông tin (20.000 đồng/1người) để hoàn thiện chứng từ chuyển cho Trung tâm thanh toán tiền dự án, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền 280.525.000 đồng; Các cán bộ của Trung tâm đã lập khống chứng từ thanh toán công tác phí đi Hà Tĩnh từ tháng 01/2016 đến tháng 4/2016 số tiền 30.324.000 đồng; và lập khống chứng từ thanh toán vận chuyển đất phẫu diện theo Hợp đồng kinh tế số 16 với Công ty HD số tiền 20.570.000 đồng, để hợp thức hồ sơ thanh toán tiền dự án trong Hợp đồng giao khoán số 08. Toà án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trần Văn T và Dương Thị D phạm tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 18 (mười tám) tháng tù, bị cáo Dương Thị D 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Ngày 03/8/2021, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Toàn án phúc thẩm quyết định chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, sửa bản án hình sự sơ thẩm [18].

Với bản án trên, các tội phạm này đã tác động đến những hoạt động bình thường của Viện nghiên cứu quản lý đất đai và gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà Nước. Hành vi của các bị cáo không những gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản công mà còn ảnh hưởng đến uy tính, danh sự của Viện nghiên cứu quản lý đất đai nói riêng và cơ quan tổ chức Nhà nước nói chung. Từ đó, tạo nên làn sóng, dư luận trong quần chúng nhân dân. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

1.2.1.2. Mặt khách quan Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Mặt khách quan của tội phạm thực chất là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm và được thể hiện bằng những dấu hiệu cụ thể về hành vi nguy hiểm cho xã hội, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của hành vi gây ra. Ngoài ra, còn thể hiện bằng các dấu hiệu về công cụ, phương tiện phạm tội, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội.

Trong trường hợp người phạm tội phạm Tội lợi dụng chức, vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ thì mặt khách quan là dấu hiệu rất quan trọng để xác định hành vi phạm tội cũng như phân biệt Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ với các tội phạm khác trong nhóm tội phạm tham nhũng.

  • Dấu hiệu về hành vi khách quan:

Hành vi của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ là hành vi người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, đang đảm nhiệm ở một vị trí nhất định làm trái công vụ, tức là trái với công việc từ vị trí công tác mang lại [8]. Người phạm tội có thể xuất phát từ động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác để sử dụng chức vụ, quyền hạn được giao nhằm thực hiện hành vi phạm tội của mình.

Trong thực tế, hành vi làm trái công vụ được hiểu là không làm một việc nhất định khi được yêu cầu phải làm và hoàn toàn có đủ điều kiện, khả năng để làm hoặc có làm nhưng làm không đầy đủ về nội dung, nội dung làm hời hợt, không mang lại hiệu suất cao. Hiểu một cách ngắn gọn là không làm hoặc làm không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ được phân công. Và hành vi này được thể hiện bằng phương thức hành động phạm tội hoặc không hành động phạm tội.

Hành động phạm tội: Là hành vi khách quan mà người phạm tội đã thực hiện một việc mà pháp luật cấm, qua đó gây thiệt hại cho xã hội [13, Tr.122]. Tức là những hành vi làm ngược lại với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hoặc mục đích công tác của cơ quan, tổ chức.

Ví dụ: Vụ gian lận Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia 2018 ở Hà giang, Hòa Bình và Lạng Sơn. Cụ thể nhiều cán bộ có liên quan trong tổ công tác chấm thi đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình làm trái công vụ bằng cách nâng điểm của 347 thí sinh tham gia kì thi. 

Không hành động phạm tội: Là hành vi không thực hiện công việc, thuộc chức năng, nhiệm vụ của người có chức vụ, quyền hạn theo sự phân công của cơ quan, tổ chức trong trường hợp có nghĩa vụ phải làm và có đủ điều kiện để làm. Nghĩa vụ ở đây là xuất phát từ vị trí, yêu cầu công việc, chức năng của người đó. Điều kiện để làm được hiểu là: năng lực, trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất… hay điều kiện công tác.

Ví dụ: Anh Nguyễn Văn B là cán bộ thuế đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình làm trái công vụ thông qua hành vi bỏ qua không thu thuế của một số cơ sở kinh doanh mà theo quy định nhà nước là phải thu.

  • Dấu hiệu về hậu quả của tội phạm: Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Hậu quả mà tội phạm gây ra là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ. Điều này đồng nghĩa với việc hành vi phạm tội phải gây ra thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì mới cấu thành tội phạm này. Và hậu quả nguy hiểm đó được xác định thông qua: Thiệt hại về vật chất, thiệt hại phi vật chất.

Căn cứ tại Khoản 1 điều 356 Bộ luật hình sự 2015 thì người nào lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ nhưng chưa gây thiệt hại về tài sản hoặc gây thiệt hại về tài sản dưới 10.000.000 đồng, đồng thời chưa gây thiệt hại khác đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân thì không phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ.

So với khoản 1 điều 281 Bộ luật hình sự 1999 thì khoản 1 điều 356 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đã có sự điều chỉnh rõ ràng hơn, chi tiết hơn về thiệt hại mà người phạm tội gây ra cụ thể đã tách thiệt hại về vật chất và thiệt hại phi vật chất: “…gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân…”. Thứ hai, dễ nhận thấy tại khoản 1 đã có sự thay đổi từ khái niệm “công dân” thành khái niệm “cá nhân”; công dân ở đây được hiểu là người có quốc tịch Việt Nam còn cá nhân là bao gồm người không quốc tịch và người nước ngoài. Như vậy, phạm vi mà người phạm tội gây thiệt hại đã được mở rộng; việc mở rộng phạm vi thiệt hại và quy định thiệt hại mang tính định lượng nêu trên nhằm đảm bảo mức độ tương xứng giữa hình phạt với tính chất, mức độ phạm tội, đồng thời tránh việc bỏ sót tội phạm.

Trong quá trình sửa đổi bổ sung, các nhà làm luật xét thấy những quy định còn mang tính chất chung, không còn phù hợp với thực tiễn, vì vậy đã nghiên cứu về việc ban hành những quy định mới, cụ thể có sự thay đổi bằng việc cụ thể hóa tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng thành gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thành gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên và quy định rõ phạm tội nhiều lần là phạm tội 02 lần trở lên. Ngoài ra, tại Khoản 4 Điều 351 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đã tăng hình phạt bổ sung tiền từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng lên từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Việc điều chỉnh, sửa đổi trên là hoàn tòan phù hợp với điều kiện thực tiễn. Tạo điều kiện cho các cơ quan điều tra, tiến hành tố tụng dễ dàng trong việc thu thập, tổng hợp tài liệu, chứng cứ không bỏ sót tội phạm, mang tính răn đe, giáo dục người phạm tội. Đồng thời, không tạo ra kẽ hở cho cá nhân thực hiện hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, cũng hạn chế được việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, tránh trường hợp có sự mâu thuẫn giữa các văn bản, mẫu thuẫn giữa các quan điểm của cơ quan thi hành pháp luật.

Thiệt hại mà tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ có thể là thiệt hại về vật chất như hao hụt, hư hỏng hay mất mát tài sản cơ quan… và thiệt hại phi vật chất như tinh thần, tâm lý, tư tưởng, uy tính, danh dự của cơ quan, tổ chức, Nhà nước. Đối với thiệt hại phi vật chất được đánh giá là tương đối phực tạp, khó xác định, cần phải dựa vào tính chất nguy hiểm của hành vi và ảnh hưởng tiêu cực của hành vi đó trong đời sống xã hội để từ đó xem xét, đề ra phương hướng xử lý.

Ví dụ: Về vụ sai phạm trong chấm thi kì thi THPT Quốc gia ở Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La có đề cập trên. Thì đây được xác định là vụ án gây thiệt hại phi vật chất, cụ thể: Việc nâng điểm cho một số thí sinh để đậu vào trường tốp trong cả nước đã đánh mất đi nhiều nguồn nhân tài của Đất nước. Từ đó, gây làn sóng phẫn nộ, bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín nền Giáo dục; đúng như ông cha ta từng nói khi: “một con sâu làm rầu nồi canh”, ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục và đào tạo hay bộ máy ngành giáo dục cũng trở nên bị tha hóa…

  • Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Theo pháp luật Hình sự, nếu giữa hành vi và hậu quả thiệt hại trong thực tế có mối quan hệ nhân quả với nhau thì người phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự và ngược lại. Như vậy, Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có mô tả hành vi khách quan là lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ và gây ra hậu quả là làm thiệt hại về tài sản và thiệt hại khác đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Ngoài các dấu hiệu trên, thì mặt khách quan của tội phạm còn chú ý đến thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng là gì? Thủ đoạn phạm tội trong luật Hình sự được hiểu là cách thức người phạm tội thực hiện hành vi khách quan. Như vậy, người phạm tội trong trường hợp này đã sử dụng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi đi ngược lại với chức năng, nhiệm vụ của mình. Do đó, nếu không có chức vụ, quyền hạn thì người phạm tội không thể thực hiện hành vi phạm tội của mình.

1.2.1.3. Chủ thể Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi khi hành công vụ

Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, không phải bất kì ai, cá nhân nào cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi nguy hiểm, gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội quy định trong Bộ luật hình sự. Chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật đinh căn cứ vào Điều 12, Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, chủ thể của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ cũng phải đảm bảo các yếu tố nêu trên theo quy định pháp luật. Ngoài hai dấu hiệu trên thì ngay chính tên tội cũng đã thể hiện chủ thể Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ còn là người có chức vụ, quyền hạn. Điều này khẳng định lại một lần nữa chủ thể của Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ là chủ thể đặc biệt.

Theo điều 3 Luật phòng chống tham nhũng 2018 quy định người có chức vụ là người do cấp trên bổ nhiệm, do các thành viên trong các cơ quan, tổ chức bầu cử hay do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương từ vị trí công tác mang lại hoặc không hưởng lương nhưng được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ được giao [6].

Hiểu một cách ngắn gọn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng, do một hình thức khác. Và điểm cốt lõi đây là họ được giao nhiệm vụ và có quyền hạn khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Điều này xuất bản từ bản chất của nhà nước XHCN, những cá nhân được giao chức vụ quyền hạn phải tận tụy phục vụ nhân dân, phải lấy dân làm gốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Mỗi một cán bộ đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [10]. Do vậy, họ chính là những con người đại diện cho nhân dân để thực hiện nhiệm vụ, sứ mệnh của đất nước, tạo nên sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; với chức trách càng cao thì trọng trách càng lớn. Tuy nhiên, với những cá nhân, cán bộ có hành vi tham nhũng, phẩm chất đạo đức đi xuống thì họ sử dụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện để thực hiện những hành vi trái pháp luật, hành vi phạm tội và hành vi trái đạo đức, phẩm chất mà một cán bộ cần có.

Ví dụ: Trong năm 2020, trong quá trình triển khai thực hiện dự án tuyên truyền “Nói chuyện chuyên đề chăm sóc sức khỏe và phòng chống dịch Covid19 cho người cao tuổi năm 2020 trên địa bàn huyện Phù Yên” của Trung tâm y tế huyện Phù Yên. Bị cáo Đỗ Văn A là Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Phù Yên và Cầm Thị B là kế toán trung tâm đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình, không thực hiện đúng hạng mục dự toán trong khi thực hiện dự án, lập khống hóa đơn, chứng từ chi tiền của dự án để chiếm đoạt, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền là 65.888.000đ (Sáu mươi lăm triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng). Tại bản án số 56/2022/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Phù Yên tỉnh Sơn La tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn A và Cầm Thị B phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ [19].

Như vậy, với trường hợp trên thì cả 2 bị cáo đều là người có chức vụ quyền hạn, do bổ nhiệm và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Họ đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước.

1.2.1.4. Mặt chủ quan Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Nếu như mặt khách quan của tội phạm là mặt thể hiện ra bên ngoài thì mặt chủ quan lại là mặt bên trong, thể hiện diễn biến tâm lí bên trong và được xác định thông qua lỗi, động cơ phạm tội. Mỗi một cá thể là một thể thống nhất giữa bên trong và bên ngoài. Do vậy, giữa mặt chủ quan và mặt khách quan của tội phạm có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Mặt chủ quan sẽ tạo tiền đề, thôi thúc, thúc đẩy cho mặt khách quan thực hiện hành vi phạm tội. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ thì lỗi ở đây là người phạm tội cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và họ mong muốn cho hậu quả xảy ra, điều này đã được Bộ luật hình sự hiện hành quy định cụ thể. Hơn ai hết, người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn điều này đồng nghĩa với việc họ có sự hiểu biết nhất định về quyền và nghĩa vụ của bản thân. Họ xác định bản thân được phép làm gì, nên làm gì và không nên làm gì; họ hiểu được pháp luật quy định như thế nào về vấn đề mà mình đã và đang làm và hậu quả khi thực hiện hành vi trái với quy định pháp luật sẽ ra sao. Nhưng vì những nguyên nhân khác nhau mà chính họ lại đi vào con đường pháp luật cấm, đánh mất đi giá trị của bản thân, niềm tin của nhân dân, sự tín nhiệm của Đảng và Nhà nước.

Ngoài dấu hiệu về lỗi, trong mặt chủ quan của Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ chúng ta cần phân tích rõ về động cơ phạm tội của tội phạm. Bởi đây là một trong những yếu tố góp phần cho người phạm tội thực hiện hành vi mạnh mẽ, dứt khoát hơn. Động cơ chính là động lực bên trong thúc đẩy hành vi phạm tội, do đó thường được hình thành trước khi thực hiện hành vi. Động cơ phạm tội trong trường hợp này là vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Động cơ vụ lợi được hiểu là người phạm tội xuất phát từ lợi ích về vật chất như đất đai, nhà cửa, tiền tài…hoặc từ lợi ích tinh thần mong muốn đạt được thông qua thực hiện hành vi phạm tội của mình. Động cơ cá nhân khác là vì lợi ích phi vật chất cho mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm như: vì thân quen, vì cảm tình cá nhân, vì danh vọng, địa vị xã hội… Những người có chức vụ, địa vị cao, tầm ảnh hưởng càng lớn thì mối quan hệ của họ càng rộng, vì vậy mà việc họ dùng tình cảm cá nhân để thực hiện hành vi phạm tội là điều dễ dàng. Hay vì muốn được nâng cao, củng cố địa vị, mà những cá nhân này sẽ không ngần ngại thực hiện hành vi phạm tội.

Trên thực tế, các chủ thể thuộc tội này chủ yếu thực hiện với động cơ vụ lợi mà cụ thể là mang lại lợi ích vật chất cho cá nhân chiếm đa số.

Ví dụ 1: Trong vụ án “Chuyến bay giải cứu” công dân trở về nước trong bối cảnh đại dịch Covid-19 năm 2020 và 2021. Đầu năm 2023, Cơ quan an ninh thuộc Bộ Công an đã khởi tố, bắt tạm giam ông Trần Việt Thái, cựu Đại sứ Việt Nam tại Malaysia với tội danh “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” [23]; khởi tố, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, lệnh khám xét với ông Nguyễn Hoàng Linh nguyên là cựu cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia cùng tội danh trên. Tháng 3 năm 2023, Đặng Minh Phương là cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia cũng bị khởi tố cùng tội danh. Tại phiên tòa Ông Thái khai mình và cấp dưới thu 44,6 tỉ đồng.

Ví dụ 2: A giữ chức vụ Trưởng khoa tâm thần của bệnh viện công X, còn B và C là 02 điều dưỡng cùng khoa với A. Trong quá trình khám chữa bệnh, A đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình trong việc kê đơn thuốc cho các bệnh nhân nên đã kê sai số lượng để cắt xén bớt đơn thuốc và vật tư của các bệnh nhân tâm thần đang điều trị tại bệnh viện. Sau đó, A đã giao cho B và C mang thuốc bán ra ngoài để trục lợi. Hành vi của các đối tượng đã gây thiệt hại cho bệnh viện hơn 1 tỉ đồng. Trong vụ án này, xuất phát từ động cơ vụ lợi, A, B và C đã lợi dụng việc được giao quản lý thuốc và vật tư y tế để làm trái công vụ, mang thuốc bán ra ngoài kiếm lời. Hành vi của A, B và C đã phạm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Như vậy, trong hai vụ án trên đã cho thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đều xuất phát từ động cơ vụ lợi, đó là thu được một khoản tiền bất chính thông qua lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình nhằm làm giàu cho bản thân. Và những số tiền mà các bị cáo thu không phải là những số tiền nhỏ, nó có sức ảnh hưởng tới nguồn ngân sách cơ quan tổ chức nơi mà các bị cáo trực tiếp công tác.

1.2.2. Hình phạt đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định hai loại hình phạt đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ đó là hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Hình phạt chính được quy định cụ thể: Khung cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm theo Khoản 1 Điều 356; khung tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm theo Khoản 2 Điều 356, và khung tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 10 năm đến 15 năm căn cứ vào Khoản 3 Điều 356. Về hình phạt bổ sung đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ sẽ áp dụng hình thức phạt cấm đảm nhiệm chức vụ và phạt tiền được quy định tại Khoản 4 Điều 356.

Hình phạt đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ theo Khoản 1 Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Căn cứ vào khoản 1 Điều 356 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho một trong hai trường hợp:

Trường hợp 1: Người phạm tội gây thiệt hại về tài sản, cụ thể ở mức từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

Trường hợp 2: Người phạm tội thuộc trường hợp khác ngoài trường hợp một nêu trên là gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Khi quyết định mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 nêu trên, Tòa án phải căn cứ vào Điều 50 Bộ luật Hình sự. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ hay có tình tiết tăng nặng, mức độ nguy hiểm gây ra cho xã hội nhiều hay ít, trầm trọng hay không thì Tòa án có thể áp dụng dưới phạt tù hoặc chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Với hình phạt trên thì tội phạm thuộc nhóm loại tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Hình phạt đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ theo Khoản 2 Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Khoản 2 Điều 356 quy định mức độ, tính chất phạm tội gây nguy hiểm hơn cho xã hội của người phạm tội thì khung hình phạt tù sẽ nâng lên từ 05 năm đến 10 năm, bao gồm: + Có tổ chức;

  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

Quy đinh trên cho thấy người phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy quy định trên thì sẽ bị phạt tù 05 năm đến 10 năm, là tội phạm rất nghiêm trọng (căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017). Phạm tội có tổ chức được hiểu là thực hiện hành vi bằng hình thức đồng phạm, có từ hai người trở lên và giữa những người này có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững và lâu dài. Người phạm tội tham gia trong vụ án với các nhiệm vụ, chức năng khác nhau; hành vi được thực hiện trong mối liên hệ thống nhất, lên kế hoạch chỉnh chu, chi tiết.

Phạm tội từ hai lần trở lên có thể hiểu là người phạm tội có nhiều hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ ở các thời điểm khác nhau và mỗi lần đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đối với trường hợp có 02 lần phạm tội nhưng trong đó có 01 lần đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị xử lý bằng các hình thức khác thay thế như kỷ luật, phạt tiền hoặc hành vi chưa cấu thành tội phạm thì không phải là phạm tội 02 lần. Do đó không thể áp dụng điểm a khoản 2 điều 356 Bộ luật hình sự 2015 để quyết định mức hình phạt.

Đối với trường hợp gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng cũng áp dụng mức hình phạt theo Khoản 2 Điều 356 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 cho người phạm tội. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hàng công vụ có thể được thực hiện dưới hình thức tội liên tục [14]. Do đó, khi thực hiện tội liên tục các hành vi khách quan thì tội phạm đều xâm phạm một khách thể duy nhất, được chi phối bởi ý định phạm tội thống nhất. Chính vì vậy, trong những trường hợp này cần tổng hợp các hậu quả thiệt hại về vật chất để xác định chung hậu quả tội phạm.

  • Hình phạt đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ theo Khoản 3 Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Đối với người phạm tội thuộc trường hợp gây thiệt hại tài sản từ 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm. Đây được xếp vào khung tăng nặng thứ hai với mức phạt tù cao nhất đối với tội phạm. Mức phạt này thể hiện thái độ nghiêm khắc, tính răn đe cao đối với các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ. Tuy nhiên, chủ thể của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ thường là những người có chức vụ cao do đó mà thiệt hại gây ra thường rất lớn đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì thế, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới bảo đảm được tính răn đe, phòng ngừa chung. Thế nhưng hiện nay, mức hình phạt nặng nhất đối với loại tội phạm này chỉ dừng ở mức 15 năm tù thì còn quá nhẹ, chưa bảo đảm được tính nghiêm khắc, giáo dục chung dẫn đến các vụ án tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ không có chiều hướng giảm và còn có xu hướng diễn ra ngày càng tinh vi, tiểu xảo hơn. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

  • Hình phạt đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ theo Khoản 4 Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Ngoài những hình phạt chính đã nêu ở trên, người phạm tội còn bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Với tính chất là hình phạt bổ sung nên luôn đi kèm với hình phạt chính, việc các nhà làm luật quy định ra hình phạt bổ sung là hoàn toàn phù hợp và mang tính khách quan cao nhằm củng cố và tăng cường cho kết quả đạt được do việc áp dụng hình phạt chính. Ngoài ra, hình phạt bổ sung tạo điều kiện cho cơ quan thi hành pháp luật xử lý tội phạm một cách toàn diện.

Tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm gây ra cho xã hội, Nhà nước, cơ quan và tổ chức để Tòa án lựa chọn mức hình phạt bổ sung nào; có thể là cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc phạt tiền. Điều này đồng nghĩa với việc hết thời hạn đảm nhiệm chức vụ đã quy định thì người chấp hành án vẫn có thể tiếp tục đảm nhiệm chức vụ đã bị cấm.

1.2.3. Phân biệt Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ với một số tội phạm khác

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ nằm trong nhóm tội phạm về tham nhũng nên vừa mang những đặc điểm chung vừa mang những đặc điểm riêng để phân biệt với các tội phạm khác trong nhóm tội phạm tham nhũng. Việc phân biệt giữa các tội phạm với nhau có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình áp dụng pháp, đặc biệt đối với việc định tội danh làm cơ sở cho việc xác định hình phạt.

1.2.3.1. Phân biệt tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ với tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

Tại điều 357 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 đã quy định cụ thể từ hành vi đến hậu quả và hình phạt đối với Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ. Giữa hai tội phạm có những điểm giống nhau sau:

Thứ nhất, về khách thể của tội phạm, Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ và Tội lạm quyền trong thi hành công vụ đều chung khách thể đó là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; đều xâm phạm trực tiếp tới hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, về mặt chủ quan cả hai loại tội phạm đều chung lỗi và động cơ phạm tội. Tội phạm thực hiện với lỗi cố ý, họ nhận thức rõ về hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả sẽ xảy ra như thế nào và mong muốn cho nó xảy ra. Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy tội phạm thực hiện hành vi, do đó chủ thể cả 2 tội phạm đều xác định động cơ là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Thứ ba, chủ thể của hai loại tội phạm này không phải là cá nhân chiếm số đông trong xã hội, họ phải là những con người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan tổ chức hay còn gọi là chủ thể đặc biệt. Vì vậy, họ dễ dàng lợi dụng chức vụ, quyền hạn đấy để thực hiện hành vi phạm tội của mình.

Thứ tư, trong cấu thành của cả 2 tội đều không nhất thiết phải có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, trong mặt khách quan đều bắt buộc có dấu hiệu hậu quả bao gồm hậu quả về tài sản hoặc gây thiệt hại phi vật vật ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

  • Ngoài những điểm giống trên, thì hai loại tội phạm này có điểm khác nhau sau:

Thứ nhất, hành vi của Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ và gây ra thiệt hại, hiểu ngắn gọn là người phạm tội trong trường hợp này đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của bản thân để thực hiện hoặc không thực hiện đúng với quy định của pháp luật. Còn hành vi của Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là hành vi lạm quyền của người có chức vụ, quyền hạn. Tức là vượt quá quyền hạn của mình, quyền hạn ở vị trí, chức vụ mang lại để thực hiện các hành vi trái với quy định pháp luật [7]. Trong mỗi cơ quan, tổ chức nhằm duy trì trật tự cũng như đảm bảo sự ổn định, thống nhất của cơ quan, tổ chức thì mỗi người, mỗi cá nhân sẽ được giao một công việc nhất định cùng với đó là một vị trí khác nhau. Tuy nhiên, người phạm tội lại thực hiện hành vi không thuộc thẩm quyền của mình như thực hiện hành vi thuộc thẩm quyền cấp trên hoặc thuộc thẩm quyền của vị trí, bộ phận khác mà không phải là vị trí, chắc năng đảm nhiệm, quản lý của mình.

Thứ hai, khác nhau về hậu quả, tức là thiệt hại về tài sản mà người phạm tội gây ra. Cả hai tội đều có Cấu thành tội phạm vật chất, do đó mà dấu hiệu về hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong Cấu thành tội phạm. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ tại Khoản 1 quy định mức độ gây thiệt hại về tài sản thấp hơn, cụ thể từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng. Còn đối với Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ lại quy định mức độ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng. Có thể thấy, hậu quả thiệt hại về vật chất mà hai tội gây ra có sự khác nhau, điều này cũng là căn cứ, cơ sở để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và đề ra mức hình phạt phù hợp.

1.2.3.2. Phân biệt Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ với Tội tham ô tài sản

Theo quy định tại Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 Tội tham ô tài sản và Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi thi hành công vụ có những điểm giống và điểm khác. Về điểm giống:

Thứ nhất, về khách thể. Cả hai tội trên cùng xâm phạm tới họat động đúng đắn, uy tín và hiệu qủa của cơ quan, tổ chức và gây ra thiệt hại cho cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, về mặt chủ quan. Cả hai loại tội phạm đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, họ nhận thức được hành vi và hậu qủa, thấy được hậu quả và mong muốn hậu quả xảy ra.

Thứ ba, chủ thể tội phạm. Cả hai tội phạm đều được thực hiện bởi chủ thể đặc biệt – người có chức vụ, quyền hạn.

Thứ tư, hành vi khách quan. Cả hai tội phạm đều lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội.

  • Ngoài những điểm giống trên thì 2 loại tội này còn có những điểm khác nhau:

Thứ nhất, hành vi khách quan tội phạm Tham ô tài sản là người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do chính mình quản lý hay là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Còn Tội phạm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn từ chức năng nhiệm vụ của mình để làm trái công việc mà mình được giao. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Thứ hai, giữa chủ thể của hai tội này cũng có những điểm khác nhau. Chủ thể Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động công vụ còn chủ thể Tội tham ô tài sản là người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản. Do đó, đối với Tội tham ô tài sản thì nếu người có chức vụ, quyền hạn không phải là người quản lý tài sản thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ không trở thành chủ thể của tội phạm này. Như vậy, có thể thấy rằng chủ thể của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có điều kiện thực hiện hành vi phạm tội ở phạm vi rộng hơn, có tính chất chung còn chủ thể của Tội tham ô tài sản được giới hạn là chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản được giao.

Thứ ba, trong cấu thành Tội tham ô tài sản bắt buộc phải có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản. Ngược lại, trong cấu thành Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ chưa có quy định nào bắt buộc có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản mà thay vào đó là dấu hiệu bắt buộc về việc gây thiệt hại về tài sản hoặc gây thiệt hại khác.

Ví dụ: Hoàng Thị Phương T được Giám đốc Bưu điện tỉnh Phú Thọ ký quyết định tiếp nhận lao động vào làm nhân viên hợp đồng mùa vụ làm việc tại Bưu điện thành phố Việt Trì từ 02/5/2019 với chức danh giao dịch viên. Khoảng cuối tháng 5 năm 2019 T được anh Hà Việt Chung là Phó giám đốc Bưu điện thành phố Việt Trì, giao nhiệm vụ chi trả tiền trợ cấp thất nghiệp của tháng 6, tháng 7, tháng 8 năm 2019 cho các cá nhân được hưởng theo danh sách chi trả tiền do Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ cung cấp. Quá trình thực hiện, thấy có nhiều cá nhân không đến nhận tiền và hàng tháng sau khi chi trả tiền trợ cấp xong, khi đối chiếu với bộ phận kế toán đối soát của Bưu điện thành phố về số tiền đã chi trả chỉ cần đối chiếu theo danh sách C72b-HD do Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ cung cấp có chữ ký của những cá nhân đã nhận tiền là xong, nên T đã 17 lần ký giả chữ ký của 15 người để chiếm đoạt số tiền 46.175.470 đồng dùng để trả cho các cá nhân được hưởng trợ cấp thất nghiệp, số tiền này đã được T quyết toán với bộ phận đối soát của Bưu điện để chi tiêu cá nhân.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2021/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Phương T phạm tội: “Tham ô tài sản”. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Phương T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ đối với bị cáo T 02 (Hai) năm kể từ sau khi chấp hành xong hình phạt. Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

Ngày 08/3/2021, bị cáo Hoàng Thị Phương T có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và được tòa cấp phúc thẩm chấp nhận. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 22/2021/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Phương T phạm tội: “Tham ô tài sản”. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Phương T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Và giữ nguyên hình phạt bổ sung [17].

Như vậy với bản án trên, bị cáo Hoàng Thị Phương T đã lợi dụng chức vụ quyền hạn trong vị trí công việc quản lý của mình để thu về số tiền bất chính. Cũng qua bản án cho thấy hành vi chiếm đoạt tài sản trong mặt khách quan của tội phạm là dấu hiệu phân biệt với Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

Nghiên cứu các vấn đề lý luận và các quy định pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ và các bản án đã xét xử trong thời gian qua, để phân biệt với một số tội phạm tham nhũng khác tại chương các tội phạm về chức vụ, khóa luận có các kết luận sau:

Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ xâm phạm tới hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, gây ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan; người có chức vụ, quyền hạn, gây thiệt hại cho lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân.

Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ là loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, mặt khách quan của tội phạm cần thiết phải có đầy đủ dấu hiệu pháp lí về hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mỗi quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hành vi khách quan Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ là lợi dụng chức vụ, quyền hạn qua đó gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân trong xã hội.

Chủ thể Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ là chủ thể đặc biệt, ngoài hai dấu hiệu cơ bản của chủ thể nói chung là năng lực trách nhiệm hình sự thì chủ thể của tội phạm này cần phải có dấu hiệu là người có chức vụ, quyền hạn thông qua bổ nhiệm, hợp đồng, bầu cử hoặc hình thức khác và họ được giao nhiệm vụ nhất định.

Giữa các tội phạm tham nhũng quy định tại chương các tội phạm về chức vụ có sự khác biệt nhất định về dấu hiệu pháp lý tại mặt khách quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm. Dựa vào các đặc điểm khác biệt cơ bản này cho phép phân biệt tội lợ dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ với tội phạm tham nhũng khác. Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

One thought on “Khóa luận: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ

  1. Pingback: Khóa luận: Thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464